tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 26279601
Tiểu thuyết
23.08.2018
Ngũ Hà Miên
Bão


8. HAI NGƯỜI LỮ KHÁCH KHÔNG XA LẠ


Cuối cùng, chàng hứa với Phước sẽ tách ra, không hoạt động gì dính tới đám đấu tranh bán công khai nữa verba vola, lời nói bay đi, chữ còn ở lại. Phước ơi! Bây giờ em ở đâu? Hồi đó anh nói buổi sáng, quên ngay buổi chiều, vì cái tính anh, như Mười Thắng đã có lần phê bình, chỉ làm được những bài thơ, sau này chàng nhớ lại. Ngày hôm sau, chàng đang ở nhà ưu sầu vì nỗi nhẹ dạ của mình thì hai cô sinh viên Huệ và Quế Hương đến chơi. Huệ là em ruột Trần Thị Lan đang học đại học. Hương họ Cao, một lãnh tụ nữ sinh viên nổi tiếng. Họ nói chuyện đấu tranh, giải thích cho chàng, rằng phải tổ chức quần chúng ra sao, mục tiêu tuyên truyền giác ngộ lớp trẻ về độc lập dân tộc như thế nào.


Chàng chỉ ầm ừ ngồi nghe, vẫn nhớ lời Phước không dám có ý kiến gì, kêu người nhà đãi họ tô bún bò và ly nước ngọt, vui vẻ thân tình. Nhưng đến sáu giờ, trời sẩm tối, trước khi ra về, Hương nhìn chàng, đôi mắt tuyệt đẹp và đầy tin cẩn, nói:


– Tụi em sắp đi xa. Có ít tài liệu và hình ảnh, xin nhờ anh giữ hộ.


Chàng sựng lại ngỡ ngàng, nghĩ tới lời Phước, buồn rầu rõ lên ánh mắt. Cả hai tưởng là do cuộc phân ly bất ngờ. Huệ nói:


– Có lẽ tụi em chỉ đi ít lâu thôi, tất cả cũng gần rồi.


Một câu phiếm định, nhưng chỉ những người trong cuộc mới hiểu và không có gì thêm nữa. Dù với người sẽ không còn hoạt động trong nội thành, chàng cũng không có quyền tiết lộ gì thêm về mình. Ngần ngừ một lát, chàng gật đầu rồi giơ tay đỡ lấy cái túi xách bọc nilon. Quế Hương nói:


– Ít lâu nữa có người đến xin cho lại món đồ Hương gửi, nhờ anh đưa giúp cho người ấy, giờ này cũng chưa biết sẽ là ai.


Chàng cười: – Ai cũng là người của Quế Hương


Họ ra về. Ánh mắt nào nhìn mà không có đuôi. Hương có người yêu đã hy sinh trong tù. Còn chàng, vẫn cái bệnh đa tình.


Tối hôm đó, quá nửa đêm, mọi người đang yên giấc, thì tiếng xe Dodge nhà binh đổ sầm trước nhà, rú ga rồi tắt máy. Sau đó, có tiếng kêu cửa khẩn cấp. Chàng mắt nhắm mắt mở, từ buồng vợ vừa đi vừa xỏ pijama, xuống cầu thang có cửa hàng bún bò. Chàng thọc mãi chìa vào ổ khóa, sợ lẩy bẩy loay hoay một hồi vẫn không mở được. Bên ngoài tiếng huyên náo càng lúc càng to khiến cả xóm cũng phải thức giấc. Cuối cùng cánh cửa sắt cũng rít lên, keo kiệt kéo ra.


Cả một trung đội cảnh sát dã chiến sắc phục rằn ri ùa vào. Viên đại úy lừ mắt một cái, bốn tên liền chĩa súng ra đường bố trí hai bên hông nhà, dưới chân cây điệp đang vàng rực đơm hoa. Số còn lại chia làm hai, một nửa ở dưới nhà, một nửa lên lầu. Tất cả toàn gia già trẻ lớn bé đều phải trình diện, rất may hôm đó không có chú sinh viên nào ngủ lại đêm. Bà mẹ vợ chàng, đôi mắt đã kém, mái đầu bạc phơ cũng bị hạch hỏi tại sao từ Quảng Ngãi vô đây làm gì? Rồi họ lục lạo cả tủ sách hàng nghìn cuốn của chàng, lật từng tờ.


Tội nghiệp Khổng Tử, Lão Tử, Trang Chu, Thánh Thán, Lý Bạch, Đỗ Phủ cho tới Victor Hygo, Descartes, Hermann Hess, Someset Maugham, Phạm Thái, Nguyễn Huy Lượng, Nguyễn Du… tác phẩm của họ với những luồng tư tưởng nhiều khi hoàn toàn trái ngược nhau đã bị số phận trớ trêu xếp cùng trên một giá sách, bị giày vò một cách không thương tiếc bởi những bàn tay thô bạo, tung tóe trên mặt đất. Đấy, giá trị của văn minh nhân loại trong nòng súng của những kẻ cầm quyền giữa thời đại chúng ta.


Cả những mảnh giấy nhỏ, những dòng bản thảo vớ vẩn, thư từ bằng ngoại ngữ bị tình nghi, đều được đám bạn dân[1] này mượn về photo rồi trả ngay, tất nhiên trong đó có cả bản thảo bài diễn văn của chàng được viết để đọc tại Đại hội lần thứ 12 Quốc tế Xã hội ở Vienna.


Sách vở hàng tấn được quăng ra đầy nhà, kể cả bộ Khang Hy từ điển tiếng Trung Quốc mà chàng cực quí vì là của cha để lại.


Thất vọng, viên Đại úy bèn ếm số quân đó tại phòng khách và đi xuống nhà dưới. Bếp núc, mấy bàn ăn, hơn chục ghế đẩu bằng sắt của một cái quán bình dân, bức tranh La Joconde (chép), mấy chùm hoa hồng giấy trên vách, cái quạt trần chạy xành xạch, vẫn không chặm khô được những giọt mồ hôi trên trán những ông công an cần mẫn.


Riêng vợ chàng, tái mét nhớ lại hồi chiều có hai cô gái tới nói chuyện với chồng mình thật lâu, cô nào cũng đẹp và trước khi ra về có gởi cái gói gì đó. Nàng lẩm bẩm vái đức Phật Bà, niềm tin, căn cứ địa duy nhất và cuối cùng của nàng, độ trì cho tai bay nạn khỏi. Còn chàng, trống ngực đập thình thịch, nhưng vẫn làm bộ cứng:


– Tôi là Dân biểu. Trước khi được bầu làm cảnh sát viên, sau ba năm học tại trường Thủ Đức trong đó có môn luật, các anh quá biết rằng chúng tôi được quyền bất khả xâm phạm theo Hiến pháp. Nhưng các anh chỉ là lính lác ăn cơm chúa, múa tối ngày, như Thiên lôi sai đâu đánh đó, tôi thông cảm. Những kẻ ra lệnh cho các anh làm việc này phải hoàn toàn chịu trách nhiệm. Tôi mong rằng chúng sẽ không chối tội và đổ thừa cho mấy anh, các anh cứ khám xét kỹ đi.


Chúng lùng sục khắp nơi, từ cái rế chén cho tới hũ mắm. Không thấy gì. – Còn cái kia nữa, biết đâu lại không có tài liệu nhét vào đó - viên đại úy thét lên, chỉ vào thùng nước cơm nằm ngay dưới chân cầu thang. Một cảnh sát viên sợ hãi tuân lệnh. Y vớ lấy cây đũa bếp dùng nấu ăn thọc vào thùng nước cơm to tướng, đầy tràn những món ăn thừa đã hai ngày chưa kịp đổ, đang sủi tăm, bốc lên mùi thúi inh ỏi. Bản thân y cũng chịu hết nổi phải nhăn mặt lấy khăn tay bịt mũi, quơ quào vài cái cho lấy lệ, rồi lắc đầu dừng tay. Đến đây viên đại úy mới lễ phép xin lỗi chàng, chàng được thể, làm oai, dõng dạc như ra lệnh:


– Muộn rồi. Chủ của các anh phải chịu trách nhiệm về những gì các anh vừa làm. Bây giờ, trước tiên, phải xếp tất cả ngay ngắn trở lại nguyên trạng. Tôi biết anh: Trưởng cuộc Cảnh sát Phan Đình Phùng!


Như một đám tàn binh, bọn họ không dám ngẩng mặt lên, líu ríu đi ra cửa. Cả nhà chong đèn thức tới sáng nói chuyện bàn luận râm ran. Vợ chàng thắc mắc không hiểu phép mầu nào đã làm cái gói gì đó không cánh mà bay như trong chuyện cổ tích. Nhờ đó gia đình chàng thoát cơn nguy biến trông thấy. Phật Bà mà nàng nguyện cầu rõ ràng rất ứng nghiệm.


Sáng hôm sau, tại diễn đàn Quốc hội, chàng đã kể lại sự việc và cực lực lên án nhà cầm quyền. Dạo đó Huỳnh Tấn Mẫm, nhân vật tiên phong của phong trào trong nhiều năm liền bị bắt giam. Nhân đó chàng phân phát cho báo chí trong và ngoài nước một bản phản kháng chánh quyền hiếp đáp nhân dân, đàn áp cả những dân biểu bất khả xâm phạm, chàng cực lực đòi Thiệu phải thả Mẫm và chấm dứt khủng bố. Giới truyền thông trong và ngoài nước bấy giờ hoan nghênh và ủng hộ nhiệt liệt. Và số phận của tập tài liệu mật và hình ảnh mà Quế Hương và Huệ đưa thì cũng may mắn. Chúng được chàng vớt lên, cất trong nóc nhà, rồi kín đáo mang xuống văn phòng của chàng ở Quốc hội cất kỹ.


Riêng số hình ảnh, sau ngày Giải phóng nhân đại hội đầu tiên của Mặt trận thành phố, chàng mang ra trưng bày dưới chủ đề hoạt động nội thành được mọi người bu lại xem rất đông. Chàng mỉm cười bí mật không nói gì.


Sự thật, sau khi đưa Quế Hương và Huệ ra đường, chàng nghĩ thế nào cũng có vài kẻ đóng vai si tình bám gót hai bóng hồng nổi tiếng này. Lén mang lên gác, chàng bỏ vào ba bao nilon mỏng cho chắc ăn rồi lấy dây thun buộc chặt cho khỏi thấm nước, thừa lúc không ai chú ý, chàng cột hòn chì nhỏ thả nó vào thùng nước cơm.


Đúng là cũng có Trời Phật phù hộ, vào một giờ quá khuya, tên cảnh sát buồn ngủ, chỉ khuấy tìm qua vài cái ở trên mặt. Thấy không có gì, buông tay. Hú vía.


Tháng Năm, Trịnh Đình Bang bị bắt. Bà Diệu Ngoạn bị thương phải qua bệnh viện Nguyễn Văn Học gần nhà chạy chữa. Nhóm ni sư Huỳnh Liên đến thăm nuôi, bị Tỉnh trưởng Gia Định rào kẽm gai vây kỹ. Má phong trào Diệu Nhàn đã gần tám mươi tuổi phẫn uất, đấm ngực thùm thụp lớn tiếng la chửi[2]:


– Mồ cha mả mạ mi, thằng tỉnh trưởng Gia Định! Mi kêu tau bằng dì. Hồi nhỏ tau nuôi mi, sắm từng cái cặp, thức đêm chăm từng miếng cơm, quần áo cho mi đi học. Chừ mi khun lớn, mi theo nịnh thằng Thiệu, đánh chị em tau. Mồ cha mi. Châu Văn Tiên!


Đại quân ni sư bị rào kẽm gai nhốt ở Ngọc Phương, chàng phải cùng anh chị em dân biểu đối lập, nhất là anh Hồ Ngọc Nhuận, chị Kiều Mộng Thu, Phan Xuân Huy… đi giải vây cho các ni sư và các má. Má Diệu Ngoạn về nhà, vài ba lần chàng đến thăm, nhờ đó gặp Ba Đình.


 


9. TRẢ LỜI CÂU HỎI VỀ HIỆP ĐỊNH PARIS:


BAO GIỜ  KÝ KẾT?
          


Trong cuộc họp cuối năm của nhóm dân biểu nghị sĩ, hai vị Thượng tọa lớn của Giáo hội Phật giáo là thầy Thiện Hoa và Trí Quang chủ trì, Vũ Văn Mẫu, Đoàn Mại, Võ Đình Cường (gia đình Phật tử), Võ Hòa Khánh (Quốc dân đảng), bác sĩ Chất (Đại Việt), cả cụ Bùi Nhung, anh ông Bùi Diễm (Đại sứ của Thiệu tại Hoa Kỳ). Hội nghị được thông báo một số tin tức quan trọng:


Một là, chính Cộng sản đã ám sát Nguyễn Văn Bông. Hai là Hiệp định Paris sắp được ký kết vào cuối năm (tin này xác nhận điều chàng đã được Frary cho biết trước) cho nên Phật giáo phải thành lập ngay một đảng chính trị để đáp ứng với tình thế.


Thầy Thiện Hoa ban một đạo từ ngắn. Đại khái thầy nói: Giáo hội đã ủng hộ quí vị ra ứng cử dân biểu và nghị sĩ. Quí vị trước là có trách nhiệm với dân, sau là với đạo. Là những nhân vật chính trị, rành việc đời hơn, tôi tin là quí vị biết mình sẽ phải làm gì với tất cả lương tâm.


Nghị sĩ Mẫu cho rằng dân chúng đang bị dị ứng với danh từ đảng, vậy chỉ có thể xài chữ lực lượng. Tất cả đồng ý, nhưng trước mắt hãy lấy tên Cơ quan Liên lạc dân cử cho nhẹ nhàng. Chàng và Phước lại phải mất nhiều ngày để tính liệu việc. Tơ vò trăm mối thì một hôm được tin chú ruột chàng đã tử nạn chiến tranh. Chàng đấm vào ngực mình:


– Mình có một ước vọng rất nhỏ, nhưng Trời Phật đã không cho. Mình nguyện sau đắc cử, qua thời gian tiện tặn để trả nợ thì sẽ cố mời cho được chú vào Sài Gòn ở chơi ít lâu và chữa bệnh.


Nay chú đã về với ông bà, cái ước mong bé tí đó cũng đã không toại. Tất cả đã không qua số phận, ta nào còn làm được gì hơn?


Mãi sau, nhân chuyến về địa phương công tác, chàng mới được nghe kể lại: Chiến cuộc bùng nổ ác liệt ở Thi Phổ, quê chàng. Súng đạn gầm rú điếc tai. Như thường lệ, chú cùng xuống hầm trú ẩn với ông xã Đệ, nhà hài hước trứ danh ở đầu truyện này, tác giả hình vẽ ba con chó chữa bệnh ỉa chảy cho thằng bé con nhà giàu ham ăn[3]. Nhưng cái ngày hôm đó không sao còn vui đùa được, khi tiếng súng đã tắt, chú giở nắp hầm chun lên như bao lần khác thì một tay súng Quốc gia chết nhát, nó hoa mắt tưởng chú là du kích, đã hoảng hốt kéo cò. Nguyên một băng đạn cắm như mưa vào người chú.


Hai người con trai lớn của chú đã đi bộ đội và mịt mù trong lửa khói từ ngày khởi nghĩa. Người con gái út cùng chồng chăm chỉ làm ăn nuôi cha già, thì chàng rể đã sớm làm mồi cho viên đạn từ bên kia chiến tuyến: cô Út Hường khăn trắng trên đầu, chàng phải xin cho cô học y tá nuôi đứa con côi còn măng sữa. Tại sao những người hiền lương vội vã ra đi còn bầy gian ác thì bao giờ cũng quyền cao chức trọng và luôn phè phỡn? Thật có Trời Phật không? Có một bài hát cổ của dân quê nước Anh mà chàng rất thích:


Why do our joys depart


For cares to seize the heart…


… I see, anh know not why


Thorns live and roses die


Mà chàng tạm dịch để hát nghêu ngao chơi, mỗi khi chỉ có một mình, như một gã cuồng:


Vì sao niềm vui đi biệt


Cho sầu xâm chiếm tim ta…


Tôi thấy nhưng nào có biết


Gai còn, hồng đã tàn hoa.


Đấy, Tổ quốc chúng ta, những tháng, những ngày trước 30-4-1975.


Chiến tranh kéo dài mãi. Ngày nào cũng có người chết. Nhà nào trên bàn thờ cũng la liệt những bài vị, mà mỗi cái là nạn nhân của một bên.


Giọng của chàng đã làm cho cả hội trường An Quang xúc động. Phải chấm dứt chiến tranh, phải hóa giải hận thù. Hiệp định Paris là tất yếu và đã hoàn tất. Chỉ còn chờ hai bên nhấn bút lên. Nhưng chính xác là bao giờ? Bây giờ, đối với báo chí chàng có nhiều thuận lợi vì đông đảo bạn bè đang làm ký giả: các anh Cung Văn Nguyễn Văn Hồng, Huỳnh Bá Thành (họa sĩ Ớt), Kỳ Sơn Nguyện Đình Nam, Lê Liên, Hạnh Châu, Yến Thảo, Triệu Bình… toàn bồ bịch. Gặp nhau ngoài đường thì sà vào quán cà phê, quán phở nào đó, cùng nhau chia khói thuốc, ăn uống nói cười tự nhiên, ôm vai bá cổ, tha hồ chọc phá nhau chơi. Muốn đổi món thì về với bún bò Huế của cây nhà lá vườn.


Dù trên những tuyến tổ chức khác nhau, họ thầm kín và mặc nhiên thành những anh em ruột, cùng phe: một câu thơ về tình tự quê hương đất nước, về chiến đấu và yêu đương, của ai cũng đều được cả nhóm ngâm nga. Sống thật thoải mái như thế trong một tập thể tổ chức không ra tổ chức mà thắm đượm tình người, khiến ai cũng hạnh phúc.


Rất tiếc đến 1975 họ tan đàn xẻ nghé vì nỗi hoài nghi quá đáng.


Gặp lúc vì bận bịu việc riêng mà đói tin tức, các ký giả thân thiết chỉ cần gọi điện tới Quốc hội là chàng bỏ cả tiếng đồng hồ hỏi han đồng viện, tìm tòi thêm, rồi nóng bỏng đọc ngay qua máy cho họ nguyên cả bài viết. Anh chị em chỉ còn mỗi việc gởi về Tòa soạn, ký tên, lãnh nhuận bút. Nhờ đó chàng cũng thành một nhà báo lúc nào không hay.


Tình yêu đã giúp họ trở thành thi sĩ, nói như Hoài Thanh trong Thi nhân Việt Nam thì cuộc đấu tranh không chờ đợi trong ngần ấy thời gian đã biến chàng thành ký giả bất đắc dĩ.


Riêng với nhà báo trẻ Hạnh Châu, Yến Thảo chàng coi như học trò, như em ruột, có khi giúp cả gỡ mối tơ lòng hay viện trợ chút tiền nong giải quyết việc nhà. Lúc anh em còn tá túc trong nhà Đại tướng Minh, hàng tháng chàng cũng vận động góp phần cưu mang. Ngược lại, anh em cũng thương chàng.


80 Nguyễn Thiện Thuật là một địa chỉ quen thuộc của các bạn Thành Đoàn thời bí mật, dù Phước cố khuyên nhủ nên cách ly họ để bảo đảm cho công tác khác. Những đêm ngâm thơ, những buổi trà đàm, chàng rất sung sướng được tiếp nối nếp sống của cha: Gia trung khách thường hữu.


Tháng Mười năm mùa hè đỏ lửa (1972), đã có hai nguồn tin khớp nhau về thời điểm ký kết đình chiến nhưng lãnh đạo của Phước vẫn chưa thỏa mãn. Chàng đang cố kiếm một nguồn tin cao cấp và tín cẩn hơn.


Chó ngáp nhằm ruồi, cái hội nghiên cứu Chủ nghĩa xã hội tưởng chỉ là trò chơi của chàng và Thái Sơn mang tới một kết quả đầy bất ngờ: Đảng lao động Anh quốc, cũng là thành viên của Quốc tế Xã hội vừa đại thắng trong cuộc bầu cử Quốc hội. Để chuẩn bị lên làm Thủ tướng, ông Callaghan, lãnh tụ Đảng Xã hội Anh đi Washington, Moscow, rồi trên đường đến Bắc Kinh, ông ghé Hà Nội và Sài Gòn.


Thái Quang Trung đang ở London, nói với ông nếu sang Việt Nam, thì nên gặp người anh em với anh, Chủ tịch Hội nghiên cứu Chủ nghĩa xã hội, thành viên của International Socialist, mà mới rồi đã gởi một message tới Hội nghị Vienna. Callaghan đã tham dự và rất chú ý đến giải pháp của chàng về chiến tranh Việt Nam. Đại sứ Anh Brasss gọi điện cho chàng. Chàng rất hân hạnh mời cơm ngài chuẩn tướng Anh tại khách sạn Majetic lộng gió trông ra bờ sông Sài Gòn. Từ chỗ này nhìn qua, Thủ Thiêm rực sáng ánh điện. Tất nhiên chàng lấy cớ không biết tiếng Anh để xin cho Phước, giáo sư từ Mỹ về, làm thông dịch viên.


Callaghan quả là một chính khách từng trải. Hai mươi năm sau ông vẫn là một huân tước thành viên của quí tộc viện Hoàng gia. Xuân 1995, ông còn gửi thiệp chúc Tết chàng. Ông mặc một bộ complet cắt thật khéo, ăn nói cực kỳ bặt thiệp. Bên cạnh ông, Brass, vị đại sứ đã ở Sài Gòn lâu và vẫn muốn giữ nhiệm sở hiện thời một khi chính phủ mới do ngài lãnh đạo lên cầm quyền. Chàng thưa với ông, những người cấp tiến và thích Chủ nghĩa xã hội ngày đêm mong ước chiến tranh sớm kết thúc để chấm dứt cảnh tang tóc cho Việt Nam. Chàng yêu cầu ông, với tư cách là một lãnh tụ nổi tiếng của Quốc tế xã hội hãy giúp đỡ.


Ông nói ông đã thảo luận với Nixon và Brenev, họ cam kết Hiệp định sẽ ký ngay sau khi kết quả bầu cử tổng thống Mỹ được công bố. Nghĩa là chậm nhất cũng trước Noel 1972. Một niềm sung sướng vô biên ngập tràn tâm hồn chàng. Thế là mọi việc bọn chàng đã đoán trúng, và làm đúng nhờ khơi đúng mạch.


Chàng đã thấy nước Anh tuy nhỏ hơn Mỹ luôn nói trung lập, như đài BBC hằng tuyên bố, nhưng họ luôn luôn là đồng minh và là quân sư của Mỹ, muốn xác minh lại nguồn tin về cuộc ký kết đình chiến mà Mặt trận Giải phóng hằng chờ đợi như lời yêu cầu của Phước, thì việc gặp Callaghan và gây sao cho ông tiết lộ bí mật đó, là một cơ hội vàng.


Chỉ với việc đó về sau Phước nói được An ninh TW cục khen ngợi.


Một hôm, thầy Thiện Hoa mời chàng lên An Quang. Thầy vẫn ở căn phòng nhỏ bên phải trên lầu, cùng phía với thầy Trí Quang. Đó là vị cao tăng người Nam mà suốt đời chàng nhớ ơn. Không phải chỉ vì thầy đã đích thân đứng ra qui y cho vợ và con trai đầu lòng của chàng: Diệu Dung và Minh Văn. Thầy viết bộ Phật học phổ thông mà mãi ba chục năm sau, chàng vẫn thấy không ai vượt qua nổi. Sự ngộ đạo và sự rao giảng bình dị cực kỳ thâm thúy. Thầy là nhà bác học về Phật giáo. Thầy cưu mang sinh viên, tán thành con đường đi với dân tộc mà họ đang theo. Thầy từng mang một tấm bảng trước ngực với dòng chữ xin được vào tù thay, khi họ bị bắt lính, trong khi những sư khác thì ngửa tay lấy tiền của Mỹ và mật báo cho CIA bắt những người tranh đấu. Cầm tay chàng, thầy nói:


– Bệnh gan của tôi chữa mãi không thấy có dấu hiệu bớt. Tôi biết anh có tấm lòng, theo nhơn quả thế nào anh cũng khá. Tôi mong cô Diệu Dung[4] và cháu Minh Văn chịu khó học hỏi kinh sách mà đặng phước huệ. Mai tôi phải vô Grall. Tôi ước sao được nhìn đất nước hòa bình trước khi nhắm mắt.


Chàng khóc:


– Thầy còn khỏe, chưa sao đâu. Anh chị em Hội đoàn Phật tử luôn nhớ ơn thầy. Đâu chớ bệnh viện Grall thì bảo đảm, con tin là thầy sẽ chóng lành. Nếu có mổ xẻ, con xin được nói với người bạn con, anh Trần Ngọc Ninh giúp, anh ấy người Bắc, rất giỏi. Niệm tình con, anh ấy vừa hứng chịu cùng vào làm việc trong Tổng vụ Cư sĩ. Còn điều mong ước của thầy thì chắc sẽ toại lòng vì có lẽ chậm lắm là trước Noel nầy người ta sẽ ký Hiệp định hòa bình. Ánh mắt thầy sáng lên một niềm tin, vui vẻ, thầy sẵn tay bẻ trái bắp luộc đang cầm chia cho chàng một nửa. Hai thầy trò cảm thấy ngon miệng vô cùng và cùng nói chuyện về thơ thiền tới khuya. Đêm ấy chàng đọc hầu thầy bài Thuật hoài của mình.


                                 THUẬT HOÀI


Thi Phổ gia hương vạn lý vân


Kinh niên vô tín độc thương thần


Thung huyên mộ thượng thu bồng loạn


Cố quận mang mang viễn sắc trần


Thầy gật gù:


– Hay lắm.


Rồi thầy nói như giảng giải:


– Làng xưa Thi Phổ giờ đã ở trong vạn dặm mây trời. Đã lâu rồi không tin tức, những thương cho mình. Trên mả của cha mẹ ta, giờ đây chắc cỏ may mùa thu đã bay loạn. Nhìn về cố quận chỉ mênh mang bụi mù. Tài hoa cũng làm lụy người. Anh phải nhớ.


Ra về, chàng đi bộ dưới bầu trời đầy sao khuya lấp lánh vì nhà khá gần. An Quang và 80 Nguyễn Thiện Thuật chỉ cách nhau cái ngã bảy. Trong tim chàng, chấm sáng lương tâm được thầy gieo vào, như một chủng tử bất diệt. Đâu có ngờ đó là cuộc trò chuyện cuối cùng giữa thầy trò. Phước đến thông báo:


– Các anh đánh giá là chúng ta đã làm việc có kết quả. Các anh muốn mời anh vào để trao đổi một vài công chuyện.


Chàng nói:


– Tôi vừa nghe, theo Đài Phát thanh Giải Phóng thì mặt trận đã ban hành chính sách mới 10 điểm sẽ đối xử có lý có tình với những quân nhân viên chức trong hàng ngũ chính quyền Sài Gòn. Nếu gặp được mấy ảnh, hỏi thêm vài điều cho thanh thỏa thắc mắc thì quí quá. Chú tính xem bao giờ chúng ta đi?


Phước cho biết còn phải chờ thông báo về lộ trình thật an toàn. Trong khi chờ đợi, bỗng một hung tin đưa tới: Thượng tọa Viện trưởng hóa đạo Thích Thiện Hoa viên tịch sau ca phẫu thuật. Phật tử khắp miền Nam bàng hoàng than khóc, anh em phong trào nội thành mất một chỗ dựa thân thương tín cẩn. Chàng phải ở lại góp phần vào tang lễ của thầy cho trọn tình trọn nghĩa. Ba hôm sau, tin Hiệp định Paris được chính thức ký kết mang lại niềm hân hoan vô tận cho mọi người. Ai cũng tiếc phải chi chính tai thầy nghe được điều lành đó thì là điều đáng an ủi biết bao.


Riêng chàng, lần đầu tiên và duy nhất, chàng tham gia vào cuộc ai điếu một bậc thánh tăng mà chàng xem ngang hàng với Bồ Tát Thích Quảng Đức. Suốt mấy ngày đêm liền lo tiếp tân, chạy những việc vặt cùng các anh Nam Thành, Thái Tường trong đoàn Phật tử Huệ Quang chàng mệt lả. Một tối, để hà tiện xăng chàng về nhà bằng Honda vào một giờ quá khuya, nan hoa xe đã gọt nát gót chân, chàng phải đi tới bệnh viện chích thuốc ngừa phong đòn gánh.


Cố Hòa thượng Thiện Hoa sống gia dị trong căn phòng nhỏ, trai phạn rau dưa, mặc áo vải thường, từ chối xe để lấy lòng, không chịu để thị giả đứng bên quạt hầu, đòi vào tù để chống việc bắt thanh niên và tu sĩ cầm súng ra chết ngoài chiến trường cho quyền lợi của đám Tư sản bấy giờ, thầy tịch không lọng vàng tán tía đi đưa, không có xe cộ và máy phóng thanh rao đường. Thầy Thiện Hoa chính là trái tim của hàng triệu người dân bấy giờ ở miền Nam. Đám ma thầy, người đi xếp thành hàng mười suốt dặm dài từ chùa An Quang đến xa cảng miền Tây. Thầy về ngủ yên ở quê nhà Trà Vinh. Ngôi bảo tháp Thiện Hoa sẽ trơ gan cùng tuế nguyệt cho tới ngàn đời.


 


10.  MÙA XUÂN VÀO VÙNG KHU CHIẾN


 


Hậu sự của thầy vừa xong, chân còn đau Phước đã đến báo phải đi R gấp. Lý do: Ngay sau khi lệnh đình chiến có hiệu lực, phe Thiệu còn mất bình tĩnh, có thể lơi lỏng việc kiểm soát các chốt canh phòng. Thứ hai, Tết gần đến, lính tráng còn mải chuẩn bị vui chơi sau gần ba mươi năm chiến tranh máu lửa.


 – Còn vài ngày nữa tới Tết, anh làm gì mà thấy loay hoay cặm cụi mãi thế?


Chàng đang tập trung tư tưởng ghi lại một số nhận định về tình hình trên trang giấy thì vợ chàng đến sau lưng lúc nào không hay. Chàng giật mình, vẻ bối rối không giấu được trên khuôn mặt.


 Viết thư tình gửi cô nào chớ chẳng chơi - Nàng mỉm cười trêu.


Chàng lại nói láo, kẻ làm chính trị và kẻ đa tình suốt đời nói láo, chàng thầm nghĩ tới được cười như đấng Thượng đế của ông Tản Đà:


 Có gì đâu, thầy Hồng Ân kêu anh đi coi khu đất ở rừng Tánh Linh, em có thể đem tiếp một số dân quê mình vô đấy khẩn hoang nữa không.


Nghe tới tên sư Hồng Ân là nàng như thấy dáng giáo chủ trước mặt. Và mọi cái dính dáng hay phát xuất từ sư thầy đều đáng tôn kính, đều phải làm. Nàng nói:


– Chàng có gì cũng phải để sau Tết đã chứ?


Chàng nói khẽ:


– Bậy nào. Sau Tết còn phải về quê xem hai bên và đồng bào hưởng ứng Hiệp định đình chiến thế nào chứ. Anh đi vài ba ngày thôi. Nhân dịp vui xuân ai cũng rảnh rơi, mới nhờ họ dẫn đi coi đất được. Có ai tới thăm chơi, em cứ nói anh về ăn Tết với đồng bào cử tri ngoài Quảng.


Nàng nghi ngờ:


– Đi khẩn hoang là làm theo chủ trương của chính phủ sao phải nói thác đi vậy?


Chàng giả vờ uể oải, ngáp:


– Công chuyện này cũng phức tạp lắm. Thầy muốn thì mình vâng lời. Nhưng ở quê có nhiều người đối lập với ổng, họ thêu dệt đủ chuyện, nên mình không công khai ủng hộ ổng mà phải khéo khéo.


Những lời dối trá đó đã làm nàng yên tâm. Nhưng chàng còn thêm:


– Đi vài ngày, anh không mang áo quần gì ngoài bộ đồ bận trong người, nhưng phải có đôi dép râu để đi trong ruộng cho dễ.


Sự thật, hôm qua Phước đã trang bị sẵn cho chàng một bộ bà ba đen đã nhục, chàng bọc tờ nhựt trình kín đáo giấu vào tủ sách. Tin tức tài liệu cần thiết thì phải học thuộc lòng, chàng chỉ cài trên túi áo một cái Parker để làm quà.


Trên tuyến xe đò đi Tây Ninh chiều 29 Tết năm ấy có hai người khách ăn mặc tươm tất, một trung niên, một còn rất trẻ. Cả hai đều bận sơ mi trắng, giày da Boscal, người lớn tuổi hơn còn cà vạt đỏ tươi, đeo kính trắng, người kia để râu mép như chừng muốn có vẻ già thêm một chút. Họ hối hả lên xe, lẳng lặng ngồi sâu bên trong. Người lớn tuổi thỉnh thoảng liếc nhìn đồng hồ mà mãi, chiếc xe vẫn nằm ỳ. Nhưng rồi cuối cùng nó cũng xình xịch nổ máy và ì ạch lăn bánh. Bạn hàng ngồi chật như nêm nhưng không ai than phiền gì vì còn mải loay hoay với túi xách, quang từ gói mì chiên bơ cho tới những đóa hoa nhựa sặc sỡ mua từ chợ Bến Thành. Theo con lộ chạy áp bờ sông Vàm Cỏ Đông, ở nhà dân hai bên đường, bông vạn thọ nở vàng ngoài sân, rải rác đã có những tiếng pháo tép của trẻ con.


Đường vắng, xe chạy nhanh nhưng từng chặng phải dừng lại cho hành khách xuống. Trước khi vào thị xã chừng vài khoen rựa, nói theo từ địa phương, là cánh đồng lúa đang độ con gái xanh mướt. Tới chỗ có cái gò mối to, viền sau lưng bằng một hàng tre cù rậm rạp, một chiếc quán cóc núp bóng nằm sát con đường mòn men ruộng bò vào một xóm nhỏ ven sông. Người trẻ tuổi thò tay qua buồng lái vỗ vai bác tài:


- Dừng lại! Cho xuống đi!


Âm sắc Quảng Trị không giấu được dù rõ là anh cố nói theo giọng Nam. Cả hai xuống xe, người lớn tuổi co duỗi mấy cái cho đỡ cuồng chân rồi thư thái đếm bước như những khách nhàn tản du xuân. Mặt trời sắp lặn, quán còn mở cửa. Một nải chuối đã thâm đen treo lủng lẳng, vài hũ kẹo đậu, kẹo dừa loáng thoáng mấy con ruồi bu trên nắp. Trong bếp, ấm nước chè trên ba đầu ông táo lọ lem, than vừa tàn, chồng bát sành úp ngay ngắn trong giỏ. Trước sau nào thấy bóng người.


Một cách quen thuộc như chính mình là chủ quán, người trẻ tự tiện chiết hai bát nước đưa mời người kia một, rồi nhón tay bốc vài cái kẹo cho vào mồm nhai trệu trạo và uống nước ngon lành. Không ai nhìn cử chỉ rất nhà quê đó mà có thể nghĩ anh ta đang là một trong những trợ lý của đương kim Thủ tướng Trần Thiện Khiêm[5].


Người lớn tuổi hơn thì đang yên lặng ngắm mấy cây nhang đang cháy dở dưới một tượng Phật bằng đất nhưng nom có vẻ rất xưa, nét dân tộc thật đậm đà. Quí lắm đấy, chưa chắc chủ nhân đã biết giá trị, chàng nghĩ.


– Anh có mệt lắm không? - câu hỏi làm chàng trở về với thực tại. Chắc chị Sáu đi dạo đâu gần đây thôi. Xin anh phiền lòng chờ một chút.


Chàng đáp: – Sao chú khách sáo thế – Rồi nhìn ra xa chàng tiếp: – Mấy khi tụi mình được thư thả nhìn nắng vàng cuối năm lảng vảng trên hàng cây đẹp như thế kia đâu. Còn được hít thở không khí trong lành của đồng quê, lẽ ra phải trả thêm tiền cho chú nữa đó. Bỗng người trẻ tuổi reo lên: Chị Sáu!- chị chưa tới ba mươi, da bánh mật, má lúm đồng tiền nhoẻn miệng cười thật xinh. Chị Sáu không giấu được nỗi vui lớn: – Chèn ơi! Chờ mãi, tưởng phải đóng cửa về cúng tất niên rồi chớ. Sao muộn vậy, cậu Út? Phước hớp một ngụm thanh minh: – Chờ cho xong mấy việc cuối năm. Mà có lên sớm chỉ làm rộn chị thôi. Sáu Thảo vừa thoăn thoắt dọn dẹp hàng quán, nói với Phước: – Sập cửa. Chúng ta vô chùa. Năm nay anh Mười đón giao thừa trong cửa thiền. Phật tử thuần thành mà. Chị trêu. Chàng tháo kính, rút khăn lau, hoan hỷ: – Nếu lại được nghe tiếng tụng kinh đầu năm của chị thì phước biết bao. Chàng nhấn vào chữ PHƯỚC một cách cợt nhả, làm chị Sáu cũng bẽn lẽn: – Rảnh, vô chùa làm công quả, nghe riết thuộc lòng thì có, tụng thì chưa. Chú Út đồn bậy đó.


Sáu Thảo đi trước dẫn đường, tay cầm thẻ hương, cả ba như dân tỉnh về quê ăn Tết. Mười ôm cặp Samsonite đen bóng. Phước đem túi xách, tay cố cho người ta thấy phong pháo và hộp mứt. Qua hết lũng ruộng là đến Gò Chùa nằm sát sông. Ngôi Thổ Sơn Tự ngoài tấm bình phong có con hổ đang nhe răng đe dọa tà ma, thì chỉ là chiếc am tranh. Chàng lẩm bẩm: Chùa đất mới chính là nơi có Phật vàng.


Quả vậy, vị sư thầy đã già và chú tiểu ngoài hai mươi. Mắt sáng, nhanh nhẹn, chú đang cắm mấy nhánh bông thọ vào chiếc độc bình ở bàn thiên. Nghe có bước chân người đi vào, chú ngẩng đầu lên. Sáu Thảo nhanh nhảu giới thiệu:


– Đây là tiểu Minh Hiền, em tôi vừa trượt tú tài hai lên đây nương bóng sư thầy. Dưới đó đang bắt lính gắt lắm.


Minh Hiền còn đang lúng túng, chưa tiện chào hỏi ra sao thì Sáu đã chỉ hai người khách, dặn:


– Chú đưa anh Mười và anh Út đây vào đảnh lễ sư thầy. Nhờ bạch sư đây hai người bà con của chúng mình, xin tá túc qua đêm để mai còn về bên kia sông ăn Tết với gia đình. Lát nữa cơm nước xong, chú dọn giường trong chỗ chú cho hai anh nghỉ.


Nhằm lúc thấp thoáng ngoài ngõ có mấy bổn đạo trong ấp tới chùa lễ tất niên sư thầy, chị Sáu liền ra dấu cho hai người đi theo mé trái, dưới hai hàng mít rậm rạp, qua nhà bếp rồi băng qua vườn chùa. Bấy giờ đậu ve đang ra trái tíu tít. Trên một lối mòn trơn trượt họ rẽ lá đến bờ sông, một gốc sung già to bằng hai người ôm ngả ra trên mặt nước như một cầu tắm thiên nhiên ngoạn mục. Phước thong thả vốc nước rửa mặt. Mười thản nhiên bật quẹt châm thuốc hút, hỏi chị Sáu:


– Sư thầy đạo hiệu là gì, chị?


Chị đăm đăm nhìn về phía trong chùa, ý coi xem các Phật tử hồi nãy đã về chưa, chậm rãi đáp:


– Tôi cũng không rành. Chỗ này là một cái gò. Chiếc am tranh này được được bà con gọi là Chùa Gò, nghe nói giấy tờ ghi là Thổ Sơn Tự… Sư ông là bác họ tôi, từ hồi bị Tây bắt tù thả về, không còn muốn dính việc đời nữa lên tu ở đây đã hơn ba mươi năm, dân chúng quanh vùng quen gọi ổng là ông sư Chùa Gò. Ông không mấy thích chuyện chính trị.


Thấy ánh mắt chàng lộ vẻ ngạc nhiên, chị Sáu tiếp:


– Tôi quê Bình Mỹ, Củ Chi, mồ côi cha mẹ sớm. Chú em Minh Hiền phải mượn cái đầu trọc và chiếc áo cà sa tránh lính, còn tôi, sống bằng cái quán nhỏ, chiều về đây công quả và nghỉ ngơi.


Chàng biết chị đang làm giao liên, tiết lộ bấy nhiêu là hơi nhiều rồi. Cuối năm, con nước Vàm Cỏ Đông như đứng, giữ cho thời gian ngừng trôi. Trên dòng sông hiền lành êm ắng, một con thuyền nhỏ xuôi về đâu mà tay chèo chầm chậm rẽ nước, bếp lửa ở đầu lái nhả một tia khói mong manh khiến chàng miên man suy nghĩ về tính huyền nhiệm của cuộc đời.


Nơi nơi con người vẫn sống, từ Thủ đô hoa lệ chói chang ánh điện cho tới xóm lá bên sông, trôi nổi thương hồ, như chiếc ghe này giữa thâm sơn cùng cốc cho tới biển khơi xa mù. Từ ông Quốc trưởng nhà cửa nguy nga, xe hơi bóng lộn cho tới người ăn mày đói cơm rách áo ngủ bên lề đường. Sang hay hèn ai cũng có cuộc đời riêng của mình, không thể nhầm lẫn với bất cứ một kẻ nào khác. Đang miên man như thế thì chợt có tiếng chuông đêm vọng lại. Chị Sáu vô chùa hồi nào không hay, đã vội chạy ra kêu.


– Khách về hết rồi. Mời hai anh vào.


Đã được chú tiểu báo trước, sư thầy ngồi chờ sẵn ở chiếc bàn gỗ tạp có bốn cái ghế dựa lỏng khỏng kê ngoài hè, trên nền đất hủng hiu. Thầy từ Mẫn mỉm cười hỏi:


– Hai vị mới lên hở? Sao về ăn tết muộn vậy?


Chàng chắp tay đảnh lễ:


– Cuối năm lu bu quá. Nhà tụi con ở bên kia sông. Xin thầy cho ngủ đỡ một đêm Giao thừa.


Thầy niềm nở rót nước mời:


– Cửa thiền luôn rộng mở. Không mấy khi được được quý đạo hữu đến, hân hoan lắm.


Phước mở túi xách lấy gói trà Đài Loan hảo hạng và hộp mứt Bến Thành kính cẩn đặt trong chiếc khay cẩn xà cừ rất cũ đã bong lỗ chỗ:


– Xin mừng sư thầy năm mới pháp thể khinh an. Sáng mai chúng con xin được ra đi thật sớm.


Sư thầy lắc đầu:


– Khách sáo quá. Nghe Minh Hiền có nói hai ông tính mượn thuyền qua sông. Xin cẩn thận cho. Dạo này đám biệt kích đường sông, mấy ổng hay đi ruồng lắm.


Rồi chõ giọng vào bếp đang có ánh lửa bập bùng, thầy nói thật to:


– Sáu! Con dọn tương rau nhà chùa mời hai ông dùng bữa rồi nghỉ. Nếu không phiền, mời hai ông đón Giao thừa với thầy.


Cơm nước xong hai người ngồi nói chuyện nho nhỏ trong phòng, chờ tiếng chuông mõ gióng lên với tiếng pháo trong xóm nổ vang. Trời trong, đêm phương Nam mát lạnh, ngàn sao lấp lánh không khí thiêng liêng một cách huyền bí. Chùa đã xong khóa nửa đêm, bổn đạo đến lễ Phật đầu năm, chúc Tết sư thầy rồi hái lộc ra về. Tiếng quần áo mới sột soạt, giày dép khua vang, những đốm hương nối đuôi nhau ra ngõ.


Minh Hiền vâng lời thầy mời hai vị khách ra dùng bánh mứt Giao thừa, họ rửa mặt, thay quần áo tươm tất, xin phép sư thầy lễ Phật. Chàng nghĩ đến đám con cái giờ này đang quây quần trong căn nhà nhỏ ở Nguyễn Thiện Thuật, quận 3 Sài Gòn, thế nào cũng ngạc nhiên thấy vắng ba. Chàng đã dặn vợ nói láo với chúng là ba đã về quê ăn Tết với đồng bào nhưng trong lòng vẫn thấy lo lắng. Chàng lầm rầm khấn vái cho chuyến đi tốt đẹp. Út không lạy nhưng vẫn chắp tay kính cẩn đứng một bên. Xong, chủ khách chúc Tết lẫn nhau.


(còn tiếp)


Nguồn: Bão. Tiểu thuyết của Ngũ Hà Miên. NXB Lao động, 2013.


www.trieuxuan.info








[1] Công an.




[2] Đặc giọng Huế.




[3] Nhân vật đã xuất hiện trong phần đầu Bão.




[4] Tên vợ, con trai chàng.




[5] Thủ tướng VNCH trước 1975.




Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
23.
24.
25.
26.
27.
28.
29.
30.
31.
32.
33.
34.
35.
36.
37.
38.
39.
40.
41.
42.
43.
44.
45.
46.
47.
48.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Bảy đêm huyền thoại - Vũ Bằng 03.02.2019
Dưới chín tầng trời - Dương Hướng 03.02.2019
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 22.01.2019
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 19.01.2019
Đường công danh của Nikodema Dyzmy - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 11.01.2019
Dòng đời - Nguyễn Trung 07.01.2019
Đông Chu liệt quốc - Phùng Mộng Long 07.01.2019
Trả giá - Triệu Xuân 04.01.2019
Trên sa mạc và trong rừng thẳm - Henryk Sienkiewicz 04.01.2019
Chiến tranh và Hòa bình - Liep Nicôlaievich Tônxtoi 27.12.2018
xem thêm »