tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 28893237
Tiểu thuyết
13.08.2018
Ngũ Hà Miên
Bão


Chàng thắc mắc mãi, một kẻ thích ăn nhậu như ông làm sao chịu được cảnh uống nước lã, rã việc đời. Ông khui một chai bia, rót vào ba cái ly, mời chàng và chú Út:


Moa quen giải khát bằng thứ này. Chừ moa về đây, đám đệ tử công chức cũ đổi thay hết, chỉ còn cánh thương gia hồi đó lên xuống moa để chung sức làm ngôi chùa Tỉnh Hội. Mười bốn năm rồi.


Ông trầm ngâm hồi tưởng lại thời vàng son của mình, đôi mắt mơ màng. Rồi nhìn chàng, ông tiếp:


Chính họ gợi ý cho moa ra đây. Không ngờ gặp toa, mừng quá. Toa dạy học lâu năm có giới trí thức học sinh, moa được đám thương gia ủng hộ, hai anh em mình kết hợp... hà hà.


Ông cười tít đuôi mắt, làm rung rung cái cần cổ nung núc những thịt với cái ngấn thật to. Nếu bà Nhu không hiềm khích với ông Ngô Đình Cẩn, người em út chồng mình thì Dược hẳn đã lên lon đại tá, vững như bàn thạch trên ngôi Tỉnh trưởng Long An để đến đảo chính 1963 lại được mạnh miệng hoan hô cuộc cách mạng của Big Minh và André Đôn. Dù sao, ông vẫn gợi cho ta lòng thương hại bởi vẻ tồi tàn, thất thời và không kiêu ngạo của mình.


Còn đám thương gia Quảng Ngãi, khi ủng hộ ông, họ đã không học mà biết nghiệm đúng lời ngự phê của Gia Long về vùng đất này: Quảng Ngãi đa nghĩa nhân (đất Quảng Ngãi có nhiều người nhân nghĩa). Cái chức Dân biểu đó, đứa nào làm thì cũng vậy, nay đem cho Dược, trả cái ơn xưa đã giúp họ làm giàu. Dược không ngờ rằng, hơn mười năm trước, mình đã như Mạnh Thường Quân về cái ấp Tiết bên cầu Trà Khúc này mà thiêu văn tự. Chàng bắt tay Dược thật chặt.


Tuy nhiên, về đến nhà, chú Út nói cái bụng anh ta trướng lên như cái bong bóng tròn lẳn, trông xấu quá. Theo chú, anh này tướng mạng không ra gì, thiếu gì kẻ mập, nhưng sao người ta vẫn dễ coi hơn?


Chàng đem đơn ứng cử nộp ở Tòa án. Hội đồng bầu cử địa phương gồm: Chánh án, Cử nhân Luật, Chủ tọa Hội đồng và hai thành viên khác là Phó tỉnh trưởng Hành chánh, Cử nhân Luật thừa ủy nhiệm Tỉnh trưởng và Chủ tịch Hội đồng Nhân dân tỉnh. Trưởng ty Nội An là một cựu đảng viên Cần lao, thời Diệm là thuyết trình viên, không bỏ phiếu nhưng rất quan trọng vì nắm những hồ sơ mật, đặc biệt về an ninh.


Đến ngày khóa sổ, số ứng cử viên lên đến hơn bốn chục! Nhiều người là học trò ruột của chàng, có những anh em bầu bạn thân thiết với chàng đã hơn nửa đời người. Tất cả đều bị cuộc đời trớ trêu đặt lên đường đua, mà mỗi kẻ phải chiến thắng bằng mọi giá, không cần biết tới những ai đã cùng chia sẻ với mình một phần quá khứ. Chàng tự nghĩ có lẽ mình không nên được sinh ra để phải sống tàn nhẫn như thế.


Chàng nhớ hôm mới về, Tế một người bạn thân cùng ra ứng cử, mời chàng về nhà ngủ. Sáng dậy họ ăn sớm mai bằng gạo tám Thi Phổ với nguyên một con cá lóc kho, mấy lát khế chua và chuối chát, trên lưng rải mấy cọng ngò và hành tiêu. Ngần ấy cay, mặn khiến chàng nhớ và nghĩ tới lòng chăm chút thương con của mẹ biết là dường nào. Thấy mắt chàng đượm buồn, Tế hỏi vì sao. Chàng khai thật.


Tế nói:Ông tình cảm vậy thì làm chính trị sao được. Nhưng bà bác nhà đúng là mẫu người phụ nữ của truyền thống Việt Nam. Tôi cùng tuổi và cùng lớp với anh kề ông, anh mười Nha. Hồi nhỏ, tôi với ảnh như bóng với hình, được bác thương như con đẻ. Từ tinh mơ, đứa nào cũng quần đùi chân đất, mình trần trùng trục, áo lá vắt vai, hú nhau qua rào, đi tắm sông. Bao giờ bác cũng dặn: Coi chừng lỗ nước xoáy trên bến Chùa nghe con. Nhà mày phải tránh cái huông sông suối, nhớ đó! Đúng là:


Ra đi mẹ có dặn dò


Sông sâu chớ  lội, đò đầy chớ qua


Chuyến này tôi với ông hợp tác nhau ứng cử, hai anh em mình mí nhau xem sao. Sao trên trời: Cả hai chia thành hai phe, Tế làm Dân ý vụ, nắm tình hình hoạt động của Cộng sản để nhổ cỏ tận gốc. Chàng tự thấy mình thân Cộng ngày đêm biểu tình chống Mỹ. Sau nầy, Tế đã di tản trước 30/4 sang Mỹ, nghe nói nhớ quê, chiều nào cũng đau đáu nhìn về những chòm mây bạc. Riết rồi tóc anh cũng nhuốm theo màu mây và anh mất bên ấy khi mới ngoài năm mươi. Đang khi không thấy vui đó, chàng nhận được cùng một lúc hai tin cực xấu:


Ở Sài Gòn, do tình hình chắc chắn Thiệu sẽ gian lận, tướng Dương Văn Minh và người đứng phó của ông, bác sĩ Hồ Văn Minh đã rút tên. Thế là ông Thiệu một mình độc diễn. Ông Minh không ứng cử, báo Gió Nam không còn hi vọng vào phe ta và nguồn tài trợ hứa hẹn đó nữa, lại bị tịch thu liên miên, phải tự kết liễu cuộc sống chưa dày tuổi tôi của mình: báo Gió Nam đình bản!


Thứ hai: Tin từ Hội đồng Bầu cử địa phương loan báo. Đơn xin ứng cử của chàng bị bác. Lí do: Chàng từng đoạt trung lập thân Cộng. Bằng chứng: Trong một bức thư gửi cho bạn là Nguyễn Thái Sơn tại Pháp, chàng đã khuyên anh này nên tham gia vào Mặt trận Cứu nguy Dân tộc của tướng Trần Văn Đôn. Tổ chức này đã bị Chính phủ Việt Nam Cộng hòa kết tội trung lập thân Cộng.


Tất cả những ứng cử viên khác đều đón nhận sự việc trên như một may mắn bất ngờ vì ai cũng có thêm chút nhỏ hi vọng thay thế vào chỗ trống của chàng. Thượng sĩ Đợi, một học trò cũ ở Trần Quốc Tuấn nổ bia ăn mừng, mời chàng đến dùng cơm với lời lẽ xót xa:


Tụi nó (?) chơi thầy như thế không cao thượng chút nào. Em biết ông Vương Quốc Cường- Chánh án không có bàn tay trong tội ác này đâu?


Chàng biết cái thằng học trò này láu, nhưng vẫn ừ à cho qua chuyện và cảm ơn nó, trong bụng rối bời, chẳng buồn ăn uống gì, tìm cách rút lui sớm. Every cloud has a silver lightning. Bị coi là Cộng sản, chàng có thêm được nhiều ủng hộ từ phía dân quê và Phật giáo.


Bộ Tham mưu của chàng họp cấp tốc tại trụ sở 22 Trần Hưng Đạo, Quảng Ngãi. Đông lắm, những người không được mời cũng đến vì tự cho việc chàng bị cấm ứng cử là đòn đánh vào mặt những trí thức Quảng Ngãi, là tát vào một bên má giới Phật tử địa phương. Trong căn phòng chật chội, không đủ ghế thì ngồi ngay lên bộ phản, thậm chí có kẻ chồm hổm dưới đất. Hai bình vò to nước trà sẵn sàng phục vụ những vị đại ngưu ẩm cỡ thầy Tạ Đình Cung ngày nào ở Quảng Trị.


Đủ mặt: Hiến, Thành, Sa, Ngữ, Minh nhà thơ, Bảo ca sĩ, Tùng Minh nhạc, Cung xây dựng kiêm họa sĩ, nhóm Quảng Ngãi nghĩa thục, Cảnh, em bà con Võ Trạng, Phạm Viết Tùng- Quốc dân đảng, Bút - Cao đài, Thiên- Công giáo, Na- Tin lành, nhiều nhất là Phật giáo... nhưng chưa đủ để được kể là... bá đạo theo như mong ước của chàng.


Hiến tuyên bố lí do và điều khiển phiên họp. Anh chàng này là học trò ruột, tự cho là được thầy truyền tâm ấn, Cử nhân Cao học Triết, năm 1967 hoạt động Thanh niên Nhân dân Cách mạng đã từng được ông Mười Thôn (sau này là Giám đốc Sở Tư pháp Sài Gòn) dẫn xuống tận Đồng Tháp Mười cho ông Mai Chí Thọ kết nạp Đảng và sau đó bị bắt giam ở Tân Hiệp. Được trả tự do, Hiến về quê dạy học và đang gầy sòng trở lại trong đám môn sinh của mình. Tất cả đề nghị phải khiếu nại cho có quyền ứng cử đã, rồi hãy hạ hồi phân giải.


Lí do khiếu nại: Nếu cho là vì dính với ông Đôn, trung lập và thân Cộng, thì tại sao không bác đơn chính ông Đôn, cũng ra ứng cử ở đây? Ngần ấy cái miệng la lên: Chí lý! Ồn ào như vỡ chợ. Diễn giả Hiến được bầu bạn tán thưởng nồng nhiệt và chiêu đãi ngay đúng với sở thích: Một chầu bia mút chỉ cho vừa tầm với những Lỗ Chí Thâm của Quảng Ngãi và luật lệ nghiêm ngặt là không được đi đái suốt buổi nhậu.


Sư thầy Hồng Ân đã âm thầm theo dõi các sự kiện trên với tất cả tấm lòng. Thầy rất lo lắng về việc chàng bị bác đơn ứng cử. Nhân có đệ tử Tâm Quang của ông đang đi cứu trợ nạn nhân chiến tranh vùng Dung Quất, sư bảo Tâm Quang phải về Sài Gòn gấp để nhờ người bạn của chàng là bác sĩ Trần Ngươn Phiêu- Tổng trưởng Xã hội nói với ông Trần Văn Linh, Chủ tịch Tối cao pháp viện, cơ quan cao nhất bấy giờ giải quyết các khiếu nại loại này. Một phó bản đơn đó được sư Thích Tâm Quang cầm tay bay đi gấp. Tất nhiên, chàng gọi điện cho ông Trần Văn Đôn, đề nghị ông cũng phải có trách nhiệm trong vấn đề này.


Ông Linh có quen biết với chàng nhân một bữa cơm tại nhà anh Phiêu và chàng cũng từng giúp ông điều chỉnh một khái niệm về giác ngộ cho đúng với tinh thần Phật giáo trong một bài diễn văn ông chuẩn bị đọc tại Đại học Cao đài Tây Ninh vài năm trước. Ông Linh có vẻ trọng nể cái kiến văn của chàng, thỉnh thoảng đi nước ngoài về, có gói trà ngon, ông hay cho tài xế mang biếu chàng. Tự trọng, chàng không muốn trực tiếp nhờ ông. Chàng nghĩ: Nếu Phiêu và Đôn đụng tới thì chính quyền và Quốc dân đảng địa phương không lấp liếm được và chàng phải có quyền ứng cử. Trần Văn Linh học Luật ở Pháp về, anh em bà con với Thiệu. Anh ấy chưa phải là nhân vật cộm trong số đối lập với chính quyền hiện nay mà chỉ là một giáo sư, tuy có tư tưởng cấp tiến nhưng con tin ở thiêng liêng, chỉ mong ước hòa bình và công bằng xã hội như bao trí thức khác, kể cả vợ tôi đang dạy Sinh ở trường Khoa học.


Hiện giờ đang hội đàm ở Paris, hai bên hòa hoãn, cũng không nên căng lắm với các thành phần này. Vả lại, dân trí thức như ảnh, dù có thân Cộng vẫn dễ chịu hơn. Anh Phiêu đã nói với ông Linh như vậy nên, theo luật và đúng nhiệm vụ của mình, Tối cao Pháp viện đã kịp thời bác bỏ việc bác đơn của địa phương.


Mọi người thở phào nhẹ nhõm nhưng chàng thì cảm thấy bao khó khăn chụp xuống đầu mình. Trước hết, phải có tiền, bằng xêm xêm giá trị căn nhà mình đang ở, nghĩa là non vài triệu, tài sản mà toàn gia nhà chàng phải làm lụng và góp nhặt suốt mười sáu năm dài từ 1955 đến nay. Nhìn quanh, các người khác, ai cũng giàu có hơn mình cả. Tới như Hối, cũng là chủ trường Tư thục Văn Hiến ở Sông Vệ. Dược thì quả có trắng tay, nhưng đám thương gia cá mập ở đây đã chọn làm con bài của mình và cam kết chịu mọi phí tổn. Còn bốn ứng cử viên vốn là cựu dân biểu, thì bốn năm qua họ đã gom được số vốn kha khá rồi, bằng các cuộc bí mật mua thăm bán phiếu ở hậu trường.


Dĩ nhiên chàng tự hiểu mình không thể nào sánh nổi với Trần Văn Đôn, Nguyễn Đức Tế... Thậm chí với Nguyễn Trọng Bối, một bạch diện thư sinh, học trò cũ của chàng, em ruột anh Phu, đang bị bắt lính, đang làm giáo sư Toán của Trường Võ bị Đà Lạt cũng tính dựa vào mối thân tình giữa gia đình và Thượng tọa Thiện Minh để tìm sự ủng hộ. Anh mong sớm rời bỏ bộ quân phục với hai đóa mai vàng trên cổ áo mà thời bấy giờ không mấy ai ham. Bà Quế, chị vợ anh Phu, đã ngoại tứ tuần vẫn còn nhan sắc và người chồng dễ sai bảo của mình đã đôn đáo gõ cửa khắp các nhà sư và đích thân về Quảng Ngãi vận động. Không nắm chắc sự ủng hộ từ phía Phật giáo, Bối đã xin rút đơn.


Chín người khác cùng hoàn cảnh cũng theo gương đó. Số ứng cử viên còn lại vẫn trên ba chục, chia cho năm ghế, tỉ lệ một chọi sáu, một con số đủ làm nản lòng những kẻ thiếu quyết tâm! Nhưng cái khó đối với chàng là, trong vị trí đối lập, chàng bị những hơn hai mươi đối thủ của chính quyền cùng Đảng phái chĩa mũi dùi vào. Và ngay trong đồng minh tạm thời của mình, Trần Văn Đôn và Mai Ngọc Dược, cũng đồng sàng dị mộng.


Không có gì khắc nghiệt hơn việc ứng cử trong một môi trường chính trị như thế. Tôn giáo của chàng không phải là một tôn giáo đúng nghĩa vì nó không tin hẳn vào một đấng Tạo hóa nào. Mỗi người có thể tự thắp đuốc lên mà đi. Ưu điểm về mặt Triết học đó lại là một khuyết điểm lớn về mặt tổ chức. Tỉnh Giáo hội Quảng Ngãi phản ánh trung thực nét chung nhất của Phật giáo toàn miền Nam bấy giờ: bị phân tán ra nhiều phe nhóm, tranh chấp nhau.


Hai thầy Huyền Tế, Huyền Đạt ủng hộ Phạm Tấn Nho người Huế thay vì người địa phương. Thầy Hồng Ân hồi giờ không thuận với sư Giải Hậu, dù hai vị đều là những chức sắc tôn giáo rất nhiệt tâm, từng vô cùng cương quyết chống đàn áp tôn giáo thuở 1963 nhưng luôn luôn nói trái ngược nhau. Cùng một sự việc, nếu vị này thấy đen thì vị kia phải thấy trắng. Nay thầy Giải Hậu đã mất, Đại đức Trí Chánh kế thừa lại nối tiếp con đường của bổn sư. Còn thầy Giải An, vị sư có trước tác, được xem như có kiến giải về Phật học trong tỉnh thì ba phải. Theo ông, Ngô Đình Diệm tốt, ông Thiệu cũng tốt. Thái độ đó làm cho số Phật tử thương gia giàu có đến chùa ông đông đúc, và chính quyền nào cũng thích. Lẽ dĩ nhiên, ông ủng hộ hai ông Đôn và Dược, chắc ăn không thể bị tình nghi Cộng sản, như thế, vừa được một ông trung tướng và một ông cựu tỉnh trưởng đến cung kính lễ bái, vừa được cúng dường nhiều, vừa được công an và tòa tỉnh ưu ái, nhất cử tam tứ tiện.


Cuộc họp của Tỉnh giáo Hội để chọn người đã diễn ra đông đủ nhất và khá gay go, ai cũng hứa với (fan) của mình là sẽ tranh đấu cho được. Nghe nói có cả tiếng đập bàn, khiến thầy Giải Tân tuổi già sức yếu phải có lúc hụt hơi trong vai chủ tọa.


Có vị đã đùng đùng bỏ về khi hội nghị không chấp nhận ủng hộ người của mình và thề sẽ xé rào, không theo ý kiến chung. Xét về thực lực, sư Hồng Ân có uy tín với phần lớn tín đồ trong tỉnh vì thái độ dứt khoát đối lập của ông đối với Diệm trước đây và Thiện hiện nay.


Đệ tử của ông cũng theo gương ông chịu khó giữ giới luật, chuyên trì kinh kệ và nhất là sống khổ hạnh, tạo được niềm tin tương đối nơi quần chúng, đa số đã được bổ nhiệm đại diện ở các quận. Nhưng ông đã thương chàng, thì hai vị sư chú của ông, Huyền Đạt và Huyền Tế phải nói khác đi, dù họ vẫn coi chàng như người có trình độ học vấn cao hơn hết so với các ứng cử viên khác và là bậc thầy của một số không ít những kẻ đang cùng dự cuộc đua này.


Một hôm chàng cùng người bạn Nguyễn Văn Chánh, một cây đa trong Giáo hội Tỉnh đến thăm hai vị này, mang theo ít trà Đài Loan biếu. Cả hai đều rất hoan hỉ. Họ thanh minh:


Ông giáo biết không? Người ta nói tôi không thích ông giáo là có ác ý. Thật ra, chúng tôi thượng tôn giáo quyền, nhất là đã có thư của ngài Thiện Hoa, Viện trưởng Viện Hóa đạo.


Tuy nhiên, thái độ của ông Hồng Ân làm chúng tôi không mấy vui. Theo lẽ, là đệ tử của thầy Huyền Trí, cùng một chữ Huyền trong bài kệ truyền thừa của Lâm Tế chính tông, chúng tôi cũng chữ Huyền, thì ông ấy phải thờ chúng tôi là sư chú. Vậy mà cậy công giữ chùa những năm kháng chiến và cậy công trùng tu tổ đình Thiên Ấn, ông ấy coi chúng tôi không ra gì. Những xích mích truyền kiếp giữa ông Giải Hậu và thầy trò ông ấy cũng vì vậy mà ra. Ông giáo được trung ương giới thiệu về đây rất quý, chúng tôi hoan nghênh.


Hồi đó, việc bầu cử Quốc hội lấy tỉnh làm đơn vị nên số cử tri rất đông, rải rác khắp địa bàn mười quận, sáu ở trung châu: Bình Sơn, Sơn Tịnh, Tư Nghĩa, Nghĩa Hành, Mộ Đức, Đức Phổ và bốn miền núi: Minh Long, Ba Tơ, Sơn Hà, Trà Bồng. Dĩ nhiên việc vận động và kiểm soát bầu cử rất khó khăn. Ở những nơi hẻo lánh, ngoại trừ ông Đôn có lực lượng quân đội ăn lương ông Thiệu tới tận cùng hang cùng ngõ hẻm, còn ra thì mặc cho đám cai trị địa phương tha hồ múa cây gậy phù thủy gian lận của họ cho bất cứ ai đặt nhiều tiền. Ứng cử viên được xếp số thứ tự theo vần alphabet. May mắn làm sao, chàng được xếp thứ chín.


Tới lượt mỗi người phải chọn cho mình một dấu hiệu. Phải mang ý nghĩa Phật giáo chàng nghĩ. Hối đã chọn xâu chuỗi hột của các nhà sư nên cuối cùng, theo gợi ý của Vũ Quang Bình, chàng lấy hình một ngôi chùa. Tội nghiệp, Bình phải thức suốt một đêm loay hoay làm họa sĩ bất đắc dĩ để vẽ. Sáng ra, tác phẩm của anh cũng không khác dấu hiệu cái nhà của một ứng cử viên khác bà con với vợ chồng là giáo sư Trần Tương bao nhiêu.


Nhưng đành vậy. Điều này giải thích tại sao về sau số phận của Tương mấp mé với chàng và anh ấy đã thất cử. Trong dịp trọng đại đó, một người học trò của chàng đã sử dụng tài làm thơ lục bát của mình rặn được câu ca dao sau đây mà chàng gọi đùa là danh tác của trưởng thơ Ngũ Hà Miên, mang chất Quảng Ngãi, nên sặc mùi mắm nêm, khai thác cái đặc biệt năm Tân hợi đó ba tháng âm lịch liên tiếp nhau có đủ ba mươi ngày và con số chín nút của chàng, với những người mê tín dị đoan:


Năm nay ba tháng đủ liền


Ngôi chùa số chín, số hên nhớ bầu


Tranh cổ động bầu cử của chàng mang hình vẽ nguệch ngoạc ngôi chùa, tầng trệt bè ra và tầng trên thon vào, mái ngói, một cửa chính hai cửa phụ, nửa như tam quan, nửa như một ngôi nhà bình thường của nhà danh họa Bình đã có số ấn hành gấp đôi số cử tri toàn tỉnh Quảng Ngãi: nửa triệu bản! Rất may là nó không ngốn hết giấy của trẻ em đi học vì khổ của dấu hiệu được ấn định không quá năm phân mỗi bề. Ngoài ra còn có tiểu sử, tâm thư và chương trình hành động. Bức tâm thư được chàng thảo và in phân phát tới tận từng nhà dân như sau:


“Thưa đồng bào!


Hai mươi sáu năm rồi, chúng ta đã quá khốn khổ. Tuổi trẻ phải bỏ dở học hành ra chết ngoài bờ ngoài bụi. Dân cày mất cả ruộng vườn dồn vào các trại định cư. Làng xóm chúng ta tan hoang, mả mồ nhà cửa chúng ta bị san thành bình địa, thuốc khai quang giết chết tới cây cỏ thú vật chớ đừng nói đến con người.


Quê hương tôi có làm chi nên tội


Mà đêm đêm máu đổ ngập đường cày


Trong khi đó, bọn tham nhũng thối nát sống trên xương máu của chúng ta, bọn từng đi lính đánh giặc thuê cho Tây, làm bồi cho Mỹ, vẫn ngự trị xa hoa sung sướng trên đầu trên cổ chúng ta. Kì bầu cử trước chúng đã đưa vào Quốc hội một số người mượn danh nghĩa đại biểu cho bà con nghèo khổ mà buôn lậu, kiếm cớ xuất ngoại để đổi đô la, ngoan ngoãn vâng lệnh chủ mà giơ tay lấy tiền, không còn chút liêm sỉ.


Là một nhà giáo lâu năm, tôi vui mừng thấy một số đông con em đồng bào là học sinh cũ của tôi đã thành đạt. Nhưng ngày lại ngày, thỉnh thoảng tôi được thư báo tin những người học trò đó, có kẻ đã phải ra đi và ngã xuống. Bây giờ nhiều ngôi mả, cỏ đã lên xanh.


Người tự cho là hiểu biết không thể ngồi yên nhìn cảnh đó, mặc cho đồng loại mình xương phơi thịt nát ở Mỹ Lai, khốn khó trong các trại định cư mọc lên nhan nhản ở gần thành phố.


Không thể để cho phụ nữ và trẻ em quấn khăn tang tiếp tục mỗi ngày một nhiều. Chúng ta phải trở về trên cánh đồng và có quyền được sống an lành, thờ phụng ông bà, đổ mồ hôi đổi lấy bát cơm an vui thanh bình. Chúng ta phải chặn những bàn tay vấy máu.


Chính vì lí do đó mà, quí Thượng tọa Trí Quang, Thiện Hoa bị đe dọa. Chính vì lí do đó mà các chiến hữu của tôi: ni sư Huỳnh Liên, bà Ngô Bá Thành, sinh viên Huỳnh Tấn Mẫm đã phải dấn thân và chịu cảnh khủng bố. Phần tôi, tôi cũng bị chụp mũ trung lập, thân Cộng.


Nhưng thưa bà con cùng khổ! Tôi đã chọn con đường và quyết trả giá cho những gì mình theo đuổi.


Điều hân hạnh cho tôi là cùng đi với tôi còn có hàng hàng lớp lớp những vị lãnh đạo các tôn giáo, những trí thức tiến bộ, những sinh viên học sinh nhất là đông đảo đồng bào nghèo khó trên khắp các nẻo đường của Tổ quốc mến yêu.


Dân tộc anh hùng của chúng ta không thể bị diệt chủng. Quảng Ngãi, quê hương bất khuất của truyền thống kháng Pháp Lê Trung Đình phải có tiếng nói của lớp trí thức dấn thân, quyết đương đầu với mọi sự khủng bố.


Thưa đồng bào!


Mỗi lá phiếu dũng cảm của quí vị là một viên gạch nhỏ xây dựng hòa bình hòa giải dân tộc”.


Bức tâm thư đó đã được đọc trên Đài Phát thanh Quảng Ngãi. Phản ứng của các giới khác nhau. Về sau, chàng được biết. Tỉnh ủy bí mật Đảng Nhân dân Cách mạng Quảng Ngãi đã nghiên cứu nó rất kĩ và đánh điện nguyên văn về Trung ương Cục miền Nam. Giới sư sãi và đồng bào hoan nghênh nhiệt liệt, nhiều người giữ lấy trong nhà đọc đi đọc lại gần thuộc lòng. Giới chính trị thì cười mũi: Cũng tuyên truyền kiếm phiếm thôi. Mai mốt đắc cử, tót vô Sài Gòn dựa vào cái ghế mà kiếm áp phe. Đám đảng phái thì nhất quyết luận điệu đó, Cộng sản trăm phần trăm. Sài Gòn đã sai lầm để cho một người như vậy lọt sổ, đi ứng cử.


Người dân xứ Quảng tuy nghèo nàn, quê mùa nhưng sống tình cảm thích thơ ca. Cho nên, đêm họp đông đảo đồng bào thị xã ở sân ga, thay vì diễn thuyết lung tung chàng chỉ nói: Bà con hẳn đã nghe bức tâm thư tôi đọc trên Đài Phát thanh rồi. Vì sao tôi ra ứng cử kì này? Để trả lời câu hỏi đó, tôi xin ngâm hầu bà con bài thơ sau đây.


Rồi trên bục diễn đàn, chàng lấy giọng, cố truyền hết mối cảm xúc của mình trong bài Nói với Bé, bài thơ chàng viết nhân một đêm hội họp ở Sài Gòn, trước khi đi, nhìn thằng bé bấy giờ mới ba tuổi đang hồn nhiên mỉm cười vu vơ trong giấc ngủ, thánh thiện như một thiên thần, chàng yêu mến xiết bao. Dù thương con đến đâu, nhưng, vì những đau khổ mà đầu tiên là của mẹ và anh Cả và rộng ra là quê hương đất nước, anh em bà con đang phải hứng chịu, chàng vẫn không thể từ bỏ con đường hiểm nguy đang theo đuổi. Có thể khuya này thôi, mình bị bắt cóc và bị mang đi thủ tiêu ở đâu đó, vĩnh viễn không trở về:


Khuya này Ba không về


Thì Bé hãy bình yên lắng nghe


Lời ru u hoài của má


Và hãy mỉm cười hồn nhiên trong giấc ngủ.


Thế hệ của Ba đầy tiếc thương tủi hổ


Khi nào lớn lên Bé sẽ rõ:


... Ôi! Con người Việt Nam


Giữa thế kỉ hai mươi


Không còn bằng con chó.


Khuya này con ôm bình sữa


Uống đi! Uống đi! Đừng rơi giọt nào


Đấy mồ hôi của Ba.


Mười lăm năm sau


Đứng vững làm người


Nhìn quá khứ, con ơi, đừng ngơ ngác...


Tiếng ngâm vừa dứt, cả một làn sóng người rào rạt ùa lên, vây quanh, công kênh chàng. Trong bàn tay nồng ấm của bầu bạn, có những nét cười khô khốc già nua, tuyệt vọng của những ông chú, bà cô từ Cà Đó, Minh Tân vùng biển quanh năm lượm phân bón cho cây khoai mì, có ánh mắt mừng vui nhưng vẫn đượm hoài nghi của người cháu dượng Tám trên Nguồn. Tất cả đã bỏ quê xuống đây. Núi rừng những sáng thu ngơ ngác hoa lau chỉ còn thấy được trong giấc mơ, ô hay, một buổi vận động bầu cử náo nhiệt, một đêm vui mà sao có kẻ mau nước mắt chỉ vì một lời thơ? Xin tạ ơn lòng. Nhưng, ở bờ thành sân vận động có tiếng la lớn:


Đả đảo, đả đảo tên Việt cộng nằm vùng. Đánh chết mẹ nó đi, đánh! Đánh!


Tiếp theo là bao nhiêu huyên náo. Thầy Thích Tâm Phú, một nhà sư ít nói và rất thương chàng, đã nắm trước tình hình. Không cho chàng biết, sợ chàng mất bình tĩnh khi lên diễn đàn, thầy đã chuẩn bị sẵn chiếc xe con. Đứng ra xin lỗi những người nhiệt tâm ủng hộ chàng. Thầy nói: Thay mặt anh ấy, tôi xin nhiệt liệt cảm ơn các anh chị em, cô dì, chú bác... Có một số thương phế binh được nhóm đảng phái quá khích muốn khủng bố tinh thần anh ấy, người chủ trương hòa bình và công bằng xã hội. Họ mưu toan hành hung. Xin các bác cho anh ấy được về chùa Tỉnh Hội tiếp xúc riêng.


Và thầy đẩy chàng lên xe, bình thản ngồi vào chỗ tài xế, nổ máy từ từ lăn bánh. Về đến nhà chú Út, có một người khách Sài Gòn ra. Khuya quá, anh ta đã ngủ vùi. Chàng hỏi, đã dọn cơm cho ổng ăn tối chưa, thím Út nói ổng bảo lâu lắm mới về Quảng Ngãi, thèm quá đánh một hơi ba tô don, no nứt bụng. Ngồi ngáp một chặp rồi ổng lên gác, ba phút sau nghe tiếng ngáy ầm ầm như xẻ gỗ vẳng xuống.


Chàng nghĩ bụng: Mình đâu có ông bạn nào trong ấy lạ vậy cà? Lại một dị nhân cỡ Chương Guerre périphérique chớ chẳng chơi. Nhưng khi lên gác, giở cái mũ anh ta chụp lên mặt cho đỡ chói ánh đèn, thì ra Mười Thắng. Anh ta vẫn ngủ. Kệ, chắc anh ta đi xe đò, mệt nhoài vì hai ngày đường đây. Thắng là em ruột Nguyễn Thái Sơn, năm sáu ba học lớp đệ ngũ (lớp tám sau này), bấy giờ Huỳnh Ngọc Hiến và Tôn Thất Hòa đã lớp đệ nhất (mười hai). Khi Sơn đi Pháp, có nhờ chàng trông coi giúp các em. Chàng đã đưa Thắng vào lớp đệ tam ở Chu Văn An, Hiến, Hòa đã lên Đại học, họ gặp lại và chơi thân với nhau. Thắng mặt lưỡi cày, da ngăm đen, ngoài hai mươi tuổi nhưng đeo kính cận thị vào, nom như người lớn, trông giống Maitre Khánh Sơn, chiêm tinh gia, có hình đăng quảng cáo lên báo hàng ngày. Chàng thường tếu gọi Thắng bằng tiên sinh.


Sáng ra, Thắng dậy rất sớm và gặp Hiến, nhân vật chính trong Ban Tham mưu bầu cử của chàng. Chàng mừng như bắt được vàng, lại đùa: Tiên sinh bất viễn thiên lý nhi lai, hà dĩ lợi ư ngô ứng cử hồ?(1)


Thắng chọc lại: Anh thì dư sức rồi, có ủng hộ thì tôi ủng hộ ông Đôn, ông Dược thân cô độc mã chớ ai đi thêm vây cho hùm?


Chàng ngáp: Cóc khô, tôi thập diện thọ địch. Chuyến này chắc đi tong. Bị chụp cho cái mũ trung lập thân Cộng nên thằng đảng phái đánh, thằng chính quyền cũng đánh, hồi hôm không nhờ có thầy Tâm Phú, suýt nữa tui bị tụi thương phế binh ăn thịt rồi.


– Nhưng anh lại được dân tiểu tư sản, trí thức, giáo chức, văn nghệ hậu thuẫn? Thắng hỏi.


– Chú thử coi: Trí thức là những người, có tiến bộ đi nữa, cũng trùm chăn cao đàm thế sự, ai chịu dấn thân như tụi mình: ở Sài Gòn biểu tình biểu tạp, ăn cơm tay cầm (bánh mì cầm tay), ngủ bờ ngủ bụi ở lề đường. Trong khi đó Phật giáo phân tán, có ông xé rào chỉ vận động cho gà nhà. Đôn thì tiền Mỹ, Dược thì tiền thương gia, chúng ta chỉ có tấm lòng và hai bàn tay trắng.


Thắng và Hiến trấn an chàng:Thầy đừng bi quan. Cả những kẻ mù chữ, người dân Quảng Ngãi rất ý thức và đã sớm giác ngộ từ thời kháng chiến chống Pháp. Và tụi em sẽ hết mình.


Thắng ở chơi dăm hôm rồi về. Có bữa Thắng mượn xe lên miệt Nghĩa Hành, tận vùng núi Hành Dũng, mãi tối mịt mới về. Cùng với hai người anh của mình, Hùng Sơn và Bảo Sơn, Thắng đang hoạt động trong tổ chức Thanh niên của Mặt trận Giải phóng.


Sau cuộc họp ở thị xã, các ứng cử viên còn tiếp xúc cử tri ở các quận, từ eo biển địa dầu Dung Quất (Bình Sơn) ngút ngàn sóng bạc đầu, muôn đời thở than với gió trùng dương cho tới Ba Tơ rừng thẳm mà đêm khuya thần núi luôn réo gọi con người hãy đừng thả xuống đó hàng tấn thuốc khai quang mỗi ngày. Trong cuộc chiến cài răng lược khốc liệt, tên bay đạn lạc không chỉ nhằm vào đối phương mà có khi không chừa cả đồng đội mình. Cho nên, những tay quyền thế như Trần Văn Đôn đến nơi nào cũng được nhà chức trách địa phương cho cả một đại đội bảo vệ hộ tống. Chỗ nào cảm thấy không yên, ông chỉ sai sĩ quan tùy viên tham dự. Các ứng cử viên giàu thì mướn những người ăn nói giỏi hay có quan hệ mật thiết với làng xã, thị trấn đó làm đại diện.


Chỉ có chàng và Hối, hai thầy trò phải thân chinh đi, có hôm quá nửa đêm còn phải dừng lại bên đường sửa xe Honda ở Long Phụng, trên những lối mòn cát ẩm trong xóm, lá tre rụng đầy và trăng sáng mênh mông. Lần nọ, chàng từ Chợ Chùa về, đến chân cầu Xóm Xiếc, nhìn con nước chảy, nhớ ta hồi còn bé học trường Phú Vinh hay ra đây đá banh rồi tắm trong dòng nước mát lạnh chảy ngang con lộ rải đá, chàng thầm trách mình dấn thân nhiều quá vào cuộc đời làm chi, để chuốc lấy bao gian lao.


Nhưng cũng nhờ công việc đó, chàng được đặt chân trở lại những nơi xưa kia từng mang mểnh bao hình ảnh thân thương mà giờ đã quá xa xăm. Sông Trà Câu đang mẩy nước những trận mưa đầu mùa, xóm Quạ Kêu còn đó Từ ô y hạng rủ rê sang như lời thơ Quách Tấn. Hồi hai mươi tuổi mình hay qua đây, nàng Nhụy mười bảy của Roméo nhìn xuống lòng giếng để đếm những mảnh mây trắng đang tan vỡ trong đáy nước. Cây khế năm xưa có còn không?


Rồi chàng ghé cô Ba, người có tấm lòng tốt như một nhân vật trong Xuân Thu chiến quốc, tóc bạc mây chiều. Cô mong ngóng mãi người con duy nhất đã ra đi không biết bao giờ mới trở về.


Rồi có trưa nắng gắt chàng cùng Hiến lội sang Châu Giang, ồ cái tên này mà đảo ngược lại thì dám gợi ra một cách đầy đủ cái không khí hiu hắt của bến Tầm Dương lắm đó. Nhưng không, bữa đó hai thầy trò đói bụng muốn xỉu:


Thầy trò trưa nắng qua Châu Giang


Bụng đói, bãi cát phỏng bàn chân.


Và chàng cùng anh Ba Thuyết vô tận gò núi phía tây Đồng Cát thăm mấy người bà con. Hỏi: Mày đi cử cất tồn còn gì đó? Chi vậy? Ôi, biết nói làm sao. Đành cười hề hề: Dạ, cho vui với người ta. Họ hàng nhà mình cũng có người đi ứng cử, được lắm chớ?


Hai anh em về nhà trời đã xế, bụng như cồn, ráp bánh tráng nướng và bánh ướt, chấm mắm ớt, ăn hết cả chục cái, rồi lăn ra ngủ. Thọ, thằng cháu cùng tuổi, cùng đi câu, đá banh hồi còn bé phải tới đánh thức dậy. Nó làm Hội đồng xã. Việt cộng đưa lên đấy, xanh vỏ đỏ lòng. Bốn hai tuổi, tóc đã hoa râm, nó nói: Chú cứ yên trí đi, anh em ủng hộ. Đắc cử rồi, cha cháu sẽ đãi một chầu tiết canh heo, ổng biết chú không chịu thịt chó.


Trời ơi! Cứ nghe tới cái món nhậu do anh xã Thọ làm thì nước miếng đã tứa ra lưỡi rồi. Muôn năm anh xã Thọ, người đồ tể nghiệp dư mãi trong lòng ta.


Dạo này gió nồm còn thoi thóp, kêu gọi những con cá cơm nhỏ bằng cái tăm, thân hình trong suốt về bờ biển Đức Minh- Cà Đó. Nhờ có ông Âu Trường Thanh và nền văn minh Nhật Bổn, cá cơm được đi xe Honda ra tỉnh. Những bàn tay nội trợ của quê chàng đã khéo léo chế biến, muối chua thành một thứ mắm đặc biệt thơm phức, rất giàu chất đạm.


Bữa nọ, vào một thời khắc đã trễ tràng chưa có cơm tối, chàng ghé thăm nhà ông Năm Loa. Cái mũi rất thính của chàng phát hiện sự hiện diện của mắm cơm mờm muối chua trong bếp nhà sau, như nhận ra một người tình cũ. Thế là, cơm gạo hẩm đã nguội trong chiếc rá tre, gừng non xắt lát, ớt bột cay, với chàng, những thứ ấy còn có giá hơn sơn hào hải vị khác. Chàng nói với người em họ bên ngoại, lớn tuổi hơn mình:


Anh ruột chú thờ ông ngoại tôi. Có bao giờ chú biết rằng cô của chú, mẹ tôi, làm thứ này ngon tuyệt không. Cơm nguội, chiếc rá tre, những con mắm cơm mờm muối chua, như tên gọi nó ở quê ta, tất cả đã gợi lên cho tôi một thời thơ ấu êm đềm. Cảm ơn chú, chuyến này có thất cử thì tôi cũng thấm thía được cái tình bà con là số một ở quê ta. Người bạn tôi, anh Huyến đã nói thế. Bà con thương mình. Bấy nhiêu đã đủ để tôi toại lòng.


(còn tiếp)


Nguồn: Bão. Tiểu thuyết của Ngũ Hà Miên. NXB Lao động & Doanh nghiệp sách Thành Nghĩa, 2013.


www.trieuxuan.info







(1) Câu của Lương Huệ Vương hỏi thầy Mạnh Tử: Nhà thầy chẳng ngại đường xa ngàn dặm tới đây, có lợi gì cho nước tôi không? Chàng nhại là: Có lợi gì cho sự ứng cử của tôi không?




Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
23.
24.
25.
26.
27.
28.
29.
30.
31.
32.
33.
34.
35.
36.
37.
38.
39.
40.
41.
42.
43.
44.
45.
46.
47.
48.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Lâu đài - Franz Kafka 21.08.2019
Sông Côn mùa lũ - Nguyễn Mộng Giác 21.08.2019
Trăm năm cô đơn - G. G. Marquez 20.08.2019
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 20.08.2019
Gia đình Buddenbrook - Thomas Mann 19.08.2019
Đêm thánh nhân - Nguyễn Đình Chính 19.08.2019
Ông cố vấn - Hữu Mai 19.08.2019
Đẻ sách - Đỗ Quyên 19.08.2019
Thế giới những ngày qua - Stefan Zweig 16.08.2019
Seo Mỉ - Đỗ Quang Tiến 13.08.2019
xem thêm »