tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 24052437
14.08.2018
Hà Minh Đức
Hà Nội – Gặp gỡ với nụ cười (6)


CHUYỆN ẨM THỰC Ở NƠI CAO ỐC


Xã hội càng phát triển, nhu cầu và trình độ ẩm thực của mọi người cũng được mở rộng và nâng cao. Miếng ngon Hà Nội ngày càng nhiều, không sao kể hết. Từ hàng quán bán rong nơi vỉa hè rồi các nhà hàng bậc trung với những món ăn luân chuyển ngon miệng, đến chuyện ẩm thực ở chốn cao ốc. Nhìn vào những tòa nhà tám chín tầng với hàng trăm phòng, những người bảo vệ trang phục như những chiến binh, thực khách sờ lại cái túi mỏng của mình mà lo ngại. Ở đấy chuyện ẩm thực phải chăng chỉ mang tính đối ngoại, còn người bản địa chẳng nên quan tâm tới những món ăn sang trọng mà quá xa xỉ này.


Dù sao thì tôi cũng phải tìm hiểu theo bản tính tò mò của mình. Đến với các khách sạn cao tầng, trước hết phải chú ý đến số sao. Khách sạn hai sao, ba sao, bốn sao, năm sao nói lên những cấp độ đã được chuẩn hóa theo tiêu chuẩn quốc tế. Nhưng rồi tiêu chuẩn quốc tế vào Việt Nam cũng rất biết điều và co dãn thích hợp với thực tế địa phương.


 Ở thành phố Vinh có hai khách sạn được gắn bốn sao là Kim Liên và Phương Đông. Một cán bộ của Phương Đông bảo: “Khách sạn Phương Đông vừa gắn ba sao là thiệt, quy hoạch, thiết kế, tiện nghi là đáng bốn sao, không cũng phải ba sao rưỡi”. Theo thời gian số sao cũng tăng dần.


Có khách sạn được lên ba sao, bốn sao nhưng còn xin nợ lại tiêu chuẩn: một sân tennis, một bể bơi, một sàn nhảy. Cán bộ khách sạn giải thích: “Vật liệu, thiết kế đã đầy đủ cả, còn một chút thời gian thi công thôi. Gắn sao cho khách sạn thực chất cũng là cho thành phố, sớm ngày nào thì sang trọng ngày ấy”. Các khách sạn lớn năm sao như Caravel, Hilton, Daewoo, Nikko, Hilton… đều tập trung ở Sài Gòn, Hà Nội. Phấn đấu có thêm được một sao cho khách sạn cũng khó khăn như trong binh nghiệp.


 Khách sạn nhiều sao không đồng nghĩa với ăn ngon. Vấn đề quyết định là những đầu bếp, đặc biệt là chủ đầu bếp. Nhạc trưởng này sẽ chỉ huy toàn bộ công việc nấu nướng, chế biến thức ăn, sáng tạo các món ăn mới. Nói đến khách sạn phải nói tới đầu bếp giỏi. Có người nổi tiếng và sống vương giả còn hơn nhiều nhà khoa học, nghệ sĩ tên tuổi của một nước.


Trong sách “Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch”, Trần Dân Tiên có nhắc đến vua bếp Ét-cốp-phi-e ở tiệm ăn Các-lơ-tông ở Luân Đôn. Ông nổi tiếng ở Anh, Pháp, Đức. Vua bếp được tôn vinh và thường tham gia tổ chức yến tiệc của cung đình hoặc nhà nước.


Mỗi khách sạn lớn đều phải tìm cho được những đầu bếp giỏi làm chủ bếp. Tuy nhiên chuyện ẩm thực lại mang đậm tính dân tộc, thị hiếu và thói quen, khẩu vị dân tộc. Không có một đầu bếp giỏi nào có khả năng nấu giỏi tất cả các món ngon của nhiều nước, chẳng hạn như Pháp, Ấn Độ, Việt Nam, Trung Quốc. Ẩm thực phải có chuyên ngành. Khách sạn Daewoo khi giới thiệu món nướng Teppanyaki cổ truyền Nhật Bản đã giới thiệu đầu bếp Nhật Norio Nomoto; các món ăn truyền thống Mỹ với đầu bếp tài hoa Mỹ Larry Jackson.


Khách sạn lớn cũng phải có chuyên ngành, không chỉ chung chung là cơm Âu, cơm Á  mà phải tỉ mỉ hơn, kỹ càng hơn. Khách sạn Nikko của Nhật ở Hà Nội là một nhánh của tập đoàn Nikko, có mặt ở nhiều nước như Pháp, Mỹ. Tầng 1 có cửa hàng ăn Âu, thực đơn quay vòng trong một tuần lần lượt từng ngày theo các nước Mỹ, Pháp, Đức, Anh, Nga…Tầng 2 có hàng ăn Trung Quốc (Chinese Restaurant) và hàng ăn Nhật Bản (Japanese Restaurant)… Khách sạn Daewoo cũng tổ chức những phòng ăn tương tự. Riêng quán ăn Việt Nam thì việc tổ chức và điều hành có những khó khăn riêng. Đã có quá nhiều hàng ăn Việt Nam ở Hà Nội nên khó xác định lượng khách có thể đến khách sạn và giá cả nên thế nào. Khách sạn Daewoo đã dành riêng tòa nhà một tầng để tổ chức bữa trưa cho khách Việt Nam với giá khiêm tốn. Đồ ăn sang trọng, ngon lành để trong những chiếc nồi hình quả cầu sáng bóng. Người ăn đẩy nắp và tự chọn lấy thức ăn theo ý mình. Thịt gà rán sốt cà chua, thịt bò xào rau, thịt nạc thăn tẩm bột rán, nem rán, các loại rau quả sạch để tươi, các loại nước sốt, súp gà, thịt, rau đổi theo ngày. Chắc chắn là khách sạn không thu được lãi ở quầy hàng này. Tuy nhiên khách vẫn không đông, có ngày thưa vắng. Có thể vì địa điểm xa và không có phương tiện đi lại thuận lợi, có thể vì thông tin còn hạn chế. Khách bợm rượu thì cho rằng thức ăn hiền lành quá, chỉ thích hợp với người ăn cơm hàng ngày. Daewoo chuyển sang kinh doanh theo hướng khác. Ở gian hàng Âu thức ăn gồm nhiều loại đồ ăn lạnh như xúc xích, jămbông, pho mát, loại nóng có bít tết bò, gà rán, thịt nướng, thức ăn cầu kỳ có các loại hầm – gà hầm, bò hầm đậu Hà Lan và nấm. Giá ăn trung bình khoảng trên dưới 30 đô cho một người.


Ở khách sạn Nikko hải sản có các loại tôm, cua, vây, giá cả cũng đặc biệt. Món vây cá sốt đỏ giá 38 đô một đĩa, món sò điệp tươi sốt XO giá 36 đô.


Bánh ngọt ở các khách sạn thường được làm theo quy cách và mẫu ở phương Tây, nhiều bơ, kem, sô-cô-la, quá béo và ngọt nên khách Việt dễ không thích hợp. Gian hàng bánh ngọt cà phê của Hilton được quảng cáo là ngon nhất Hà Nội. Còn về thức uống ở các khách sạn đắt nhiều lần so với bên ngoài. Một lon bia ngoại giá tới ba đến bốn đô. Một chai vang bóoc-đô với niên hạn năm năm sản xuất giá tới ba bốn chục đô, đấy là chưa kể đến các loại rượu mạnh như Hennessy, Camus Cognac – XO. Superior, John Blue, Landy Cognac – XO rồi Remy Martin (XO special) với giá hàng trăm đô một chai.


Trong nhiều năm gần đây người Việt Nam thích uống rượu Tây. Có thể là theo thời, theo mốt. Có thể là theo cách nói của những đệ tử rượu ngoại là rượu Âu uống không đau đầu và thơm rất lâu trong miệng. Tôi đã chứng kiến nhiều cách uống rượu Tây khen đầy hào hứng. Một chai Remy xịn với những chiếc cốc pha lê trong tròn và mỏng. Lần rót đầu rượu chỉ ngập đáy cốc. Mọi người cũng chạm cốc và hô khẽ: “Nào ta keng nào”. Lại sang lớp rượu khác và mọi người lại hô “Nào ta keng nào”… Chai rượu vơi cạn hẳn sau mấy lần keng. Không ai say hẳn, phải tỉnh táo để còn biết đường về.


Trở lại với khách sạn Daewoo. Gian hàng người Âu rất ít khách Việt. Thỉnh thoảng có cuộc gặp gỡ nhân dịp vui mừng nào đó của một đại gia, một khách xịn. Đây không phải là nơi lai vãng của những người tiêu dùng bình thường. Một bữa ăn cho một hai người cũng phải tốn tiền triệu.


Nhiều khách sạn ở Hà Nội đều có hàng ăn Trung Quốc khá rộng rãi và luôn đông khách. Gian hàng Trung Quốc của khách sạn Nikko có nhiều món ăn thích hợp với khẩu vị và túi tiền của khách. Thức ăn tự chọn vào buổi trưa với mỗi xuất là 10 đô la chưa kể đồ uống. Những chiếc xe đẩy chở thức ăn được hấp nóng đi các bàn. Ở đây bánh bao lên ngôi với hàng chục loại nhân ngọt, mặn, bánh bao thịt, tôm. Các món thịt vịt, gà quay xá xíu, sườn hấp, các loại mỳ xào bò, gà, tôm, các loại lẩu hải sản, gà, bò…Thức ăn Trung Quốc các vùng Quảng Đông, Tứ Xuyên cũng thường xuyên có mặt trong thực đơn. Thức ăn Trung Quốc dễ làm cho khách khoái khẩu nhưng cũng có nhược điểm là quá béo, gia vị chua ngọt hơi nhiều.


Khách sạn Nikko có cửa hàng ăn Nhật Bản cùng tầng với hàng ăn Trung Quốc. Tôi cùng một hai người quen đến khảo nghiệm thử hương vị của nhà hàng Nhật Bản. Thực ra tôi đã có dịp nếm các món ăn của Nhật Bản như cá hồi sống, mực sống, cá trứng nướng, một vài loại thức ăn tẩm bột rán, bát nước canh và các gia vị. Cách ăn của người Nhật không phô trương mà có phần đạm bạc, chú trọng khẩu vị riêng của dân tộc. Người Nhật vẫn thích rượu Sa-kê, thích ăn cá, thích các loại rau dưa chế biến theo cách riêng. Phải chăng thực phẩm theo khẩu vị chống béo này đã giúp đàn ông Nhật có tuổi thọ trung bình tới 78 và đàn bà tới 85.


Bữa ăn của chúng tôi ở nhà hàng Nhật Bản dành cho một xuất chỉ có hai con tôm tẩm bột rán, một ít hoa quả rán, một bát mỳ, mấy miếng cá hồi sống và mỗi người phải trả gần 20 đô. Khách được giải thích là thực phẩm đều được mang từ Nhật sang nên giá thành cao.


Trở về khách sạn Melia với thức ăn quen thuộc của người Thái. Hà Nội cũng có một vài hiệu cơm Thái giữ được phong vị riêng nên cũng đông khách. Khách sạn Melia đẹp, mang rất rõ phong cách của Thái từ kiến trúc, cách phục vụ đến nấu nướng. Điều rõ rệt là các món ăn Thái đều cay, một thứ cay của gia vị, vừa thơm, vừa hắc, vừa kích thích giác quan vùng miệng, vừa làm tê lưỡi. Một tập thực đơn dày trên tay nữ tiếp viên với nụ cười hiền hậu. Tôi nói:


- Nhờ cô chọn hộ cho ba món ăn, chừng trên mười đô một món.


Cô trả lời:


- Thịt bò sốt rượu vang mười chấm năm, cơm rang chín chấm năm và món nấm gà mười chấm chẵn.


Tuy không phải dịch nhưng tôi cũng hơi ngạc nhiên với cách nói của cô tiếp viên. Cơm và thức ăn đều ngon miệng nhưng giá quá cao. Khách sạn không phải là nơi để người ngoài đến ăn uống theo cách thông thường. Chuyện ăn gắn với nơi ở hay đúng hơn là phải ở rồi mới tính đến chuyện ăn. Đến với cao ốc cũng chính là đến với chỗ ở sang trọng. Khách sạn là tòa nhà gồm mấy tầng, có vị thế đàng hoàng không? Có bao nhiêu phòng ở, tiêu chuẩn và trang bị của các phòng có hiện đại không? Khách sạn có đủ bể bơi, sân tennis, sàn nhảy, quầy rượu, các loại hình giải trí? Thiếu hết các tiêu chuẩn đó khách sạn chỉ còn là nhà hàng, nhà trọ.


Thực ra ở nước nào cũng vậy, những nơi ăn uống ngon nhất không hẳn nằm ở những khách sạn cao tầng mà lại ở những nhà hàng chuyên doanh ngoài kia, nơi bãi biển, chốn phố phường. Có khi khách hàng chỉ cần sưu tầm một món ăn và hoàn toàn thỏa mãn như thịt vịt quay ở một cửa hiệu Bắc Kinh, món tôm hùm ở bãi biễn Boston, món thịt chó ở Nghi Tàm Hà Nội. Bếp trưởng người Pháp Didier Corlou ở khách sạn Sofitel Metropole Hà Nội sau nhiều năm nghiên cứu đã biên soạn cuốn sách “Cuisine du Việt Nam – Hanoi d’hier et d’aujourd’hui” giới thiệu hàng trăm món ăn Việt Nam. Ông cho rằng những thức ăn ngon nhất ở Việt Nam chính là thức ăn và quà bán rong ở vỉa hè. Phải chăng ông muốn nói đến các món chim ngói quay, phở gánh, bún cua, bánh cuốn, nem chua, xôi gà, bánh giò, chè sen, chè cốm,... Cách ăn uống lại bình dị, linh hoạt, gần gũi và rất hợp với túi tiền của mọi người. Chỉ cần mười nghìn đã tạm đủ để có một bữa ăn ngon lành, vui vẻ. Thạch Lam trong “Hà Nội ba mươi sáu phố phường” cũng như Vũ Bằng trong “Món ngon Hà Nội” đã kể tới nhiều món ăn ngon của Hà Nội mà tuyệt đại bộ phận đều mang tính dân dã và khẩu vị dân tộc, các tác giả đều không nhắc đến thức ăn của cao lâu, khách sạn.


Khách sạn Hà Nội ngày càng mọc nhiều hơn. Đến với khách sạn cũng như là đến với những tầm cao. Đã từ lâu thành phố thiếu những tầm cao. Không có di tích cổ nào có tầm cao nhìn bao quát được toàn thành phố. Có thể nhắc tới Cột cờ xưa và nóc trường đại học Hà Nội được xây dưới thời Pháp. Còn quá ít những ngôi nhà cao tầng. Khu phố cổ với kiến trúc còn đơn sơ và thời gian làm hao mòn đã dễ trở thành phố cũ. Họa sĩ có tài năng phải sáng tạo thêm những cái gì khác ngoài các căn nhà hai tầng còn nhỏ bé. Ngày nay Hà Nội đã có những tòa nhà cao tầng đẹp mắt, đặc biệt là những cao tầng như Meritus, Melia, Horizon, Daewoo, Sofitel Metropole, Sunway, Fortune, Nikko, Hilton. Lên tầng 18 tòa nhà Daewoo có thể bao quát một phần lớn thành phố trong tầm nhìn gần, nhìn xa rất đẹp mắt. Ngồi uống bia và ngắm cảnh trên tầng cao nhất của tòa nhà Meritus càng thấy yêu thích Hà Nội. Ở vị trí đẹp trên bờ đê Yên Phụ, Meritus có điểm cao gần như nhất nhìn thành phố. Từ đây có thể thấy dòng sông Hồng bát ngát và hiền hòa uốn lượn trên vùng đất trù phú từ ngàn đời. Những mặt hồ lặng lẽ như những tấm gương soi, những vườn cây xanh tươi tô điểm cho bức tranh thiên nhiên thêm kỳ thú. Khách sạn thuộc về văn minh công nghiệp hóa, văn minh đô thị. Thật khó hình dung một đô thị hàng chục vạn dân lại không có một khách sạn đàng hoàng. Ở đây không chỉ là chuyên ẩm thực mà cao hơn, quan trọng hơn là nơi giao lưu, hội tụ của nhiều hoạt động chính trị xã hội của một quốc gia, một thành phố. Tòa nhà Daewoo đã từng được đón hai Tổng thống của hai nước lớn, Tổng thống Clinton của Mỹ và Putin của Nga. Cùng với những tòa cao ốc khác như tòa nhà Vietcombank, các khách sạn cao tầng đã góp phần tạo cho thành phố vẻ đẹp hiện đại. Trong tương lai không xa thành phố phải được dâng lên chiếm lĩnh chiều cao của bầu trời. Ở những khách sạn cao tầng, chuyện ẩm thực chỉ là phần nhỏ, nhưng dù sao cũng muốn được tò mò tìm hiểu đôi điều.


Đã in trong báo Văn hóa


Ngày 25/8/2002


HÀ NỘI XÍCH LÔ ĐỐI THOẠI KÝ


Xích lô, cái phương tiện đi lại vốn thô sơ và nhiều cực nhọc này sẽ còn tồn tại bao nhiêu lâu nữa trong đời sống. Bóng dáng của nó vẫn lẩn quất ở một số nước xung quanh ta. Anh xích lô của các nước ngồi đàng trước để đạp, kéo theo thùng chở khách. Xích lô ta có tư thế ngồi cao ở phía sau nhưng sự vất vả chắc là cũng không hơn không kém. Số lượng xích lô trên đường phố Hà Nội như ngày càng đông hơn. Những quán cơm xích lô ở các phố Quán Sứ, Hàng Bột … lúc nào cũng đầy ắp người, những xích lô có hộ khẩu ở nội thành và hàng trăm xích lô từ ven nội và các tỉnh xa về kiếm sống và chi viện cho công việc giao thông ở Hà Nội. Một giáo sư người Mỹ ở Ha-oai trong chuyến thăm Hà Nội đã đưa về một bức ảnh lạ mà ông rất thích: một xích lô chở bảy người mà người đạp vẫn tươi cười. Ông nói vui với một giáo sư Việt Nam: “Bằng một xe mười hai mã lực nhưng lại chỉ có một mã lực”. Nếu kể từ thiên phóng sựTôi kéo xe của Tam Lang đến nay thì đã trên nửa thế kỷ trôi qua. Bước tiến từ xe tay đến xích lô thật chậm chạp, nhưng dù sao cũng là một bước tiến. Hai bàn chân người phu xe chạy lạch bạch trên đường nhựa trong kiếp “ngựa người” được thay thế bằng đôi chân guồng trên bàn đạp. Người kéo xe tay không thể nói chuyện với khách khi phải gò mình trên càng xe, ấy là chưa nói chuyện mặc cảm về thân phận. Ngược lại trên tư thế ngồi cao thảnh thơi  hơn, lại rất gần với khách nên xích lô thường hay chuyện trò với khách. Qua một vài lần đi xích lô tôi nghiệm thấy trò chuyện với xích lô có nhiều cái lạ. Thường họ không bắt chuyện trước vì không biết khách có ưa chuyện hay không. Vả lại họ cũng chẳng phải chiều khách qua câu chuyện để có thêm lợi lộc gì. Vì thế mà câu chuyện nếu có thường diễn ra vô tư và chân thật.


Mùa hè năm ấy trong một lần đi xích lô tôi đã may mắn gặp được một bác xích lô “nòi”, trông bác đã cao tuổi nhưng còn khỏe. Tôi liền hỏi:


- Bác có vất vả lắm không?


- Ông không phải thương hại tôi.


Câu trả lời làm tôi có chút ngỡ ngàng. Đã không niềm nở vui vẻ với khách mà ngôn từ đáp lại của ông có phần cộc lốc. Tôi lại tiếp thêm:


- Tôi không có ý như thế, tôi chỉ nghĩ rằng bác đã cao tuổi.


- Đúng, tôi đã sáu mươi sáu nhưng đạp suốt ngày cũng chưa thấy mệt.


- Chắc bác vào nghề lâu năm và đã có kinh nghiệm trong công việc.


- Nghề này cũng chẳng cần kinh nghiệm nhiều, phải có sức và biết giữ sức. Tôi đạp xích lô từ năm mười sáu. Nhà tôi ba đời đạp xích lô. Thằng con tôi ngoài bốn mươi cũng đạp xích lô và con trai nó cũng nối cái nghiệp này.


Tôi không nhìn rõ khuôn mặt ông, nhưng thấy câu chuyện có chiều hướng trôi chảy và có thể ông cũng muốn cười khi nhại lại câu ca xưa:


Con vua thì lại làm vua


Con lão xích lồ lại đạp xích lô


- Con cháu tôi cũng đều khỏe như tôi. Thằng con trai tôi có lúc chở tới bốn người mà xe vẫn bon. Còn tôi thì ít biết đến cái áo rét. Xóm tôi gọi bố con tôi là nhà có “mả khỏe”. Khỏe cũng chẳng để làm nên vương tướng gì, mà chỉ đi hầu người mà kiếm sống.


Tôi nói lời an ủi:


- Trong cuộc sống rồi ai cũng phải cậy nhờ vào nhau.


- Cho rằng thế thì mình cũng chịu cái phận hẩm hiu. Ông là người khách biết điều.


Chia tay với bác, tôi vẫn còn theo đuổi dòng suy nghĩ. Trong cuộc sống có nhiều gia đình có nòi, nòi khoa học, nghệ thuật, nòi lãnh đạo và hôm nay tôi lại gặp thêm một nhà nòi xích lô.


Tôi vẫn còn nhớ câu chuyện với một bác xích lô khác trong thời kỳ đánh Mỹ. Bác ta khoảng bốn mươi tuổi, người sức vóc, chuyện trò nhanh miệng và có duyên. Tôi ở nơi sơ tán về và từ chỗ dừng ô tô phải đi tiếp một cuốc xích lô khoảng vài cây số. Khách lên xe vừa yên chỗ thì bác đạp rất nhanh, như có công việc gì. Tôi gạn gỏi:


- Chắc bác có việc gì nên vội vàng?


- Chẳng nói giấu gì ông, xong chuyến này tôi phải kịp về xuất hàng cho kho bách hóa. Nhà tôi là nhân viên kho ở đấy.


Tôi hỏi thêm:


- Hai bác được mấy cháu?


- Tôi hai vợ mà chỉ có ba cháu. Vợ cả tôi đẻ hai con vịt giời. Tôi nghĩ cơ sự này thì phải kiếm thêm thôi. Phúc đức cho tôi gặp cô thủ kho là vợ liệt sĩ. Hai mẹ con nuôi nhau vất vả. Tôi vẫn ra vào thăm hỏi và giúp đỡ. Tôi trình bày hoàn cảnh gia đình và muốn được làm bố nuôi thằng cu Ngộ nhà cô ấy. Và cứ thế rồi mù quá hóa mưa.


- Duyên số bác như thế cũng nhẹ nhàng.


- Ấy chết, công phu lắm, phải hai năm ròng cô ấy mới đồng ý. Tôi cũng là bộ đội xuất ngũ nên nói thực là chuyện này nếu so sánh còn khó hơn đánh đồn. Đánh đồn còn có đồng đội, đằng này mình lại đơn độc tác chiến. Nhiều lúc đã nản vì không hiểu được bụng dạ đàn bà. Nhưng rồi sau cái đợt cô ấy ốm, tôi thuốc thang chăm sóc, cô ấy hiểu lòng tôi.


- Thế bác gái cả có biết chuyện không.


- Tôi phải đảm bảo bí mật và cắt đứt mọi thông tin. Và khi biết chuyện thì mọi việc cũng đã xong.


- Chắc bác vất vả phải chăm sóc cho cả hai gia đình.


- Chu tất, cần gì xin chu tất. Vợ cả tôi vẫn an ủi tôi gái cũng như trai, rể hiền hơn trai. Cô vợ sau sẽ đồng ý đẻ cho tôi một thằng cu. Cái dáng cô ấy mông nở, bụng thon, vú bánh dầy… con trai là ăn chắc.


Xe đã đến nơi, niềm vui vẫn còn trên khuôn mặt bác. Tôi ngắm kỹ một lần thấy trong người xích lô này có bóng dáng một anh bộ đội, một người nông dân và một người dân nghèo thành thị và đó cũng là người đang vất vả để mang lại hạnh phúc cho gia đình.


Một điều rất dễ nhận thấy ở những người đạp xích lô là sự khắc khổ không làm mất đi vẻ lạc quan vốn có của những người lao động. Có trường hợp niềm vui lộ rõ trong chuyện chan hòa với khách. Tôi ở thư viện ra, người đến đón lỡ hẹn nên lại gần chiếc xích lô đậu bên gốc cây và cũng vào lúc người đạp xích lô vừa tỉnh ngủ. Tôi hỏi:


- Bác có đi không?


- Ông về đâu, xin có ngay.


- Cái nghề này sướng nhất là ở chỗ ăn quán ngủ đường. Nói về cái ăn thì chúng tôi lấy tiền đâu ra mà ăn ngon mà cái chính là chắc bụng. Buổi sáng làm một gói xôi lạc to, trưa, chiều hai bữa thích gì ăn nấy tùy túi tiền. Đậu phụ rán, thịt kho, dấm cá, rau xào, tôm rim, dưa chua… đều là những thức trôi cơm, hại cơm. Cái thú nhất là bữa nào cũng ngon miệng. Tôi nghĩ lắm kẻ giàu sang, chim quay gà rán mà không ăn được, ăn không vào thì cũng chán chết.


- Thế bác ít khi ăn cùng với gia đình.


- Chúng tôi tiện đâu ăn đấy, chờ được bữa ăn ở gia đình thì lỡ việc. Thỉnh thoảng nghỉ ngơi cả nhà cùng làm một bữa tươi là được. Cũng vui chuyện xin nói ông nghe về cái chuyện ngủ đường. Không gì thú bằng sau một cuốc xe vất vả, ăn uống no nê, ngả lưng trên đệm xe, ghếch chân lên càng và ngủ một giấc. Mùa hè chọn cho được bóng cây râm mát và phố vắng xe cộ qua lại mà đánh một giấc thì vừa lại sức lại vừa thêm yêu đời. Tôi nói ông đừng cười, ngủ ngoài giời thông thoáng cái giấc mộng của mình nó cũng khác. Nhà tôi chật hẹp, lại ở vùng đất ô nhiễm nên khi ngủ luôn thấy ác mộng, khi thì bị bọn xỏ xiên đi xe không trả tiền, khi thì mơ thấy bị công an phạt.


- Thế còn giấc mơ của bác khi ngủ trên xe ngoài giời?


Ông cười và tiếp tục câu chuyện:Một lần tôi đang ngủ trên xe thì mơ thấy chiếc xích lô mình đang đạp bỗng nhẹ tênh và cứ như bay về phía trước. Xe tôi lần lượt vượt hết các loại xe máy, kể cả ôtô. Người hàng phố ai cũng nhìn theo ngạc nhiên. Chiếc xe cứ thế lao về phía trước, qua cầu Chương Dương rồi lao xuống dốc. Tôi hoảng quá và kêu lên. Bà bán quýt thấy tôi ú ớ liền gọi: “Ông xích lô ngủ mơ à, dậy, dậy đi”. Tôi tỉnh dậy và thấy xấu hổ quá. Giữa đường phố mà cũng nằm mơ, cứ như là ở nhà ấy.


Câu chuyện về giấc ngủ của bác xích lô chắc cũng không phải là cá biệt. Chẳng thế mà báo An ninh thủ đô gần đây chụp được cả ảnh một bác xích lô nằm ghếch chân lên xe ngủ thoải mái và còn mơ ú ớ như đang ở nhà. Tờ báo có lời bình bằng bài thơ châm biếm nhỏ:


Ghếch chân lên thành xe


Tiếng ngáy vang góc phố


Tưởng đây là phòng the


Tưởng bên là bà vợ


Hớ


Trên đường phố nếu quan sát kỹ những người đạp xích lô thì thấy đội ngũ này được bổ sung và trẻ hóa nhanh chóng. Không còn nhiều hình ảnh những bác đạp xích lô già đội nón hoặc mũ lá rách. Nhiều thanh niên đạp xích lô với gương mặt rất trẻ, đầu đội mũ cối hoặc mũ phớt ni lông, quần áo mặc tươm tất. Tôi gặp may khi được một cuốc xích lô từ Văn Miếu về phố Lò Đúc do một bạn trẻ đạp. Anh có dáng một sinh viên đi kiếm thêm cho đủ tiền học hành. Tôi hỏi:


- Anh còn trẻ quá, chắc vừa vào nghề.


- Cháu đạp được hai năm nay rồi.


- Cuộc sống có dễ chịu không.


- Cũng tạm đủ bác ạ. Nghề này giống như đi câu, nhiều khi đạp xe khắp phố cả buổi mà chả được gì – Anh nói vui và tôi nghe thấy tiếng cười nhỏ: “Chẳng ai hẹn mình mà mình cũng chẳng hẹn ai, mà gặp gỡ, mà nên quen”.


Tôi nói thêm:


- Anh vui tính quá, hẳn là trước đây có đi thanh niên xung phong hoặc tham gia quân đội.


- Cháu ở bộ đội ba năm hết nghĩa vụ về nhà không có việc, không ra thầy chẳng ra thợ, ở nhà ăn nhờ vợ mãi cũng không tiện. Bạn bè nó rủ đạp xích lô, lúc đầu đạp thử cũng thấy sống được, và cứ thế là thành nghề.


- Trông dáng anh còn thư sinh lắm.


- Bác nhận xét tinh đấy. Trước đây cháu vào loại đẹp giai, hai năm nay cũng phong sương nên xuống nhiều. Vợ cháu nó thương cháu lắm.


- Tôi hỏi hơi tò mò, anh tha lỗi, thế chị ấy làm nghề gì?


- Nhà cháu là giáo viên.


Câu trả lời của anh làm cho tôi băn khoăn một chút về nghề nghiệp của hai vợ chồng và gặng hỏi :


- Anh chị lấy nhau lâu chưa ?


Cháu với nhà cháu yêu nhau từ hồi học lớn mười hai. Hai đứa cùng thi vào đại học. Cháu thi trường y thiếu điểm. Nhà cháu thi sư phạm trung cấp. Sau đó cháu đi bộ đội. Chúng cháu cưới nhau khi cháu đang ở bộ đội và nhà cháu dạy ở trường cấp 1. Chúng cháu đã có một con nhỏ.


Tôi thầm nghĩ, vợ dạy học, chồng dạp xích lô, không biết trong quan hệ hàng ngày có chuyện gì phức tạp về nghề nghiệp hay không.


Một người bạn tôi làm công tác khoa học xã hội cho biết, khoảng mười năm trở lại đây, mô hình kết hôn của nhiều gia đình có những thay đổi. Trước đây ít khi vợ là trí thức lại lấy chồng là lao động chân tay. Còn bây giờ thì cái ranh giới ấy không ngăn cách nhiều lắm trong vấn đề hôn nhân gia đình, có tỉnh đã có hàng chục nữ giáo viên cấp 3 lấy chồng lái xe. Trong sinh hoạt gia đình giữa lối sống nhẹ nhàng tế nhị của một trí thức nữ và chất khỏe khoắn đến xô bồ của người chồng xế không khỏi có chỗ trục trặc nhưng mặt khác cũng có nhiều bù đắp. Anh cho biết một nữ giáo viên khi nói về người chồng “tài xế đường dài của mình bèn tủm tỉm cười:“chỉ được cái khỏe… và biết lo cho vợ con”, rồi chị nhăn mặt khi nhớ đến cái thứ mồ hôi “tổng hợp” khá nặng mùi mà người vợ không tránh khỏi là nạn nhân ô nhiễm hàng ngày.


Trở lại với người bạn trẻ đạp xích lô. Tôi lại tiếp tục câu chuyện và muốn khơi vào chỗ nghịch lý, nghịch cảnh một chút.


- Thỉnh thoảng anh có đến đón chị ấy không. Bạn bè của chị ấy ở trường có bàn bạc, nhận xét gì về công việc của anh không ?


Câu hỏi như đánh trúng vào tự ái của anh nên anh trả lời có phần căng thẳng.


- Đúng là cả đám nữ giáo viên ở trường có mình vợ cháu là có chồng đạp xích lô. Nhưng vợ cháu nó cũng chẳng ngượng. Vả lại nói bác bỏ qua, ra gì cái giáo viên cấp một, cho cháu dạy, cháu dạy được ngay.


Câu trả lời của anh bật ra như để hả cơn mặc cảm về thân phận và góp phần xóa bớt đi cái ranh giới mà trong cuộc sống người ta thường dễ quan tâm. Đã tạo không khí vui cho câu chuyện, tôi lại hỏi tiếp :


- Chuyện trò với anh rất vui. Thế anh có đoán được người khách của anh làm nghề gì không ?


- Bác có tác phong thủ tướng nên hay căn vặn nhân viên, nhưng bác cũng không ra dáng người giàu có. Là ông giáo thì lấy đâu ra tiền đi xích lô, là nhà báo thì nói năng kiểu khác. Trông bác cũng giống bố cháu, bố cháu là bộ đội về hưu, trung tá về hưu non.


Nói rồi anh cười vui vẻ. Câu chuyện cũng đã dài nhưng tôi vẫn muốn được hỏi anh một ý nhỏ nữa.


- Thế anh có định tiếp tục lâu dài với công việc này không ?


Anh nói ngập ngừng.


- Sống đến đâu thì chấp nhận đến đấy bác ạ.


Tạm biệt anh, tôi cảm thấy bùi ngùi… Nếu anh thi đậu vào trường Y năm ấy, thì chắc con đường đi của anh đã khác. Ở chỗ ngã rẽ của cuộc đời, anh đã không gặp được may mắn.


Anh xích lô cuối cùng mà tôi muốn nói đến cũng là một bạn trẻ mới nhập nghề khoảng mấy tháng nay, lại là xích lô của khách sạn Pun-man, loại xích lô hàng ngày tôi vẫn gặp chở khách Tây trên đường phố. Ngồi trên xích lô này thấy dễ chịu hẳn. Đệm êm và cao, chỗ dựa thoải mái, tư thế ngồi của khách đàng hoàng, chiếc xe lại có mui làm cho chỗ ngồi của khách kín đáo hơn. Anh cho tôi biết xích lô Hà Nội thường không phân biệt chở người và chở hàng. Chở người thì trải thêm manh chiếu trên tấm gỗ và khi cần lại bỏ đi để chở hàng. Người ngồi trên xích lô bị phơi mặt ra giữa phố. Xe Pun-man và xe của một số khách sạn như Total, Bắc Nam… tránh được những nhược điểm đó. Những dãy xe đi hàng dọc năm bảy chiếc chở những ông Tây bà đầm đi dạo chơi. Họ tò mò nhìn ngắm thành phố. Và những người đạp xe cũng mặc đồng phục, trên áo có in một hàng chữ tên khách sạn. Nhìn xa xa trông như một đám rước nhỏ vừa lạ mắt, vừa ngộ nghĩnh, chưa bao giờ có ở thành phố này. Hôm ấy tôi ở khách sạn ra, tôi hỏi Mêtropolera nhân có cuộc chiêu đãi của khách Nhật thuê xe thì được hai anh trả lời :


- Bác tìm xe ta mà đi.


Tôi hỏi lại :


- Thế xe này chỉ chở cho Tây, không chở cho ta à ?


- Cũng có, nhưng đắt tiền.


Tôi đến sát xe và nhấn mạnh :


- Đắt tôi cũng đi, cho tôi về Ô Chợ Dừa.


Tôi bước lên xe trước thái độ có phần ngạc nhiên của anh xích lô về ông khách có vẻ sộp này. Tôi bắt ngay vào chuyện :


- Hôm nay là lần đầu tôi được đi loại xe này. Nhiều lúc trông thấy trên đường nhưng không sao gọi được.


Anh tiếp ý tôi :


- Chúng cháu không có quyền nhận khách ở dọc đường. Đây là xe của khách sạn và người đạp được trả lương tháng và chỉ chở khách từ khách sạn đi.


- Lương của anh một tháng được bao nhiêu.


- Ba trăm ngàn và một ngày làm tám giờ.


Tôi hỏi thêm :


- Như thế có thấp lắm không. Theo tôi biết thì hàng ngày các anh kiếm được ba bốn chục ngàn là bình thường và có khi được cả trăm bạc.


Bác nói đúng, nhưng thực ra cũng không đều. Muốn kiếm được phải mất nhiều sức lực lắm. Dù sao ở đây công việc ổn định và phải chấp nhận thôi.


- Làm cho khách sạn anh phải theo những quy tắc gì, có khó khăn lắm không ?


- Chúng cháu phải đúng giờ giấc và có kỷ luật, không được nhận khách dọc đường, phải có thái độ nhã nhặn, lịch sự với khách, phải học ngoại ngữ để chuyện trò và trả lời với khách.


- Trình độ ngoại ngữ của anh thuộc loại B hay C ?


- Cũng chẳng thuộc loại nào. Học để giao tiếp chỉ cho các ông Tây chỗ mua hàng, giới thiệu đôi chút về phố phường. Nếu mình giỏi thì khách rất thích và họ cũng thưởng thêm cho mình.


- Anh có suy nghĩ gì khi chở khách Tây trên đường phố ?


- Nghĩ thì nhiều thứ bác ạ, nhưng vấn đề cuối cùng là chấp nhận để kiếm sống. Cháu vào nghề này cũng là chuyện không định trước. Cách đây năm năm cháu học năm thứ hai của một trường đại học, không có học bổng, gia đình khó khăn nên cháu xin về làm cho một nhà máy. Làm thợ vất vả nhưng rất vui. Nửa năm nay mất việc nằm dài. Bạn cháu mách cho cháu công việc ở đây. Cũng phải có người quen biết giới thiệu mới được nhận vào làm việc.


Tôi thấy giọng anh hạ thấp dần và như khó nói :


- Cháu không ngờ đời cháu lại dẫn đến nghề xích lô.


Lúc chia tay tôi nhìn lại anh một lần nữa. Anh còn trẻ và có những nét tươi tắn của sinh viên. Tôi làm nghề dạy học nên không khỏi xót xa trước việc học dang dở  của một sinh viên vì cảnh ngộ gia đình.


Qua những lần chuyện trò chắp nhặt theo năm tháng với những người thợ đạp xích lô, tôi cảm thấy gần gũi họ. Bên trong cái dáng vất vả của một bác, một anh là một số phận, một tâm trạng trước cuộc đời. Cuộc sống của họ là cực nhọc, triết lý của họ là chấp nhận, niềm vui của họ nằm trong cái hằng ngày của đời thường. Tôi thầm cảm ơn vì nếu không có họ thì một bệnh nhân cấp cứu trong đêm khuya, một người già mệt mỏi trên đường, một người khách tỉnh xa lạ phố phường, một người cạn hẹp túi tiền mà muốn nhàn thân… biết dựa vào đâu. Dần dà tôi mới hiểu ra đôi điều về cội nguồn : xích lô, anh là ai ?


Đã in trong báo Văn nghệ số 11


Ngày 13/3/1993


XE ÔM HÀ NỘI


Từ ngày xích lô tự do bị cấm ở nội thành Hà Nội, xe ôm dần lên ngôi. Đi lại bằng taxi có phần tốn kém. Từ nơi ở vào trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn đi hết trăm bạc. Lương các thầy giáo không trụ nổi. Chính một anh lái taxi có lần nói với tôi: “Xe chúng em chủ yếu chở người có công việc giao dịch buôn bán, buổi tối thì chở con nhà giàu rong chơi và các cô cave đi hành nghề. Thỉnh thoảng mới có một thầy giáo đi taxi”.


Đi ôtô bus hợp thời nhưng lại không dễ đúng tuyến, nhất là khi nhà lại ở xa, rồi ngõ này, ngách kia. Đi xe ôm là thuận tiện hơn cả. Nhiều người nói đi xe ôm dễ bị bắt chẹt, không an toàn nhưng tôi thấy mọi sự vẫn yên ổn. Còn chuyện đi xe ôm trông đội hình không đẹp mắt. Đành vậy.


Hà Nội ngày càng phát triển xe ôm. Cứ nhìn ở ngã tư các phố lớn cũng dễ thấy các tụ điểm xe ôm trên hè các góc phố. Khoảng ba bốn người cho mỗi điểm trông dễ nhận ra. Có anh ngồi trên yên xe, vắt vẻo chân chờ khách. Người nào dẻo xương cốt có thể nằm trên yên xe, chập chờn như đang ngủ. Họ rất nhạy cảm, có thể phát hiện từ xa khách vãng lai có nhu cầu đi xe. Xe ôm không bị quản lý theo ngành dọc, công an cũng không quan tâm nhiều đến việc hành nghề của họ. Tuy nhiên theo phân bố tự nhiên, họ tụ về những địa điểm theo đầu mối đông khách để tạo công việc ổn định.


Trước cổng trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, đối diện với Nhà máy thuốc lá Thăng Long có một tốp chừng năm sáu xe ôm. Phần lớn người lái đã đứng tuổi, tay nghề vững vàng, phục vụ cho các thầy cô có tuổi đi về. Thỉnh thoảng vào trường tôi cũng có dịp đi xe. Một ông xe ôm dáng vẻ công nhân nhận ra tôi và bảo:


- Tưởng bác đi ôtô, chắc dạo này về hưu nên lại đến với chúng em.


Tôi nói:


- Đúng thế, từ nay phải nhờ các anh nhiều.


Anh lái xe ôm vui vẻ:


- Bác cứ yên tâm, các thầy khoa Văn, cô H. khoa Ngoại Ngữ đều đi xe em. Thầy Đàm đã ngoài bảy mươi mà còn rất khỏe, mỗi lần đi xe xong thầy còn giả tiền và bắt tay. Lần đầu bất ngờ thầy bóp mạnh tay, em há hốc mồm ra kêu đau. Thầy cười: “Thử sức một chút thôi”. Thầy Lân ngồi trên xe hay ho vặt, thỉnh thoảng lại bôi dầu. Thầy Quất khoa Triết lại để râu, râu dài mà mặt thầy còn non trông hay đáo để. Không biết là thầy bất mãn chuyện gì.


Tôi ngắt lời ông:


- Để râu là một thú vui chứ bất mãn gì.


Nhưng rồi ông cũng dừng tò mò: Em nói thế thôi chứ cũng không có ý gì. Còn cô H. tính nhút nhát, cô rất sợ ôtô. Trông thấy ôtô từ xa cô lại kêu “Kìa, kìa ôtô, cẩn thận có ôtô” – Nói xong rồi ông kết luận: Em thương các thầy cô già rồi mà còn vất vả.


Ông nói có lý, nghề xe ôm vất vả nhưng chính người ngồi sau xe ôm trông càng dễ thương cảm. Người sang trọng, dáng quan chức, người đẹp không ai dám đi xe ôm. Chỉ có người già, người ít tiền, hoặc ở quê ra mới dùng phương tiện này. Thật đúng là nghề lam lũ chở người lam lũ.


Trong những người lái xe ôm khu vực trường đại học Khoa học xã hội và Nhân văn tôi chú ý tới một anh to khỏe,  mặc áo kaki màu cỏ úa. Trông anh dễ nhận ra là bộ đội giải ngũ. Ngồi sau xe tôi ôm vòng lưng to và tròn của anh rồi hỏi:


- Chắc anh là bộ đội lái xe tăng?


- Sao bác biết. Em chính là lính xe tăng?


Anh nhẩm câu hát “Năm anh em trên một chiếc xe tăng”, rồi bảo:


- Em là pháo thủ số ba.


Tôi hỏi tiếp :


- Anh đọc câu thơ của ai ?


- Em cũng không biết, chỉ biết là hay hay.


- Trông anh còn trẻ, anh về nghỉ hưu lâu chưa ?


- Dạ, mới hơn nửa năm. Kể ra có trình độ văn hóa thì còn ở thêm được vài ba năm cho tròn hai mươi năm. Nhà em cũng trong quân ngũ. Em ít chữ hơn nên phải về sớm.


Anh im lặng một lúc rồi lại nói :


- Mỗi lần đến đón các bác ở trường đại học lại thấy tiếc cho sự học dang dở của mình.


Tôi bày tỏ sự thông cảm với anh :


- Anh đóng góp cho quân ngũ như thế là xứng đáng rồi. Người nào cũng có chuyện đáng tiếc. Tôi cũng rất tiếc là không có dịp đứng trong quân ngũ.


Anh hỏi giật lại :


- Thế bác đi đâu ? Đi nước ngoài à ?


Tôi nói :


- Không, do hoàn cảnh riêng thôi.


Đội ngũ xe ôm Hà Nội có sự đóng góp của nhiều người ngoại tỉnh. Từ Tuyên Quang, Phú Thọ, Nam Định cho đến những tỉnh gần như Hưng Yên, Ninh Bình, Phủ Lý đều có nhiều người về Hà Nội làm nghề xe ôm. Họ thường đỗ tản ở các phố, cần cù với công việc từ sáng đến tối, ăn cơm bụi, đêm ngủ trọ bình dân, tháng tháng đem về cho vợ con tầm bảy tám trăm nghìn đồng. Tôi hỏi một anh xe ôm Nam Định:


- Tại sao không chạy xe ôm ở tỉnh nhà, gần vợ con?


Anh than thở:


- Tỉnh em ít người đi xe ôm nên mới phải lên đây. Biết thân phận là ngụ cư nên không giám ganh đua.


Xe ôm ngoại tỉnh thường chất phác, thật thà. Họ ít giấu giếm cảnh ngộ riêng, chuyện trò vui vẻ.


Một anh xe ôm Tuyên Quang khoe với tôi những may mắn mà anh gặp ở Hà Nội. Anh vừa trọ vừa giúp việc cho một chị có cửa hàng gần khu phố chợ. Sáng anh giúp chị bày hàng rồi đi xe ôm, chiều về sớm thu dọn hàng và cùng ăn cơm nhà với chị. Chị thường dặn “Chiều về sơm sớm, sức người có hạn”. Cảnh nhà vắng đàn ông nên anh phải đảm nhiều việc – trông nhà, sắp xếp hàng hóa và cả chuyện chở chị chủ đi giao dịch mua bán. Chị chăm sóc cho anh và bảo: “Thôi chuyện ăn ở đây khỏi lo, tiền làm được anh gửi cả về cho vợ con”. Anh nói với tôi:


- Người Hà Nội tốt quá, liệu có may mắn được kéo dài. Nếu cô ấy lại lấy chồng em lại phải lo chốn khác.


Đội ngũ xe ôm Hà Nội thường đỗ chờ khách ở những khu phố lớn đông người qua lại hoặc xung quanh Bờ Hồ. Phần lớn họ dùng xe Dream còn mới và ăn mặc chải chuốt hơn. Cánh xe ôm Hà Nội cũng thú vị, biết chiều khách. Tôi thích trò chuyện với một “ông” xe ôm vốn là hiệu trưởng trường cấp ba đã về hưu ở khu vực Lò Đúc. Dáng cao to, hiền lành, ông trò chuyện nhỏ nhẹ với khách:


- Về nghỉ hưu buồn tôi đi xe ôm, ngày vài tiếng cho vui, cải thiện thêm cho cuộc sống.


Ngày Nhà giáo Việt Nam ông nghỉ việc và về trường cũ ở Hải Dương gặp gỡ bạn bè và học trò cũ. Được mấy tháng ông bị gãy chân. Một chị học trò trước học với thầy nay làm y sĩ mời thầy về bệnh viên Hà Tây chăm sóc. Xe ôm không thể hành nghề thầy giáo nhưng thầy giáo có thể hành nghề xe ôm, song phải còn trẻ và có sức khỏe. Tôi thương ông, tuổi già nghỉ hưu không thể làm việc sốc vác được. Một anh xe ôm tâm sự với tôi:


- Nghề xe ôm là một nghề khổ. Cũng giống như người đi câu, ngày nắng ngày mưa đều phải chầu chực chờ đợi. Gặp khách thì đi được năm bảy lượt, và có ngày phải về không. Rồi còn nữa, ông xem chiến tranh đã kết thúc, hiện nay có nghề nào phải đổ máu đâu, thế mà nghề của chúng em vẫn phải đổ máu. Một tháng riêng khu vực Hà Nội cũng có vài xe ôm bị cướp.


Tôi ngắt lời:


- Sao không xem xét người cho kỹ.


- Có chứ ạ, nhưng bây giờ dễ lẫn lộn lắm, nhiều khi dáng bên ngoài sáng sủa tử tế nhưng rồi lại là người xấu. Xe ôm cũng không phải nghề theo lớp huấn luyện nào. Cứ biết đi xe máy thì đều có thể làm xe ôm, nếu gặp hoàn cảnh khó khăn.Và cũng không nhiều người theo đuổi nghề nghiệp này đến hết đời. Em nói thế là với bạn bè, còn bản thân thì không có công việc gì khác ngoài nghề này.


Anh nói dáng vẻ ngậm ngùi. Phố phường Hà Nội cũng đã có thấp thoáng bóng dáng xe ôm nữ. Họ không đứng chào khách ở đường phố mà thường phục vụ riêng cho một số khu tập thể để chở người quen, chưa phải là một nghề mà chỉ là chuyện cải thiện. Nhà văn Nguyễn Công Hoan trước đây đã trông thấy trong thời Tây hai phụ nữ kéo xe tay. Thật bất hạnh và thương cảm. Thời còn xích lô cũng có ít người đạp xích lô. Và bây giờ là xe ôm. Chưa nói đến chuyện kiêng kỵ về giới cũng khó khăn trong công việc mà xót xa ở khía cạnh nhân văn, nhân tính. Mong rằng chuyện này không phát triển.


Xung quanh khu vực Viện Văn học cũng có nhiều tay xe ôm chuyên nghiệp. Từ ngày tôi nghỉ quản lý ở Viện Văn học lại có dịp gần gũi họ. Một anh xe ôm vốn là quân nhân giải ngũ có lần hỏi thẳng tôi:


- Cháu vẫn thấy bác đi xe ôtô đẹp. Bây giờ nghỉ việc lại phải đi xe ôm, bác có cảm tưởng gì, có buồn không?


Câu hỏi cũng hơi bất ngờ nhưng thành thật. Tôi trả lời:


- Đi xe ôtô chắc là hơn đi xe ôm. Tôi được giải phóng rồi. Trước đây tôi còn phải lo nhiều việc chung của cơ quan. Bây giờ tôi tự do, rỗi rãi hơn nhiều, nên làm cái gì cũng được, lúc taxi, lúc xe ôm, lúc đi bộ. Đi xe ôm thú nhất là những ngày trời mát, muốn ghé đâu cũng dễ, lại có dịp trò chuyện với các anh.


Anh lại hỏi tiếp:


- Cháu nghĩ bác cũng đã đến tuổi hưu lâu rồi nhưng cơ quan vẫn giữ chắc là giỏi lắm.


- Anh nói đúng, tôi đã đến tuổi hưu, giỏi thì chẳng giỏi nhưng còn một vài việc cần làm cho xong. Có lẽ sang năm cũng nghỉ ngơi thôi.


Bây giờ đến lượt tôi hỏi lại anh:


- Anh vào nghề lâu chưa. Như anh nói, anh vốn là quân nhân, sao không chọn công việc khác khi về nghỉ. Anh còn trẻ, tương lai còn nhiều.


Anh cười:


- Bác đã chất vấn vậy thì cháu cũng trả lời. Cháu thôi quân đội từ mấy năm, phần vì tuổi đã kịch, phần vì sức khỏe. Cũng nỗ lực đến chức đại úy, binh nghiệp đến thế cũng là vinh dự cho gia đình, nhất là bố mẹ cháu. Còn bây giờ thì phải kiếm sống. Từ bộ đội trở về trình độ như cháu, nghề nghiệp cũng dang dở lắm, làm thầy thì không được mà làm thợ cũng không xong. Cháu nhớ lời một bác lãnh đạo Nhà nước, hình như bác Lê Duẩn thì phải. Bác đã nói rất hay – “Sống phải biết chấp nhận”. Đi làm xe ôm cũng là biết chấp nhận. Gia đình cháu hiện nay cũng vui lắm. Lấy vợ muộn, hai đứa con đang học Trung học cơ sở. Một cháu giỏi Toán suốt ngày cặm cụi tự học. Một cháu vẽ đẹp. Đi làm về mệt mỏi cứ nhìn thấy chúng nó ngồi học, ngồi vẽ thấy mọi sự mệt nhọc tiêu tan hết.


- Tôi chúc mừng anh. Như thế là hạnh phúc rồi.


Anh cảm ơn và nói:


- Lúc nào cần bác cứ đến đầu phố, cháu sẵn sàng phục vụ.


Xe ôm Hà Nội cũng không phải là một chủng loại thuần nhất. Xe ôm ở khu vực trường học, cơ quan thường hiền lành, nền nếp hơn ở khu vực khác như nơi bến xe, nơi chợ búa. Ở đây không tránh khỏi nạn tranh giành khách. Một số anh lái xe ôm ngoài việc kiếm sống cũng có nhiều nghề.


- Chúng em là con người cũng có nhu cầu như các bác nhưng tự do hơn. Không có chức tước danh giá nên không phải gìn giữ, không có nhiều tiền nên thích được cho không. Chúng em có sức khỏe nên làm việc gì cũng được. Chẳng giấu gì, chở bác xong em phải đi đón con bồ làm ở xưởng về. Mình mất công, nó không mất tiền, nắng mưa đưa đón chu đáo rồi thành tình nghĩa như vợ chồng.


Tôi ngắt lời:


- Thế anh không sợ gia đình biết hay sao?


- Làm sao mà dám ghen tuông, có đi sát bên cạnh cũng phải chịu vì biết đâu là khách đi xe. Nói thế bác cho là hư hỏng, thực ra cả xã hội này phần lớn là hư hỏng, chúng cháu chỉ là con tôm cái tép thôi.


Tôi dừng chuyện để xuống xe. Chuyện xe ôm càng nghe càng thấy lạ. Có lúc muốn nghe, có lúc không muốn nghe nhưng họ cứ kể, kể say sưa. Một anh xe ôm ở đầu phố lại chuyên nói ngược. Mở đầu chuyện anh thường nói:


- Bác tha lỗi, em là người lạc hậu nhưng lại thích nói, thích nhận xét.


Một lần anh chở tôi đến trụ Hội Nhà văn ở phố Nguyễn Đình Chiểu. Anh đứng chờ và khi xong việc anh nhận xét:


- Đúng ra Hội Nhà văn nên đóng ở chỗ khác. Nguyễn Đình Chiểu là nhà văn có bản lĩnh, có ngòi bút sắc. Các nhà văn bây giờ thường viết theo đơn đặt hàng do đó nên ở phố khác.


Tôi hỏi:


- Theo anh thì Hội nhà văn nên đặt ở phố nào?


- Bác tinh tường hơn, còn theo ý em Hội nên đóng ở phố có tên vô thưởng vô phạt như phố Yên Lạc nơi bác và em ở.


Tôi nói lại là Yên Lạc vốn từ ngõ 529 đường Kim Ngưu nâng cấp lên thành phố, lại ngóc ngách không hợp để đặt cơ quan cho Hội nhà văn. Anh nhận xét:


- Không khí cơ quan kém phát đạt, các nhà văn trông buồn và dáng dặt dẹo lắm.


Dĩ nhiên là tôi phê phán lại và anh chỉ xin lỗi, nói:


- Em lạc hậu, nói vu vơ.


Có lần tôi nhận xét chắc là anh hành nghề xe ôm cho vui chứ không bức xúc về chuyện kinh tế. Anh trả lời ngay :


- Bác nói thế là không hợp với em rồi. Đến nhà thơ Xuân Diệu còn nói :“Cơm áo không đùa với khách thơ”. Em là thằng xe ôm, phải kiếm sống thật sự.


Tôi lại nói tiếp :


- Anh cũng thích thú văn chương à.


- Em thích thơ nhất là thơ Hồ Xuân Hương đọc lên thấy đỡ mệt nhọc. Em cũng thích thơ Tố Hữu nhưng cũng quên dần vì cuộc sống khổ cực không thích loại thơ hào hùng, mạnh mẽ.


Xe máy thì chủng loại có hạn còn người hành nghề thì đủ loại người. Họ hiểu đời, yêu đời, giận đời, chán đời nhưng vẫn chấp nhận như là một số phận không thể khác đi. Thực ra thì nghề xe ôm mới nổi lên từ khi xích lô thất thế. Tôi không biết đi xe máy nhưng xe máy đối với tôi cũng không xa lạ. Đã từng đi xe máy một thời gian vào thời điểm rất sớm, so với mọi người. Năm 1976 trong dịp đi thỉnh giảng ở Sài Gòn, tôi đã mua một chiếc Honda PC do anh bạn giáo viên nhượng lại, anh bảo: “Anh cứ trèo lên xe và phóng đi, chẳng phải tập tành gì, xe ga ấy mà”. Tôi nghe theo lời anh và phóng thẳng vào đường phố Sài Gòn. Xe chạy bon bon còn tôi thì vừa vui, vừa run sợ. Qua chợ Bến Thành vòng về các đại lộ  một chiều và kết thúc ở cuối đường Điện Biên Phủ an toàn. Tôi nhờ chuyển xe ra Bắc và đi được một thời gian ngắn. Khó khăn nhất là về kỹ thuật, nhất là cái bu-gi hay tắc, không bén lửa. Nhiều hôm phải bỏ họp. Một diễn viên kịch có tiếng ở cùng phố Hàng Ngang, anh Quang Thái một lần trông thấy tôi ngồi trên vỉa hè hí hoáy với cái bu-gi liền vỗ vào vai và bảo :“Ông anh không đi được đâu. Đi xe máy phải biết chữa hoặc có xe tốt. Xe không tốt lại không biết chữa, thôi để em đi hộ cho”. Vào tay anh, chiếc xe lại phóng ngon trên đường Hà Nội. Ít lâu sau tôi mua một chiếc xe đạp hiện đại. Trong lịch sử vận hành giao thông của bản thân, tôi đã đi hỏng một chiếc xe tua-rít Liên Xô và hai đời Phượng hoàng Trung Quốc nên cũng đã mệt mỏi. Và bây giờ tuổi cao, đành giao phó mọi việc cho xe ôm. Xe ôm chở đi họp, đi mua thuốc chữa bệnh, nhờ xe ôm chuyển hộ tài liệu đến Hội Nhà văn, Ban tư tưởng văn hóa Trung ương, trường đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, không thất lạc, nhanh chóng và chính xác. Công việc khai thông, nối lại được đường dây của mình với mọi người. Tôi nghĩ xa xôi, thành phố đang tiến quá nhanh đã loại bỏ được xích lô và thay thế bằng xe ôm, nay mai lại bỏ xe ôm thì người cao tuổi sẽ đi bằng gì. Tốt nhất là rèn luyện đôi chân sao cho chân cứng đá mềm.


Đã in trong tập Người của một thời


NXB Phụ nữ năm 2010


TAXI HÀ NỘI


Giao thông Hà Nội thay đổi nhiều qua các thời kỳ. Trước đây hàng chục năm có xích lô, rồi xe ôm, ngày nay taxi khá phổ biến. Trước đây tôi đã viết bài Hà Nội xích lô đối thoại ký, rồi Xe ôm Hà Nội và nay phác họa đôi nét về taxi.


Hà Nội có khoảng 100 hãng taxi và hơn 1700 xe các hãng taxi như Hương Lúa, Mỹ Đình, Nội Bài, Thanh Nga, Rạng Đông,… nhưng nổi hơn cả là các hãng Mai Linh, Taxi Group, Hà Nội ABC. Nổi là vì xe đẹp nhưng cũng vì giá tiền rất đắt, chênh nhau một cây số khoảng ba bốn nghìn. Có lần đi xe Hà Nội Group, tôi hỏi người lái:


- Xe của anh có ưu điểm gì mà lấy tiền đắt hơn cả các hãng khác?


- Xe của cháu rộng, thoáng, ngồi được đông người hơn. Các bác bỏ quên đồ chúng cháu sẽ nhắn và gửi đến tận nhà, khi xuống xe có đồ đạc gì chúng cháu mang hộ.


- Còn gì nữa? Những ưu điểm mà anh nói cũng là chuyện thường tình mà các xe khác vẫn làm?


- Bác nói đúng. Nhưng ngồi loại xe của cháu sang trọng hơn!


Trước đây khi đi vào trường dạy học thường chỉ mất bốn, năm chục ngàn, bây giờ vào trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn phải mất một trăm nghìn. Tính tiền dạy ba bốn tiếng thường không đủ tiền taxi. Tuy nhiên các thầy vẫn phải đi taxi, các thầy già cũng thưa thớt dần. Đến với thế hệ trẻ là niềm vui không dễ có gì bù đắp bằng. Người lái xe ôm so với trình độ xích lô có cao hơn một bậc. Người lái taxi so với xe ôm cũng có trình độ cao hơn. Phần lớn họ ở độ tuổi ba mươi, bốn mươi, sức lực, nhiều anh đã tốt nghiệp trung học, một số có trình độ cao đẳng. Vào nghề một thời gian không thích hợp lại chuyển nghề, chuyển ngành. Cũng có người thâm niên mươi mười lăm năm ở ngành taxi. Tôi hỏi một tài xế Thanh Nga:“Xe các anh thường chở những loại khách gì”. - Đủ các loại bác ạ? Ban ngày thường người đi công việc, khách vãng lai, ban đêm thường chở các du khách, người đi chơi, kể cả cave cho các khách sạn.


- Khách sang trọng, đại gia có đi xe taxi không?


- Họ có xe riêng của họ, thường những ngày mưa gió họ cũng đi taxi để giữ xe riêng cho sạch sẽ.


- Các thầy giáo như chúng tôi có thường hay đi xe không?


- Thưa bác, thỉnh thoảng có thầy già đi, đấy không phải là bến đỗ, đa số các thầy còn khỏe thường đi xe máy.


- Lái taxi anh có thú vui gì?


- Nói thật, chẳng có thú vui gì đặc biệt. Xem phim, xem đá bóng thì lại đúng vào giờ làm việc, xe chạy kiếm sống nuôi miệng, may lắm là đủ ăn, niềm vui chủ yếu là gia đình, sau một ngày làm việc, về uống một hai vại bia, ăn cơm với vợ con rồi lăn ra ngủ thế là sung sướng rồi. Tất nhiên bọn trai trẻ thì khác.


Một lái xe taxi Hương Lúa ở vào tuổi 20 rất vui chuyện:


- Cháu quen chở bác, bác hay hỏi chuyện, cháu cũng thích kể chuyện với người già dễ thông cảm.


Tôi nói : Nghề taxi là nghề tự do. Theo tôi đó là điều thích thú.


- Dạ, đúng thế. Cháu thích tự do, không ràng buộc, không phải họp hành như cơ quan, không có người chỉ huy, tiền là ông chủ của mình. Mình kiếm được nhiều tiền, mình là chủ. Cái thích thứ hai ở tuổi cháu là vui vẻ với các bạn gái.


Tôi hỏi:


- Anh có gia đình chưa?


- Tội gì đeo khổ vào thân hả bác, cháu mới ngoài hai mươi tuổi, còn phải vui chơi kén chọn năm bảy năm nữa.


Câu chuyện đang dang dở, anh nghe di động và nói to: “Anh không nói dối em, anh đang chở khách”. Không hiểu người con gái ở đầu dây nói gì, anh ở thế bí phải nói với tôi: “Thưa bác, cháu chở bác nhưng bạn gái cháu không tin, cho là đi chơi với bạn gái khác, bác giúp cháu mấy câu!”. Anh đưa di động cho tôi, dáng vẻ cầu mong. Tôi cầm máy và nói: “Anh ta đang chở tôi đi bệnh viện, cứ yên tâm”. Anh taxi cầm lại máy: “Cháu cám ơn bác”. Tôi nói: “Anh đào hoa, yêu một lúc mấy người?”. “Thưa bác, không phải tại cháu. Cháu đang độ thanh xuân, khỏe mạnh lại đẹp giai, các em cứ xô vào”. Tôi nói: “Anh chiều chuộng các cô lấy đâu ra thì giờ, tiền của để bao bạn gái?”.


- Dạ, thực ra không mất đồng nào. Bạn gái cháu không thích tiền, chỉ thích tình và đẹp giai. Đúng là có tiền không mua được nhưng dẻo miệng các em nó cho không.


Những tài xế taxi ở tuổi ngoài 20 cũng thường có những sở thích và cách chuyện trò như vậy. Tôi hỏi một anh về cuộc sống hiện nay:


- Cháu nhận thấy cuộc sống hiện nay là phong phú hơn nhiều. Nhiều người giàu có, nhiều khách đi xe sang trọng nhưng không đều, người khổ cũng còn nhiều.


- Vậy theo anh, ai là người sung sướng nhất?


- Bọn người giàu có, đại gia? Cháu nghĩ đại gia cũng tùy thời, có người thất cơ lỡ vận cũng dễ trắng tay, chỉ có bọn người đè dầu cưỡi cổ là cuộc sống giàu có, ổn định.


- Thế còn người nghèo khổ?


- Có kể ra bác cũng chả biết. Các thầy giáo cũng có người sướng nhưng theo cháu đa số cũng là cận nghèo và bản thân chúng cháu cũng thuộc diện nghèo khổ, hay nói đúng hơn là cận nghèo. Trong nhiều năm có được 1 số tiền mua lại xe của công ty và góp trả dần, mỗi tháng kiếm được năm, sáu triệu, cộng với tiền kiếm thêm của vợ một vài triệu cũng tạm đủ ăn.


- Anh lái xe nhiều, anh nhận xét về những người mình quan sát, tiếp xúc như thế nào?


Cháu thương nhất là những ông già, già như bác có tiền ngồi trên xe thì không nói, còn trên đường phố người già ít được giúp đỡ, thậm chí còn bị coi thường. Nhà nước có chính sách nhưng chưa thật cụ thể trong việc chăm sóc người già. Cháu có người quen, bố mẹ già không ai chăm sóc, phải gửi lên khu an dưỡng của tư nhân, mỗi tháng mỗi cụ cũng phải bảy, tám triệu. Họ chăm lo chu đáo nhưng cũng tùy mức tiền, kể cả việc ma chay cuối đời. Kìa sao Bác lại thở dài. Cháu xin lỗi làm cho Bác buồn. - Không sao, tuổi già thì hay thở dài thôi. - Xin Bác đừng buồn, ở tuổi Bác vẫn còn khỏe mạnh, đi công việc như thế là hạnh phúc rồi. Cháu xin hỏi Bác trong đời người ngày nào là ngày vui nhất ?


- Theo anh thì thế nào?


- Cháu muốn được nghe ý Bác trước.


Tôi kể có người cho là ngày sinh ra đời, ngày kết hôn, ngày thành đạt nhất.


- Không phải rồi, theo cháu ngày vui nhất là ngày hôm nay, nhất là ở tuổi Bác và cứ thế ngày mai, ngày kia sẽ là ngày vui nhất nếu hòa niềm vui với đời.


- Tôi cám ơn anh có ý nghĩ đẹp. Còn bây giờ lại trở lại chuyện cũ.


- Vâng. Còn người mà cháu ngại nhất là công an, không có các anh công an thì đường phố sẽ lộn xộn, mất an ninh trật tự nhưng riêng cháu, một hai lần lỗi nhẹ nhưng bị phạt rất nặng, từ đấy, thấy bóng công an là sởn gai ốc.


- Anh nói rất thật nhưng có chỗ chưa công bằng và có định kiến.


- Bác dạy bảo thế, cháu sẽ sửa chữa.


Sắp đến chỗ tôi phải xuống, phía xa lại thấp thoáng bóng công an, anh nói: “Bác xuống mau mau hộ cho, kẻo cháu lại bị phạt nặng”.


Giao thông Hà Nội có taxi và xe ôm, ngày mai sẽ có loại gì mới dễ chịu hơn?


Đã in trong tập Ký ức- Những sắc màu thời gian


NXB Chính trị Quốc gia 2015


(còn tiếp)


Nguồn: Hà Nội – Gặp gỡ với nụ cười. Tập Bút ký của GS Hà Minh Đức. NXB Công an nhân dân, 2016. Tác giả gửi www.trieuxuan.info


bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Phùng Quán: "Có những lúc ngã lòng/ Tôi vịn câu thơ mà đứng dậy" - Trần Thanh Phương 21.09.2018
Bội Trâm – Người đàn bà bất chấp tai ương - Ngô Minh 19.09.2018
Một chuyến làm báo ở Tây Nguyên - Thanh La 19.09.2018
Gián điệp quốc tế - Vũ Thư Hiên 07.09.2018
Ba ngôi mộ không có nấm mồ - Hà Đình Nguyên 06.09.2018
Chiến tranh Việt Nam và trò chơi nguy hiểm của Phạm Xuân Ẩn - Nhiều tác giả 05.09.2018
Hồ Chí Minh - Nguyễn Đăng Mạnh 05.09.2018
Nguyễn Khải - Nguyễn Đăng Mạnh 05.09.2018
Nguyên Ngọc - Nguyễn Đăng Mạnh 05.09.2018
Syria, bóng đá & chiến tranh - Nguyễn Thu Trân 29.08.2018
xem thêm »