tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 24999933
Lý luận phê bình văn học
16.08.2018
Phạm Xuân Nguyên
Giang hồ Nguyễn Bính


1. Xê dịch, giang hồ là một khát vọng, một mục đích trong văn chương lãng mạn. Nhân vật trong các thơ truyện theo chủ nghĩa này luôn khát khao đi. Hình ảnh nổi bật quyến rũ là hình ảnh ‘chinh phu”. Đi để thoát đời quẩn quanh, tù túng. Đi để thay đổi cảm giác, tình cảm. Đi để gặm nhấm nỗi cô đơn, sầu quạnh. Nhưng cái đi ấy phần nhiều chỉ là trên trang viết. Trong đời thực, các văn nhân thi sĩ lãng mạn ít xê dịch vì khó xê dịch. Nguyễn Bính hình như là một ngoại lệ. Nguyễn Bính đã đi thực, viết thực, lấy cái đi của chính mình ra mà viết, không phải là đi trong tưởng tượng, mong muốn. “Gió đã nổi phải liệu mà sống chứ” (“Le vent se lève, il faut tenter de vivre”) câu thơ của thi sĩ Pháp Paul Valéry (1871 - 1945) lay động cả Nguyễn Bính: “Đò tôi bến Sở sông Tần/ Gió lên một chuyến bất thần sang Nam” (Con nhà nho cũ - 318)[1]. Câu thơ vẫn mượn hình ảnh, thi liệu ước lệ, nhưng nội dung là thực: Nguyễn Bính đã đi và đi.


Ông có bài thơ “Con nhà nho cũ” có tính chất một phát ngôn “lên đường” để phân cách hai thế hệ cũ - mới. Bài thơ nói chuyện thực của nhà thơ với “Bạn ngày xưa học chữ nho/ Đống Lương anh Ruận, Lúa Đò anh Ban”. Nửa đầu bài thơ vẽ lại khung cảnh xã hội nho giáo truyền thống đi học đi thi vinh quy bái tổ. Nhưng: “Bây giờ thời thế biến thiên/ Nhà vua không lấy trạng nguyên nữa rồi  Mực tàu giấy bản là thôi/ Nước non đi hết những người áo xanh/ Lỡ duyên búi tóc củ hành/ Trường thi Nam Định biến thành trường bay” (Con nhà nho cũ - 318). Đoạn thơ như một bức tranh sinh động buồn bã nói cái thay đổi thời đại. Trong khung cảnh mới những người trai trẻ “con nhà nho cũ” đã chọn một cách sống mới “Không than sinh bất phùng thời/ Vuốt xuôi mái tóc cả cười ta đi”. Một thái độ, một tư thế rất khác. Bài thơ này Nguyễn Bính viết gửi người anh họ là nhà thơ Bùi Hạnh Cẩn khi hay tin “Cẩn giờ lại hóa Uyên Minh họ Bùi”. Đoạn cuối bài ông thúc giục, động viên người anh lại lên đường: “Không đi cũng uổng một đời/ Nhổ sào lên chứ khi trời rạng đông”.


Và đây là một lời tuyên ngôn dứt khoát, của ông và cho ông, đoạn tuyệt một thời để bước sang một thời: “Con nhà nho cũ lại đi/ Ấy ai quy khứ lai hề mặc ai”.


Nguyễn Bính viết bài thơ này năm 1943, khi đó ông đã đang ở Sài Gòn. Cũng ở Sài Gòn ông lại có một bài thơ khác gửi cho Phạm Quang Hòa, cũng một người bạn giang hồ nhưng nay đã dừng bước về Bắc cưới vợ. Bài thơ cũng chia làm hai phần đối lập. Phần đầu là hình ảnh người bạn (cũng là của chính Nguyễn Bính) trong chân dung một kẻ “nghiện sông hồ”: “Về chẳng có kỳ, đi chẳng hẹn/ Như mây mùa thu, gió mùa thu”. Phần sau là cả một nỗi giận hờn, uất ức của ông khi hình dung bạn mình giờ đây “mắt xanh không ngắm trời xanh nữa” mà chí lớn của kẻ lãng du đành “thu vào hộp phấn son” và thân phận của người quân tử chỉ còn là “lo việc nấu canh”. Giữa ông và họ, những kẻ giang hồ bỏ cuộc, không chỉ cách nhau một chuyến tàu hai đầu Nam - Bắc, mà là cách trở vạn sông sâu của hai kiểu người, hai cách lựa chọn sống. Từ Sài Gòn ông quay đầu về Bắc uống ba ly rượu để nhớ bạn, mừng cho bạn: “Song nhớ bao nhiêu lại ngậm ngùi/ Giang hồ còn sót một mình tôi”.


Như vậy, Nguyễn Bính là thi nhân có máu giang hồ, có chí giang hồ. Dù bạn bè bỏ cuộc, an phận đời thường, ông vẫn quyết đi. Dù đang khi đi có chán nản, tuyệt vọng, ông vẫn cứ đi. Dù làm buồn lòng thầy mẹ, ông vẫn lại đi. “Lạy đôi mắt mẹ đừng buồn/ Ngày mai con lại lên đường ra đi (Lại đi - 315). “Nghìn lạy cha già lượng thứ cho/ Thân con trót vướng nợ giang hồ (Bắt gặp mùa thu - 309). “Người đi nghỉ mát những đâu/ Đồ Sơn, Tam Đảo, nhà lầu xe hơi/ Ở đây tôi chỉ đợi trời/ Mưa vàng một trận là tôi lên đường (Quê tôi - 250).


Đây là một cái khác của Nguyễn Bính với các nhà thơ lãng mạn đương thời. Người thơ “chân quê” trong tâm tưởng, ước vọng thường trở đi trở lại với những cảnh quê được vẽ ra đầy chất điền viên, lý tưởng, để đối lập với cảnh phồn hoa phố thị, thì trong thực tế lại là người đã dấn bước đi đến những vùng đất mới xa lạ, thích “gian díu với kinh thành”. Giang hồ Nguyễn Bính vì vậy đã đưa lại cho thơ ông một mảng thơ thành thị, một tiếng thơ thành thị khác hẳn mảng thơ thôn quê.


2. Cái đi của Nguyễn Bính không chỉ là đi vặt, mà ông đã đi xa, đi dài, đi theo ý mình, từ Bắc vô Nam, đến tận Sài Gòn, Nam Bộ. Khác với Xuân Diệu đã từng đến Mỹ Tho nhưng là do phận sự một viên chức “nhà đoan” (douan) nên chỉ mong hết thời hạn công việc để trở ra Bắc.


Trong bài “Lá thư về Bắc” vẫn gửi cho người anh họ - nhà thơ Bùi Hạnh Cẩn, Nguyễn Bính đã nhắc lại buổi Nam chinh của mình. Từ khi lên xe phấp phỏng “Lẻ loi thân nhạn sang Nam ấy/ Biết có làm nên công cán gì?” đến khi tới Sài Gòn thấy mình như con chim non “Bơ vơ trong xứ người xa lạ/ Rộn những phồn hoa, em chạnh buồn”. Nhưng Sài Gòn và đất phương Nam đã cho ông một tin tưởng, một hy vọng, điều rất khó thấy trong thơ ông trước đó. “Rồi men tráng lệ kinh thành ấy/ Từ đấy in thêm bóng một người/ Bóng một nhà thơ đầy nguyện vọng/ Giàu lòng tin tưởng bước tương lai” (Lá thư về Bắc - 83). Và ông hẹn với người ở nhà sẽ trở về kể chuyện phương xa lúc “khải hoàn thân gió bụi”.


Nguyễn Bính rồi sẽ chóng tan mộng trước thực tế “làm thơ mang bán cho thiên hạ/ thiên hạ đem thơ đọ với tiền”. Đó là thế thái nhân tình đương thời. Nhưng ông đã đến phương Nam, sống Sài Gòn, và miền đất mới này đã tiếp cho thơ ông một nguồn mạch mới.


Vào Nam, cái đầu tiên ông thấy là khí hậu trời đất khác, cả phong tục cũng khác.


Xuân về chẳng có hoa tươi


Nắng luôn cả sáu tháng trời không mưa


Người ta ăn tết buồn chưa


Rượu bia hoa giấy và dưa đỏ lòng


Ba ngày tết nóng như nung


Hỏi phong vị ấy là phong vị gì?


(Xuân về nhớ cố hương - 334)


Đoạn thơ phản ánh cả một tâm trạng bỡ ngỡ, hoang mang của Nguyễn Bính đến thành như “tâm lý vùng miền” khi lần đầu tiếp xúc với đất và người phương Nam. Ông nghĩ ăn tết như trong Nam là buồn. Và nóng ấy, tết ấy ông coi là không ra một “phong vị” gì cả. Đây là bước mở đầu quá trình nhận thức của ông về một nơi mà bước chân lưu lạc giang hồ đã đưa ông tới.


Dần dần ông nhập cuộc đời sống Sài Gòn. Từ một người yêu xóm đạo ở Lan Chi viên Nguyễn Bính đã khóc trước ảnh Chúa và tiếng chuông nhà thờ để rồi trong cơn tuyệt vọng người yêu phải bị lên xe hoa ông đã nghĩ tới một Chúa khác của lòng mình hòng bấu víu, nương tựa: “Cái hôm hắn bước lên xe cưới/ Khóc lả người đi, Chúa biết không?/ Chúng con ngoại đạo và ngoan đạo/ Vẫn biết và tin có “Chúa lòng” (Chuông Ngọ - 292).


Nếu ta biết rằng thơ tình Nguyễn Bính trước đó có rất nhiều hình ảnh hương sắc đặc trưng của làng quê Bắc Bộ nhưng hầu không có tiếng chuông chùa - một nét đặc sắc của làng cảnh đàng ngoài, thì mới thấy tiếng chuông nhà thờ ở đây là một cái mới trong thơ ông. Từ Chúa Christ của Thiên Chúa giáo nhà thơ đã tạo ra một “Chúa lòng” của Ái Tình, và tất thảy những người yêu nhau đều là những tín đồ ngoan đạo của vị Chúa này. Và trước “Chúa lòng” đôi người yêu dẫu bị xa nhau nhưng vẫn thuộc về nhau. Đó cũng là một cảm hứng mới của thơ Nguyễn Bính vốn hay sầu thảm, tuyệt vọng khi nói về cảnh chia ly, đoạn tuyệt của cặp tình nhân do hoàn cảnh, thời thế.


Tuy vậy mà ông vẫn thấy “Nam Kỳ cũng gió cùng mưa”, nhưng mưa Sài Gòn khác mưa Huế. Cả hai bài thơ viết về mưa ở Huế và ở Sài Gòn đều làm kiểu độc vận, đều có nỗi buồn thương thân phận, nhưng tâm tình có khác. Bài “Trời mưa ở Huế” nói cái sự buồn trời mưa rồi ôn lại chuyện cũ đời mình thấy toàn thất bại. Bài “Đêm mưa đất khách - 297” (Sài Gòn 1943) cũng nói cái sự buồn trời mưa nhưng mang tâm sự của một tráng sĩ, một chinh phụ lỡ vận, bất đắc chí, “đất khách cùng đường ta khóc ta!”. Huế là mưa suốt mấy ngày, còn Sài Gòn là một đêm mưa, “đêm dài đằng đẵng, đêm bao la…”, như thế không chỉ là cái đêm thời gian nữa, mà là cái đêm thời thế, thời cuộc. Và Nguyễn Bính trong cái thế đi cũng dở ở không xong vẫn tin ở mình “thân này há ngại chuyện xông pha”. Ở đất phương Nam, ở Sài Gòn, Nguyễn Bính đã cất lên được trong thơ một câu hỏi có chí khí: “Hỡi người đi gió về mưa/ Có xây dựng nổi cơ đồ gì không?” Cơ đồ ở đây là sự nghiệp của bản thân. Liệu ở đây có chăng ảnh hưởng của vùng đất, hay rộng ra là của địa lý, đến tiếng thơ Nguyễn Bính? Bởi trong mảng thơ của ông viết ở Huế trong dịp lưu lại đất cố đô trên hành trình từ Sài Gòn ra Bắc “Chúng tôi người bến sông xa/ Giang hồ một chuyến về qua xứ này” (Một con sông lạnh - 226) thì âm hưởng lại khác. Xứ cố đô chất chứa cho thơ ông nhiều hoài cảm khi mà thơ ông đã đẫm nỗi buồn hoài niệm khi viết về xứ Bắc. “Hôm nay có một người du khách/ Ở Ngự Viên mà nhớ Ngự Viên” (Xóm Ngự Viên - 228). Tại Huế ông như làm cuộc tổng kết chuyến đi của mình sau khi “lăn lóc có dư mười mấy tỉnh” để rồi ai oán với mình với bạn: “Không hiểu vì đâu hai đứa lại/ Chung lưng làm một chuyến đi đày” (Trời mưa ở Huế - 238).


Tâm trạng này của Nguyễn Bính có lẽ phần nào cũng bị nhuốm cái ảo não của trời mưa xứ Huế ‘cứ kéo dài ra đến mấy ngày” khiến khách du phải dừng bước, chôn chân một chỗ. Chứ đọc phần thơ viết ở Sài Gòn của ông ta thấy chuyến “hành phương Nam” đã mở ra cho thơ ông một cảnh sắc khác và đem lại một sắc điệu khác.


3. Phong vị đất trời khác đưa đến một phong vị thơ khác. Từ điệu buồn ở Bắc sang điệu thán ở Trung đến điệu bi ở Nam trong thơ Nguyễn Bính. Điệu thơ này được thể hiện ở mấy bài thơ thể hành mà chỉ khi vào Nam Nguyễn Bính mới viết. Tiêu biểu là bài Hành phương Nam (Đa Kao, 1943). “Hành” đây là đi, bài thơ nói về chuyến đi vào Nam. Nhưng “hành” cũng là một thể thơ nói cái chí khí, cái ước nguyện lớn lao, chứa đựng nỗi niềm u uất, cảm khái của người viết. Tống biệt hành của Thâm Tâm, Độc hành ca của Trần Huyền Trân - hai người bạn thơ thân thiết của Nguyễn Bính trong nhóm “Cống Trắng” - là một thí dụ. Trong Hành phương Nam Nguyễn Bính không là thi sĩ nữa, ông là tráng sĩ, lời thơ là tiếng lòng bi phẫn thoát ra từ một kiếp người.


Ta đi nhưng biết về đâu chứ


Đã dấy phong yên lộng bốn trời


Thà cứ ở đây ngồi giữa chợ


Uống say mà gọi thế nhân ơi


Thế nhân mắt trắng như ngân nhũ


Ta với nhà ngươi cả tiếng cười


Dằn chén hất mạnh đầu cỏ dại


Hát rằng phương Nam ta với ngươi


Ngươi ơi! Ngươi ơi! Hề ngươi ơi!


Ngươi sang bên ấy sao mà lạnh


Nhịp trúc ta về lạnh mấy mươi…


(Hành phương Nam - 301)


Hành động “Dằn chén hất mạnh đầu cỏ dại” là của một Nguyễn Bính đã khác. Mái tóc bù như cỏ dại trên đầu được hất mạnh cùng với cái tay dằn chén tỏ một thái độ thách thức với thế nhân, với cuộc đời đang sống. Trần Huyền Trân cũng viết: “Đầu bồng khí núi đang lên/ Sá gì bóng tối đắp trên thân còm”.


Bài thơ “Hành phương Nam” có dị bản thêm hai câu sau cái câu ngày mai này: “Ngày mai sán lạn màu non nước/ Cốt nhất làm sao tự buổi này”, khác với hai câu được truyền nhớ: “Ngày mai có nghĩa gì đâu nhỉ/ Cốt nhất cười vui trọn đêm nay”. Có thật hai câu dị bản cũng là của Nguyễn Bính không? Tôi cho là dị bản thôi.


Nguyễn Bính còn một bài hành nữa, có lẽ cũng viết ở Sài Gòn - bài “Ái khanh hành”. Vẫn là đề tài tình yêu, vẫn có mô típ cũ em là hoàng hậu anh là vua kết thành vợ chồng. Hai chữ “ái khanh” cũng rất cũ, song cũng có hơi hướng cải lương của Nam Bộ. Nhưng giọng điệu của bài thơ viết theo lối hành này thì lại rất lạ, như kiểu nói của người Nam Bộ thẳng băng, dứt khoát: “Lòng em thương anh không có bến/ Tình anh yêu em không có bờ”; “Tương tư một đêm năm canh chẵn/ Nhớ nhung một ngày mười hai giờ”. Cứ đối nhau chan chát vậy, không còn những là “có lẽ” với “hình như” ở những bài thơ viết về mối tương tư ở làng quê Bắc Bộ. Nhưng đặc biệt nhất trong bài là đoạn so sánh người yêu viết rất khác, khác đến sửng sốt, so với thơ Nguyễn Bính chúng ta đã quen và tôi đồ rằng cách nói kiểu này chỉ có ở thơ ông khi ông đã ở phương Nam.


Chao ơi!


Em ngon như rau cải


Em ngọt như rau ngót


Em giòn như cùi dừa


Em hiền như nước mưa


Em nhổ nước bọt xuống mặt biển


Mặt biển thơm lên hai mươi bốn giờ.


(Ái khanh hành - 296)


Tôi phải kêu lên theo ông - Chao ơi! - để mà phục quá Nguyễn Bính ở mấy câu thơ này. Mà sao ông lại có hai câu hay thần tình khiếp đảm đến vậy nói về nước bọt của người yêu! Chưa từng trong thơ Việt có câu thơ nào khiến thích thú sửng sốt bàng hoàng như thế! Những ai đã đọc thơ Nguyễn Bính, đã quen thuộc giọng điệu thơ “chân quê” của ông, chắc không ngờ nổi Nguyễn Bính lại có giọng thơ này, lại có hai câu thơ tuyệt diệu đó. Tôi cũng bất ngờ khoái trá và tôi tin đó vẫn là thơ Nguyễn Bính. Vốn trước ông cũng đã có cách nói rất phũ phàng, quyết liệt, như trong bài Cưới vợ: “Pháo ơi mày nổ làm gì/ Biến ra tất cả pháo xì cho tao”. Giọng thơ của ông như vậy đã hào sảng hẳn lên cả khi nói về tình yêu, chứ không còn nỉ non, than vãn não nùng như trước. Nguyễn Bính lưu lạc vào Nam đã tự phát hiện lại mình và cho người đọc phát hiện mới về mình. (Mở ngoặc nói thêm là cấu trúc câu thơ “Em hiền như nước mưa” có phải đã gợi nhắc cho thi sĩ xứ Đồng Nai Nguyễn Tất Nhiên sau này viết “Em hiền như ma soeur”).


Từ đó có một khí phách Nguyễn Bính dán thơ trước cửa túp lều của mình ở Đồng Tháp Mười: “Từ độ về đây sống rất nghèo/ Bạn bè chỉ có gió trăng theo/ Những phường bất nghĩa xin đừng đến/ Hãy để thềm ta xanh sắc rêu” (Từ độ về đây - 293)


Tiến lên một bước nữa là những bài thơ viết ở Đồng Tháp Mười trong những ngày đầu kháng Pháp mà Nguyễn Bính đã dừng chân lưu lạc giang hồ để tham gia. Thơ Nguyễn Bính lúc này khác hẳn lối thơ ngày trước của ông ở lối ngắt câu, ngắt đoạn, ở nhịp thơ tự do. Tiêu biểu là bài thơ về tiểu đoàn 307 mang giọng hùng ca với những câu thơ điệp khúc như bước chân đi dồn dập, như sóng cuộn trào hối hả. Được nhạc sĩ Nguyễn Hữu Trí phổ nhạc, bài thơ đã thành tiếng kèn xung trận, thành một điệu hùng của thơ Nguyễn Bính. Đó là một chân dung khác của người “thi sĩ chân quê”.


4. Cố nhiên vào Nam Nguyễn Bính vẫn không nguôi nhớ đất Bắc. Cái nhớ sầu não, thảm thương, nhất là mỗi độ xuân về dâng lên thành nỗi niềm tha hương, nỗi sầu quê (nostalgia), vẫn đậm đà trong thơ ông. Bước chân giang hồ xê dịch có làm ông phấn chấn lúc đi, có thêm cho thơ ông chất khỏe khoắn, mạnh mẽ phần nào khi đến một vùng đất mới, nhưng vẫn không làm mất đi được cái bi quan chán nản trong cảm thức của ông. Nỗi sầu quê ly hương (sadness of exile), tuy vậy, cần được nhìn nhận ở hai phương diện. Một mặt, đó là tâm trạng chủ đạo của ông từ khi vào đời, rời làng quê ra thành thị, bị thất vọng vỡ mộng trước cuộc sống và khi vào thơ nó là cảm thức xuyên suốt của thơ Nguyễn Bính. Nó trở thành một thứ “bệnh sầu quê” (nostalgiamania) kinh niên đối với ông, một thứ “tâm bệnh” không chữa được. Nó là một khung trời lý tưởng, một “khu vườn tình ái” điền viên, làm điểm tựa tinh thần cho Nguyễn Bính để trên bước đường giang hồ lưu lạc ông dù có đau khổ, thất vọng, chán nản đến mấy vẫn tự nhủ lòng có nơi chốn để quay về, thế là đủ để ông không quay về. Luôn luôn trong thơ Nguyễn Bính nói đến điều này, nó là “leimotiv” của thơ ông. Nhưng mặt khác, cái sầu quê đó là một phương thức nghệ thuật của Nguyễn Bính để ông diễn tả phía đối lập của nó là sự khát khao ra đi, ý muốn giang hồ, tinh thần quẫy phá. Có thể dùng hai câu thơ của Lưu Quang Vũ để nói tâm trạng cảm xúc này của Nguyễn Bính: “Vườn không níu được bước chân anh trở lại/ Nhưng lá còn che mát suốt đường anh”. Nguyễn Bính đúng là vậy. Ông cứ than khóc, cứ nhớ thương quê nhà gia đình, nhưng ông vẫn cứ rời quê xa nhà, vẫn không dừng bước lãng du, giang hồ. Còn đi được là ông cứ đi. Đi xa quê xa nhà rồi thì ông lại khóc thương nhớ nhà nhớ quê. Chu trình này là một ám vận cuộc đời Nguyễn Bính. “Mẹ cha thì nhớ thương mình/ Mình đi thương nhớ người tình xa xôi”, ở đây “người tình xa xôi” không chỉ là một con người cụ thể, mà còn là những vùng đất xa, đất mới. Và ở phía bên kia của “sầu quê” là “sầu đô thị”. Nguyễn Bính bị kẹt giữa “sầu quê” và “sầu đô thị”, bị lâm tình thế tiến thoái lưỡng nan (dilemma). Ông đã nhiều lần “sực tỉnh sầu đô thị” khi thấy “kinh kỳ bụi quá xuân không đến”. Nhưng dù đã nhiều lần hướng về thôn quê mà kêu lên, mà hô hào mình “Sao chẳng về đây? Chẳng ở đây?”, rút cục Nguyễn Bính vẫn cứ ở kia. Cái sầu đô thị trong ông hóa ra đã quyến rũ ông hơn cái sầu quê, hay càng nặng sầu quê thì ông càng không dứt được sầu đô thị.


5. Có hiểu như thế mới hiểu được cảnh đời của Nguyễn Bính rất thực chứ không mộng mơ, lãng mạn. Trong cuộc đời, theo bước giang hồ, Nguyễn Bính đã có ở đất phương Nam mái ấm gia đình vợ con mà rồi theo thời cuộc ông đã phải chia xa về Bắc một mình để đến tận cuối đời vẫn luôn khắc khoải, trông ngóng. Ông đã để lại miền Nam hai người con gái: Hồng Cầu mang nguyện ước mẹ cha “như trái đất này rực đỏ/ dù bao giờ, dù bất cứ đâu” (Nhớ kỹ tên con nhé - 386), Hương Mai “tên xóm quê nhà” (Gửi người vợ miền Nam II - 427). Trong lòng ông và thơ ông, vì thế, từ sau 1954 luôn diễn ra những chuyến “hành phương Nam” nhớ vợ thương con. Tình cảnh chia cắt đất nước hai miền đã không cho ông lại cất bước giang hồ để vào Nam gặp lại vợ con. Đến cánh thư cũng không thể vượt tuyến được. Cho nên “Đất Bắc phải đâu là đất khách” nhưng cứ mỗi độ xuân về ngắm đào cúc ông lại nhớ mai vàng phương Nam khiến “Câu thơ đứt giữa lòng trang giấy/ Mắt rượu mờ trông mái tóc thề” (Xuân nhớ - 493). Nguyễn Bính có rất nhiều bài thơ xuân -  xuân về, xuân xanh, nhạc xuân, mưa xuân, rượu xuân, vườn xuân, gái xuân, xuân tha hương, xuân vẫn tha hương, xuân thương nhớ - tất cả đều viết theo dòng lãng mạn cho một mối tình ấp ủ mộng tưởng với cảm xúc tan vỡ, đau khổ. Chỉ bài Xuân nhớ (1956) là Nguyễn Bính viết thực cho cảnh chia cắt gia đình thực của mình. Cái nhớ này là cái nhớ thực trong cảnh thực “Rộn rã xuân về giữa thủ đô/ Hồn đơn gác lẻ đón giao thừa”, vì thế càng thấm hơn nỗi buồn đau thực của nhà thơ. Ông khắc khoải nhìn trời sao đất Bắc mà thấy “Sao Hôm như mắt em ngày ấy/ Rớm lệ nhìn tôi bước xuống tàu” (Đêm sao sáng - 383).


Bao nhiêu tình cảm ông dồn hết vào những bài thơ làm thư chồng Bắc gửi vợ Nam và làm cả thơ vợ Nam gửi chồng Bắc. Và hơi thơ quen thuộc Nguyễn Bính lại trở về trong bài thơ độc vận trăm câu Xuân nhớ miền Nam (1956): “Em ơi anh thức ba đêm trắng/ Thơ một trăm câu một mối tình/ Xuân đến, miền Nam, em hãy đọc/ Trong thơ miền Bắc có thơ anh” (Xuân nhớ miền Nam - 455). Câu thơ cuối chở cả một khối tình riêng đau đớn, hơn thế, Nguyễn Bính như muốn gửi gắm một điều gì đến người đọc thơ mình, không chỉ là cho người vợ xa cách miền Nam.


Nguyễn Bính hành phương Nam đã nói hộ cho bao người, bao kiếp tha phương một nỗi rưng rưng tê tái thấm thía vọng cố hương: “Quê nhà xa lắc xa lơ đó/ Ngoảnh lại tha hồ mây trắng bay”. Chẳng hiểu sao tôi thấy Nguyễn Bính đồng vọng, đồng vọng vô cùng với Nguyễn Du khi đi sứ Trung Hoa: “Vạn lý hương tâm hồi thủ xứ/ Bạch vân nam hạ bất thăng đa” (Lòng nhớ quê nhà cách xa vạn dặm quay đầu nhìn lại/ Mây trắng bay về nam nhiều không kể xiết - Ngẫu hứng, Bắc hành tạp lục). Câu này chữ ấy đều là của một tấm lòng, cùng một tấm lòng.


Bởi Nguyễn Bính đã biết và đã sống trọn phận mình như lời thơ ông thổ lộ cùng nữ sĩ Mộng Tuyết ở Hà Tiên trong những tháng ngày giang hồ tuyệt mù khơi: “Chị ơi! trôi nổi là thân tôi/ Cánh buồm bạt gió trôi hồ hải” (Bài thơ vần Rẫy).


Nguồn: Trăm năm Nguyễn Bính, Truyền thống & Hiện đại. Nhiều tác giả. Hội thảo khoa học về Nguyễn Bính do Viện Văn học & Trường Đại học Văn Lang tổ chức. NXB Hội Nhà văn, 07-2018.


www.trieuxuan.info


 


 







[1] Tất cả thơ trích dẫn trong bài viết này đều lấy từ sách: Nguyễn Bính toàn tập (Nguyễn Bính Hồng Cầu sưu tầm, biên soạn), (tập 1). Nxb. Hội Nhà văn, H., 2017. Con số sau tên bài là số trang trong tập.




bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Vài nét về văn học chiến tranh trong trường phổ thông - Nguyễn Văn Nhượng 14.12.2018
Tính nhân dân, phẩm chất đầu tiên của tác phẩm văn học nghệ thuật - Tư liệu 14.12.2018
Một trong những bài thơ tình hay nhất thời kỳ chống Pháp - Tư liệu 13.12.2018
"Thành Cát Tư hãn" của Vũ Khắc Khoan - Vũ Hạnh 07.12.2018
"Viết và đọc tiểu thuyết" của Nhất Linh - Vũ Hạnh 07.12.2018
Thơ có thể làm ta đổi thay ý nghĩ - Nhiều tác giả 07.12.2018
Có phải GS. Nguyễn Huệ Chi tìm ra tên của Tuệ Trung Thượng sĩ là Trần Tung? - Boristo Nguyen 02.12.2018
Evtushenko và văn học phi chính thống ở Hà Nội trước, sau 1975 - Vương Trí Nhàn 30.11.2018
Những tố chất tương đối bền vững trong Nghiên cứu – Phê bình Văn Nghệ - Hồ Sỹ Vịnh 29.11.2018
Những chuyển động đa chiều trong đời sống văn học Việt Nam đương đại - Nguyễn An Dương 29.11.2018
xem thêm »