tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 24052464
14.08.2018
Hà Minh Đức
Hà Nội - Gặp gỡ với nụ cười (5)


NGƯỜI HÀ NỘI ĐI XA VÀ NGƯỜI NƠI XA TÌM VỀ


Như một quy luật chung thủ đô các nước là nơi hấp dẫn nhất của một quốc gia. Thủ đô là nơi tụ hội nhiều tinh hoa của dân tộc đặc biệt về văn hóa. Saint Pétersburg thủ đô của nước Nga cũng được xem là thành phố của văn hóa Nga. Từ cung điện nguy nga, đường phố, con người đều có vẻ đẹp riêng. Trong một lần đi họp Euro- Việt V, tôi có dịp đến Saint Pétersburg và họp nhiều buổi ở trường Đại học Tổng Hợp. Nữ sinh của trường rất đẹp. Mang vẻ đẹp của cô gái Nga thanh tú. Tôi về và nói chuyện với chị Lộc Phương Thủy nhiều năm ở Nga: Trong mười em nữ sinh phải có 4,5 em đẹp. Chị bảo tôi quá khắt khe, đứa nào cũng đẹp, phải 8,9 em đẹp. Ăng-ghen khi còn ở Paris trong bức thư gửi cho Mác cũng nói với Mác nên có dịp sang Paris nghỉ ngơi sau những ngày làm việc căng sức. Ở đây con gái Paris rất đẹp. Không chỉ riêng hai thủ đô Saint Pétersburg  và Paris, nói chung các thủ đô trên thế giới đều là nơi cuộc sống phồn hoa, văn hóa phát triển và có nhiều người đẹp.


Người Hà Nội có nhiều vẻ đẹp. Trước hết là tiếng nói, giọng ngọt, nhẹ không có những tiếng dạ vâng như ở Huế. Người Hà Nội vẫn có đặc điểm riêng trong ngôn ngữ. Tiếng người Hà Nội chuẩn mực không pha tiếng địa phương, giọng trong và nhẹ, dễ nghe, dễ thấm vào lòng người. Con gái Hà Nội có vẻ mặt thanh tú, khuôn mặt trái xoan, da trắng. Đó là nhận xét chung còn về cá thể thì mỗi người lại có vẻ riêng. Thật khó để chỉ ra những người đẹp của Hà Nội gây ấn tượng lâu bền. Có chăng là trong tranh ảnh. Những bức họa về các cô gái đẹp như Bên hoa huệ của Tô Ngọc Vân, em Thúy của Trần Văn Cẩn, các cô gái của Huỳnh Phương Đông có thể vẽ từ người mẫu, con gái đẹp của Hà Nội. Ngày nay cái đẹp đã chia đều trong cả nước. Các đợt thi hoa hậu, Hà Nội không phải là thành phố có nhiều hoa hậu hấp dẫn nhất. Hải Phòng, Huế, Nam Định... đều có hoa hậu trong các kỳ thi. Chỉ tiếc là vẻ đẹp không “hút hồn” như mong ước. Giữ tiền, giữ của không khó bằng giữ sắc đẹp. Như câu thơ trong Kiều: “Xưa sao phong gấm rủ là. Giờ sao tan tác như hoa giữa đường”. Không đến nỗi thế nhưng sắc đẹp mau tàn phai. Cuộc sống hôm nay trong ồn ào, cạnh tranh, không khí ô nhiễm tâm hồn dễ dao động bất an, làm sao có thể đẹp lâu bền được. Còn nói về con trai Hà Nội phải thừa nhận rằng Hà Nội có thanh niên tài hoa. Không chỉ chăm chú vào sách vở dùi mài kinh sử mà tâm hồn mở rộng đón cái đẹp của cuộc đời và thiên nhiên cảnh vật. Phải thừa nhận rằng trong các nghệ sĩ nổi tiếng, Hà Nội chiếm một phần quan trọng. Hội họa có Tô Ngọc Vân, Nguyễn Tư Nghiêm, Trần Văn Cẩn, Dương Bích Liên,...Nhạc sĩ có Văn Cao, Nguyễn Đình Thi. Nguyễn Đình Thi đa tài là sản phẩm của Hà Nội. Sau Hà Nội phải kể đến Huế với Tố Hữu, Trịnh Công Sơn, Lê Bá Đảng, Phùng Điểm Thị,...


Tài năng nghệ thuật chỉ nảy nở trên đất văn hóa. Phong thái sống của người Hà Nội có tính chất hào hoa, thơ mộng, nhạy cảm với cái đẹp. Truyền thống ấy còn lưu giữ cho đến hôm nay. Trước Cách mạng tháng Tám, Hà Nội là thành phố ổn định, người Hà Nội ít ra đi và biết đi về đâu. Chuyến ra đi đầu tiên sau Cách mạng tháng Tám là những thanh niên thủ đô trong đoàn quân Nam Tiến và tiếp theo là Trung đoàn thủ đô trong những năm tháng đầu của cuộc toàn quốc kháng chiến, ra đi và quyết hẹn ngày trở về, rồi người Hà Nội tản cư theo kháng chiến, dân Hà Nội lên Việt Bắc, vào khu 3, khu 4 có người sinh cơ lập nghiệp ở những vùng này và chờ ngày trở lại thủ đô.


Hà Nội giải phóng, một lần nữa nhiều thanh niên lại ra đi đến những miền đất xa. Một mặt khác đây cũng là đợt tiến quân của người tứ xứ về Hà Nội. Cán bộ về Hà Nội công tác, sinh viên nhập các trường đại học, cán bộ miền Nam tập kết ra Bắc và một bộ phận về Hà Nội. Thành phố Hà Nội mở rộng tiếp nhận người ngoại tỉnh đặc biệt là người khu 4. Có cơ quan đa phần là người xứ Nghệ như Viện văn học được gọi vui là Viện Văn nghệ. Từ các vị Viện trưởng, Viện phó như Giáo sư Đặng Thai Mai, Hoài Thanh, Hoàng Trinh, Phong Lê, đến các Phó Giáo sư như Nguyễn Văn Hoàn, Huệ Chi đều là người xứ Nghệ. Các chức vụ quan trọng của thành phố mở đầu là bác sĩ Trần Duy Hưng người Hà Nội, tiếp theo xen lẫn người các tỉnh. Bí thư Phạm Quang Nghị là người xứ Thanh. Nguyễn Thế Thảo chủ tịch thành phố là người Bắc Ninh. Dân Hà Nội gốc còn lại là bao nhiêu. Từ ngày Hà Nội mở rộng đến các tỉnh Hà Đông, Sơn Tây, Hà Nội đã có người dân tộc. Trong một lần mua dứa ở đường Lương Văn Can Hà Nội, tôi hỏi một chị bán dứa dáng vất vả “Chắc chị ở xa về bán hàng”. Chị bảo: “Em ở Hà Lội 2”.


Hà Nội có nhiều thay đổi từ Hà Nội 36 phố phường đến hôm nay đã mở ra hàng trăm phố phường. Từ Hà Nội trong những năm kháng chiến chống Mỹ chỉ có vài chục ngôi nhà ba bốn tầng đến nay đã có hàng trăm lâu đài cao ốc chiếm giữ bầu trời, từ Hà Nội thành phố của xe đạp mà một số ô tô biển xanh nay đã có hàng ngàn ô tô, hàng triệu xe máy, từ Hà Nội sống giản dị, thanh lịch nay đã trở thành thành phốphồn hoa, nhiều thú vui chơi. Có nhà văn nước ngoài trong góc nhìn vội vã của mình gọi Hà Nội là “thành phố rong chơi”. Mặc dù bao đổi thay Hà Nội vẫn là thành phố thanh bình, thành phố hòa bình. Người Hà Nội vẫn niềm nở đón khách thập phương.


Nhìn lại lịch sử của nhiều thành phố lớn trên thế giới đều có nhiều đổi thay qua thời gian, đặc biệt là đổi thay về dân số. Xu hướng giao lưu trong và ngoài nước đã khiến dân số gốc của thành phố không còn nguyên vẹn. Theo báo chí Paris thống kê thì dân số Paris gốc chỉ còn khoảng 35%. Người ở các tỉnh tràn về đặc biệt là người của những châu lục nghèo khổ hăng hái vượt sông, vượt biển đến miền đất hứa. Nhiều nước Châu Phi với hàng vạn, chục vạn người đã tràn đến Ý, Anh, Pháp. Ở Anh, xứ sở vốn được bảo toàn bản sắc về nhiều mặt đang phải đối phó với nạn nhập cư. Đúng như câu hát của trẻ em Việt: “Trái đất này là của chúng mình, vàng đen trắng tuy khác màu da”. Dân Trung Đông, Đông Âu tràn vào nước Anh. Có những lớp học người gốc Anh là thiểu số còn lại đang bập bẹ với giọng ngoại lai. Tất nhiên họ cũng đem lại lợi ích cho nước sở tại. Nhân công rẻ, tha hồ sai khiến họ làm việc nặng, người xa xứ chỉ biết câm lặng. Màu đen đã thấy nhiều trên đường phố Paris. Paris không còn thuần chất, nhiều thành phố Châu Âu cũng cũng cùng tình trạng đó. Hà Nội về cơ bản vẫn là thành phố của người bản địa và bản chất, phong cách của người Hà Nội sẽ cảm hóa những người mới nhập hòa để giữ bản sắc Thủ đô.


THĂM PHỐ CỔ NHỚ NGƯỜI XƯA


Tôi xa khu phố cổ Hà Nội hàng chục năm nhưng mỗi lần lên thăm các phố xưa, lòng lại xốn xang bao kỷ niệm và trước hết là tưởng niệm người xưa mà tôi đã có dịp gặp gỡ, thân quen một thuở. Vẫn những ngôi nhà cũ, mái ngói âm rêu phủ, vẫn đường phố chật chội.


Hồi ấy thường buổi sáng tôi hay đi dạo Bờ Hồ và gặp nhà văn Chu Thiên, tác giả Bóng nước Hồ Gươm. Cuốn sách hay, viết công phu về Hà Nội một thời nhưng không dễ đến được với người đọc hôm nay vì như câu hát một số thanh niên thường nghêu ngao: “Những chuyện xưa nay đã xa rồi/ Lòng ta đâu có luyến tiếc gì...”


Cụ Chu Thiên người thấp, dáng nhà nho cổ, bị xuất huyết não và đang luyện tập để phục hồi sức khỏe. Cụ còn lờ mờ nhận ra tôi. Tôi chào và cụ gật đầu rồi cười. Tôi hỏi: “Bác còn nhận ra tôi không?”. Cụ bảo: “Ông Đức”. Tôi gật đầu và cám ơn. Tôi biết cụ ở khu Hàng Bè nhưng vẫn gặng hỏi: “Bác vẫn ở chỗ cũ à?”. Cụ chỉ vào túi áo ngực rồi rút ra tấm thẻ có ghi dòng chữ: “Chu Thiên 10 Hàng Bè, không may xin thuê xe hộ cho về nhà trên. Cám ơn”. Một vài năm sau không thấy bác đi dạo Hồ Gươm nữa. Có lẽ tác giả Bóng nước Hồ Gươm đã tạm biệt những hình ảnh yêu quý nhất để đi xa, xa mãi rồi.


Cũng thuộc tạng người cổ, giáo sư Nguyên không phải người Hà Nội mà quê gốc ở Nghệ Tĩnh sau chuyển ra dạy học ở Đại học sư phạm. Duyên may tôi với ông lại ở chung một nhà. Số nhà 31 Hàng Ngang vào loại đông người nhất nhì phố. Nhà sâu, ngóc ngách vào tăm tối. Hai nhà văn Tất Thắng và Lê Sơn đến tôi chơi về và tặng thơ:


“Vào sâu hun hút, sâu hun hút


Lên cao, lên cao lại rẽ ngang


Càng đi càng tối như hũ nút


Bỗng thấy nhà thầy sáng một gian”.


Có người hỏi sao không bật điện lên. Làm gì có điện. Thành phố chỉ cho điện một tuần khoảng 2 lần. Ánh sáng yếu nên các gia đình đua nhau sắm survolteur, nhỏ nhất là loại 5kw, rồi 10, 15 và cao nhất là 20kw. Dòng điện cuối chiều bị hút hết ánh sáng, chỉ còn lại như một ngọn nến to. Giáo sư Nguyên than thở. Ông nghĩ ra kế đi ngủ sớm và nửa đêm dậy làm việc, điện sẽ sáng hơn, thuận lợi cho việc viết lách. Sau đó ông nhờ mua được một survolteur 15kw, đàng hoàng không thua kém ai.


Phố mất điện nên đường phố tối, cửa hàng phần lớn đóng cửa. Trên hè phố có các cụ ngồi hóng mát, chuyện trò. Khu Hàng Ngang, Hàng Đào ngày ấy tối âm u như các xóm ngoại ô. Giáo sư Nguyên cũng như tôi đều phải đi ngủ sớm. Nhưng rồi có một chút may mắn. Trong một lần lên nhà máy điện gặp học trò cũ,cô Minh Huệ sinh viên Khoa Văn phụ trách tuyên truyền cho Sở điện cô thông cảm với tình cảnh của các thầy giáo nghiên cứu mà không có điện đóm. Cô bảo: “Thầy cứ làm đơn đi. Cũng có trường hợp được giải quyết”. Tôi nói thêm, chúng tôi có hai người, tôi và giáo sư Bùi Văn Nguyên, giáo sư của Trường đại học Sư phạm. Cô bảo như thế càng tốt, nhưng khó nhất là kéo đường dây, tốn kém và phải duyệt nhiều cấp. Thầy xem có đường dây nào bên cạnh mình mắc nhờ. May quá, giữa phố Hàng Ngang có xưởng bánh kẹo, chúng tôi điều đình và được chấp nhận, họ cho hai bóng 60W.


Mấy ngày sau đêm về chúng tôi đã rung rinh có điện. Điện thật sáng và có thể thắp đến khuya. Nhưng rồi những khó khăn lại xảy ra. Cứ vài tối lại có người đến hỏi. Họ đập vào vách phên của nhà giáo sư Nguyên, rồi lại đập vào cửa nhà tôi và lên giọng hơi to: “Chủ nhà đâu?”. “Có tôi”. “Câu điện ở đâu?”. “Chúng tôi có giấy tờ”. “Đề nghị cho xem”. Tôi và giáo sư Nguyên lại đem trình tờ giấy ưu tiên. Tôi đọc trên nét mặt các anh dân phòng sự ngạc nhiên và nghi ngờ. Được ưu tiên thường dành cho các bộ cao cấp, nhà cao cửa rộng, cớ sao trong căn nhà ọp ẹp này với hai gương mặt đáng thương hơn là đáng kính, đáng sợ này lại có điện ưu tiên. Nhưng rồi có giấy và có dấu xác nhận nên họ lẳng lặng ra đi.


Một tuần sau, lại đến đội tuần tra khác đến hỏi, chúng tôi lại trình bày và sau đó thì được yên thân. Cho đến nay tôi vẫn còn cám ơn ngọn đèn sáng mà nhờ đó chúng tôi vẫn thường xuyên viết được sách báo. Cũng vẫn là chuyện điện đóm thôi. Khi khu nhà chia cho các gia đình công-tơ riêng thì việc tính tiền điện khá ổn thỏa. Nhưng rồi cái công-tơ điện để đâu? Những hộ phía dưới họ để vào trong nhà, còn công-tơ của ông Nguyên và tôi  phải để trên lối ra vào ở tầng 1. Một buổi sáng dậy, trẻ con reo lên là công-tơ ông Nguyên bị mất cắp rồi...


Phố Hàng Ngang, Hàng Đào thường có nhiều trộm cắp hoạt động vì có các cửa hàng, đông nhất là hai cửa hàng bách hóa của mậu dịch bán hàng suốt ngày. Có lần nhà phê bình Đông Hoài đến chơi với tôi, tôi tiễn anh xuống cửa, anh treo túi ở ghi đông và hai nhà phê bình vẫn đối diện chuyện trò hăng say. Một lúc anh Đông Hoài kêu cái túi mình đâu rồi. Tôi bảo: "Hay anh bỏ quên trên nhà, để tôi xem lại". Nhưng không có, kẻ cắp thấy chúng tôi tranh luận hăng quá nên nhân đấy đã tháo cái túi ngay trước mặt. Anh Đông Hoài tức tối: "Láo quá, láo quá, nhưng nó cũng giỏi".


Phố Hàng Ngang, Hàng Đào là trục đường chính giao lưu buôn bán. Có một di tích cách mạng quan trọng là số nhà 48 Hàng Ngang, nơi Hồ Chủ tịch viết Tuyên ngôn độc lập. Ngoài ra, ở Hàng Đào có một vài ngôi nhà khá chuẩn mực được xem là có phong cách cổ. Một phòng triển lãm dành cho các họa sĩ giới thiệu tranh ở số 10, nơi từng là Trường Đông Kinh Nghĩa Thục ngày xưa. Không mất tiền mua vé vào cửa nên người xem cũng đông, nhưng chỉ số ít là xem kỹ, xem công phu.


Một hôm giáo sư Nguyên từ phòng tranh về tỏ ý bực bội và ông phàn nàn: Hôm nay xem phòng tranh chuyên vẽ về Cụ Hồ, tôi bực mình với ông họa sĩ Văn Giáo. Mình đang xem thấy một ông to cao kéo áo mình lùi xa và bảo: “Ông tìm cái gì? Xem tranh phải đứng xa ra mới thấy được cái đẹp”. Tôi đáp: “Điều ông nói tôi đã biết, mắt tôi cận thị tôi phải xem gần”. Họa sĩ gật đầu: “Tôi không biết điều ấy”. Cụ Nguyên kể tiếp: Ông Văn Giáo hỏi cảm tưởng của tôi về phòng tranh, tôi nói: “Ông vẽ phòng tranh Bác Hồ công phu nhưng tôi thấy mấy chục bức tranh về Bác của ông, nhân vật đều giông giống nhau”.  Ông họa sĩ Văn Giáo mà có người gọi là Van Gốc Việt Nam, nổi giận: “Thế ông bảo vẽ Cụ Hồ thì phải giống Cụ chứ giống ai? Giống ông à?”. Giáo sư Nguyên tưởng như bị dồn vào chân tường nhưng không, ông đáp lại: “Ý tôi không phải thế, tôi chỉ muốn nói là tất cả đều giống Bác, nhưng mỗi bức tranh phải khác nhau, hoàn cảnh cốt cách và màu sắc khác nhau”. Họa sĩ Văn Giáo gật đầu: “Không dễ đâu cụ ạ. Cụ làm nghề gì?”. “Tôi là nhà nho thôi”. “Khi nào cầm bút vẽ cụ sẽ hiểu”.


Lúc này chữ Hán đang được trọng dụng. Nhiều nhà nho như Trần Lê Nhân, Ngô Lập Chi, Nguyễn Văn Hanh vẫn ngày ngày ngồi dịch sách trong Thư viện Khoa học xã hội. Một số chuyên gia Trung Quốc nổi tiếng như Trương Trọng Thuần, Lý Hà Lâm sang giảng lịch sử văn học Trung Quốc ở Khoa Văn, Đại học Tổng hợp. Nhà giáo Trần Quốc Tiệp là người thông dịch cho các chuyên gia trong một thời gian dài. Ông Tiệp người khỏe mạnh, tiếng nói vang, rất vui tính và chan hòa với lớp trẻ. Có thầy giáo cho biết, chính ông đã tham gia dịch từ trong thời kỳ kháng chiến cho tướng Trần Canh và một vị lãnh đạo cao cấp của ta.


Ông ít kể chuyện về mình nhưng có lần ông bảo với tôi: “Hồi ở Trung Quốc thỉnh thoảng phải dịch cho hai người Trung Quốc ở hai tỉnh khác nhau”. Ông tinh thông tiếng Bắc Kinh, lại có am hiểu một số tiếng địa phương như Quảng Đông, Phúc Kiến. Bước vào cuộc chiến tranh chống Mỹ do hoàn cảnh ông không lên vùng sơ tán xa được, môn Hán - Trung văn lại không học nên ông bị tạm cắt biên chế và sống rất vất vả ở khu phố Lý Quốc Sư. Nói đến ông tôi không khỏi chạnh lòng nghĩ đến một thầy giáo giỏi và phần kết thúc mà cuộc đời dành cho lại có phần chật vật, u ám.


Tôi tưởng nhớ đến nhà thơ Huyền Kiêu và nhà văn Như Phong có gốc nhiều đời ở Hà Nội băm sáu phố phường. Nhà Như Phong ở ngay trước cửa chợ Đồng Xuân, căn nhà cổ có từ đời ông bà. Nhà văn Như Phong đã nhiều năm làm Giám đốc Nhà xuất bản Văn học và khi mất ông cũng đương chức. Như Phong nổi tiếng về giai thoại trong đám cưới không chịu lạy bố mẹ vợ theo lễ nghi một thời. Ông sống thẳng, quyết đoán, nóng tính. Từ cách ăn mặc cho đến phong thái sinh hoạt đều mang dáng vẻ người xưa. Ông không thích ràng buộc bởi các loại quần áo hiện đại, không complê, cravát, giày Tây. Ông thích hút thuốc lào và dùng đóm dài châm mồi và rít từng hơi khoan khoái. Thỉnh thoảng ông cũng nhấm nháp vài chén rượu suông.


Có lần ông bảo tôi: “Ở tuổi anh mà chưa biết nghiện cái gì. Như thế cũng tốt”. Trong câu chuyện luận bàn các nhà văn ông nói ngắn mà chính xác. Có lần nói về nhà phê bình N.V.H, ông nhận xét: “Cậu ấy viết phê bình không bằng tiểu luận. Tiểu luận phải có vốn kiến thức, phê bình phải hiểu phong trào. Ông là người sống mạnh mẽ, có bản lĩnh”. Từ ngày ông mất đi, khu phố của ông vẫn chưa có gì thay đổi nhiều. Tất cả vẫn theo nhịp an bình, chậm chạp.


Còn Huyền Kiêu ở phố Hàng Vôi(1916-1994). Người ông cao to, dáng quắc thước như một võ tướng. Năm 1946 ông viết trường ca Hồ Chí Minh. Bác nhận tập thơ và nhắc nhở nhà thơ quan tâm viết về nhân dân đang chiến đấu. Ông cũng là tác giả Bầu trời, tập thơ khỏe, có bản sắc nhưng cũng gây nhiều dư luận khó khăn cho tác giả. Trong lời đề tặng tôi, ông viết: “Trân trọng tặng Hà Minh Đức, cây bút phê bình sắc và khỏe. Cái đức của cuộc đời vẫn sáng tác. Cái đức của văn học còn mờ. Đó chẳng phải là còn chờ đợi và đòi hỏi ở những người cầm bút phê bình sao” (4/1977). Tôi cảm ơn ông. Ông vỗ vai và bảo: “Tương lai là của các anh”.


Năm tháng trôi qua, thăm phố cổ tôi nhớ đến các bác, các anh, những nhà văn, những người thầy giáo mẫu mực. Tôi thuộc lớp đàn em nhưng nay tóc sương đã bạc, luôn nặng lòng thương cảm với những vất vả ngày qua của các bác, các anh. Tạ và cảm lòng ông tôi nhớ lại bài Tương biệt dạ nổi tiếng của ông.


TƯƠNG BIỆT DẠ


Hiu hắt trăng khuya lạnh bốn bề


Ý sầu lên vút đến sao khuê


Quý thay giây phút gần tương biệt


Vương vấn người đi với kẻ về


 


Ngồi suốt đêm trường không nói năng


Ngậm ngùi chén rượu ánh vầng trăng


Người xưa lưu luyến ra sao nhỉ


Có giống như mình lưu luyến chăng


 


Đã tắt lò hương lạnh phím đàn


Thư phòng sắp sửa lại cô đơn


Trời cao mây nhạt ngàn sao rụng


Một dải sương theo vạn dặm buồn


 


Sớm biệt ly nhau không nhớ nhau


Nửa đêm chợt tỉnh bỗng dưng sầu


Trăng mùa xuân đó ai tâm sự


Anh đã xa rồi anh biết đâu.


Xa nhau là chuyện của trai gái nhiều đời xưa, nay Tương biệt dạ là bài thơ mang phong điệu cổ một thời.


Trở về khu phố cổ tôi lại nhớ đến nhà phê bình Đông Hoài. Trước Cách mạng ông làm thơ và thuộc nhóm Dạ Đài. Sau Cách mạng ông hoạt động thanh niên một thời gian rồi về NXB Văn học. Người thấp bé nhưng rắn rỏi đặc biệt là ngôn từ mạnh mẽ, có chính kiến và hay luận chiến. Ông ở nhà 85 Hàng Bông nên hay đến tôi chơi vì cũng gần. Thời hào hoa đã qua nay ông bình dị từ cách ăn mặc đến tác phong sinh hoạt. Ông có lúc tâm sự về thời còn ở nhóm Dạ Đài nằm với Đinh Hùng gác chân lên nhau chuyện trò. Ông cho xem tấm ảnh ngày xưa, tóc chân bồng cao lên một mái yểu điệu, áo sơ mi đẹp, cổ có nơ đen. Ông bảo khi hòa bình lập lại tôi có thể kén chọn các cô “áo ve sầu, đầu súp lơ” (lúc này con gái Hà Nội thường có mốt mặc áo dài, không cài khuy, hai vạt áo có thêu chữ Hán hoặc hoa lá. Còn đầu súp lơ là đầu tóc phi dê). Ông chọn xây dựng theo một chị công nhân hiền lành và sinh đẻ ba con Văn, Việt, Vân. Trước 1945 ông viết nhiều bài mang phong cách riêng như Ngẫu tượng siêu luân, Khi em đến, Hồn quê và trong bài Thuyền đời vẫn in dấu Đông Hoài trong mấy dòng như:


Xót lòng động biển sâu lâu


Thời gian trốn bỏ nhịp cầu bình minh


Sông xưa khắc khoải ân tình


Thuyền xưa giã bến trăng thanh soi đường


Chiều buồn máu chảy tà dương


Sâu ly khu biệt chết hàng rêu xanh


Đã in trong tập Đi một ngày đàng


NXB Văn học 2004


ĐÊM TRĂNG SÁNG TRÊN HỒ TÂY


Chiến tranh chống Mỹ kéo dài. Thành phố mất điện, bóng tối bao trùm tất cả, nhưng sinh hoạt cũng dần quen thuộc. Một vài ngọn đèn vẫn sáng nơi công cộng. Và đêm nay có một vầng sáng dành cho khu vực Hồ Tây. Nơi đây vào thứ bảy chủ nhật trai gái vẫn đến thuê thuyền dong chơi trên hồ. Đêm trung thu nhà thuyền đã dành cho thanh niên đến du thuyền nhỏ trên hồ. Một vài bóng điện giăng trên cọc trên mặt hồ giới hạn phạm vi thuyền có thể đi lại. Em dặn tôi: “Anh biết bơi thuyền, đêm nay chúng ta phải ngắm trăng trung thu giữa hồ Tây”. Tôi nói: “Em lãng mạn quá, tôi rất vui, nhưng nói dại có chuyện gì xảy ra thì sao?”. Em bảo: “Chúng ta sẽ trở thành huyền thoại của hồ Tây. Anh không phải mang gì, chỉ cần đôi tay khỏe để chèo lái và em chuẩn bị tất cả”.


Khoảng tám giờ chúng tôi xuống thuyền pê-ri-xoa, trăng đã lên từ phía Tây mặt hồ, ngày càng tỏa sáng. Vầng trăng dần đã ở đỉnh cao đem vẻ đẹp thanh bình đến cho mọi người. Trăng dịu dàng, trăng lấp lánh, trăng lan xa. Thuyền rẽ sóng hay rẽ sóng trăng. Tôi miên man và tâm hồn chìm dần theo những con sóng trăng trong đêm lộng gió. Đến giới hạn rồi em nhắc tôi, hồ còn mênh mông quá, mọi giới hạn chỉ là ước lệ phải vượt qua thôi! Tôi bơi mạnh, bơi nhanh chẳng mấy chốc thuyền đã đến giữa hồ. Chỉ có vầng trăng, mênh mông nước và em. Tôi đã có dịp dạo chơi và trò chuyện với em bên hồ Tây. Dạo ấy rặng liễu lao xao trong gió mùa thu. Tôi ngắm em từ đôi mắt, làn môi tất cả đều mỉm cười trong khuôn mặt tươi sáng. Em bảo: “Đừng làm em ngượng...”. Dạo ấy em cho tôi nắm bàn tay đầy đặn, ấm áp như đang nói lời âu yếm của da thịt. Quen em đã lâu nhưng không làm sao xóa được khoảng cách. Đêm nay em rủ tôi đi ngắm trăng trên hồ Tây. Một niềm vui bất ngờ. Chiến tranh gây bao tổn thất, nhưng đêm nay chúng tôi có một vầng trăng đẹp giữa thủ đô với khoảnh khắc thanh bình. Thuyền đã ở giữa hồ, gió đã lên. Em bảo: “Vừa ngắm trăng, vừa thưởng thức lộc trung thu anh ạ, nhưng anh phải rửa tay”. “Tay anh sạch”. Em ngồi gần lại lấy chai nước và dội lên tay tôi. “Phải có bàn tay sạch anh ạ, nhất là để hưởng lộc trung thu. Xin lỗi anh, kinh thánh nói nhiều đến bàn tay không sạch của đàn ông. Em cũng không hiểu vì sao?”. Chắc là lao động nhiều nhất là tiếp xúc với cát bụi, đất đai. Em cười và bảo: “Anh ngụy biện rồi”.


 Gió bỗng lặng, thuyền như đứng yên một chỗ. Chúng tôi vào tiệc nhỏ trung thu. Em bảo tôi nhắm mắt lại và mở bàn tay ra. Cốm non tỏa hương thơm. “Phải dùng từng ngón tay nhóm từng nhúm nhỏ và ăn với chuối tiêu”. Tôi vội cầm quả chuối tiêu em bảo để em giúp anh cách ăn. Quả chuối được bẻ làm hai, bóc vỏ và cô gái lấy hai ngón tay ấn nhẹ nhàng ba mảnh dài, “anh ăn từng mảnh nhỏ sẽ thấy ngon hơn”. Có phần kiểu cách nhưng thanh lịch và hợp với đêm trung thu. Món thứ hai là bưởi. Những múi bưởi thơm hương mùa thu và ở vào độ chín ngon lành. Em bảo phải vào tiết trung thu bưởi mới ngon cho dù là loại bưởi quý như bưởi đào. Anh có biết câu ca không?


Bưởi đào tháng bảy còn he


Thấy em xinh đẹp anh ve để dành


Tôi bảo câu ca ấy nhà thơ Xuân Diệu hết lời ca ngợi. Ông nói: “Yêu như thế mới là yêu, phải dấm trước, chờ cho hương quả vừa chín tới”.Em nói:“Đàn ông các anh tham lắm”. - “Như thế là có tầm nhìn xa đấy chứ”. Em giải thích bưởi ngon phải ngọt và hơi giôn giốt chua, bóc không dính vỏ, tép bưởi phải mềm, bên ngoài hơi khô nhưng trong lại mọng nước. Tôi hỏi:“Những tiêu chuẩn ấy có trong quả bưởi ngon của em không?: -  “Chắc chắn rồi. Em không chiều anh mà là mùa thu, trăng thu chiều anh”. Tôi hỏi em có thích hoa bưởi không và thử nhớ thêm một câu thơ về hoa bưởi của nhà thơ Xuân  Diệu:


Hoa bưởi thơm rồi đêm đã khuya


Và em nói tiếp: “Hoa bưởi thơm nhưng gợi không khí chùa chiền nên em không thích lắm. Em thích hương thơm đời thường của loài hoa gợi đam mê như hoa nhài, hoa dạ lan hương”.


Tôi khen em con gái Hà Nội tinh tế quá. Bữa tiệc nhỏ lại tiếp tục sang đến món bánh trung thu. Tôi hi vọng các thứ bánh trung thu ngon mà em biết khéo chọn. Em bảo chỉ nên ăn một thứ thôi là bánh dẻo, bánh dẻo mang hương gạo nếp thu và thoang nước hoa bưởi. Gói bánh dẻo không nhân suôn theo chiều dài ngón  tay. Em lấy ra rồi đưa cho tôi một chiếc và dặn: “Phải ăn dần dần và theo chiều dài của bánh, từng miếng nhỏ và không được gấp hoặc vo lại”. Lúc này tôi chú ý đến những ngón tay búp măng của cô gái trong đêm trăng lao động nhẹ nhàng. Tôi bảo: “Anh là người thô vụng, tỉnh lẻ, đêm nay em dạy anh bài học để đời về sự thanh lịch của người Hà Nội”. Tạm kết thúc buổi tiệc ngon lành, em nắm tay tôi và hỏi: “Bây giờ anh phải trả lời câu hỏi về trăng”. Tôi gật đầu: “Đêm nay trong khung cảnh đẹp này có mấy vầng trăng?” Tôi nhìn lên trời cao nơi trăng đang tỏa sáng và bảo:


-Một vầng trăng đẹp


- Không đúng rồi


- Hai vầng trăng, trăng lên cao và trăng thả mình dưới nước.


- Cũng không đủ


Óc tôi vỡ lẽ ra và trả lời: “Có tất cả ba vầng trăng”. Em gật đầu và hỏi tiếp: “Vầng trăng nào xa nhất?”


- Vầng trăng xa nhất là vầng trăng gần nhất.


Em tủm tỉm cười và bảo: “Anh cũng không ngu như em tưởng. Bây giờ sang bài hỏi thứ hai.Anh là người dạy văn, vậy nhà văn nào yêu trăng nhất, tả trăng đẹp nhất?”.


Tôi nói ở Trung Quốc có giai thoại Lý Bạch là người yêu trăng, làm thơ hay về trăng, uống rượu với trăng và trong một lần đi thuyền trong đêm trăng trong cơn say đã nhảy xuống ôm vầng trăng và chết.


Em im lặng cảm động và lại hỏi: “Ở nước mình có nhà thơ nào chết vì trăng như thế không?”. Nhà thơ nước mình tỉnh táo và không đắm đuối được đến thế, họ yêu trăng nhưng chỉ mơ mộng, tưởng tượng thôi. Thơ của Xuân Diệu nhiều trăng, có câu thơ rất hay về trăng trên vùng biển Quy Nhơn: Trăng từ viễn xứ Đi khoan thai lên ngự đỉnh trời tròn. Còn Hàn Mặc Tử có thơ ôm trăng, rượt trăng, ngủ với trăng.


- Có được gì không?


- Được những câu thơ hay về trăng.


- Anh đọc một vài câu hay nhất đi.


Ô kìa! Bóng nguyệt trần truồng tắm


Lộ cái khuôn vàng dưới đáy khe


Mới lên trăng đã thẹn thò


Thơm như tình ái của ni cô


Em bảo:“Câu sau rất hay nhưng trong đêm nay có thẹn thò không?”


- Chắc là không, trông thấy cảnh chúng mình thế này thì còn thẹn thò gì nữa. Em cười và hỏi tiếp:


- Trong văn xuôi ai là người tả trăng đẹp nhất?


- Có lẽ Nam Cao là người tả trăng đẹp nhất. Làng Nam Cao gần sông có bãi và vườn chuối. Những đêm trăng rất đẹp, trăng sáng trên sông nước, trăng tỏa sáng trên những vườn chuối lấp lánh và đặc biệt là mối tình đầu trong đêm trăng giữa Chí Phèo và Thị Nở. Cặp nhân vật này không sợ nhau, thậm chí Nở còn giám vào nhà Chí Phèo xin rượu bóp chân ở nhà Chí Phèo, điều mà cả làng không ai giám nghĩ đến. Phải tạo cho chúng một hoàn cảnh để trai gái này gặp nhau đi từ bản năng bốc lửa đến tình tứ, từ ngẫu nhiên đến quy luật. Đấy là một đêm trăng ngời sáng những tàu chuối lấp lánh ánh trăng, gió thổi mát nên cứ giãy lên đành đạch như hứng tình. Chí say rượu về nhìn thấy ở bến cái gì trắng trắng. Lại gần hóa ra là một người đàn bà đang ngủ. Sống nửa thực vật nên có gió mát là Thị ngủ dù có nơi nào: góc vườn, bờ sông. Dưới trăng thị đẹp hơn nhiều lần. Cái miệng há rộng đầy trăng nên cũng thơ mộng, đáng yêu quá, quần áo xộc xệch lệ ra những mảng da thịt nõn nà và Chí đã “cưỡng yêu”. Lúc đầu còn la, phản ứng sau nhận ra nhau thì hợp ý tâm đồng. Vầng trăng làm duyên cho cặp trai gái này. Không có trăng làm sao nhận ra nhau, làm sao thấy người yêu đẹp lên bội phần. Cô bạn gái cười và nói châm chọc: “Như cỡ em trên tầm Thị Nở chắc cũng duyên dáng thêm trong đêm trăng phải không anh?”. Tôi bảo: “Xin em đừng liên hệ với văn chương với chuyện đời”.


Đêm đã khuya, gió đã lên từ lúc nào thổi mạnh dạt dào trên mặt hồ. Như mất phương hướng, thuyền trôi về phía Tây xa nơi xuất phát. Đã có tiếng loa gọi các thuyền về. Họ nhắc đến tên theo chứng minh thư. Em lo lắng và tôi cũng lo: “Nếu gió to hoặc cơn lốc ào đến thuyền lật thì thành ma chơi hồ Tây”. Làm sao chèo được hàng cây số, hàng trăm sải nước để về chỉ để lại một ngọn đèn. Tôi không giám chèo ngược chiều gió và tạt thuyền vào gần bờ và men theo bờ trở về bến cũ. Lúc này trăng sáng cũng như hiểu cảnh ngộ của chúng tôi. Em cũng hỏi tôi: “Anh vất vả, động viên anh bằng cách gì được. Giá có một con thuyền chèo đôi”. Thỉnh thoảng bóng cây to lại che bớt ánh sáng của vầng trăng. Một cuộc phiêu lưu lãng mạn và đầy thử thách. Về đến bến, anh phụ trách nhìn chúng tôi như thông cảm như oán  trách: “Mải mê quá quên cả giờ giấc”. Chúng tôi xin lỗi và cảm ơn. Trên đường về em bảo: “Chuyện đêm nay rồi anh có quên được không?”. Tôi vui cười: “Muôn đời không quên nhất là tôi đã vớt được vầng trăng mà không phải chìm dưới nước như huyền thoại về Lý Bạch”.


Một đêm trung thu ở hồ Tây trong những năm chống Mỹ. Đêm trăng đẹp ấy là có thật. Em xinh tươi là có thật hay chỉ là một giấc mơ tôi đã tưởng tượng trong đời. Bây giờ em và vầng trăng năm xưa ở đâu. Mùa thu lại sắp trở về rồi. Ánh điện thành phố tỏa sáng, vầng trăng nhợt nhạt như một giấc mơ đang dần tan.


Đã in trong Người của một thời


NXB Phụ nữ 2010


TÌM THƯƠNG HIỆU CHO ẨM THỰC HÀ NỘI


Hà Nội có hàng chục khách sạn lớn cỡ năm sao như Nikko, Sunway, Sheraton, Melia, Hilton, Sofitel Plaza, Sofitel Metropole, Daewoo. Chuyện ăn uống ở đây chắc chắn là sang trọng và dễ dốc cạn túi tiền. Hàng trăm cửa hàng ăn cỡ trung bình, tự chọn dễ thỏa mãn thị hiếu của người ăn như Sen Hà Nội, các nhà hàng Tara, Ngọc Mai, Ngon, Chả cá Lã Vọng, Nhất Thống… Các cửa hàng chuyên đề về hải sản, thú rừng mọc lên khắp nơi. Chuyện ẩm thực không biết bắt đầu từ đâu, có lẽ từ giá cả. Nếu ăn một bữa cơm bình dân, góp chung ba bốn người chỉ hết một suất khoảng trăm nghìn đã có đủ thịt, cá, rau. Còn trong nhà hàng, khách sạn, con số nhỏ bé đó phải nhân lên năm bảy lần nếu tính cả rượu ngoại như các loại Dôn đen, Dôn xanh, Henesy thì không có giới hạn.


Quán Sen Hà Nội, thương hiệu mới, khách có lúc phải đặt chỗ trước, không khí tấp nập. Ở đây nổi bật là các món nướng. Bếp than lửa rực đỏ, những xiên sắt đặt ngang lò vừa nướng vừa quay những xâu thịt cừu, bò, lợn. Nhà hàng gây ấn tượng qua cách chào mời món thịt nướng. Những lưỡi gươm dài sáng bóng xuyên qua những khổ thịt nướng nóng bỏng và chảy mỡ được đưa đến từng bàn xẻo từng lát, do đầu bếp đầu đội mũ trắng đi mời chào và chia cho thực khách. Sen Hà Nội có một dãy gồm các cô gái mặc kiểu thôn dã bán các món chả cá, bánh cuốn, phở, bún thang. Thức ăn dân tộc này khá hấp dẫn, nhất là món bánh cuốn. Bánh cuốn nóng nhân thịt, mộc nhĩ, trên đĩa có mấy nhánh mùi thơm cũng là thức ăn dân tộc được ưa thích. Không kể đồ uống, quán Sen tính mỗi suất khoảng hai đến ba trăm nghìn.


Người Hà Nội ngày nay cũng nhiều tiền, ai khổ thì cứ khổ, ai sung sướng thì cứ sung sướng. Hai khách sạn Sofitel Plaza và Sofitel Metropole có tiếng về nhiều mặt và được xếp trong mười thương hiệu có hạng của loại năm sao. Tôi đã có dịp cùng nhà văn Tô Hoài ăn trưa ở khách sạn Metropole với phương thức chọn một trong ba món ăn chính như cá hồi sốt, cua nhồi thịt, nấm hương hoặc thịt bò bít tết của Úc. Ngoài ra ăn tự do như phở, sốt vang, súp, rồi tôm luộc, cua… Thức ăn nhiều nhưng không khoái khẩu. Ăn tự chọn có ưu thế thỏa mãn nhiều thị hiếu. Các cửa hàng Ngọc Mai, Hồng Mai phố Lê Ngọc Hân có từ 40 – 50 loại thức ăn từ gà, lợn, bò, cừu nướng, mực ống, tôm, ghẹ, ốc luộc, đến các loại súp hải sản, súp gà hầm sâm, các món xào, rồi cá hồi, cá ngừ sống… Nếu có một dạ dày khổng lồ thì ăn uống mới thỏa.


Một thực khách có kinh nghiệm lại nhận xét: “Ăn theo cách chọn món tưởng là ngon nhưng không bằng dạng chuyên đề. Ngồi một chỗ không phải chạy đi chạy lại, thức ăn có trọng điểm”.Một con ba ba cỡ hai cân cắt tiết tại bàn, hòa vào rượu uống nóng. Sau chén rượu hồng là chén rượu xanh hòa từ mật con vật quý.Ba ba, dê rừng được xem là đặc sản quý, thịt thơm ngon và kích động, dễ đánh thức dậy những tiềm năng còn ngủ kỹ trong cơ thể và có thể tạo nên những cơn chấn động bất ngờ. Nói mà sợ nhưng thực khách vẫn đông. Những con vật bình thường như gà, lợn người ăn đã quen miệng dễ thấy nhàm chán, đơn điệu. Đã gà phải có gà rừng, gà đồi, gà chọi, gà tre, gà Hơ-mông. Đã là lợn phải là lợn mán, lợn rừng, lợn còi, lợn lửng mới lạ miệng. Còn với bò thực khách gọi món đuôi bò hầm thuốc bắc và nhất là món ngầu pín. Ăn gì bổ nấy, ngầu pín có chất bổ dưỡng cao. Về bò thì quá quen thuộc với bò sốt vang, bò bít tết, bò nướng trên bếp điện. Bít tết bò cũng thú vị nhưng cầm dao con, dĩa để cắt từng miếng cũng trở thành đơn điệu, phải rủ nhau đến chiến trường thích hợp hơn là món bò tùng xẻo. Đông đúc, đô hội, với dao sắc, thực khách có thể tự ý xẻo miếng ngon của con vật như con vật trong lễ tế thần và uống rượu nặng cho phù hợp.Quán bò tùng xẻo đông người bữa ăn hơi hoang dã nhưng thích thú.Hà Nội có những quán ăn chế biến thịt cá sấu, đà điểu, kỳ đà, tê tê, cầy hương, nhím. Kinh Thánh có răn dạy là không nên ăn những con vật da trơn, mình đầy bùn đất. Lời răn dạy trong sách là thế về những con vật xấu xí nhưng ẩm thực hiện đại lại xem chúng thuộc loại đặc sản rất được ưa chuộng. Chuyện ẩm thực còn mở rộng ra thức ăn hoang dã như trăn, rắn, chuột đồng. Chỉ nói loài rắn đã có một làng Lệ Mật chuyên kinh doanh các món khoái khẩu về rắn. Một lần bạn bè rủ tôi sang làng Lệ Mật. Đến một cửa hàng đông khách nhìn những con rắn trong chuồng nhô ra há miệng, phun nước dọa người mà đã thấy ngao ngán. Chủ nhà cho biết thực đơn có bảy món có rượu hồng pha tiết rắn và rượu xanh pha mật rắn. Anh lái xe dặn nhà hàng cho một đĩa tim rắn. Một lúc họ mang lên bốn đĩa nhỏ với bốn quả tim con con, màu hồng xinh xắn vẫn đập đều đều. Thật kì lạ cho sức sống của trái tim rắn. Anh Minh lái xe nhìn ngắm và sau lấy hai ngón tay nhón từng quả, đặt vào lưỡi và ngậm miệng lại, anh nhắm mắt nghe nhịp đập của con tim nho nhỏ trong miệng và cuối cùng chiêu một cốc bia cho trôi vào trong. Lúc này trong bụng có năm quả tim, một trái tim người và bốn tim con rắn, có lẽ vẫn còn đập đều đều.


Bữa ăn chuyên đề ngoài món ba ba rang muối, ba ba nấu chuối còn phải có món cá có chất lượng. Một con cá trắm hoặc cá diêu hồng khoảng hai cân cho ba người. Cá cắt từng lát tẩm gia vị nướng trên bếp than. Lớp bên ngoài hơi khô vàng là được. Thức nhắm đủ, rượu ngon càng ngồi lâu càng thấy đắm đuối dễ chịu.“Rượu nồng, dê béo, gái tơ”, người xưa biết cách hư hỏng, bây giờ lớp hậu sinh liệu có chịu thua bậc tiền bối? Cũng may là Hà Nội chưa phát triển các cửa hàng ăn sâu bọ như châu chấu, bọ xít, dế, cào cào, ong dại, kiến…


Tuy nhiên phải kể đến món đặc sản thịt cầy. Nhiều tên gọi cho món ăn đặc sản này thịt cầy tơ, hươu thềm, sâm thú, cờ tây là món ăn khoái khẩu. Vào những năm cuối thể kỷ XX, Hà Nội rộ lên phong trào ăn thịt cầy. Khu vực Nghi Tàm, Quảng Bá phía bờ sông mọc lên mấy chục hàng thịt chó. Nhà sàn thoáng mát, rộng rãi, ngồi trên chiếu trải thoải mái, có chỗ ngồi cho hàng trăm khách, thậm chí say khướt có thể nằm lăn ra ngủ. Nhiều nhà hàng nổi tiếng như nhà hàng Anh Tú, Hồ Kiểng. Hoạt động kinh doanh có bài bản, chó được đưa về từ các tỉnh loại khoảng trên dưới hai chục cân, còn tơ non. Việc chế biến thường quy về cách truyền thống thịt chó nướng, rồi chó, rượu mận, thịt luộc và đặc sắc là món chân chó hầm. Món này thường hết nhanh, gặm một cái chân chó có cả phần trên vừa thơm ngậy, vừa mềm, vừa dai, dễ hợp với mọi người. Các hàng thịt chó thường đông khách, ngồi ăn theo kiểu bình đẳng, không có mâm trên, mâm dưới. Vừa ăn vừa uống vừa nói xô bồ ồn ào. Một lần tôi đi với mấy bạn ở Viện Văn lên quán Anh Tú. Đám khách bên cạnh ồn ào, thậm chí to tiếng với nhau.Tôi buột miệng nói “Cứ như Chí Phèo say rượu”, vừa buông câu nói ở đám đông bên cạnh có một người mặt đỏ hỏi: “Ai, ai mà nói như Chí Phèo?”. Tôi lo lắng chuyện nhỏ thành to rồi. Nhưng may anh ta hỏi tiếp câu “Nam Cao cũng ở đây à?” tôi mừng và người hạ nhiệt. Dạo này cán bộ nữ cũng đi ăn thịt chó khá đông. Trong các văn nghệ sĩ người nghiện thịt chó nhất là Xuân Diệu. Ông nhận xét thịt chó đậm, phải ăn thịt chó luộc mới thưởng thức hết hương vị. Ông thường ra chợ một hàng quen để dành cho ông hai ba lạng. Ông sắp xếp phần ông thưởng thức, phần dành cho Huy Cận. Một lần chị Phong Lan ở Viện Văn học đến thăm ông và thấy ông đang bưng bát thịt chó và chọn lọc. Chị hỏi: “Anh đang làm gì đấy?” – Mình đang soạn thịt. Gần đây phong trào lắng hẳn xuống, thực khách ngại thịt chó vì sợ bị bệnh gút.


Gần đây lại có sự thâm nhập của các món ăn Nhật và Hàn Quốc. Quốc đảo Nhật Bản đưa cả món ăn rong rêu vào bữa ăn. Hà Nội có nhiều cửa hàng Nhật Bản, tiêu biểu là cửa hàng Nhật Bản tại khách sạn Nikko. Lên tầng 2 đi vào những căn phòng ngăn vách gỗ, bàn ghế theo kiểu Nhật. Các món ăn thường đem từ Nhật sang, khai vị bằng loại rượu Sa-kê uống nóng hoặc ướp lạnh. Các món được chia xuất trên các đĩa nhỏ, tiêu biểu là cá ngừ, cá hồi sống, cá tuyết chiên, bít tết thịt bò Kobe, kết thúc là món mi-sô nấu với hải sản rồi cốc kem xanh hương vị Nhật Bản. Khẩu vị lạ, món ăn có thứ vào, có thứ ngang ngang nhưng giá tiền cực đắt. Trên truyền hình đã có lần giới thiệu món bò Kobe của Nhật. Bò được nuôi bằng chất liệu quý: sữa, cỏ non, sâm. Thực khách ấn mũi dao, miếng thịt thơm hơi xẹp xuống rồi cắt nhỏ, nước mỡ dân dấn chảy ra và dùng dĩa ăn ngon lành. Có người hỏi giá có đắt không, người ăn chỉ nói “Có thưởng thức mới biết là có đắt hay không”. Thịt bò Kobe ở Nikko Việt Nam không hơn nhiều thịt bò bản địa. Mỡ nhiều và có chỗ đường gân tụ lại nên hơi cứng, nuốt không trôi. Mỗi suất tính ra cũng phải hàng trăm đô.


Quán ăn Nhật nổi tiếng ở tầng 16 khu nhà Ruby Plaza số 44 Lê Ngọc Hân cũng đủ loại bia rượu và thức ăn Nhật ngon. Mỗi bàn có chỗ nướng điện. Khách lấy thức ăn, thịt bò, gà, lợn, rau quả nướng tại chỗ, khách vừa nướng vừa chuyền cho nhau, mời nhau vui vẻ. Tiếp theo có món lẩu hải sản, có thể bỏ vào nồi lẩu các thứ như món thắng cố miền núi, nào tôm, cua, ghẹ, thịt bò, thịt lợn, đầu cá hồi, các loại nấm và rau rồi húp xì xụp, ngon lành. Phải kể đến bát nước Mi-sô mang phong vị Nhật. Mùi thơm ngon ngửi lâu thì thum thủm hương vị của nước tương, rêu.


Tôi lại nhớ đến món Pho-mát trong Sứ quán Pháp nhân một lần dự chiêu đãi ngày 14 tháng 7. Nhà thơ Huy Cận cầm tay tôi chỉ vào món Pho-mát và bảo: “Ông ăn đi, rất bổ, mấy chục phrăng một lạng”. Nước Pháp có mấy trăm loại Pho-mát, có từ điển về Pho-mát nên loại Pho-mát chiêu đãi chắc là chuẩn lắm. Tôi lấy một ít cho lên mũi và bị hắt hơi ra. Thì ra nước nào cũng có món ăn mùi vị thum thủm mà người bản địa ưa dùng như Mi-sô của Nhật, Pho-mát chua của Pháp và mắm tôm của Việt Nam.


Hà Nội đang tiếp nhận phong cách ẩm thực của nhiều nước, nhất là ẩm thực của các nước châu Á: Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan. Ẩm thực của nhiều vùng đất nước đang thâm nhập về thành phố. Có cửa hàng ăn xứ Huế, cháo lươn Nghệ An. Nghe nói trên đê sông Hồng còn có hàng ăn Tây Nguyên. Khách vào có mấy tiếng cồng chiêng chào đón và các sơn nữ tươi cười. Khi người ta có nhiều tiền sẽ tìm cách hưởng thụ, trong ăn chơi tìm cách ăn lạ.


Không chỉ ở những khách sạn lớn mà còn phổ biến ở những khách sạn nhỏ trong thành phố. Tập trung nhất là ở khu vực phố cổ. Hà Nội có sáu bảy trăm khách sạn to nhỏ, thì riêng khu phố cổ đã có một trăm bảy mươi khách sạn. Nếu ở khách sạn bốn năm sao phải hàng trăm đô một đêm thì ở đây chỉ vài chục đô. Mỗi khách sạn chỉ trên dưới chục phòng, đầy đủ tiện nghi, giá rẻ, gần gũi với phố phường, tiện mua sắm nhất là được sống trong không gian của Hà Nội cũ.


Cô Daria Mishukova nhà nghiên cứu Việt Nam học ở nhiều ngày ở khách sạn Kim Túc – 32 Đào Duy Từ và khen là dễ chịu: “Chỉ đi ra phố dạo khoảng trăm thước là em có thể mua sắm nhiều thứ, ăn đủ loại quà bánh và nghe mọi người chuyện trò vui tai lắm”.


Chị Philiminova nghiên cứu về Tự lực văn đoàn trong lần sang Hà Nội gần đây cũng ở một khách sạn nhỏ phố Lương Ngọc Quyến. Nhìn ngoài như một cửa hàng tạp hóa nhỏ nhưng bên trong khá rộng cho khách nước ngoài thuê. Chị Philiminova vui vẻ nói: “Chỉ hết 15 đô một ngày nhưng cũng đủ tiện nghi, có nước nóng lạnh, có điều hòa”.


Khách Tây mách nhau về khách sạn ở khu phố cổ. Một khách du lịch cho rằng khu phố cổ có sức sống nhất Hà Nội, suốt trong 24 giờ ngày đêm. Không bị lạc và có lạc vào đâu cũng thú vị và lại về được chỗ cũ. Được ưa thích là những khách sạn nhỏ, nhà hàng chuyên doanh về thức ăn Việt. Nếu thích hải sản có thể đến các quán ăn về cá, cá lăng, cá giò, cá diêu hồng, cá trắm ở khu vực nhà hàng ngoài đê sông Hồng.  Nếu thích các loại thú rừng, chim rừng thì phải đi xa hơn. Những quán ăn loại này thường độc đáo và đồng bộ. Từ thức ăn lạ phải có các loại rượu ngâm rắn độc, bìm bịp, cá ngựa, các bộ phận sinh dục của dê rừng, ngựa bạch, lợn lòi.


Thức ăn Việt vẫn ngon lành, quen thuộc từ lâu đời, xưa theo lối nấu truyền thống, nay thì hiện đại hơn. Người Hà Nội thích ăn thanh lịch, chọn lọc, nhiều màu sắc, ăn bằng tai, bằng mắt, bằng hương vị và quan trọng là ngon mà hợp túi tiền.


Nói về chuyện ăn ngon thì vô cùng. Báo chí thường khen Pháp và Đức là hai loại bếp ngon của Châu Âu. Và Châu Á nổi bật là bếp Trung Quốc. Gần đây lại có ý kiến xem bếp Nhật là nơi ngon nhất. Chuyện ăn uống chẳng nên trạnh luận, tùy thời, tùy khẩu vị.


Ở Hà Nội có một nhà hàng bậc trung đặt tên là Ngon, kinh doanh đủ các mặt hàng từ thức nhắm ngon đến các loại phở, bún, các loại chè…Mỗi tiểu chủ chịu trách nhiệm quầy bán của mình và cố gắng thu hút khách hàng bằng kinh nghiệm riêng. Cứ thế không còn hiện tượng cha chung không ai khóc mà ai cũng là chủ trong khu vực bán quà bánh của mình. Quán Ngon được các bà, các chị, các em gái rất thích thú với những thức ăn hợp khẩu vị và túi tiền. Chỉ vài chục nghìn có thể vào quán Ngon ăn bát bún thang, đĩa bánh cuốn và một cốc chè. Nhiều vị giác cùng một lúc được thỏa mãn, cay chua, mặn ngọt. Gọi là quán Ngon cũng đúng với thương hiệu.


Phải thừa nhận rằng ẩm thực Việt Nam có phong cách riêng độc đáo với nhiều món ngon lành. Người phụ nữ Việt khéo tay, không ngừng chế biến thức ăn và tạo ra qua năm tháng hàng trăm loại món. Bếp trưởng khách sạn Sofitel – ông Tây Cornou cũng viết riêng một cuốn sách về thức ăn Việt. Ông lấy vợ Việt, yêu ẩm thực Việt. Trong nhà ông có mấy chục loại nước chấm, nước mắm. Ông cho rằng thức ăn ngon nhất của Hà Nội là quà bánh bán rong và nước mắm là linh hồn của ẩm thực Việt. Quà bán rong là loại thức ăn di động phần nhiều phục vụ cho những cửa hàng trên phố. Còn nói về nước mắm, ông Cornou là người sành có thể chỉ ra những ưu điểm của nước mắm. Nước mắm tự nó không phải là một thứ thức ăn mà là loại thực phẩm “mình vì mọi người” giúp các loại thức ăn khác tôn vinh thêm vẻ đẹp. Thịt lợn luộc chấm nước mắm ngon, bánh cuốn nóng chấm nước mắm ngon, thật đậm đà, thú vị. Nước mắm dùng để pha chế các loại nước chấm. Tài nghệ của các bà các chị thường được thử thách qua món nước chấm. Pha nước chấm hỏng làm hỏng bữa ăn ngon. Nước mắm ngon là thành phần chủ chốt của gia vị nước chấm. Thực ra muốn chấm thường phải dùng đũa. Ở nhiều nước phương Tây họ không có thói quen chấm thức ăn vào bát nước chấm. Một lần trong một cửa hiệu của một Việt kiều ở New York, chủ hiệu sai bưng cho chúng tôi những đĩa bánh cuốn đã đổ sẵn nước chấm. Tôi hỏi ,ông chủ bảo tụi Mỹ nó lười chấm, cứ đổ sẵn vào cho tiện với họ. Giáo sư Niculin người Nga chuyên văn học Việt Nam rất thích các loại nước chấm Việt nhưng ông cũng lúng túng khi chấm thức ăn vào bát nước chấm.


Nước chấm chính là gia vị tổng hợp. Bữa cơm Việt thường có nhiều gia vị. Không có gia vị, thức ăn kém hẳn sự thú vị. Không phải ngẫu nhiên mà trong vườn quê bao giờ cũng có một góc dành cho các loại cây hương vị và gia vị - rau răm, rau húng, lá chanh, hành, tỏi, gừng, ớt. Ca dao đã từng khéo ghép từng cặp rất ăn ý:


Con gà cục tác lá chanh


Con lợn ủn ỉn mua hành cho tôi


Con chó khóc đứng khóc ngồi


Mẹ ơi mẹ hỡi mua tôi đồng riềng


Con trâu ngó ngó nghiêng nghiêng


Mình đã có riềng để tỏi phần tôi.


Thực ra chuyện tuy nhỏ nhưng cũng là một sự tìm kiếm phát minh của người xưa. Ai là người chế ra món mắm tôm có hai cực đối lập giữa hương và vị. Và có lần mắm tôm oan ức khi bị sỉ nhục là nguồn gốc của thổ tả. Nhưng rồi mắm tôm sớm được khôi phục danh dự và càng được ưa chuộng hơn.


Chả cá mà thiếu hương vị cà cuống là thiếu đi phần hồn của đặc sản. Nước chấm bánh cuốn có một hai giọt cà cuống sẽ dậy hương vị hấp dẫn người ăn. Đã đến lúc phải khôi phục lại các món ăn dân tộc, đúng với chuẩn mực và giá trị của nó.


Một số nhà ngoại giao khi nói tới văn hóa Việt thường nói tới tà áo dài, nón bài thơ và phở. Kinh doanh phở thường phải gắn với truyền thống, cách tổ chức, kinh nghiệm gia đình như các hiệu phở nổi tiếng: Tư lùn và con cái, như phở Ấu Triệu rồi phở Cồ, phở Thìn,...Trong những năm gần đây phở tăng giá quá nhanh từ năm bảy nghìn lên mười nghìn rồi mười lăm, hai mươi, ba mươi nghìn. Thêm một hai miếng phao câu, đùi gà lên tới bốn năm mươi nghìn. Bốn mươi nghìn có thể mua được 2 nải chuối tiêu ngon hoặc nửa yến gạo. Ăn xong bát phở nói như nhân vật của một truyện ngắn Nam Cao “đái xòe một cái là hết”. So sánh thì khập khiễng nhưng có người cho rằng phở Hà Nội thua phở Sài Gòn, phở trong nước thua phở Việt ở nước ngoài như phở ở Mỹ, Pháp. Điều này cũng dễ hiểu. Mỹ là xứ sở nhiều bò, có nhiều trang trại nuôi hàng vạn con bò. Thịt nhiều, xương nhiều, phở có lợi thế. Song nhiều lúc phải dùng bánh khô, thiếu hẳn sự mềm mại. Thực ra chuyện hơn kém là tương đối và dễ sửa chữa. Hà Nội vốn là đất gốc của phở phải tỏ ra xứng đáng. Cho đến nay, phở vẫn là thức ăn truyền thống được ưa thích. Trong các buổi chiêu đãi khách nước ngoài thường có món phở. Gần đây, trong ngày mồng 4.4.2016, ở Nhật nhiều vùng xem là ngày phở Việt Nam, món ăn được người Nhật ưa thích. Trong tiếng Anh, số 4 gọi là “four”, âm thanh cũng gần giống như chữ “phở”, đó cũng là một cách để ghi nhớ. Một tờ báo Mỹ nhận xét về ẩm thực cho rằng: Phở là một trong mười món ăn ngon nhất thế giới vừa ngon miệng, vừa tốt cho sức khỏe.


Thêm một món ăn khác cần được khôi phục là bánh cuốn. Một chuyên gia ẩm thực nước ngoài cho rằng bánh cuốn Việt Nam là món ăn ngon hơn phở. Cũng cần ghi nhận nhận xét này. Thực ra nước nào cũng có bánh cuốn theo nghĩa có vỏ bánh và cuốn lại. Ở khách sạn Sofitel Plaza có một chỗ để khách tự làm bánh cuốn. Trên mặt bằng kim loại của chiếc máy, khách có thể dùng bột mỳ làm vỏ bánh mềm mại rồi chọn các thứ nhân sô-cô-la, mứt, hoa quả cắt nhỏ hoặc loại nhân mặn cuốn lại thành bánh. Bánh không phải chấm, cứ tự cầm và thưởng thức sản phẩm của mình. Lại nói thêm về chuyện bánh cuốn. Có một tỉnh miền Bắc là Thị xã Hà Nam nổi tiếng về bánh cuốn chả. Tôi đã có dịp thưởng thức. Buổi sáng trước giờ làm việc người đến hiệu ngồi chật phòng ăn. Hai cô gái giơ cao những tấm giống bánh phở khổ rộng và dùng kéo cắt nhanh xuống các đĩa. Khách sẽ dùng bánh đó chấm vào bát nước chấm có chả hoặc thịt nướng thả bên trong. Có cách tân khác với bánh cuốn truyền thống. Cứ thế một ngày kia bánh cuốn sẽ ra sao? Bánh cuốn phải có vỏ bọc mềm mại như bánh cuốn Thanh Trì, phải có nhân thịt nạc xào mộc nhĩ, bánh cuốn phải ăn nóng với nước chấm và có nước chấm ngon với đôi nhánh mùi thơm. Đặc biệt là có thêm một vài giọt cà cuống.


Lại thêm nữa phải khôi phục món chả nem đặc sản sang trọng của Hà Nội. Chả nem là loại thức ăn dễ bị lẫn lộn. Có thể vẫn là hình thù chiếc nem cuốn được đem đi rán giòn nhưng bên trong cái vỏ lại rất khác nhau – nem hải sản, nem chay của chùa, nem tam giác, nem vuông, không nên biến thực phẩm thành hình thù dị dạng để câu khách. Nem rán Hà Nội phải có nhân thịt nạc chọn lọc băm trộn với trứng, cua bể, mộc nhĩ, hành tây. Vỏ nem mềm mà giòn tỏa hương. Đặc biệt là nước chấm phải có thêm những lát cắt su hào, cà rốt hoa mỹ để tăng phần hấp dẫn. Nước chấm cũng chiếm vị trí quan trọng trong món bún chả. Cái gốc của bún chả là thịt lợn nướng có loại để từng miếng, có loại băm viên. Thịt thơm ngon, bún mềm, nước chấm ngọt ngọt, cay cay, chua chua, mằn mặn vừa ăn vừa xuýt xoa. Trong dịp thăm Việt Nam, tổng thống B.Obama được mời ăn bún chả ở phố Lê Văn Hưu. Trong câu chuyện ông nhận xét bún chả “ăn ngon miệng” và còn mua về mấy xuất.


Những thức ăn của nhiều miền đất nước, đặc biệt của Hà Nội, Huế, Sài Gòn là đáng trân trọng và cần được quảng bá trong và ngoài nước. Một món kim chi của Hàn Quốc mà thực chất là cải thảo muối có thêm gia vị, hương vị; một món susi của Nhật Bản mà thực chất là viên cơm nén có nhân nhưng được xem là những mỹ vị, gây ấn tượng trong dàn ẩm thực của một quốc gia. Món xúc xích Đức không biết ngon đến độ nào mà nhà nước Đức tổ chức một Bảo tàng xúc xích tốn đến 6,7 triệu đô. Bảo tàng này chỉ dành cho thị giác mà vị giác không được tham dự. Chúng ta có nhiều thức ăn ngon như phở, bánh cuốn, chả nem, chả cá thuộc loại đầu bảng có thể tôn vinh và quảng bá trong và ngoài nước. Ẩm thực Hà Nội tiêu biểu nhưng không bao quát được thức ăn ngon của nhiều vùng. Chỉ nói về cá, ngoài các loại có thương hiệu như cá mú, cá diêu hồng, cá trắm, cá vược, mỗi tỉnh cũng có loại cá riêng như cá anh vũ ở Việt Trì, cá lóc Cà Mau, cá dìa ở Huế, cá bớp ở Thanh Hóa, cá mát ở Nghệ An, cá mặt quỷ ở Nha Trang và cho đến cá cơm cũng nhiều dư vị.


Ẩm thực Việt Nam được bạn bè ghi nhận và đánh giá cao. Những người sành ăn nước ngoài khen thức ăn Việt hiền, không cay chua như thức ăn Thái, không quá nhiều đường, dầu mỡ như món ăn Trung Quốc hoặc có thực chất nhưng còn đơn điệu như thức ăn Mỹ. Còn thiếu thương hiệu cho thức ăn Việt Nam thực chất và những vị ngon đã có cần phải tìm đến tên gọi, đến thương hiệu đẹp. Mỗi dân tộc, thường có những thức ăn ngon nổi tiếng thế giới, cũng có trường hợp những bữa tiệc lớn thường tập trung món ngon của nhiều quốc gia như bữa tiệc chiêu đãi giải điện ảnh Oscar của Mỹ. Những thực khách thưởng thức các món ăn sang trọng như thịt bò Kôbê của Nhật, cua hoàng đến Alaska, cá hồi của Mỹ,rượu vang nổi tiếng của Pháp, Chi Lê, Ý. Chuyện ẩm thực mở rộng ra là chuyện nói không cùng, mới lạ, kỳ lạ,....


Đã in trong số Tết – Báo Giáo dục và thời đại – năm 2008


(còn tiếp)


Nguồn: Hà Nội – Gặp gỡ với nụ cười. Tập Bút ký của GS Hà Minh Đức. NXB Công an nhân dân, 2016. Tác giả gửi www.trieuxuan.info


 


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Phùng Quán: "Có những lúc ngã lòng/ Tôi vịn câu thơ mà đứng dậy" - Trần Thanh Phương 21.09.2018
Bội Trâm – Người đàn bà bất chấp tai ương - Ngô Minh 19.09.2018
Một chuyến làm báo ở Tây Nguyên - Thanh La 19.09.2018
Gián điệp quốc tế - Vũ Thư Hiên 07.09.2018
Ba ngôi mộ không có nấm mồ - Hà Đình Nguyên 06.09.2018
Chiến tranh Việt Nam và trò chơi nguy hiểm của Phạm Xuân Ẩn - Nhiều tác giả 05.09.2018
Hồ Chí Minh - Nguyễn Đăng Mạnh 05.09.2018
Nguyễn Khải - Nguyễn Đăng Mạnh 05.09.2018
Nguyên Ngọc - Nguyễn Đăng Mạnh 05.09.2018
Syria, bóng đá & chiến tranh - Nguyễn Thu Trân 29.08.2018
xem thêm »