tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 28206122
Lý luận phê bình văn học
23.08.2018
Nguyễn Hữu Sơn
Hai ngã rẽ trong tiếp nhận thơ Nguyễn Bính giai đoạn nửa sau phong trào Thơ Mới

 


1. So với nhiều tác gia khác, thi sĩ Nguyễn Bính (sinh 1918, sách Thi nhân Việt Nam ghi năm 1919), quê ở làng Thiện Vinh (nay thuộc xã Cộng Hòa, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định), làm thơ từ 13 tuổi, chính thức nhập cuộc thi đàn khi phong trào Thơ mới phát triển tới đỉnh cao. Đương thời ông từng đăng thơ trên các báo Ngày nay, Tiểu thuyết thứ Năm, Đàn bà, Nam cường, Dân báo…; đã xuất bản các tập thơ: Lỡ bước sang ngang (1940), Tâm hồn tôi (1940 - từng được Tự lực văn đoàn tặng Bằng khen “Khuyến khích đặc biệt”, 1937), Hương cố nhân (1941), Một nghìn cửa sổ (1941), Người con gái ở lầu hoa (1942), Mười hai bến nước (1942), Mây Tần (1942), Cô gái Ba Tư (Truyện thơ, 1943), Cây đàn tỳ bà (Truyện thơ, 1944)... Có thuyết nói, khi ở Nam Bộ, ông còn ký bút danh Nam Phố, được nhận giải tư của Nhà xuất bản Nam Xuyên cho một tác phẩm thơ (Sài Gòn, 1944). Giữa đương thời phong trào Thơ mới (1932-1945), thơ Nguyễn Bính đã được nhiều nhà phê bình như Thạch Lam, Thế Lữ, Nàng Lê (Lê Tràng Kiều), Lam Giang, Phạm Mạnh Phan, Hoài Thanh - Hoài Chân, Lương Đức Thiệp, Lê Thanh, Vũ Bội Liêu, Vũ Ngọc Phan… cùng khảo sát, giới thiệu, phân tích, trao đổi, luận bình.


Vấn đề đặt ra là vì sao một tiếng thơ xuất sắc như Nguyễn Bính lại được dư luận nhanh chóng quan tâm và khẳng định? Vì sao một trong những hiện tượng đóng vai trò cánh chim đầu đàn của nền Thơ mới lại không chỉ được đánh giá, tôn vinh một chiều? Điều quan trọng hơn, vì sao thơ Nguyễn Bính lại được người đương thời tiếp nhận, phản biện theo cả hai chiều hướng “khen” và “chê”, ngợi ca và phê phán công bình, đúng mức?


2. Xuất hiện trên thi đàn khi phong trào Thơ mới đã đạt tới đỉnh cao và tiếp tục khẳng định mình vào chặng đường sau với những đóng góp sáng giá. Tuy nhiên, tiếng thơ chân quê của Nguyễn Bính chưa phải trong một sớm một chiều đã tạo được tiếng vang trong công chúng độc giả cũng như sự đồng thuận của giới phê bình.


Nhà thơ Nguyễn Bính nổi tiếng ngay khi gửi tập thơ Tâm hồn tôi đến Tự lực văn đoàn và liền đó đã được nhận bằng khen của tổ chức văn học uy tín này. Với tư cách Ủy viên của Hội đồng giám khảo, nhà văn Thạch Lam chấp bút viết báo cáo “Giải thưởng văn chương Tự lực văn đoàn, năm 1937” đã thẳng thắn, khách quan nhấn mạnh cả những ưu điểm và hạn chế của tập thơ:


“Ban Giám khảo đã dành riêng một sự khuyến khích đặc biệt cho ông Nguyễn Bính, tác giả cuốn Tâm hồn tôi.


Tâm hồn tôi là một tập thơ rất không đều, nhưng cũng đặc sắc. Ông Bính có một lối văn rất lưu loát, có nhiều màu sắc và ý tứ hay. Ông lại có một lĩnh hội tự nhiên về điệu, là một sự rất cần cho người làm thơ. Ông là một văn sĩ còn trẻ, không chịu cố lắm, và hãy còn vụng về trong sự diễn giải những tính tình ngây thơ của mình.


Tâm hồn tôi có bài hay, có một vẻ riêng. Song những bài hay ấy ít quá - (cũng vì lẽ ấy mà Hội đồng không tặng thưởng), bên cạnh những bài xoàng, vụng về và non nớt.


Nhưng cũng như tác giả Bỉ vỏ, ông Nguyễn Bính sẽ trở nên một văn sĩ có tương lai nếu ông chịu làm cho câu văn thêm tinh xảo”.


Năm ấy Nguyễn Bính vừa cận 20 tuổi và vẫn còn là “người xa lạ” trên thi đàn. Có thể nói Thạch Lam và Hội đồng giám khảo Tự lực văn đoàn đã làm việc trên những nguyên tắc thực sự vì nghệ thuật, sáng suốt, khách quan và trung thực góp ý, phản biện, chỉ ra những hạn chế, đồng thời tin cậy động viên, khuyến khích, mở đường cho Nguyễn Bính cũng như các tài năng văn chương phát triển.


Trên thực tế, việc phân chia người đương thời tiếp nhận thơ Nguyễn Bính theo hai ngã rẽ chỉ là một cách hình dung, một thao tác phân loại bởi cùng một nhà phê bình và trong cùng một bài viết thường vẫn kết hợp, thể hiện đầy đủ, tổng hòa cả hai chiều hướng quan sát, bình điểm nói trên.


2.1. Người đương thời khẳng định, ngợi ca thơ Nguyễn Bính


Đúng như Thạch Lam đã nhận xét, tập thơ đầu tay Tâm hồn tôi của Nguyễn Bính “cũng đặc sắc”, “có một lối văn rất lưu loát, có nhiều màu sắc và ý tứ hay”. Khi Nguyễn Bính viết đều và xuất bản nhiều hơn, giới phê bình tiếp tục đồng thuận với những cảm nhận ban đầu của Thạch Lam và định hướng này trở thành tiếng nói chủ đạo.


Trong mục Tin thơ trên báo Ngày nay, Thế Lữ đã điểm thơ xuân Tản Đà, Xuân Diệu và tiếp đến đánh giá cao phong cách thơ Nguyễn Bính:


“Thơ xuân của ông Nguyễn Bính là những bức tranh nhỏ nhắn vẽ những nét hoạt bát vui vẻ không có chút gì gọi là kỳ khu. Bốn câu đầu trong bài Xuân về của ông:


Đã thấy xuân về với gió đông,


Với trên màu má gái chưa chồng:


Bên hiên hàng xóm cô hàng xóm,


Liếc mắt nhìn trời, đôi mắt trong.


Vẻ đùa cợt thực là tài tình ở những tiếng nhắc lại ỡm ờ nhưng không ngang chướng.


Ông Bính có một giọng thơ ba lơn rất dung dị và rất đáng yêu”.


Với bút danh Nàng Lê, Lê Tràng Kiều trong bài viết “Thi sĩ với giai nhân” in trên Tiểu thuyết thứ Năm đã thẩm bình dòng thơ ca tụng người đẹp trong thơ Nguyễn Bính và Vũ Trọng Can, Thế Lữ, đặc biệt đặt trong tương quan cặp bài trùng Nguyễn Bính - Nguyễn Nhược Pháp:


“Cứ như hai nhà thi sĩ Nguyễn Bính và Nguyễn Nhược Pháp thế mà hóm. Này nhé, “người ta” của Nguyễn Nhược Pháp chỉ có thế này:


Mê nàng bao nhiêu người làm thơ


Khiếp! Bao nhiêu người làm thơ vì “nàng”. Chắc “nàng” đẹp lắm. Đẹp hết chỗ nói. Nhưng cái chỗ “hết chỗ nói” ấy nó cho người đọc một hình ảnh mập mờ mà thích lắm, thích lắm.


Ba năm trở lại đất Hà Đông,


Người cũ, cô Oanh má vẫn hồng.


Tóc vẫn bỏ lơi, răng vẫn trắng,


Vẫn ngồi lơ đãng liếc qua song.


Nhưng vẫn vô tình với khách thơ,


Qua đường, hai mắt ngại ngùng đưa.


Mà hai mắt ấy lâu nay vẫn,


Riêng để nhìn ai trong giấc mơ.   


(Nguyễn Bính)


Thôi nhé, thế là đủ rồi. Một cô gái răng trắng bóng, má hồng hồng, tóc bỏ lơi lại ngồi mơ mộng bên cửa sổ là đủ tài liệu cho một bức vẽ của nhà nghệ sĩ tài hoa rồi”.


Tiếp theo trong bài viết “Tình và tứ của thi sĩ” cũng in trên Tiểu thuyết thứ Năm, Nàng Lê đi sâu nhận diện về dòng “thơ ái tình” với chứng dẫn thơ Tản Đà, Thanh Tịnh, Yến Lan, Nguyễn Xuân Huy, Vũ Trọng Can, Đông Hồ và nhấn mạnh giọng điệu thơ tình Nguyễn Bính:


“Có điều tôi nhận thấy đám thi sĩ họ có cách kêu gào những điều họ muốn, những điều họ nghĩ. Không những thế, có khi họ nghĩ hộ cả cho người khác nữa. Vì thế có nhiều người ôm ấp thờ phụng thầm một thi sĩ trong óc cũng chẳng có gì lạ. Ví chắc hẳn thi sĩ đó một khi đã tả rõ những thổn thức, thiếu thốn, xót thương hoặc băn khoăn của họ. Ở ái tình, thi sĩ đã khóc hộ ta, và kể lại những băn khoăn của ta với người khác…


… Mà cả nàng Oanh, người trong mộng của thi sĩ Nguyễn Bính cũng ác nốt. Chẳng biết có bao giờ nàng đã đọc những câu sau đây của chàng. Đấy là những tiếng lòng đã thốt ra trong lúc chàng nhớ mong thắm thiết:


Những độ xuân về những tiếng khuyên,


Vang lừng ca ngợi cảnh xuân thiên.


“Lòng đâu” nhớ đến “lòng đâu” nhỉ,


Trên bước đường đời khách lại đi.


Lại buồn rơi giọt lệ lâm ly,


Lại ôm một mối tình vô vọng.


Trở lại Hà Đông chẳng hẹn kỳ”


Liền ngay trên Tiểu thuyết thứ Năm số tiếp theo, với bài viết “Văn chương khi về cảnh cũ”, bình giả Lê Tràng Kiều ký rõ tên thật của mình đã truy tìm nguồn thơ hoài niệm người xưa cảnh cũ từ các tác gia thời Đường (Triệu Hổ, Thôi Hiệu, Lưu Vũ Tích) đến tiếng thơ của người đương thời, qua trích dẫn thơ Chế Lan Viên, Thanh Tịnh và đoạn cuối là toàn văn một bài thơ của Nguyễn Bính:


Một chiều khách trở về cảnh cũ...


Khách là một trong bọn giang hồ - hay dù không là giang hồ - lại là một trong bọn thi sĩ. Khách sẽ thấy nơi xưa - mà đã hơn một lần, khách bước chân tới - nay đã biến đổi, tuy rằng cái tinh hoa của cảnh vật vẫn còn nguyên vẹn. Khách bồi hồi vơ vẩn. Vì khách là thi sĩ. Mà là thi sĩ thì chỉ một vật rất hèn mọn nhỏ nhặt biến thiên đi cũng đủ làm xúc động lòng thơ. Huống chi cả một phong cảnh đông trong khung vũ trụ đã đổi thay?...


… Nhưng cảnh cũ đối với thi sĩ Nguyễn Bính lại là cả một bức họa dịu màu:


Trên con đường đất nhỏ ven đê,


Tôi thấy vui mừng trở lại quê.


Chín năm lăn lóc nơi thành thị,


Tìm kế sinh nhai chửa có về.


 


Chín năm quên ngắm cảnh hoàng hôn,


Nhuộm cánh đồng chua rạng rỡ buồn.


Chẳng được bên ao ngồi lặng lặng


Mơ nhìn cá đớp ánh trăng suông…


Cả một bức họa ấy đã in trong óc thi sĩ. Người ta không buồn thì ai bắt người ta buồn được, khi lòng người ta còn ngây thơ?”.


Trong mục Thi pháp thuần Việt ở sách Khảo luận luật Thơ mới (Huế, 1940), Lam Giang coi thơ lục bát là thành quả của Quốc phong và minh chứng bằng lục bát Truyện Kiều của Nguyễn Du cho đến thơ Nguyễn Bính đương thời:


“Thật là một vinh dự cho dân tộc vì trải qua hai ngàn năm ảnh hưởng Hán hóa, quốc phong của ta vẫn còn giữ được bản sắc, thể cách, cú điệu riêng…


… Duy danh định nghĩa, thơ lục bát của văn chương bác học là một lối thơ đều đều trên 6 dưới 8. Yêu vận bình vận liên lạc từ chữ thứ 6 của câu trên xuống chữ thứ 6 của câu dưới. Đều đều lắm thì dễ nhàm chán, cho nên văn chương bác học cố biến đổi cách cắt mạch của câu lục cũng như của câu bát. Ví dụ:


 


Rằng: Trăm năm cũng từ đây,


Của tin gọi một chút này làm ghi…


(Nguyễn Du)


hoặc:


Mưa xuân rơi! Mưa xuân rơi!


Bên sông hồn quạnh nhìn trời ta mơ…


(T.H)


hoặc:


Chút tình duyên của đôi ta,


Đến đây là… đến đây là… là thôi!


(Nguyễn Bính)


Quốc phong yêu vận bình - thường cũng gọi là lục bát bình dân - có một khuôn khổ rộng rãi, không câu nệ số chữ, cách điệu phong phú hơn nhiều”.


Nguyễn Bính là nhà thơ có tên tuổi ở chặng sau phong trào Thơ mới cả về chất lượng và số lượng tác phẩm. Trong niên biểu Ba mươi năm văn học, Mộc Khuê (Kiều Thanh Quế) đã ghi danh ba tập thơ của Nguyễn Bính: “Tâm hồn tôi (1940) của Nguyễn Bính là tâm hồn một thôn nữ ngây thơ Lỡ bước sang ngang (1940) hãy còn tưởng niệm đến Hương cố nhân (1941)”.


Khi tập thơ Hương cố nhân ra đời, ngay năm sau nhà phê bình Phạm Mạnh Phan đồng thời là thư ký tòa soạn đã viết bài đọc sách in trên Tri tân tạp chí. Trong đoạn mở đầu, Phạm Mạnh Phan khơi gợi vấn đề một cách hấp dẫn và đi tới xác định:


“Hôm nay tôi giới thiệu với bạn đọc, ông Nguyễn Bính, tác giả tập thơ Hương cố nhân rồi các bạn sẽ định giá trị thơ ông.


Ông Nguyễn Bính không phải là một tên mới trong làng ngâm vịnh. Vì tập thơ này không phải là tập thơ đầu. Nó ra sau hai cuốn Lỡ bước sang ngangTâm hồn tôi.


Từ đây nhà phê bình Phạm Mạnh Phan triển khai trong đề mục Những câu thơ đẹp với lời ca tụng Nguyễn Bính đích thực là “thi sĩ”, “người đa cảm”, “mảnh hồn trong trẻo”, “nên câu tuyệt diệu”:


Thoạt mới giở tập thơ ta thấy ngay hai câu thơ in riêng một trang, nhường như tác giả có ý nêu lên làm đích cho những trang sau:


Xây bao nhiêu mộng thế mà,


Đến nay phải gọi người là cố nhân!


Chưa cần đọc toàn tập, ta cũng đoán thi sĩ Nguyễn Bính sẽ nói những gì?


Phải chăng thi sĩ trong tuổi diệu tình đã từng phen gặp gỡ một giai nhân, một giai nhân mà một khóe mắt cũng đủ nghiêng lệch một tâm hồn, một cái cười nụ cũng đủ làm đổ vỡ một cái gì ấy?


Thi sĩ đã từng sống trong những giờ khắc mê ly, tâm hồn đã từng dào dạt vì yêu, vì nhớ. Và, trong mộng đẹp, ái ân đã từng xây dựng những lâu đài đồ sộ nguy nga.


Thế mà đến nay người yêu đã nỡ hững hờ để cho ai luống ngậm ngùi, phải cùng nàng Thơ than thở! Và thôi, từ đây biết bao mộng đẹp đành phải để chúng lắng trong mơ mà trái tim mang vết âu nhờ ngày tháng gắn hàn!


Đọc Hương cố nhân, ta thấy thi sĩ Nguyễn Bính là người đa cảm, mảnh hồn trong trẻo của tuổi anh niên đã sớm thả theo luồng gió ái ân mà nên câu tuyệt diệu:


Con tằm là lụy ba sinh,


Mà em là lụy của anh muôn đời.


Thi sĩ là người thế nào mà đã chót vì yêu đương mang “lụy” vào mình? Ta hãy nghe mấy lời thành thật và thấm thía của thi sĩ đã nói về gia cảnh mình:


Thầy tôi dạy học chữ nho,


Dạy dăm ba đứa học trò loanh quanh.


Có gì tiếng cả nhà thanh:


Cơm ăn đủ bữa áo lành đủ thay.


Còn tôi sống sót là may,


Mẹ hiền mất sớm, giời đầy làm thơ.


(Nhầm)


Thì ra thi sĩ đã vắng tiếng mẹ những ngày còn trứng nước và đã không được ấp ủ yêu đương trong khi chung sống với một em:


Em tôi là gái mười lăm,


Quét sân, chạy chợ, chăn tằm sớm trưa.


và với một chị gái đã từng “lỡ bước sang ngang”:


Chị tôi sông nước con thuyền,


Oan không phải chuyến cho duyên trái mùa…


… Chị tôi dài những mùa đông...


Se tơ nước mắt, dệt khung cửi sầu!


(Tình tôi)


Biết cảnh nhà thanh bạch, nên thi sĩ đã phải ngượng với người yêu nếu mộng đẹp cùng ai xây tổ uyên ương thành sự thực:


Nàng mà làm dâu nhà tôi,


Vườn dâu nó thẹn với đôi tay ngà.


 (Nhầm)


Người yêu chẳng phải ai đâu xa lạ, chính là người bạn học của thi sĩ, những ngày thơ ấu:


Học trò trường Huyện ngày năm ấy,


Anh tuổi bằng em, lớp tuổi thơ.


Những buổi học về không có nón,


Đội đầu chung một lá sen tơ!


Thật là một cảnh nên thơ của đôi trẻ mà trong tình bè bạn ngây thơ nhường như thấy chớm nở một tình yêu đằm thắm, vì:


Lá sen vương phấn hương sen ngát,


Ấp ủ hai ta, chút nhụy hờ.


Lũ bướm tưởng hoa gài mái tóc,


Theo về tận cổng mới tan mơ.


(Bươm bướm)


Cái mộng đẹp ấy, người trong cuộc tưởng rồi sau cũng cùng ai trăm năm trọn kiếp, vui hưởng thú ái ân; vì đã cùng nhau như nàng Kiều với chàng Kim nặng lời thề thốt.


Ai thề như mới hôm qua,


Lấy nhau không được chẳng thà chết đi.


(Nhầm)


Nhưng khốn nỗi, gia pháp còn nghiêm, thân nhi nữ phải ép mình tuân lệnh để đền công dưỡng dục mà đành mang tiếng con người phụ bạc:


Phận gái ví theo lề ép uổng,


Đã về Chiêm quốc như Huyền Trân.


(Nhạc Xuân)


Nên khiến thi sĩ đã từng ngao ngán nhẽ:


Em đã sang ngang với một người,


Anh còn giồng cải nữa hay thôi?


Đêm qua mơ thấy hai con bướm,


Khép cánh tình chung ở giữa giời!


Cảnh biệt ly, kẻ ở người đi đã làm cho khách đa tình phải cùng tháng ngày ôm hận mà ràn rụa những nỗi nhớ thương:


Sớm nay sương xuống đầy làng,


Tưởng như khói pháo đưa nàng năm xưa.


Nàng về, kẻ đón, người đưa,


Tôi chờ gì nữa mà chưa giang hồ?


(Vu quy)”


Rồi đến hai ông Hoài Thanh - Hoài Chân trong lời giới thiệu Một thời đại trong thi ca ở sách Thi nhân Việt Nam (Nguyễn Đức Phiên xuất bản, Huế, 1942) có ý nhấn mạnh chất thơ, hình thức và phong cách thơ Nguyễn Bính so với nhiều thi nhân đương thời:


“Tôi quyết rằng trong lịch sử thi ca Việt Nam chưa bao giờ có một thời đại phong phú như thời đại này. Chưa bao giờ người ta thấy xuất hiện cùng một lần một hồn thơ rộng mở như Thế Lữ, mơ màng như Lưu Trọng Lư, hùng tráng như Huy Thông, trong sáng như Nguyễn Nhược Pháp, ảo não như Huy Cận, quê mùa như Nguyễn Bính, kỳ dị như Chế Lan Viên... và thiết tha, rạo rực, băn khoăn như Xuân Diệu…


… Trái lại, trong thơ Nguyễn Nhược Pháp chịu không thể thấy dấu tích một nhà thơ xưa nào. Không biết ai đã giúp Nguyễn Nhược Pháp tìm ra nụ cười kín đáo, hiền lành và có duyên ấy. Alfred de Musset chăng? Dầu sao đây rõ ràng là một nụ cười riêng của người Việt. Thế mà lạ, trong vườn thơ nó chỉ nở ra có một lần. Sau này Nguyễn Bính đi tìm tính chất Việt Nam lại trở về ca dao. Thơ Nguyễn Bính có cái vẻ mộc mạc của những câu hát đồng quê. Nguyễn Đình Thư cũng có chịu ít nhiều ảnh hưởng ca dao, lại chỉ mượn ở ca dao cái vẻ tình tứ. Cho nên Nguyễn Đình Thư gần Kiều hơn…


… Ngoài Lưu Trọng Lư, Phan Văn Dật, Nguyễn Nhược Pháp, Nguyễn Bính, Nguyễn Đình Thư, Vũ Hoàng Chương, trong dòng Việt cơ hồ không còn ai” (NHS nhấn mạnh).


Trong phần khái lược chân dung thi sĩ “nhà quê”, “quê mùa” xứ Sơn Nam Hạ, Hoài Thanh - Hoài Chân tuyển chọn 8 bài thơ (đồng hạng số bài với Chế Lan Viên, xếp trên các tác gia Hàn Mặc Tử, Thế Lữ, Nam Trân được tuyển 7 bài), từ đó đi sâu phân tích chất thơ hồn hậu in đậm phong vị ca dao cũng như chỉ ra những sự lệch pha, lạc bước, quá đà ở thơ Nguyễn Bính:


Ở mỗi chúng ta đều có một người nhà quê. Cái nghề làm ruộng và cuộc đời bình dị của người làm ruộng cha truyền con nối từ mấy nghìn năm đã ăn sâu vào tâm trí chúng ta. Nhưng - khôn hay dại - chúng ta ngày một cố lìa xa nề nếp cũ để hòng đi tới chỗ mà ta gọi là văn minh. Dầu sau, những tính tình tư tưởng ta hấp thụ ở học đường cám dỗ ta, những cái phiền phức của cuộc đời mới lôi cuốn ta, nên ở mỗi chúng ta người nhà quê kia vốn khiêm tốn và hiền lành ít có dịp xuất đầu lộ diện. Đến nỗi có lúc ta tưởng chàng đã chết rồi. Ở Nguyễn Bính thì không thế. Người nhà quê của Nguyễn Bính vẫn ngang nhiên sống như thường. Tôi muốn nói Nguyễn Bính vẫn còn giữ được bản chất nhà quê nhiều lắm. Và thơ Nguyễn Bính đã đánh thức người nhà quê vẫn ẩn náu trong lòng ta. Ta bỗng thấy vườn cau bụi chuối là hoàn cảnh tự nhiên của ta và những tính tình đơn giản của dân quê là những tính tình căn bản của ta. Giá Nguyễn Bính sinh ra thời trước, tôi chắc người đã làm những câu ca dao mà dân quê vẫn hát quanh năm và những tác phẩm của người, bây giờ đã có vô số những nhà thông thái nghiên cứu. Họ chẳng ngớt lời khen những câu như:


Nhà em có một giàn giầu,


Nhà anh có một hàng cau liên phòng.


Thôn Đoài thì nhớ thôn Đông,


Cau thôn Đoài nhớ giầu không thôn nào?


Hay:


Lòng anh: giếng ngọt trong veo,


Giăng thu trong vắt biển chiều trong xanh.


Lòng em như bụi kinh thành,


Đa đoan vó ngựa chung tình bánh xe.


Tiếc thay Nguyễn Bính lại không phải là người thời xưa! Cái đẹp kín đáo của những vần thơ Nguyễn Bính tuy cảm được một số đông công chúng mộc mạc, khó lọt vào con mắt các nhà thông thái thời nay. T́ình cờ có đọc thơ Nguyễn Bính họ sẽ bảo: “Thơ như thế này thì có gì?”. Họ có ngờ đâu đã bỏ rơi một điều mà người ta không thể hiểu được bằng lý trí, một điều quý vô ngần: hồn xưa của đất nước”


Trong bài giới thiệu Mùa xuân - một nguồn cảm hứng dồi dào của thi nhân in trên báo Thanh nghị, Vũ Bội Liêu ghi nhận vẻ đẹp nguồn thơ xuân của Lam Giang, Xuân Tâm, Chế Lan Viên, J. Leiba, Nguyễn Nhược Pháp, Thế Lữ, Hàn Mặc Tử và chính thơ xuân Nguyễn Bính:


“Mùa xuân từ trước đến nay vẫn là nguồn cảm hứng của các thi sĩ văn nhân. Mùa xuân tới như xua đuổi cả những nỗi buồn lo của “đoạn đường tàn, năm tháng úa”, và truyền vào trong tim mọi người một tân sinh khí, mùa xuân là biểu hiện của Tuổi trẻ, của Hy vọng, của Thơ mộng, và của Tình yêu…


… Và đây là “bản Nhạc Xuân” của Nguyễn Bính tả cảnh nhớ nhung, như chứa chất một mối sầu thấm thía và êm dịu:


NHẠC XUÂN


Hôm nay là xuân, mai còn xuân,


Xuân đã sang đò nhớ cố nhân.


Người ở bên kia sông cách trở,


Có về Chiêm quốc như Huyền Trân?...


 


… Giờ đây chín vạn bông trời nở,


Duy có tình ta khép lại thôi.


… Mùa xuân buồn cho một ít người, nhưng mùa xuân tươi đẹp đối với bao người yêu xuân! Mùa xuân với những hình sắc huy hoàng, với những hương thơm say đắm như giục ta hưởng lấy tuổi xuân, kẻo đến lúc “Hoa rữa trăng tàn, xuân một khắc dễ nghìn vàng đổi trác” (Nguyễn Công Trứ). Lý Bạch, một ngày xuân, say rượu quá, lăn ra giữa nhà ngủ, đến lúc nghe thấy tiếng oanh hót trên cành, hỏi ra đã biết là đã giữa mùa xuân. Thi sĩ ngậm ngùi vì mỗi ngày tháng trôi mau liền dốc luôn bình rượu uống một hơi rồi lại nghêu ngao hát để chờ trăng lên. Thời giờ đối với nhà thơ họ Lý như nước Hoàng Hà đã đi thì không trở lại. Vì thế thi sĩ khuyên ta vui chơi cho thỏa thích, uống rượu cho thật say, ta hãy bắt chước Tào Thực thết tiệc ở quán Bình Lạc, khách khứa uống hết mười nghìn đấu rượu. “Đời người như giấc mộng lớn, tội gì mà phải vất vả tấm thân?” (Xử thế nhược đại mộng, hồ vi lao kỳ sinh?)”.


Trong công trình nghiên cứu tổng thành Nhà văn hiện đại, nhà phê bình Vũ Ngọc Phan tuy không định vị Nguyễn Bính thành một tác gia độc lập nhưng cũng đã nhắc đến ông trong bài khái quát Các thi gia và xác định đặc tính thi phái Nguyễn Bính trên dòng chảy tiến hóa của nền thơ Việt đương thời:


Người ta có thể kể những thi sĩ dùng lời thật cũ, thỉnh thoảng điểm một vài ý thật mới như Đái Đức Tuấn (Tchya), Nguyễn Bính.


Nguyễn Bính - tác giả những tập thơ Lỡ bước sang ngang, Tâm hồn tôi (Lê Cường - Hà Nội, 1939), Hương cố nhân (Á châu - Hà Nội, 1941) - dùng một lối thật cổ, lối lục bát phong dao để diễn một thứ tình quê phác thực. Nhiều câu của ông gần như vẽ và thật thà, rõ ràng, như hai lần hai là bốn”.


2.1. Người đương thời phản biện thơ Nguyễn Bính


Như đã nêu trên, sau khi bình phẩm, ngợi ca tập thơ Hương cố nhân, nhà phê bình Phạm Mạnh chuyển tiếp sang đề mục Những câu thơ dở và đi sâu phân tích, công kích những phương diện yếu kém trong thơ Nguyễn Bính, trực diện chỉ ra những hạn chế, non yếu cả về nguồn cảm xúc, thi tứ, nội dung và hình thức - lược qui và chứng dẫn những câu thơ “ngớ ngẩn”, “vừa nhạt nhẽo, vừa sống sượng”, “vừa non nớt, vừa ẻo lả”, “có một tâm hồn rất ủy mị”:


Đọc những câu thơ mà tôi trích trên đây, độc giả thấy chúng tuy không được tuyệt diệu, nhưng cũng nhẹ nhàng bay bướm.


Chúng chứng thực rằng thi sĩ Nguyễn Bính cũng có tâm hồn thi sĩ, biết cảm những cái nên thơ, biết du dương lòng mình trong những phút đau thương bằng những vần điệu êm đềm nhè nhẹ.


Ông đã tỏ ra rằng ở chiếc đàn lòng của ông, cái dây thương nhớ là cái dây rung động hơn hết.


Nếu toàn tập có những câu như trên thì, với thời gian, với sự cố gắng, với sức rèn luyện tâm hồn trong trường đời, ông Nguyễn Bính sẽ có hi vọng trở nên một thi nhân nổi tiếng trong làng ngâm vịnh.


Nhưng tiếc thay, bên cạnh những câu nhẹ nhàng đó, chúng ta thấy nhiều câu đã quảng cáo một cách không hay cho thi sĩ.


Độc giả hãy cùng tôi đọc những câu sau đây chẳng có gì đáng gọi là “thơ” cả:


Uống rượu xuông thường và rất nhớ,


Một người yêu ở một phương trời.


(Mùa đông nhớ cố nhân)


Nhớ nhung trắng xóa cả mây trời,


Trắng xóa hồn tôi, ai nhớ tôi?


(Nhớ người trong nắng)


Bốn câu dưới đây lại ngớ ngẩn một cách buồn cười:


Trong hơi chăn ấm như hơi nắng,


Ngủ chẳng về cho, ngủ giả vờ.


(Mưa)


Thôn tôi vào đám hai ngày chẵn,


Chỉ có chèo không nhưng cũng vui.


(Cuối tháng ba)


Lắm lúc ông Nguyễn Bính tỏ ra mình như chú khán nơi thôn dã làm vè để trêu ghẹo một cô gái quê:


Cái quạt mười tám cái nan,


Anh phất vào đấy vô vàn nhớ nhung…


Em ơi, công chúa là em,


Anh là quan trạng đi xem hoa về.


(Đề quạt)


Bao giờ rời được nhau ra,


Bởi tôi là sắt, nàng là nam châm.


(Tây Thi)


Vớt lên thả xuống sao đành,


Anh gửi cho mình, giữ lấy mình ơi?


(Thư lá vàng)


Đọc những câu trên đây, độc giả tưởng như đứng trước một đám hát quan họ mà ông Nguyễn Bính đứng xem đã làm hộ những người hát


Phạm Mạnh Phan lên tiếng phản biện, phản tỉnh lối thơ ủy mị, xa rời cuộc sống, thậm chí cảnh báo mặt trái của giọng điệu cảm thương, chán đời, một chiều bi lụy, “không đánh mà rên”:


Ngoài ra, lại có những câu gò gẫm một cách khó khăn tưởng như lúc làm, nàng Thơ đã ruồng bỏ tác giả Hương cố nhân mà chắp cánh bay đi nơi khác như tỏ ý rằn rỗi:


Giá anh có phép thần tiên,


Bắc cầu bằng bút, đan thuyền bằng thư.


Đem tim đắp đập câu cừ,


Anh lên trên ấy đã từ ngày xưa.


(Nước mấy lần xanh)


Những câu sau này vừa nhạt nhẽo, vừa sống sượng, tìm thấy rất dễ trong tập thơ:


Pháo cưới chẳng hôm nào chẳng nổ,


Tình xa lăng lắc dưới chăn bông!


 (Mùa đông gửi cố nhân)


Vội vàng chi mấy cô Thơ!


Áo bông tuy ấm nhưng chưa bằng chồng.


 (Giở rét)


Ngoài những câu thơ đó ta lại thấy nhiều câu khác vừa non nớt, vừa ẻo lả.


Đọc hai câu này:


Sông Thương cách mấy tiền đò,


Chợ Hoàng họp đến bao giờ mới tan?


(Vu quy)


Ta không khỏi nhớ đến hai câu của thi sĩ Tản Đà đề trong Truyện thế gian:


Sông sâu nước đục lờ lờ,


Ông về bên ấy, bao giờ ông lại sang?


Phải chăng khi viết hai câu trên, ông Nguyễn Bính đã nhớ tới hai câu dưới? Đọc toàn tập, ta thấy thi sĩ Nguyễn Bính có một tâm hồn rất ủy mị. Thi sĩ đã thất vọng vì tình. Thi sĩ làm thơ khêu gợi những kỷ niệm xa xăm của những ngày ân ái cũ, cái đó không đáng trách.


Nhưng điều đáng công kích hơn hết là vì tình duyên lỗi hẹn mà thi sĩ khóc rền rĩ ngày đêm như một đứa trẻ lên ba nổi cơn sài!


Thường thì em khóc về đêm,


Bảo rằng đừng nữa khốn quen nết rồi.


Nín làm sao được, chị ơi!


Tính ra mười mấy tháng giời em xa.


Không phải thi sĩ đã khóc một, hay vài buổi, nhưng đã khóc hàng tháng như lời thú tội của thi sĩ:


Khi nào chị có qua thăm,


Cho em lần nữa chiếc khăn lụa hồng.


Cầm cho hai tháng là cùng,


Khóc như em, mấy khăn hồng chả phai.


(Thư cho chị)


Trông thấy một người đàn bà hay một con trẻ khóc, chúng ta có khi còn động lòng trắc ẩn mà lựa lời thăm hỏi. Nhưng thấy một người đàn ông ngồi khóc chúng ta không những không thèm hỏi, mà lại khinh là đằng khác; vì đã nên trang niên thiếu thì rên rỉ là hèn nhát, khóc than là yếu ớt, là ủy m và van lơn cầu khẩn là ti tiện, đê hèn.


Cảm tưởng của độc giả thế nào khi độc giả thấy thi sĩ Nguyễn Bính chỉ một cớ nhỏ nhen mà khóc hoài:


Từ đấy buồng tôi không có hoa,


Khóc lên nhật ký, khóc cho nhòa.


Giời còn bắt sống còn mang hận,


Chả chết cho thành một đám ma.


(Những trang nhật ký)


Thi sĩ còn thèm khóc nữa và đã chán nản cuộc đời vì... trời ơi, “cao thượng” thay, chỉ vì không lấy được người yêu:


Cho tôi được khóc vì tôi thấy,


Tôi đã tan hoang cả kiếp người.


(Cho tôi được khóc)


Và thi sĩ đã chán nản một cách dại dột:


     Tóc tôi để bạc cho già,


Đời tôi để rụng cho là đời tôi!


(Tôi còn nhớ lắm)”


Cuối cùng, dưới đề mục Sau khi đọc, Phạm Mạnh Phan đi tới cảnh báo lối thơ âu sầu, xa rời cuộc sống gắn với những “thú vui nhục dục”, “cám dỗ đê hèn”, “tâm hồn ốm yếu nhơ nhuốc” và nhấn mạnh tư cách công dân của nhà thơ, vị thế xã hội, tinh thần tranh đấu vì non sông đất nước:


Đọc xong tập thơ, tôi còn nhớ bốn câu thơ thi sĩ Nguyễn Bính đã tự hỏi trong bài Những trang nhật ký:


Nhật ký nhòa đi mất cả rồi,


Chỉ còn vết mực ố hoan thôi!


Biết rằng nên xé hay nên đốt,


Hay để mà thương đến mãn đời?


Ông Nguyễn Bính chớ nên do dự! Tôi xin nói thẳng thắn rằng tôi không thù ghét gì ông, mặc dầu trong tập thơ ông có ít lời bay bướm, nhưng với trạng thái tinh thần của ông mà tôi vừa sơ phác trên đây, với những câu thơ “khóc” của ông, thì cả tập thơ Hương cố nhân ông nên xé đi ngay lập tức và nên đốt ngay đi cho nó mất tích một tâm hồn ốm yếu nhơ nhuốc đến cả những người cầm bút và hại đến cả thanh danh của toàn thể thanh niên Việt Nam!


Ông nghĩ sao nếu một người ngoại quốc đọc đến tập thơ ông mà thấy ông chỉ vì có một cớ nhỏ nhen là không lấy được người yêu mà than, mà khóc, mà phá hủy đời niên thiếu, thì họ sẽ phê bình và phỉ nhổ thanh niên chúng ta ra sao?


Tôi vẫn biết, trong những giờ phút chán nản, tình yêu cần để ấp ủ lòng người, nhưng tình yêu không phải là lẽ sống duy nhất ở đời. Ngoài tình yêu, chúng ta còn có gia đình, còn có xã hội, còn có non sông đất nước đã hun đúc nên ta.


Sống giữa lúc bom đạn nổ inh tai, lửa chiến tranh bùng cháy khắp mọi nơi, các thanh niên thế giới đang đua nhau xả thân vì tổ quốc, vui lòng nhắm mắt bên bờ nghĩa vụ, thì ở nước Nam nhà, một thanh niên làm thơ khóc lóc vì tình duyên trắc trở và muốn hủy hoại thân th mình, phải chăng đó là một điều đáng buồn cho tương lai đất nước?


Hỡi các thi nhân:


Tôi vẫn biết người là con cưng của Tạo hóa, người có tâm hồn đa cảm sớm biết rung động trước vẻ đẹp của ngày hè tươi sáng hay sớm biết gẩy những “sợi tơ lòng” trước cảnh chiều đông mưa phùn, gió rét.


Trước làn sóng rung rinh của những nhành lục liễu rủ trên gương hồ biếc, không ai ngăn thi nhân đừng ngâm vịnh mà không “gọi gió, gọi thông, lên tiếng họa”.


Trước những nỗi đau thương thê thảm của đời, ai cấm thi nhân không được:


Trăm ngàn năm nẩy mãi sợi tơ lòng,


Ca những khúc sầu vui, tình thiên hạ.


(Mấy vần thơ, Thế Lữ)


Vì quả như lời thi sĩ Musset đã nói trong bài thơ La nuit de Mai:


Les phus déssespérés sont les chants les plus beaux


Et j’en sais d’immortels qui sont de purs sanglots.


mà thi sĩ Nguyễn Giang đã dịch gần được sát ý trong Danh văn Âu Mỹ:


Vãn thanh cẩm tú trong đời,


Những câu tuyệt diệu ấy lời xót xa!


Hỡi các thi nhân, người hãy nhận chân cái nhiệm vụ của thi nhân!


Người đừng đem cái thất vọng vô căn cứ làm tê liệt những hi vọng của đất nước. Người đừng ca tụng những thú vui nhục dục mê hồn mà chôn vùi nguồn sinh lực của giống nòi.


Người hãy gieo rắc bằng những vần điệu huyền ảo vào trong mọi người cái thú say sưa của một cuộc đắc thắng mãnh liệt giữa những cám dỗ đê hèn của đời vật chất, với những bổn phận thiêng liêng làm người làm dân trong những giờ phút phục hưng này của gia đình, của đất nước.


Người hãy là những đạo sĩ (être des mages) như điều mong ước của nhà đại thi hào Victor Hugo mà tìm một con đường sáng cho người đồng chủng”.


Hoài Thanh - Hoài Chân trong nửa phần trên bài phác họa chân dung đã đồng cảm với chất thơ “người nhà quê” Nguyễn Bính thì liền sau đó chuyển sang chê trách cái phần thơ thiếu nhất quán, lệch pha, quá đà, lạm dụng lối nói hiển ngôn, diễn ý:


“Kể, một phần cũng là lỗi thi nhân. Ai bảo người không nhà quê hẳn? Người đã biết trách người gái quê:


Hoa chanh nở ở vườn chanh,


Thày u mình với chúng mình chân quê.


Hôm qua em đi tỉnh về,


Hương đồng, gió nội bay đi ít nhiều.


Thế mà chính người cũng đã “đi tỉnh” nhiều lần lắm. Dấu thị thành chẳng những người mang trên quần áo, nó còn in vào tận trong hồn. Khi người than:


Đời có còn gì tươi đẹp nữa,


Buồn thì đến khóc, chết thì chôn.


Khi người tả cảnh xuân:


Đã thấy xuân về với gió đông,


Với trên màu má gái chưa chồng.


Bên hiên hàng xóm, cô hàng xóm


Ngước mắt nhìn trời đôi mắt trong.


ta thấy người không còn gì quê mùa nữa.


Thế thì những câu trên này nên bỏ đi ư? Ai nỡ thế. Nhưng vì có những câu ấy mà người ta khó nhận thấy cái hay của những câu khác có tính cách ca dao. Thành ra cái đặc sắc của Nguyễn Bính, chỗ Nguyễn Bính hơn các nhà thơ khác, ít được người ta nhìn thấy. Đó là một điều đáng vì Nguyễn Bính phàn nàn. Đáng trách chăng là giữa những bài giống hệt ca dao người bỗng chen vào một đôi lời quá mới. Ta thấy khó chịu như khi vào một ngôi chùa có những ngọn đèn điện trên bàn thờ Phật. Cái lối gặp gỡ ấy của hai thời đại rất dễ trở nên lố lăng”.


Nhà phê bình Lương Đức Thiệp trong công trình khảo sát chuyên sâu Việt Nam thi ca luận đã xác định tính hai mặt đỏng đảnh của thể thơ lục bát và so sánh, nhấn mạnh bước tiến từ Thế Lữ, Xuân Diệu, Vũ Hoàng Chương đến Nguyễn Bính:


“Ông Thế Lữ, ông Xuân Diệu, ông Vũ Hoàng Chương đã có một nghệ thuật khá vững vàng mà cũng không tránh được “đá vè” trong nhiều bài “sáu - tám” […].


Trong Lỡ bước sang ngang, ông Nguyễn Bính là cả một “bằng chứng” về sự khó khăn ấy.


Mà thể lục bát là thể thơ Việt Nam hơn hết”.


Sau nhiều trang phân tích, Lương Đức Thiệp tiếp tục chỉ ra các dòng mạch thi ca, trong đó có cả phái Tự nhiên - Hồn nhiên chiếm số đông mà đại diện lại có cả thi sĩ Nguyễn Bính:


“Một phái nữa lấy “tự nhiên” làm cốt cách cho thi ca. Theo chủ trương này, thơ phải hồn nhiên. Gột rửa câu văn, cân nhắc vần điệu làm mất cả đà tự nhiên của dòng thi cảm.


 Hứng đến, thi sĩ chỉ cần bắt ngay lấy rồi dùng thanh âm thích ứng mà gọi nó lên. Thế là thơ rồi!... Cho nên thơ phải “nhất khí”, cho nên giọng thơ phải hồn nhiên:


… Lạ quá! làm sao tôi cứ buồn?


Làm sao tôi cứ khổ luôn luôn?


Làm sao tôi cứ tương tư mãi,


Người đã cùng tôi phụ rất tròn?...


(Nguyễn Bính)


Theo chủ trương này, nhân công gần như không có nữa…


Những mẩu thơ tự nhiên đến ngây ngô, chân thực đến dớ dẩn là kết quả dĩ nhiên của quan niệm đơn giản này. Nó không đứng vững được tự trong bản chất của nghệ thuật, bởi nghệ thuật nào mà phần nhân công không phải nhiều. Vật chất, kể cả âm thanh, mầu sắc, chỉ là những phương tiện của nghệ sĩ trong việc diễn tả ý tình, những phương cách biểu thị. Có thế thôi!”


Thế rồi đến nhà phê bình Lê Thanh trong bài “Thanh niên Việt Nam với một cuộc cải cách văn học ngày nay” đã tiếp nhận tinh thần “tân văn hóa” của Hồ Thích (1891-1962) và lên tiếng phê phán quyết liệt lối thơ bi lụy, ủy mị, sáo ngữ, thậm chí bị/ được gọi là “hủ bại” (trong đó có cả Chế Lan Viên và Nguyễn Bính), giống như lối Thơ mới Trung Quốc đã diễn ra hồi đầu thế kỷ, từ đó định hướng cho một dòng thơ giàu sức sống và tinh thần tranh đấu:


Ta phải buồn rầu mà nhận văn chương ta ngày nay về một vài phương diện không khác gì văn chương Trung Hoa trước thời cách mệnh, ngày nay nếu muốn tìm trong làng văn ta một số nhà văn “không ốm mà rên”, như Hồ Thích đã nói, là một việc không khó khăn gì.


Chao ôi mong nhớ ôi mong nhớ


Một cánh chim thu lạc cuối ngàn!


(Chế Lan Viên)


Nhật ký nhòa đi mất cả rồi


Chỉ còn vết mực ố hoen thôi!


Biết rằng nên xé hay nên đốt


Hay để mà thương đến mãn đời?


(Nguyễn Bính)


Và trong những tập xuất bản trong vòng năm ba năm nay, nếu ta muốn nhặt những “sáo ngữ”, những hình ảnh thơ cũ kỹ, ta có một bộ khá nhiều: cũng “hồn đau,chiều tà”, giăng lạnh, gió về, đau thương,sầu hận”, “chiếc bóng”, “đêm thâu”, “nhớ nhung,hồn lạnh”, “năm canh”, “sáu khắc”, “mơ màng,ngẩn ngơ”...


… Bỏ cái lối “không ốm mà rên, xuân đến thì khóc vì rồi xuân sẽ đi, thu đến thì khóc vì thu buồn...”. Những văn chương ủy m chỉ làm nhụt chí khí, làm héo lả tâm hồn”.


Có thể nói đây là những ý kiến chính xác, thể hiện bản lĩnh, tính khách quan, trung thực của nhà phê bình, góp phần làm nên chất lượng phê bình và qua đó tác động, phát huy ảnh hưởng trực tiếp đến sáng tác.


3. Lời kết mở


Vốn là thi sĩ nổi tiếng, có nhiều bài thơ in báo và nhiều tập thơ đã được xuất bản vào nửa chặng sau phong trào Thơ mới nhưng tiếng thơ Nguyễn Bính chưa phải sớm được người đương thời bàn rộng và đánh giá cao. Trên thi đàn, Nguyễn Bính được đón nhận trước hết như một nhà thơ chân quê, gắn bó với con người và cảnh vật đồng quê, tình yêu thôn quê dân dã. Thơ Nguyễn Bính tạo nên hai ngã rẽ trong tiếp nhận, được đánh giá cao với chất liệu ngôn ngữ đồng quê và phong vị ca dao dễ nhớ dễ thuộc nhưng cũng bị phê phán mạnh bởi những xúc cảm cá nhân bi lụy và không ít câu thơ hiển ngôn, diễn ý. Điều đó cho thấy ngay từ đương thời phong trào Thơ mới đã xuất hiện những cách tiếp nhận khác nhau về thơ Nguyễn Bính, bao gồm cả những ý kiến đồng cảm, ngợi ca cũng như tiếng nói phản biện, phản ứng, phê phán gay gắt. Qua trường hợp thơ Nguyễn Bính đã thấy thấp thoáng một sự đổi thay, yêu cầu hướng về nghĩa vụ công dân, tranh đấu cho lợi quyền xã hội, dân tộc và đất nước… Về cơ bản, đó là tiếng nói phê bình của những người có nghề, trung thực, phản ánh sát đúng chất lượng thơ Nguyễn Bính và cũng chứng tỏ tinh thần khách quan, dân chủ, đa phương của chính đời sống văn học đương thời.


NHS.


Nguồn: Trăm năm Nguyễn Bính, Truyền thống & Hiện đại. Nhiều tác giả. Hội thảo khoa học về Nguyễn Bính do Viện Văn học & Trường Đại học Văn Lang tổ chức. NXB Hội Nhà văn, 07-2018. 


www.trieuxuan.info








Thạch Lam: “Giải thưởng văn chương Tự lực văn đoàn, năm 1937”, Ngày nay, H., số 81, ra ngày 17/10/1937, tr.859.




Thế Lữ: “Tin thơ”, Ngày nay, số 98, ra ngày 20/02/1938, tr.11.




Nàng Lê: “Thi sĩ với giai nhân”, Tiểu thuyết thứ Năm, H., số 6, ra ngày 10/11/1938, tr.18.




Nàng Lê: “Tình và tứ của thi sĩ”, Tiểu thuyết thứ Năm, H., số 8, ra ngày 24/11/1938, tr.15.




Nàng Lê: “Văn chương khi về cảnh cũ”, Tiểu thuyết thứ Năm, H., số 9, ra ngày 01/12/1938, tr.14-15.




Lam Giang: Khảo luận luật thơ (In lần ba, có chỉnh lý, bổ sung). Sơn Quang xuất bản, Sài Gòn, 1967, tr.11-12.




Mộc Khuê: Ba mươi năm văn học. Nxb. Tân Việt, H., 1941, tr.38.




Phạm Mạnh Phan: “Đọc Hương cố nhân của Nguyễn Bính”. Tri tân tạp chí, H., số 54, 7/1942, tr.5+17-18. Các đoạn trích sau đều theo tài liệu này.




Hoài Thanh, Hoài Chân: Một thời đại trong thi ca, trong sách Thi nhân Việt Nam (tái bản theo bản in năm 1942 do nhà thơ Xuân Tâm cung cấp). Nxb. Văn học, H., 1989, tr.17-55.




Hoài Thanh, Hoài Chân: Nguyễn Bính, trong sách Thi nhân Việt Nam. Sđd., tr.333-334.


 




Vũ Bội Liêu: “Mùa xuân - một nguồn cảm hứng dồi dào của thi nhân”, Thanh nghị, số 29-31, Xuân Quý Mùi, 1/1943, tr.46-49.




Vũ Ngọc Phan: Nhà văn hiện đại (Quyển ba). Nxb. Tân dân, H., 1943.




Vũ Ngọc Phan: “Các thi gia”, trong sách Vũ Ngọc Phan - Tác phẩm, Tập IV (tái bản). Nxb. Văn học, H., 2000, tr.305-312.




Phạm Mạnh Phan: “Đọc Hương cố nhân của Nguyễn Bính”, Tri tân tạp chí, H., số 54,  7/1942, tr.5+17-18. Các đoạn trích sau đều theo tài liệu này.


 




Hoài Thanh, Hoài Chân: “Nguyễn Bính”, trong sách Thi nhân Việt Nam. Sđd., tr.344-345.




Lương Đức Thiệp: Việt Nam thi ca luận. Khuê Văn xuất bản cục, H., 1942. Các trích dẫn sau đều theo tài liệu này.




Lê Thanh: “Thanh niên Việt Nam với một cuộc cải cách văn học ngày nay”. Tri tân tạp chí, H., số 119, 11/1943, tr.954-955.




Xin xem Nguyễn Hữu Sơn: “Phong trào Thơ mới (1932-1945) như một diễn ngôn lịch sử”, Nghiên cứu Văn học, số 11, 6/2013, tr.41-58.


- Nguyễn Hữu Sơn: “Đặc điểm tựa, bạt ở các tập thơ thời Thơ mới”, trong sách Nhìn lại Thơ mới và văn xuôi Tự lực văn đoàn. Nxb. Thanh niên, H., 2013, tr.121-133.


- Nguyễn Hữu Sơn: “Người đương thời thơ mới bàn về thơ Nguyễn Bính”, trong sách Người đương thời Thơ mới bàn về tác gia Thơ mới. Nxb. Văn học, Hà Nội, 2017, tr.461-486.


 




 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Văn chương thời mở cửa - Đinh Quang Tốn 11.07.2019
Đời sống văn nghệ thời đầu đổi mới, Thơ hôm nay: gieo và gặt - Ngô Minh 11.07.2019
Những sinh thể văn chương Việt nhìn từ nhiều phía - Bùi Việt Thắng 09.07.2019
Lý luận phê bình và thị hiếu thẩm mỹ công chúng - Hà Quảng 09.07.2019
Cách nhìn đa chiều về con người và lịch sử “Trong cơn lốc xoáy” của Trầm Hương - Nguyễn Khắc Phê 08.07.2019
“Trong cơn lốc xoáy” và những vấn đề… - Bùi Công Thuấn 08.07.2019
Nguyên Hùng 'chơi' thơ chân dung - Nguyễn Thị Ngọc Hải 05.07.2019
Nguyên Hùng với 102 mảnh ghép văn nhân - Huệ Hương Hoàng 05.07.2019
108 đoản khúc thơ Nguyên Hùng - Hoàng Thị Thu Thủy 05.07.2019
Lê Thị Kim: “kẻ lữ hành đang đi ngược chiều gió thổi” - Nguyễn Văn Hòa 01.07.2019
xem thêm »