tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 27182460
21.08.2018
Khúc Hà Linh
Anh em nhà Nguyễn Tường Tam... Ánh sáng và bóng tối


Phần 6. Người đàn bà họ Lê với cơ nghiệp họ Nguyễn Tường…


Nói về những nhân vật trụ cột trong TLVĐ mà không kể đôi điều về bà Thông Nhu, người mẹ các nhà văn Nhất Linh, Hoàng Đạo, Thạch Lam, người đàn bà họ Lê, đối với cơ nghiệp họ Nguyễn Tường… quả là khiếm khuyết. Nhiều nhà nghiên cứu tâm lý xã hội cho rằng vị trí người mẹ trong gia đình nhiều khi có ý nghĩa quyết định trong lập nghiệp lập danh của các con hơn là vai trò của người cha. Bà Nhu xứng đáng là người mẹ mẫu mực để lại nhiều ấn tượng trên chặng đường phấn đấu của các con.


Bà Nhu tên thực là Lê Thị Sâm, con gái cụ quản Lê Quang Thuật, người gốc Huế đã ba đời ra Bắc, làm quan võ ở Cẩm Giàng cùng thời với cụ huyện Nguyễn Tường Tiếp.


Cụ Thuật sinh hạ được ba con, một gái hai trai.  Lê Thị Sâm là con gái cả. Em trai đầu tuy là trưởng nam nhưng nghèo, người em sau làm nghị viên hàng tỉnh.. Cũng là gốc trong Nam, lại là chỗ đồng sự, thấy  môn đăng hộ đối, cụ huyện Giám và cụ quản Thuật đã gả con cho nhau.


Nhiều tài liệu gia đình nói bà Lê Thị Sâm sinh năm 1881(Tân  Tỵ) cùng tuổi với chồng. Khoảng những năm đầu tiên của thế kỷ trước bà Sâm về làm con dâu cụ huyện Giám. Tính đến năm 1914, khi ở ấp Thái Hà bà đã có sáu người con. Cũng năm ấy vợ chồng ông Nhu chuyển về ở số 10 Hàng Bạc, Hà Nội. Căn nhà chật chội có ba gian. Gian ngoài cho thuê bán mắm muối tương cà. Gian giữa có 9 con người ba thế hệ sinh sống.  Đó là mẹ đẻ ông Nhu, ông bà Nhu và 6 người con (Tường Thuỵ, Tường Cẩm, Tường Tam, Tường Long, Nguyễn Thị Thế, Tường Vinh). Nhà chật, thiếu không khí, ông Nhu lại mất việc nên cảnh nhà thêm khốn khó. Nhà hết gạo chả biết vay ai, hàng xóm toàn người xa lạ mà cũng nghèo cả. Chính vì thế nên một thời gian sau, bà Nhu bàn với mẹ chồng thử về quê ngoại của bà là Cẩm Giàng xem có buôn bán được không. Ở Hà Nội đông người, thuê nhà tốn kém quá.


Bà Nhu đưa mẹ chồng (tức cụ huyện Giám) và chồng con  bồng bế nhau về quê trên con tàu hoả Hà Nội - Cẩm Giàng.


Thời gian đầu, gia đình bà tạm thời sống ở nhà ngoại tức gia đình cụ Quản Thuật mẹ đẻ mình. Cụ ông mất rồi chỉ còn cụ bà, một người đàn bà có đức tính thương người. Nhà cụ quản Thuật có 5 gian hiên lớn, đằng trước có vườn rộng trồng nhiều loại cây ăn quả. Ngoài hàng rào là chợ Cẩm Giàng, năm ngày hai phiên khá đông đúc. Ở nhờ mẹ đẻ  một thời gian ngắn, bà Nhu xin được khoảng đất ở giữa phố huyện Cẩm Giàng. Bà cho dựng năm gian nhà lá gồi, hai gian mở cửa ra phố bán thuốc lào, phía sau nhà là đường xe lửa và cánh đồng. Nhà cao, cửa sổ rộng, chắn song bằng tre rừng bào đốt nhẵn bóng, bên ngoài có phên đan nứa, ban ngày mở lên ban đêm hạ xuống. Vách trát bùn trộn cát, quét vôi xanh. Qua cái sân nhỏ sau nhà đưa lối sang nhà bà ngoại. Một vườn hoa nhỏ trồng nhài, có những bụi tóc tiên lá nhỏ li ti, và một cái ao có cây sung chẳng biết ai trồng tự bao giờ. Thân cây sần sùi ngả trên mặt nước, một chiếc cầu ao bằng tre leo lét dưới gốc sung và một bờ găng chia cách với người hãng xóm.


Làm nhà xong bà Nhu đón các con từ nhà mẹ đẻ  về nhà mới. Năm ấy hai con lớn là Thuỵ, Cẩm đang học ở trường Bưởi Hà Nội, hai con tiếp theo là Nguyễn Tường Tam và Nguyễn Tường Long còn học trường huyện. Trường huyện Cẩm Giàng ngày ấy ở chùa bên làng Giằng, phải qua cầu bắc qua sông Sen cũng khá xa. Trên cầu có đường xe lửa, dưới cầu có thuyền buôn từ vùng xa đến buôn bán…


Đó là khoảng năm 1915.


Về Cẩm Giàng ít lâu thì bà Nhu sinh con thứ bẩy. Việc này Nguyễn Thị Thế, con gái thứ năm gia đình kể lại: Một buổi tối bà nội tôi (tức cụ huyện Giám- tác giả chú thích) đánh thức chúng tôi dậy xem em bé…Em Sáu tôi cứ ngồi nhìn hai con mắt, có vẻ sợ không dám mó vào em. Bà nội đặt tên em bé là Bẩy (sau này là bác sĩ Nguyễn Tường Bách - đại biểu quốc hội khoá I của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà).


Về lại nơi bố chồng làm tri huyện trước đây, nên gia đình bà Nhu có nhiều người quen biết. Bà Nhu buôn bán khá thuận lợi, nhưng cũng chỉ là thứ lặt vặt, thuốc lào. Đến khi  thu hoạch hai vụ lúa chiêm mùa thì bà đi cân gạo.


Người nông dân xay sát gạo đóng vào bao đem đến cửa hàng bà Nhu bán lẻ, nhận tiền. Bà cho liên hệ với hiệu khách (người Hoa) bán buôn,  rồi họ đóng bao đưa lên tàu hoả chuyển ra Hải Phòng, rồi chuyển bằng tàu thuỷ đi ngoại quốc.


Cuộc sống tần tảo như thế cũng đủ chi dùng và nuôi bốn con ăn học ở Hà Nội và Hải Dương. Những ngày nghỉ lễ tết các con ở Hà Nội, Hải Dương về gia đình vui lắm. Ngày ấy ông Nhu ở Cẩm Giàng với vợ con. Những lúc nhàn rỗi hoặc sau tết Nguyên đán, ông thường cùng các con nhỏ ở nhà đi các làng bắn chim. Nhiều người có mối thân tình với cụ huyện Giám trước đây, biết ông Nhu là con trai vẫn mời về nhà chơi,  khoản đãi nhưng thường là ông từ chối.


Thời kỳ ở Cẩm Giàng có lần xảy ra hoả hoạn. Một lần tàu đêm vào ga, xỉ than bắn ra làm cháy nhà dãy phố. Dân phố đòi nhà ga bồi thường, thế là sở hoả xa yêu cầu các nhà dời ra xa đường tàu 10 thước. Ông Nhu có can thiệp đôi lần vẫn không được. Việc đã thế  bà Nhu lại về nhờ trên đất nhà mẹ đẻ lần thứ hai. Cụ quản Thuật thương tình cho con gái làm nhà  trên đất nhà mình, có mặt sau trông ra chợ để vừa ở, vừa có thể bán hàng.


Tá túc ở đây một thời gian ngắn, khi người con cả là Nguyễn Tường Thuỵ ra trường dạy học ở Tân Đệ, Thái Bình, bà Nhu quyết định đưa cả gia đình đi theo người con nay đã trưởng thành có công ăn việc làm định tìm cách đổi đời.


Nhưng ở Thái Bình được một năm, công việc buôn bán cũng chẳng thuận, vẫn không đủ cho các miệng ăn. Bà Nhu một lần nữa đưa cả con thuyền  gia đình về Hà Nội để mình Nguyễn Tường Thuỵ ở lại Tân Đệ dạy học. Bà thuê nhà ở phố Cầu Gỗ. Lúc ấy là khoảng năm 1923-1924. Nguyễn Tường Tam học đã ra trường đi làm Sở tài chính Hà Nội. Ở Cầu Gỗ cũng chật chội bà Nhu đề nghị mẹ chồng ở lại giúp đỡ vợ chồng Nhất Linh, lại đi tìm thuê nhà ở Hậu Giám cạnh Văn Miếu. Đây là khu nhà rộng rãi có đủ tiện nghi và cảnh sống cũng bắt đầu sung túc. Ở Hậu Giám được hai năm, Nguyễn Tường Long đổi vào Sài Gòn. Bà Nhu đành cho Nguyễn Tường Lân đi với anh. Ít lâu sau Nguyễn Tường Cẩm cũng vào Sài gòn làm việc và lấy vợ trong đó. Thế là ba anh em (Nguyễn Tường Cẩm, Nguyễn Tường Long, Nguyễn Tường Lân) ở với nhau.


Các con đi Sài Gòn, nhà Hậu Giám chỉ có ba mẹ con ít người ở, nên bà Nhu đi thuê nhà nhỏ hơn ở phố Đỗ Hữu Vị. Rồi  chẳng được lâu, từ đây bà chuyển sang  thuê nhà ở Hàng Bè có hai tầng rộng rãi để chuẩn bị cưới vợ cho  Nguyễn Tường Thuỵ. Người mẹ tất tả lo cưới vợ cho con xong, thì lại phải đi vay nợ.


 Đến khi vợ Tường Thuỵ xin ra ở riêng thì  bà Nhu một lần nữa lại về Cẩm Giàng.


 Đây là lần thứ hai bà từ giã Hà Nội về quê ngoại của bà, cũng là nơi bố chồng bà từng làm tri huyện.


Còn đang bơ vơ không biết ăn ở ra sao thì người bạn cân gạo ngày trước là bà cả Hội nợ bà Nhu 60 đồng Đông Dương từ trước, trừ tiền nợ bằng hai mẫu đất cho bà Nhu. Thế là đào ao, đắp nền, làm nhà. Bà làm nhà gỗ, lợp rạ, cột vuông, bốn chung quanh hiên rộng. Nhà ba gian, gian đầu phòng khách, gian giữa thờ gia tiên, gian trong để ở. Trần nhà lát nứa dập thẳng. Mái rạ lợp dày xén rất đẹp, quanh nhà có lan can gỗ. Kiểu nhà này  do sáng kiến của con trai bà là Nguyễn Tường Tam (nhà văn Nhất Linh) nêu ra. Nó chỉ có thể ra đời từ sau năm 1930. Theo hồi ký của Nguyễn Thị Thế (sách đã dẫn) thì năm 1930 Nhất Linh từ Pháp về nước, đã đưa mẹ và bà Thế  vào Quảng Nam thăm quê nội, rồi vào Huế tạ ơn những người giúp đỡ cho đi Pháp du học, sau đó  vào Sài Gòn thăm những người anh em của mình sinh sống ở đó. Xe đi qua  Tuy Hoà nhìn thấy bên đường có ngôi nhà kiểu lạ, Nhất Linh cho dừng xe lại xem. Thật là một điều tự nhiên, chẳng ai trao đổi với ai mà cả hai mẹ con  ngắm nghía lấy làm tâm đắc.


Đến bây giờ trở lại Cẩm Giàng, có điều kiện mới xây dựng theo mẫu nhà ấy gọi tên Nhà ánh sáng.


Nguyễn Tường Bách, từng là đại biểu quốc hội khoá I, là bác sĩ sống nhiều năm ở nước ngoài, khi chín mươi tuổi vẫn còn minh mấn nhớ lại hình ảnh khu nhà ở Cầm Giàng: Nhà chúng tôi nhìn ra cái ga nhỏ, và một bên trông ra con phố hẹp lầm lội mỗi khi trời mưa. Nhà ga nhỏ xám, hai bên trồng găng. Khi xe lửa lên xuống, cả ga, cả phố lại vùng dậy, rộn rịphẳn lên. Đến tối thì nghe tiếng còi tàu vẳng từ xa đến rồi biến mất trong đêm lặng. Mấy dẫy phố lèo tèo, vài căn nhà gạch, hai cửa tiệm bán tạp hoá của người Hoa kiều. Cuối phố rẽ xuống bến đò sông Sen, ai qua cũng phải ngó vào cổng nha huyện xám xịt với chú lính lệ đứng gác, tượng trưng cho uy quyền của nhà nước.


Tính đến năm 1946 vào tuổi 65, bà Nhu tất cả 9 lần thay đổi chỗ ở khác nhau để phù hợp với điều kiện sống trong mỗi thời kỳ. Trong những lần ấy  khi thì có chồng chia sẻ, nhưng hầu hết đều do một mình bà quyết định. Người mẹ ấy gồng mình lên gánh vác cơ nghiệp nhà Nguyễn Tường với bao kỷ niệm cuộc đời gian khó để nuôi mẹ chồng  và bẩy người con ăn học thành người. Người mẹ ấy, một mình toan lo tám lần dựng vợ gả chồng cho bẩy người con ( Nguyễn Tường Thuỵ vợ chết phải tục huyền). Nhưng chỉ có Cẩm Giàng mới là nơi hội tụ được phẩm chất tài năng và tạo nên đỉnh cao của sự nghiệp tề gia của bà. Người ta gọi trại văn chương TLVĐ hay là traị Cẩm Giàng của bà Nhu… Nơi đây đã đi vào văn học sử nước nhà.


Thời kỳ ở Cẩm giàng lần thứ mhất, lúc các con còn đang đi học, bà Nhu gặp nhiều khó khăn túng thiếu, nợ nần. Gần đến tết bà Nhu sai con đem giấy nợ ra xem, rồi lấy chỗ này đắp chỗ kia, dành trả nợ một ít, thì lại nợ mới một ít, thành ra số tiền nợ  bốn nghìn đồng năm nào cũng còn nguyên (Thời ấy giá một lạng vàng là 30 đồng, tính  ra nợ hơn 130 lạng!). Hăm tám tết trong nhà không có tiền gói bánh chưng, cũng không sắm sửa tết. Nhiều chủ nợ đến đòi tiền, bà phải trốn vào trong buồng cho người nhà ra nói dối đi vắng. Bà đắng cay chịu đựng những lời  nhiếc móc, rằng không có tiền thì nhịn ăn, đừng đi vay đến nỗi  không trả được. Nhưng có ai hiểu cho người mẹ chịu đi vay nợ là để cho bốn con ăn học ở Hà Nội, và trường huyện. Bà có thể nhịn ăn, nhưng không thể không có tiền cho các con đi học mà sự học hành rất tốn kém. Từ ngày ấy người mẹ đã có một quyết tâm sắt đá, rằng nếu đầu tư cho các con đỗ đạt, đi làm mới có tiền trả nợ, mới khỏi khổ. Trong khi đó rất nhiều người đòi tiền mang về chôn dưới đất, để con thất học mù chữ.


Người Việt Nam có tục coi quê hương là nơi sinh thành và khi nhắm mắt xuôi tay, gửi lại nắm xương. Đất Cẩm Giàng không chỉ là nơi nằm xuống của tứ thân phụ mẫu của bà, bây giờ còn có nấm mồ ông thông Nhu người chồng yêu thương của bà nữa.


Thời kỳ ở Cẩm Giàng khoảng năm 1915-1916 một lần ông Nhu lên Hà Nội tiếp tế tiền gạo cho hai con học tập, thì gặp ông công sứ Hải Tường, một thời ông Nhu làm thông ngôn cho ông ấy. Hải Tường bây giờ đã đổi sang Sầm Nưa (Lào) hỏi ông Nhu có đi làm thông phán không, lương cao và có thể mang cả vợ sang đó buôn bán cũng dễ. Gặp năm trời làm lũ lụt, mất mùa, buôn bán đang lúc khó khăn, cân gạo cũng không đủ tiền các con ăn học. Trước tình cảnh ấy, ông Nhu nhận lời ngay.


Ngày 31- 8 năm 1917 tức 14 tháng 7 năm Đinh Tỵ ông bà Nhu sang Lào tìm kế mưu sinh để nuôi con. Thật không may, làm ăn nơi đất khách quê người được tám tháng, ông Nhu bạo bệnh qua đời. Tin về Cẩm Giàng làm cho cả gia đình nội ngoại, dân làng sửng sốt.


Đây là cú sét đối với cuộc đời một người vợ, người mẹ. Nhưng sức chịu đựng phi thường của bà đã giúp bà vượt qua không bị ngã gục. Sau khi chôn cất chồng xong, bà Nhu một mình thân gái dặm trường trở về Việt Nam. Bà cũng muốn có người thân sang Lào giúp đỡ, nhưng vì không có tiền bạc, đành nhắm mắt về nước một mình. Là vợ công chức nên bà được toà Công sứ Sầm Nưa cấp giấy giới thiệu, sức cho các châu lang giúp đỡ cắt cử người dắt ngựa xuyên rừng và lo chỗ ăn nghỉ dọc đường. Đi hết 10 ngày đường ngựa và hai ngày đường thuỷ thì bà Nhu về đến Hà Nội.


Cụ huyện Giám thương con mất ở nơi đất khách quê người, các cháu nội  đang tuổi ăn học, con dâu chưa tới bốn chục tuổi đầu không biết có đứng vững được không, nên vật vã than khóc đêm ngày. Bà Nhu khuyên mẹ chồng: Người chết đã yên phận, bây giờ bà phải thương các cháu, lo sao cho chúng khỏi  đói. Bà để yên cho con, con cũng đau xót lắm nhưng bây giờ con phải lo buôn bán chứ cứ khóc, thì  người chết chẳng sống lại được,  mà người sống lại càng chết dần.


Mãn hạn tang chồng một năm, bà Nhu cùng bốn người thân lại sang Lào để mang hài cốt ông về. Thân mẫu ông Nhu ở nhà tìm đất đặt mộ cho con trai. Cụ nhờ thầy địa lý tìm khu đất bên bờ ao thuộc làng La A xã Kim Giang, huyện Cẩm Giàng làm nơi an táng cho đứa con không may mệnh yểu khi mới 37 tuổi đời. Thật may, đất ấy nằm trên đất làng ông Lệ Cán, ngày trước từng làm lính lệ của cụ huyện Giám. Vì thế công việc cát táng ông Nhu thuận lợi, đẹp đẽ… Chính nơi ấy có những chiếc ao to và trên bờ có cây đa tán xoè ra, dân làng gọi là cây đa mâm xôi mà từ cổng trại nhà bà Nhu có thể nhìn rất rõ. Chẳng ai ngờ  khi về già, cụ huyện Giám cũng được an táng gần mộ con trai không xa…


Một hôm bà Nhu dặn các con, rằng bà đi sang chùa Đào Xuyên, Hưng Yên  giỗ tổ. Mấy hôm sau trở về, các con cháu  ngỡ  ngàng  thấy  bà đã trong bộ trang phục tu hành màu  nâu...


Bà kể: từ sau khi ông Nhu mất, bà có ý đi tu nhưng các con còn nhỏ. Bà tự nhủ bao giờ các con đỗ đạt, trai có vợ, gái có chồng hết,  bà mới đi tu. Bà tu tại gia, tu bán thế, tự học kinh, học hạ, sớm hôm lo kinh kệ, bàn luận ý nghĩa đạo Phật với người em ruột. Bà nghỉ buôn bán, ruộng vườn thóc gạo giao cho các con trông nom chuyên tâm với việc đạo. Sau ngày tổng khởi nghĩa tháng Tám, năm Bốn mươi lăm bà dời nhà đến tu ở chùa Đào Xuyên. Toàn quốc kháng chiến bùng nổ, sư ông Đào Xuyên được cử làm chủ tịch kháng chiến, nên đưa bà Nhu qua chùa sư nữ ở Bối Khê. Từ chùa Bối Khê ít ngày sau bà tiếp tục bước gian nan tìm đường về Hà Nội ăn mày cửa phật tại chùa Hai Bà. Cuối cùng bà theo con vào Sài Gòn tu ở chùa Xá Lợi. Năm 1960 Nhất Linh tham gia vụ đảo chính không thành phải trốn tránh, vị sư già, người mẹ đã ngoài tám chục tuổi nghe tin đã ứa lệ thương đau và mấy năm sau bà viên tịch tại đó(*)…


____


(*) Bà Nhu mất trước ngày Nhất Linh quyên sinh. Vì trên tờ trát đòi con bà ra toà có ghi rõ: ” Nguyễn Tường Tam, 58 tuổi, con của  Nguyễn Tường Nhu (chết) và Lê Thị Sâm (chết)…
Phần 7. Những mẩu chuyện về Tự lực văn đoàn


Tự lực văn đoàn (TLVĐ) ra đời cách nay mới ba phần tư thế kỷ. Những nhân chứng đến nay vẫn còn đây đó, nhưng trong văn chương và các cuộc trà dư tửu hậu khi nhắc tới văn đoàn này, cũng có nhiều ý kiến khác nhau. Sự không đồng thuận chẳng có gì to tát mà chủ yếu về con số thời gian. Người ta bảo, con số biết nói, con số có tâm hồn, quá đúng! Thế nhưng chuyện văn chương nhiều khi những số liệu,  chẳng ảnh hưởng gì đến cái hồn của câu chuyện. Ngược lại vẫn toả sáng trong tâm hồn người nghe người đọc. Chúng tôi kể ra một vài mẩu chuyện xung quanh cuộc sống, nét sinh hoạt của các nhà văn, để bạn đọc hiểu thêm về cuộc đời của họ. Ví thử gọi là giai thoại cũng chẳng có gì không phải.


 


1. Đào lê mỹ tửu


Nhà văn Đinh Hùng kể: Mồng ba tết Nhâm Ngọ (1942), Thạch Lam mời một số bạn bè thân về chơi và thưởng thức không khí mùa xuân trang trại gia đình ở Cẩm Giàng. Đó là vợ chồng nghệ sĩ sân khấu  Thế Lữ- Song Kim, nhà văn Khái Hưng, Trần Tiêu, nhà thơ Huyền Kiêu, Đinh Hùng, bác sĩ kiêm nghệ sĩ Nguyễn Tường Bách và ông Kim Hoàn quản lý NXB Đời nay. Đinh Hùng ít tuổi nhất nên bị gọi là tiểu tử, nói chệch thành tiểu tửu. Thạch Lam với tư cách chủ nhân đã khoản đãi bạn bè rất nồng hậu nhưng theo tính cách của mình. Ngoài những món ăn ngày tết như bánh chưng, dưa hành, thịt đông, giò lụa còn có rượu xuân quê hương. Ngày ấy Pháp độc quyền cung cấp rượu cho dân ta. Tất cả các loại rượu trên thị trường đều do các đại lý của Pháp chi phối. Khó khăn là thế, mà nhà văn Thạch Lam vẫn kiếm được vò rượu quý. Ông cho người nhà mang ra một vò rượu lớn, bên ngoài dán giấy hồng có bốn chữ nho Đào lê mỹ tửu.  Mọi người nhâm nhi tận hưởng hương vị loại mỹ tửu này để phát hiện ra xem đâu là mùi đào, mùi lê. Nhưng chỉ thấy mùi thơm nồng nàn của loại nếp cái được chưng cất. Chẳng ai hiểu, đành hỏi chủ nhân. Thạch Lam cười tủm tỉm, trả lời: Đào lê mỹ tửu nói lái thành Đề lao mỹ tửu, nghĩa là rượu lậu quý. Tây đoan bắt được nó tống vào đề lao, vào nhà đá.


Tiếng cười oà lên trong khu trại văn chương.


Thạch Lam về ăn tết ở trại Cẩm Giàng từ hôm ba mươi, bấy giờ trong người đang mệt và sợ rét. Bà Nhu phải cho người đốt đống củi lớn ở giữa nhà cho ấm. Vậy mà không hiểu thế nào Thạch Lam vẫn nhắn các bạn văn chương về chơi và thết đãi tận tình. Không ai ngờ rằng đây là bữa cơm rượu cuối cùng của Thạch Lam và các bạn văn chương trên đất Cẩm Giàng. Bởi tháng 6 năm ấy Thạch Lam đã vĩnh viễn ra đi.


 


2. Yêu thương con người đau khổ


Nhà văn Vũ Bằng kể: Khi đi chơi, những lúc nhẩn nha Thạch Lam thường suy ngẫm về cuộc đời của con người, tại sao quá nhiều đau khổ. Có lần ông nói: Xét cho cùng, ở đời ai cũng khổ, người khổ cách này, người cách khác. Bí quyết là tìm cái vui trong cái khổ. Vì sống, chỉ sống thôi cũng đã quý lắm rồi. Người ta không bao giờ nên phí phạm cái sống, coi thường sự sống.


Một lần Thạch Lam đi thơ thẩn với Vũ Bằng ở Hàng Bông – Thợ Nhuộm, nghe tiếng khóc, đến gần phía đó, thì ra có đứa trẻ bị móc tiền bán lạc rang, sợ về người bố dượng đánh. Thạch Lam động lòng hỏi han mới biết bố nó chết, mẹ đi bước nữa, gặp phải người bố dượng rượu chè, say xỉn ác đòn. Hôm nào về không có tiền đưa cho gã thì bị đòn ác hiểm. Thạch Lam vét  túi còn hai hào đưa cho thằng bé.


Đi một đoạn, Vũ Bằng chợt nhớ ra điều gì, bèn nhắc khéo có thể bị  đứa trẻ đánh lừa, bởi hôm trươc chính ông cũng gặp một tình huống như thế. Thạch Lam trả lời: Bị lừa hay không, cái đó không quan hệ lắm. Mình cần làm một việc xét ra phải làm, theo ý của mình… Tôi quan niệm về sự sống của tôi, đúng hay không tôi không biết. Nhưng óc tôi nghĩ như thế, lòng tôi cảm thấy như thế.


 


3. Tạm ứng nhuận bút trước, nhưng không có bài


Khoảng năm 1935, Thạch Lam được giao quản trị báo Ngày Nay. Ông vừa viết bài vừa phải quản lý tài chính. Ngày ấy báo có nhiều cộng tác viên, thường đến toà soạn xin tạm ứng tiền trước, rồi viết bài trả sau.


Một người bạn cộng tác viên làm thơ cảnh nhà túng quẫn, đến gặp Thạch Lam xin viết giấy đề nghị, ký nhận tạm ứng tiền nhuận bút cho báo Ngày Nay. Lần nào Thạch Lam cũng chuẩn chi, nhưng bạn thơ thì vay 10 mà trả bài có 3. Anh ta tạm ứng rồi  tiêu đại không có thơ gửi cho toà soạn để trừ tạm ứng. Đã nhiều lần diễn ra như vậy, nên có người nhắc Thạch Lam không chặn lại sẽ có ngày thụt két, toà báo sẽ khó khăn. Thạch Lam vẫn cho tạm ứng và bảo rằng: Chẳng ai muốn làm một việc như thế, người ta không còn con đường nào khác mới phải làm như vậy. Nếu không giúp đỡ,  họ sống ra sao?


Thì ra trong văn chương cũng như ngoài đời, lúc nào Thạch Lam  cũng ý niệm về cái sống: Đời người cực khổ đủ trăm đường, nên tạo cho mọi người có niềm vui để mà sống.


 


4. Bà Nhu không lo báo ế


Tú Mỡ kể: Năm 1932, tờ Phong Hoá của ông Phạm Hữu Ninh và Nguyễn Xuân Mai ra thứ 5 hàng tuần sắp đình bản vì không có độc giả. Nhất Linh mua lại tờ báo ấy, mỗi tháng trả hai ông vài chục bạc gọi là lương của giám đốc báo và quản trị, còn Nhất Linh làm chủ bút. Nhất Linh khuya sớm viết bài xoay sở với báo. Cả nhà lo ế báo thì sập tiệm. Anh nói không sợ, nếu ế thì cả nhà vừa bán vừa rao cho hết.


Bà Nguyễn Thị Thế là em Nhất Linh kể rằng: Mẹ tôi (tức bà Nhu) bảo khó gì, nếu không bán hết, mang về cho mợ gói cau càng tiện. (Trong gia đình bà thông Nhu, các con gọi cha mẹ là cậu mợ - KHL chú thích)


Báo Phong Hoá có đông bạn đọc và càng phát triển, bán rất chạy. Nhất Linh cho huy động cổ phần hùn vốn, mua nhà in, vừa in báo vừa in thuê lãi cao. Thế là nhà in Ngày nay ra đời trong hoàn cảnh ấy.


 


5.  Bà Nhất Linh (Phạm Thị Nguyên) mỗi lần sinh đẻ lại khoẻ ra!


Huy Cận không thuộc “bát tú” trong TLVĐ, nhưng là một người cộng tác rất đắc lực. Nhất Linh rất quý mến ông, từng thuộc thơ ông như đã dẫn phần trên. Năm 2001, Nguyễn Tường Thiết- con út Nhất Linh về nước, có tìm đến nhà Huy Cận thăm người từng cộng sự với cha mình thời TLVĐ.


Dưới đây là đoạn viết của Nguyễn Tường Thiết kể về tình cảm của nhà thơ Huy Cận đối với người cha mình:


“ Huy Cận hỏi anh em chúng tôi còn lại bao người. Tôi trả lời chúng tôi còn lại năm. Huy Cận nói: "Bố mẹ cháu có trên mười người con( Thực ra có 13 lần sinh đẻ, nhưng chỉ được 7 con: Nguyễn Tường Việt, trưởng nam, Tường Triệu, Tường Thạch, Tường Thiết, Tường Thái, Nguyễn Thị Kim Thư, trưởng nữ và Nguyễn Thị Thoa- KHL). Cháu có biết vì sao cháu có đông anh em thế không? Mỗi lần bà Nhất Linh mang bầu thì ông Nhất Linh lại nói với tôi là sau mỗi lần sinh đẻ bà khỏe hẳn ra chứ không như những người đàn bà khác ngại đẻ, cho nên có nhiều con cũng là một cách tốt để bả sống lâu.". Ông kể là không bao giờ quên được một đêm đông, thấy ông trên người chỉ có cái áo phong phanh, bố tôi đã cởi ngay chiếc áo lạnh pa-đờ-suy mà bố tôi đang mặc khoác lên người ông và tặng luôn chiếc áo đó”.


 


6. Cách đặt tên của gia đình nhà văn Nhất Linh


Ông Nhu khi còn sống tự đặt tên cho các con. Người đầu tiên là Thuỵ. Theo kể lại,   khi có thai bà Nhu nằm mơ thấy có người đem đến cho viên ngọc. Nếu đặt tên Ngọc(      )  có vẻ con gái quá nên ông Nhu đặt tên là Thuỵ. Chữ Thuỵ (                ) có ẩn chữ Ngọc. Người thứ hai là Cẩm có nghiã là Gấm, người thứ ba là Tam, thứ tư là Tứ. Nhưng vì ông Nhu có người bạn tên là Tứ, nên phải đặt chệch thành Tư. Tiếp theo là bé gái tên Năm, bé trai tên Sáu, con trai út tên Bẩy cho dễ nhớ. Về sau Tư không đủ tuổi đi thi, nên mới đổi thành Long. Khi Nhất Linh viết cuốn Nho Phong, ông mới có ý đặt tên anh em mình theo bộ chữ Hán: Thuỵ Cẩm, Tam, Long, Vinh, Bách, Thế (Theo chữ Hán là:


 


nghĩa là ba con rồng gấm đẹp, làm vinh hiển muôn đời ). Ông đổi tên cho em Sáu là Nguyễn Tường Vinh, em Năm là Nguyễn Thị Thế. Vì Thế là gái nên đặt cuối, để các anh em trai đặt lên trên.


Một đặc biệt là anh em Nguyễn Tường thay tên nhiều lần. Sáu cũng phải đổi tên vì thiếu tuổi thi bằng Thành chung, nên khai tăng thêm tuổi với tên mới Nguyễn Tường Vinh. Lần sau lại đổi thành Nguyễn Tường Lân như ở phần trên đã nói. Bà Nguyễn Thị Thế thừa nhận: Như vậy tuổi khai sinh của anh em nhà tôi không hoàn toàn đúng với tuổi thật (trang 23- Hồi Ký về gia đình Nguyễn Tường -  Sóng, Sài Gòn 1974)


Vì thế mà các nhà văn học sử, các nhà nghiên cứu  không thống nhất được tuổi của các nhà văn TLVĐ cũng không lạ.


 


7. Tú Mỡ tặng thơ Thạch Lam


Tú Mỡ tên thật là Hồ Trọng Hiếu, sinh năm 1900 mất năm 1976.


Tháng 7 năm 1918 ông đỗ bằng đíp lôm, vì nặng gánh gia đình không học tiếp mà bỏ đi làm thư ký Sở Tài chính Hà Nội. Năm 1920  gặp Nguyễn Tường Tam ( Nhất Linh) cũng đỗ bằng đíp lôm vào đây làm việc cùng ở phòng 3 kế toán. Họ nhanh chóng làm quen và thân nhau.


Tú Mỡ tuy là công chức nhưng vẫn ôm mộng theo nghề làm văn, làm báo như Tản Đà mà chưa có đất dụng võ.


Khi Nhất Linh có ý định mở một tờ báo, ông tìm Tú Mỡ rủ cộng tác với mình.


Bấy giờ trong toà soạn có hai người là Hoàng Đạo và Tú Mỡ đang làm công chức nhà nước. Khi biết tin Nguyễn Tường Vinh (Thạch Lam sau này) phải đổi tên, khai tăng tuổi để thi nhảy cóc, lại đậu bằng thành chung, nhà thơ Tú Mỡ lớn hơn Thạch Lam 10 tuổi, có bài mừng như sau:


Gửi lời mừng bác Nguyễn Tường Vinh


Đáng bậc thần đồng bọn học sinh


Năm trước vừa ăn kỳ tốt nghiệp


Năm sau liền đỗ bậc chung thành


Văn hay phúc ấm nhờ tiên tổ


Cũng bởi công phu gắng học hành…


 


8. Nhờ giỏi tiếng Pháp mà thoát hiểm


      Thời kỳ về Cẩm Giàng lần thứ nhất, bà Nhu rất túng bấn, vì đông con học hành tốn kém. Bà phải liều đi nấu thuốc phiện lậu để kiếm tiền. Vốn có môn bài bán thuốc do nhà chức trách cấp, nhưng lượng không đủ bán, bà Nhu đành mua lậu thêm thuốc nhựa từ Lào Cai, Yên Bái đưa về, do mấy người lái xe lửa dấu vào toa than cung cấp. Tàu vào ga Cẩm Giàng, người lái tàu quẳng xuống một gói vật như là gói rác. Chờ tàu đi thật xa thì các con bà mới nhẩn nha ra chơi đường tàu rồi nhặt về cho mẹ. Bà Nhu cũng học cách nấu thuốc. Việc này rất công phu, mất thời giờ và nguy hiểm, có thể bị Tây đoan bắt bỏ tù. Mỗi lần tổ chức nấu, bà sai các con toả đi canh gác các nẻo đường đề phòng tây đoan về khám xét. Cẩn thận như vậy nhưng bà vẫn bị bắt một lần. Chuyện này Nguyễn Thị Thế, con gái thứ năm của bà kể: Dịp hè các anh ở nhà đông đủ. Hôm đó đến lượt em Sáu (sau này là Thạch Lam) coi tầu, về nói là không có tây đoan. Bấy giờ hàng nấu xong được mười chai lít, mới bán được một ít thì tây đoan ập đến. Em Sáu đang chơi ở chợ nhìn thấy hốt hoảng chạy  về báo. Mấy người tây đoan thấy thế chạy đuổi theo. Khi đến gần nhà em Sáu mới kêu to: Tây đoan! Trong nhà nghe tiếng em, anh Nguyễn Tường Cẩm đang đọc sách vội bưng thúng thuốc chạy qua vườn nhà cụ quản Thuật để chạy ra cửa trước. Tây đoan chạy đuổi theo, thì vừa lúc Nguyễn Tường Thuỵ đang câu cá chạy tới, vẻ mặt nghiêm nói tiếng Pháp cự nự rằng tại sao chưa xin phép mà dám vào nhà. Chính cái phút tây đoan dừng lại giải thích thì Tường Cẩm đã băng qua đường mang đồ dấu thoát. Tây đoan chỉ bắt được số ít, nhưmg cũng phạt tiền và thu lại môn bài.


Lần sau có người báo, nên có hai người tây, hai lính Việt thình lình ập đến, chặn trước và sau cổng. Bà Nhu lo sợ không biết các con để hàng cấm ở đâu. Bốn người lính lục soát không thấy gì cả. Họ phải làm giấy cam đoan và xin lỗi với Tường Thuỵ. Họ biết ở nhà quê có người giỏi tiếng Pháp là phải dè chừng.


Sau lần ấy bà Nhu bỏ hẳn nghề nguy hiểm này.


 


9. Anh em nhà Nguyễn Tường học nhảy vượt lớp


Không chỉ có Nguyễn Tường Vinh, khai lại tên là Tường Lân, tăng tuổi thi vượt cấp, mà cả Tường Thuỵ, Tường Cẩm cũng có lần học nhảy cóc.


Khi cả hai người học xong trường Bưởi, thi vào trường Cao Đẳng vì kém tuổi nên không được học. Sở dĩ kém tuổi là vì năm thứ hai trường Bưởi, hai anh em thân thể gầy yếu, quá. Cụ huyện Giám thương cháu mới đi mua cao ban long cho các cháu ăn, với ý nghĩ là cháu tẩm bổ cho cao lớn. Ai ngờ ăn tẩm bổ xong thì cả hai anh em bị phát ban, mụn lở đầy người. Nhà trường cho phép học trò về nhà chữa bệnh lở loét, khi nào khỏi thì đến học lại. Khổ nỗi là việc chữa bệnh kéo dài, hai tháng sau mới thuyên giảm, lên trường học, thì họ đã xoá tên vì nghỉ quá dài. Nói mãi không được, cả hai anh em tức lắm về nhà bàn với bà Nhu nhờ người bên Pháp mua cho ít sách đem về học gấp. Năm sau đổi tuổi, rồi đi thi  lại đậu. Sự việc này lại hoá hay. Bởi vì đỡ được hai năm, đỡ tốn bao nhiêu công sức và tiền học phí.


 


10. Ông lý trưởng Phiên Định và gia đình bà Nhu


Trong gia đình bà Nhu, hai người con đầu trưởng thành đi làm cả. Hai con tiếp theo cũng đang học tại Hà Nội. Chỉ còn Nguyễn Tường Vinh chưa hết bậc tú tài. Cậu sốt ruột bảo mẹ đến nói với ông lý trưởng Phiên Định chữa lại tuổi và đổi tên cho mình thành Nguyễn Tường Lân để đi thi vượt cấp. Bà Nhu thương con, phải đến nói khéo với ông lý giúp đỡ. Chẳng ngờ ông lý không những không hạch sách gì lại sẵn sàng chữa cho tăng tuổi lên, và ghi vào giấy khai sinh là Nguyễn Tường Lân. Việc làm này có tác dụng to lớn để Tường Lân nộp đơn đi thi vượt lớp. Nhưng cũng làm cho giới văn học sử sau này gặp khó khăn xác định ngày sinh tháng đẻ của nhà văn. Tình cảm vô tư của ông lý ngày ấy, về sau trở thành mối thân tình giữa hai nhà.


Trong hồi ký của mình, Nguyễn Thị Thế kể: Có lần tôi đưa em Sáu đi chơi sang làng bên, rồi đến nhà ông lý Phiên Định. Nhà ông có sân đất, xung quanh là vườn trồng táo và cây khế ngọt. Cụ thân mẫu ông lý ngoài tám chục tuổi, tóc bạc phơ trông rất dáng của bà tiên, chống gậy trúc rất đẹp. Biết là con bà thông Nhu trên phố huyện, cụ vẫy tay cho lại gần và hỏi thăm cụ huyện bà, và bà Nhu và các anh lớn. Rồi cụ cho chị em ra vườn vặt quả. Cụ già là vậy, nhưng có lần đi chợ Cẩm Giàng vẫn vào thăm cụ huyện Giám.


Chính những lần đi chơi các làng quê, quan sát tỉ mỉ những phong cảnh, cuộc sống con người, mà sau này trở thành nhà văn, Thạch Lam tả rất sinh động, chân thực mà ít người đương thời viết được.


 


11. Đám cưới nhà văn Nhất Linh


Tuy là người từng du học Tấy Âu, nhưng Nhât Linh lại có một cuộc hôn nhân hoàn toàn do gia đình xếp đặt. Năm hai chục tuổi, ông xây dựng với bà Phạm Thị Nguyên… Đây là trích cảnh đám cưới của nhà văn, do người em gái nhà văn kể:


“Đi đầu là bốn mâm cau phủ khăn nhiễu điều đỏ thắm. Bốn quả sơn son trong để chè, đến hai choé rượu bốn người gánh. Sau đến hai con lợn quay có hai cái lọng xanh do hai người phu cầm. Người phu nào cũng mặc áo nẹp đỏ. Hai mươi xe kéo, phu xe cũng mặc áo nẹp đỏ, đầu đội nón chóp đỏ. Xe đầu là ông cụ già đầu tóc bạc phơ, rồi đến các cụ nội cụ ngoại, bà cô chú bác, chú rể và bốn người phụ rể đều là anh em trong nhà. Chú rể mặc áo Kim ngân đoạn đen, anh tôi không chịu mặc áo gấm, đầu đội khăn xếp, chân đi giày Gia Định, bít tất trắng.


Đến cửa nhà gái, có hai bà mang tráp trầu ra mời. Trầu têm thật khéo, vàng tươi, cuốn tròn như đoạn tre. Cau, vỏ kết thành hình hoa, trên có hoa hồng thắm, mấy bông ngọc lan thơm ngát, cánh trong như ngọc, miếng trầu thật đẹp ai không biết ăn cũng phải cầm lấy một miếng.


Họ nhà gái thật tíu tít, mời trầu mời nước, sửa soạn bầy lễ lên bàn thờ, đỉnh đồng đèn nến sáng trưng, khói hương nghi ngút… Các cụ đứng lên để dâu rể làm lễ gia tiên.


Các cụ ra xe, nhà gái đưa biếu mỗi người một gói trầu. Cụ chánh mặc áo thụng xanh đi đầu, đến các bậc cao niên, chú rể và phù rể rồi đến các bà bên nhà gái, các cô phù dâu và cô dâu. Xe đi từ đầu phố đến cuối phố, đến cửa nhà trai cũng có hai bà bưng tráp trầu đứng hai bên. Một tràng pháo daì trên gác xuống. Cô dâu xuống xe. Một hoả lò than hồng được bưng ra trước cửa. Bốn cô phù dâu đỡ cô dâu bước qua hoả lò vào nhà. Pháo nổ, khói bay mù mịt. Mấy người phu mang hai rương quần áo cô dâu và hai mâm chăn màn. Màn the hoa mầu hồ thuỷ, riềm màn thêu đôi uyên ương đậu trên cành trúc, mền bông nhiễu màu hoa đào rực rỡ như cả một mùa xuân. Sau đó cô dâu được đưa lên gác. Tối đến mấy người thợ nấu cỗ bưng lên một con gà kết hoa thật ngộ đễ lễ tơ hồng. Lễ xong con gà được đem vào buồng cho cô dâu chú rể uống rượu hợp cẩn.”


 


Phần 8. Những dị bản


Trong quá trình tìm hiểu, nghiên cứu về TLVĐ và anh em họ Nguyễn Tường, chúng tôi gặp phải một khó khăn. Đó là các số liệu về thời gian, về tuổi tác của các nhân vật không thống nhất. Có nhiều tài tài liệu viết khác nhau. Việc này có nhiều lý do khá thuyết phục. Một là, bản thân gia đình Nguyễn Tường cũng thừa nhận anh em nhà văn Nhất Linh, từng nhiều lần thay tên, đổi tuổi để cho phù hợp với điều kiện sinh hoạt, học tập thời bấy giờ. Hai là, vì một số nhân vật trong TLVĐ có đặc điểm lý lịch riêng, nên các nhà nghiên cứu văn học sử có phần né tránh, không nghiên cứu đầy đủ. Chúng tôi trung thực nêu lên các ý kiến của một số tác phẩm, tác giả sau đây để bạn đọc tham khảo thêm.


 


1. Về Nhất Linh


Sách Lư­ợc truyện các tác gia Việt Nam- NXB- KHXH, Hà Nội 1972 (sau đây gọi tắt là Lư­ợc truyện) mục 85 nói về Nhất Linh, ghi sinh ngày 25-7- 1905, Trong cuốn Về một mùa tre nở, nhà xuất bản Hải Phòng - năm 2006, nhà nghiên cứu phê bình Nguyễn Văn Đức  trong bài nói về Nhất Linh lại cho rằng ông sinh ngày 25 tháng 7 năm Bính Ngọ (tức ngày 13 tháng 9 năm 1906).


Chúng tôi theo tài liệu của bà Nguyễn Thị Thế là em Nhất Linh kể trong hồi ký đã dẫn, ông sinh năm 1906- Bính Ngọ có lý hơn. Năm 1905 là Ất Tỵ.


Nhưng tại thẻ căn cước số F 13108 của ông lại đề sinh năm 1905, và được giải thích như trên.


 


2. Vê Hoàng Đạo


Sách Nhân vật lịch sử Hải Dư­ơng - Thư­ viện Hải Dư­ơng ấn hành năm 2006 (gọi tắt là Nhân vật) ghi Hoàng Đạo sinh ngày 16 - 11 - 1907, như­ng Lư­ợc truyện…lại ghi sinh năm 1906, chênh nhau hẳn một năm. Lư­ợc truyện nói năm 1930 Hoàng Đạo thi vào trư­ờng Luật khoa Hà Nội. Sau khi đỗ cử nhân, làm tham tá lục sự ở toà Đà Nẵng rồi ở Hà Nội. Trong khi đó, sách Nhân Vật viết: Năm 1927 ông tốt nghiệp trư­ờng Luật đư­ợc bổ vào làm tham tá ngân khố Hà Nội.


Về ngày mất của Hoàng Đạo cũng có mâu thuẫn. Sách Nhân Vật… nói ông chết vì bệnh tim vào ngày 22-7-1948. Lư­ợc truyện… lại viết là ông mất vào tháng 8 năm 1948. Thời gian lệch nhau khoảng một tháng. Chúng tôi đã đối chiếu lịch âm  và lịch dư­ơng thấy rằng:


- Nếu ngày 22-7- 1948 tính theo âm lịch là đúng thì quy ra 26-8-1948 dương lịch, khớp với tháng 8 – 1948 nh­ư Lư­ợc truyện viết.


- Nếu 22-7-1948 là d­ư­ơng lịch, thì âm lịch là ngày 16-6-1948, càng không thể.


3. Về Nguyễn Tường Bách


Nhiều tài liệu không ghi, nhưng sách Quốc Hội Việt Nam, từ khoá 1 đến khoá 10- Văn phòng Quốc Hội xuất bản năm 2004, thì Nguyễn Tường Bách cũng là đại biểu Quốc hội khoá 1.


 


4. Về ngày sinh và ngày mất của Thạch Lam


Sách Lư­ợc Truyện không biết năm sinh của Thạch Lam, Sách Nhân vật thì nói Thạch Lam sinh 1910, mất vì bệnh lao ngày 27- 6 - 1942 tại làng Yên Phụ. Trong khi đó Tuyển tập truyện ngắn Thạch Lam - NXB Văn học – xuất bản năm 2004, trong phần giới thiệu tiểu sử  thì ghi rằng ông mất ngày 23-6-1942 tại nhà riêng phố Yên Phụ. Cũng sách trên, giáo sư­ Phong Lê viết  Thạch Lam mất 28-6-1942!


Thế Phong trong: “Các nhà văn trong TLVĐ” lại viết rằng Thạch Lam sinh năm 1912, mất ngày 1- 6-1942. Vậy ngày mất thực của Thạch Lam là ngày nào trong các ngày dưới đây?


·       1- 6- 1942


·       23-6-1942


·       27- 6 - 1942


·       28- 6-1942


Sự chênh nhau quá xa, ít nhất là một ngày, nhiều nhất là 27 ngày! và địa danh mất tại làng Yên Phụ hay phố Yên Phụ cũng không thống nhất?


Về năm sinh, Thạch Lam sinh năm 1910 – Canh Tuất, đúng hơn là sinh năm 1912 (xem phần trên - hồi ký gia đình Nguyễn Tường).


5. Về ngày mất của Khái Hưng:


Nhiều tài liệu nói Khái Hưng mất vào ngày 19-12-1946.


Nhưng theo hồi ký của Trần Khánh Triệu bài “Papa, toà báo” thì chiều 19-12-1946 gia đình ông đi tàu thuỷ từ Hà Nội về Nam Định. Đó là một làng quê vợ Khái Hưng ở Dịch Diệp trù phú có nghề khung cửi, cách tỉnh lỵ Nam Định chừng 20 cây số. Hồi ký có đoạn “Rồi Tết Đinh Hợi qua đi trong chán nản, kinh hoàng. Sau Tết một thời gian tàu Pháp chạy dọc theo sông Hồng bắn phá dữ dội, trong làng đang rục rịch tản cư thì bất chợt papa trở về....


Như vậy Khái Hưng mất vào năm Đinh Hợi, 1947 .


 


6. Thời gian thành lập TLVĐ


Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng TLVĐ ra đời vào tháng 3 năm 1933, sau khi báo Phong Hoá hoạt động được khoảng nửa năm (Số ra đầu tiên do Nhất Linh chủ bút là ngày 22-9-1932). Trương Chính trong bài “TLVĐ- báo Giáo viên nhân dân số tháng 7 năm 1989” cũng xác định là 1933. Nhưng Lê Thị Đức Hạnh lại cho rằng TLVĐ thành lập từ cuối 1932 và lý giải như sau: Dấu của TLVĐ đến 1933 mới xuất hiện, còn 10 điều tôn chỉ thì đến tháng 3 năm 1934 mới công bố trên Phong Hoá. Tuy vậy nội dung của nó đã tản mát hầu khắp mọi nơi trong báo Phong Hoá ngay  từ số 14 (22-9-1932).


Phạm Thế Ngũ  trong cuốn “TLVĐ trong tiến trình văn học dân tộc- NXB VHTT- 2000”, thì khẳng định: Để nhận rõ tôn chỉ của nhóm TLVĐ về mặt sáng tác văn học không gì bằng chép ra đây chính lời tuyên bố của họ khi văn đoàn ra đời (Phong Hoá số 87- ngày 2-3-1933).


Sau đó ông Ngũ đã chép đủ 10 điều tôn chỉ của TLVĐ.


Đoạn văn trên cho ta hai thông tin.


- 10 điều tôn chỉ của TLVĐ đăng trên phong hoá số 87 tháng 3 năm 1933.


-  TLVĐ cũng ra đời vào năm 1933, tư cách pháp nhân của nó bắt đầu từ ngày đăng tôn chỉ ở  số báo nói trên.


 


Tóm lại hiện nay còn mấy vấn đề chư­a thống nhất:


- Nhất Linh sinh năm 1905 hay 1906?


- Hoàng Đạo sinh năm 1906 hay 1907? Ông mất tháng 7 hay tháng 8 năm 1948?


- Thạch Lam mất ngày 1 hay 23 hay 27 hay 28 tháng 6 năm 1942?


- Khái Hưng mất năm 1946 hay 1947?


- Thạch Lam mất tại nhà riêng ở làng Yên Phụ hay phố Yên Phụ?


- TLVĐ ra đời 1932 hay 1933, hay 1934?


 


Lời cuối sách


Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương không chỉ là miền quê có cảnh đẹp trên bến dưới thuyền, mà còn là nơi có truyền thống cách mạng: Chi bộ Đảng đầu tiên của huyện lãnh đạo quần chúng vũ trang vùng lên cướp huyện đường và giải phóng toàn  huyện, lập nên chính quyền của nhân dân ngày 17-8-1945. Năm 1946 Bác Hồ trên đường đi dự hội nghị ở Pháp trở về, đi tàu hoả từ Hải Phòng về Hà Nội. Biết tin này, nhân dân thị trấn Cẩm Giàng đã mang cờ hoa khẩu hiệu chờ sẵn ở ga đón. Tầu từ từ vào ga rồi đỗ lại. Trong khung cửa toa tàu, Bác Hồ tươi cười giơ tay vẫy vẫy đáp lại tình cảm của mọi người. Có người đến nay vẫn không quên giây phút đó.


Kháng chiến chống Pháp bùng nổ, nghe theo lời kêu gọi cứu nước của Bác, nhân dân đã tiêu thổ kháng chiến, anh dũng tham gia chiến đấu giành nhiều chiến tích vẻ vang. Mảnh đất ấy còn được cả nước biết đến qua văn chương của dòng họ Nguyễn Tường và cái tên Tự Lực Văn Đoàn, với Nhất Linh, Hoàng Đạo, Thạch Lam đã in đậm trong lòng người yêu văn chương.


TLVĐ đã lùi vào lịch sử hơn sáu mươi năm, nhưng ảnh hưởng của văn chương và giá trị nhân văn vẫn còn sống mãi và ngày càng được bạn đọc cả nước ngưỡng mộ. Nhiều chương trình văn học ở các cấp được giới thiệu, và giảng dạy, nhiều nhà văn nhà thơ đã về Cẩm Giàng tìm hiểu mảnh đất con người, phong thuỷ nơi đây, lý giải một hiện tượng văn học rất đặc sắc thời kỳ 1930-1945. Năm 1996 UBND thị trấn Cẩm Giàng đặt tên một con đường mang tên Thạch Lam cũng là một việc làm mạnh dạn, là cách trân trọng văn chương hiếm thấy tại thời điểm lịch sử bấy giờ. Những người thân của gia đình Nhất Linh về thăm quê, biết được điều này họ vô cùng cảm khái. Năm 1997, Hội Nhà văn VN đã có giới thiệu trên VTV3, và nhiều cơ quan, tổ chức văn hoá xã hội cấp TW, địa phương lần lượt tìm về nghiên cứu.


Nhiều năm và đặc biệt năm 2007 Hội văn học nghệ thuật Hải Dương đã tổ chức các ban thơ, văn, nhạc, hoạ, ảnh  đi thực tế sáng tác tại thị trấn Cẩm Giàng. Kết quả các văn nghệ sĩ đã sáng tác nhiều tác phẩm có giá trị về quê hương TLVĐ.


Nhiều nhà nghiên cứu, bạn văn chương sau khi tìm hiểu đất và người, đều thầm phục gọi thị trấn Cẩm Giàng là một trong những nơi phát tích văn chương. Nhà nghiên cứu sử học Dương Trung Quốc đã phát biểu trên báo Thể thao Văn hoá cuối tuần số 14 tháng 11 năm 2007: “Giới văn học nay đã có một nhà bảo tàng khang trang ở giữa Thủ đô, nhưng đừng quên những di tích quan trọng như Cẩm Giàng(Hải Dương).  Lại Nguyên Ân nhà nghiên cứu văn học thì cho rằng: Dấu ấn của TLVĐ chúng ta có thể ghi được ở một vài nơi, ví dụ ở số nhà 80 Quán Thánh, Hà Nội, song không thể quên một nơi phát tích của 3 trong số 7 thành TLVĐ, đó là “Trại Cẩm Giàng” của gia đình họ Nguyễn Tường.


Và Phạm Xuân Nguyên là một nhà thơ, nghiên cứu văn học sau một lần đi thăm lại Cẩm Giàng đã nói: “Trại Cẩm Giàng đã trở thành một không gian văn hoá, văn học, đáng được tôn tạo và phát huy giá trị nhân văn của nó”.


Trên mảnh đất nầy đã sinh ra các nhà thơ Quang Huy - Giám đốc NXB Văn hoá thông tin, nhà văn Giang Quân, Băng Sơn…ở Hà Nội, và các văn nghệ sỹ Hội văn nghệ Hải Dương đang kế tục như: Quang Thông, Huệ Văn, Hoài Mơ, Lam Điền v.v.


Nghiên cứu về TLVĐ có một số điều tế nhị. Những con người trong nhóm có số phận đầy kịch tính. Về nhân thân của họ có nhiều góc nhìn, đánh giá khác nhau. Một thời gian dài khoảng nửa thế kỷ các nhà nghiên cứu dường như bỏ trống, nếu có nhắc đến cũng rất sơ sài, hoặc phiến diện (Lược truyện).


Có một thời gian các nhà nghiên cứu văn học còn dè dặt mỗi khi nhắc tới văn học lãng mạn và văn học 30-45. Họ cho rằng: “văn học lãng mạn tiểu tư sản 1930-1945 chủ yếu là tiêu cực và có hại” - Bạch Năng Thi - Phan Cự Đệ, (NXBGD năm 1961).


Nhận định về Khái Hưng và Nhất Linh, Nguyễn Đức Đàn viết: “Cái tác hại rõ ràng nhất của tiểu thuyết Khái Hưng và Nhất Linh là đã xô đẩy một số đông thanh niên vào con đường ăn chơi, làm cho hầu hết thanh niên trí thức và học sinh rạo rực những khát vọng được sống sa hoa và phóng đãng, trốn tránh thực tế cuộc đấu tranh dân tộc (Tập san văn sử địa, số  11- 1958).


Có ý kiến tuy nhẹ nhàng hơn nhưng vẫn đổ tội  cho rằng TLVĐ cho in thơ lãng mạn, những tiểu thuyết diễm tình làm mềm lòng, làm mờ lý trí, thậm chí làm sa đoạ tuổi trẻ. Có người còn gán cho họ tư tưởng tiểu tư sản, cơ hội chủ nghĩa, đem văn chương ru ngủ thanh niên quên cuộc chiến đấu giải phóng dân tộc v.v. Lại có người cực đoan mang văn chương TLVĐ so sánh với văn chương cách mạng cộng sản rồi phê phán cái yếu kém của họ, làm sai lệch ý tưởng tiến bộ của TLVĐ.


Họ đã quên mất lời nhận xét của Lênin: “Người ta đánh giá công lao những nhân nhân vật lịch sử không phải căn cứ vào cái gì mà họ chưa làm được so với yêu cầu của thời đại, mà phải căn cứ vào cái mà họ đã làm được so với các bậc tiền bối của họ”. Ngoài những quan niệm cực đoan,  đại bộ phận các nhà nghiên cứu văn học chân chính đều đánh giá cao về văn chương TLVĐ một cách  tương đối xác đáng.


Sau năm 1975 giải phóng miền Nam, nhất là sau 1986 đất nước trong luồng gió đổi mới, các nhà nghiên cứu tiếp tục trở lại đề tài này và có góc nhìn đổi mới hơn về thái độ đánh giá về chính trị, cũng như ghi nhận những đóng góp của văn học TLVĐ, và những đóng góp tích cực của các thành viên trong  nhóm.


Đối với Nhất Linh, người đứng đầu TLVĐ, người có nhiều ý kiến đánh giá về quan điểm chính trị  phức tạp, đã được nhìn nhận cởi mở công bằng hơn: Có thể thấy thêm ở Nhất Linh, ông là con người sớm được tiếp xúc với những trí thức phương tây, sớm nhận thấy được sự ngưng đọng trì trệ của xã hội Việt Nam (Tạp  chí văn học số 4/19) 


Gần đây 8 tập Văn xuôi lãng mạn Việt Nam 1930-1945 dày hơn ba nghìn trang, nhưng chỉ mấy nhà văn trong TLVĐ cũng đóng góp gần một nghìn tám trăm trang; năm 2004 Nhà xuất bản Hội nhà văn ra Tuyển tập TLVĐ tập 1, tập 2, tập 3 có hàng nghìn trang sách để giới thiệu với công chúng. Trong nhà trường, từ 1989 phần văn học lãng mạn được giảng dạy kỹ hơn sâu hơn. Nhiều bài thơ mới được đưa vào tiết bài giảng, vào đề thi đại học. Thế hệ trẻ Việt Nam khi nhắc tới TLVĐ không còn ngơ ngác như bước vào chuyện cổ tích như  trước đây nữa.


Đã có những bộ sách đồ sộ như Văn Chương TLVĐ do NXB GD ấn hành năm 2001, được Bộ trưởng VHTT tặng bằng khen, được xếp vào loại A cuộc thi sách đẹp mùa xuân.


Trên báo Khoa học và Tổ Quốc số xuân Bính Tuất 2006, giáo sư Văn Tạo đã có ba ý kiến đề xuất biểu thị lòng trân trọng với tổ chức TLVĐ, trong đó có một ý rất  sâu sắc: Ghi công TLVĐ bằng một nhà lưu niệm ở thị trấn Cẩm Giàng, Hải Dương nơi khai sinh ra tổ chức văn này, trên nền “Nhà khách văn chương” của gia đình Nhất Linh, Hoàng Đạo, Thạch Lam cạnh đường sắt Hà Nội - Hải Phòng đã từng là nơi trao giải thưởng của TLVĐ.


Ngày 24-1-2006 đồng chí Nguyễn Khoa Điềm (khi đó là uỷ viên Bộ chính trị, Trưởng ban tư tưởng văn hoá TƯ) gửi thư cho giáo sư và cho rằng TLVĐ là một phong trào văn chương rất nổi tiếng của nước ta trong thế kỷ XX: "Tôi tán thành cần đánh giá tích cực về phong trào văn học này và có hình thức lưu niệm”.


Gần đây ở thị trấn Cẩm Giàng có nhiều chương trình hoạt động với nhiều nội dung, hình thức đa dạng: Những buổi sinh hoạt, giới thiệu bình văn chương TLVĐ đã giúp cho thế hệ trẻ, hiểu thêm về dòng văn học này. Các hội viên câu lạc bộ, một số trường trung học cơ sở đã phát động cuộc thi sáng tác văn thơ nói về quê hương và TLVĐ. Đảng bộ, HĐND thị trấn và các cơ quan trên địa bàn thị trấn đã được nghe chương trình chuyên đề tiến tới Hội thảo khoa học TLVĐ. Họ đã cử cán bộ lãnh đạo thị trấn và mời một số nhà khoa học của tỉnh cùng tham gia đi tìm tư liệu, nhân chứng chuẩn bị cho Hội thảo. Thường vụ huyện uỷ Cẩm Giàng cũng có nghị quyết về thực hiện chủ trương của Tỉnh về Hội thảo đánh giá một cách khoa học về TLVĐ.


Việc làm ấy không chỉ biểu thị tấm lòng yêu mến lớp nhà văn tiền bối còn giúp cho quần chúng nhân dân địa phương hiểu hơn về TLVĐ, càng yêu mến  tự hào về mảnh đất quê hương.


 Sau nhiều năm chuẩn bị, được sự đồng ý của Ban tuyên giáo TW, sự khuyến khích của các ngành văn hoá, sử học, văn học và nhiều giáo sư, tiến sĩ, các nhà nghiên cứu TW và địa phương…, ngày 9 tháng 5 năm 2008, hội thảo “Bảo tồn và phát huy di sản cố trạch của Tự lực văn đoàn tại tỉnh Hải Dương" đã được tổ chức tại thị trấn Cẩm Giàng, chỉ cách khuôn viên từng mệnh danh Nhà khách văn chương Tự lực văn đoàn  chừng vài trăm mét.


            Các đại biểu có tham luận phần lớn là các nhà văn, nhà nghiên cứu, các giáo sư khoa học, như Văn Tạo, Phong Lê, Huệ Chi, Hà Văn Đức, Nguyễn Ngọc Thiện, Vũ Tuấn Anh, Bằng Việt, Lê Lựu, Bùi Việt Thắng, Văn Giá . Những tác giả khác như Nguyễn Phương Hùng, Nguyễn Thanh Minh, Hà Huy Chương, Khúc Hà Linh, Tăng Bá Hoành…Với 23 bản tham luận và ý kiến phát biểu đã làm sáng rõ hơn và khẳng định Thị trấn Cẩm Giàng là quê hương của ba nhà văn trụ cột TLVĐ, là Nhất Linh, Hoàng Đạo, Thạch Lam, cũng là quê hương văn học của các tác phẩm TLVĐ. Việc xây dựng nhà lưu niệm TLVĐ trên mảnh đất xưa của gia  đình ba nhà văn là một sự ghi nhận đóng góp của họ với lịch sử văn học nước nhà.


Quê hương Cẩm Giàng đã dung dưỡng và tạo niềm cảm xúc văn chương cho các nhà văn TLVĐ.


      TLVĐ đã làm cho đất Cẩm Giàng thêm trang trọng.


Khai thác những vẻ đẹp con người cảnh vật, truyền thống của quê hương mà người xưa để lại, trân trọng giữ gìn phát huy làm thành hành trang bước tiếp đi lên. Đấy không chỉ là phẩm giá của cả dân tộc, mà người Cẩm Giàng đã ý thức được điều này.


Những áng văn chương, những câu hát dân ca, những nét khắc gỗ tinh hoa, những tiếng nhạc ngựa vinh quy còn vẳng trong không gian từ xưa đến bây giờ vẫn còn giá trị về sức mạnh tinh thần nâng bước mỗi con người đi lên phía trước.


 KHL.


Nguồn: Anh em nhà Nguyễn Tường  Tam (Nhất Linh)… ánh sáng và bóng tối. Biên khảo của Khúc Hà Linh. Tác giả gửi www.trieuxuan.info


bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Thương nhớ mười hai: Tháng Giêng mơ về trăng non rét ngọt - Vũ Bằng 03.02.2019
Bình “Đào lê mỹ tửu” của Thạch Lam - Vũ Bằng 27.01.2019
Tam Ích Lê Nguyên Tiệp - Một lời nguyện thiết tha: Xin cho tôi chết lẹ - Vũ Bằng 27.01.2019
Sương Xuân và hoa đào - Vũ Thư Hiên 27.01.2019
Doãn Mẫn - “Biệt ly” mà không biệt ly - Hoài Anh 22.01.2019
Lê Yên - nhạc sỹ thuộc thế hệ đầu của tân nhạc Việt Nam - Hoài Anh 22.01.2019
Dương Thiệu Tước và “Tiếng Xưa” - Hoài Anh 21.01.2019
Phù Dung ơi, vĩnh biệt! (tên cũ là "Cai" -Kỳ cuối) - Vũ Bằng 20.01.2019
Về miền an lành - Triệu Xuân 12.01.2019
Nguyễn Xuân Khoát - Người mở ra buổi “bình minh” của lịch sử tân nhạc - Hoài Anh 11.01.2019
xem thêm »