tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 24727683
Tiểu thuyết
05.08.2018
Anh Đức
Hòn đất


2


Nơi hốc đá tận cùng mà vợ chồng thằng Ba Phi bị trói bỏ đấy không lúc nào có ánh sáng, dù là thứ ánh sáng hiếm hoi mờ ảo của hang động. Trong hốc hang này, ngày cũng như đêm, chỉ có bóng tối, thứ bóng tối ở chỗ hẹp, tuồng như đặc sệt lại. Mỗi ngày một lần, khi thì Quyên, khi thì Năm Nhớ, đem đến cho vợ chồng tên gián điệp đó những vốc gạo rang. Thỉnh thoảng chúng cũng được uống nước. Quyên nói với chúng:


- Ở đây không có nước nhiều đâu! Lúc Quyên đi khỏi, thằng chồng rít lên trong cổ họng:


- Không có nước? Nó không muốn cho mình uống chớ không có! Mụ vợ nín im, lo sợ và rầu rĩ. Thằng Ba Phi lại nói, giọng có pha tiếng cười:


- Mấy bữa rày bị vây siết dữ rồi... Mẹ, chịu không thấu đâu! Sớm muộn gì mấy "ổng" cũng tràn vô hang cho coi! Y còn vỗ về vợ:


- Tao bảo đừng có khóc, đừng có lo, không chết đâu mà sợ! Mấy "ổng" mà tràn được vô hang là mình sống, nhứt định sống! Rồi y gầm gừ:


- Đ. mẹ, chừng đó rồi biết tay tao!... Tao chặt không chừa một đứa. Thứ nhứt là thằng Hai Thép, thằng đó cầm đầu ở đây, rồi tới mấy thằng bắt mình đêm nọ, rồi thằng Ba Rèn, chặt ráo!


- Trời ơi, im đi ông ơi!... Tôi sợ lắm! Tôi sợ tới cùng mấy "ổng" tràn vô mình cũng không còn. Thế nào họ cũng giết mình trước. Nghe vợ nói, thằng chồng im lặng. Câu nói của mụ vợ một lần nữa lại bới lên nỗi lo sợ trong lòng y khiến mấy bữa nay y vẫn phập phồng. "Có thể như vậy lắm. Có thể tụi nó sẽ ra tay xử mình trước lắm! " Mỗi khi nghĩ tới điều đó, đôi khuỷu tay bị trói chặt của y bỗng dưng run lên cầm cập. Nhưng trong nỗi kinh sợ, y vẫn hy vọng được giải thoát. Và y bấu víu lấy hy vọng đó, bằng cái tâm địa bất lương cố hữu của y, bằng tất cả sự căm oán và hằn học lúc nào cũng rắp sẵn, nung nấu. Trong con người thằng chỉ điểm già sói trán này đang diễn ra một tâm trạng đợi chờ thấp thỏm. Khi thì hy vọng thúc y chồm lên, khi thì thất vọng xô y khuỵu xuống. Con cáo cộc mắc bẫy thế nào, y cũng thế ấy. Nhưng còn hơn con cáo, y chẳng những muốn thoát bẫy, mà lại còn muốn cấu xé sau khi xổ ra được. Sự hy vọng cùng sự thất vọng của y lộ ra rõ nhất lúc địch mở các đợt đột kích vào hang. Lúc súng hoặc lựu đạn nổ ầm ầm, là lúc y chồm dậy, khấp khởi. Tay chân y lúc ấy tưởng như sắp mọc móng mọc vuốt. Trong bóng tối xó hang, y không ngớt lấy cẳng hích đùi vợ, tính đâu cái giờ phút thoát bẫy đã đến.


 


Nhưng khi nghe những phát súng lẻ nổ chắc chắn từng phát một, y lại hoài nghi. Rồi, các đợt đột kích bị đánh bật, trả về cho hang động sự yên tĩnh thường lệ. Đợi mãi vẫn không thấy có ai vào mở trói, lúc đó y lại thất vọng, lại vật lưng vào vách đá mà thở hổn hển. Mỗi lần anh em trong hang phản xung phong thắng lợi là mỗi lần mối hy vọng độc ác giãy giụa trong người thằng Ba Phi bị dập tắt. Và tấn bi kịch của y vẫn hoàn nguyên. Vẫn là vòng dây siết lấy đôi khuỷu tay, vẫn là hốc hang sâu thẳm đầy bóng tối chớ không hé ra được một tia sáng. Song dù là thế, y vẫn chờ đợi. Với hai lỗ tai giảo hoạt, y rình nghe mọi lời nói và mọi tiếng động từ bên ngoài lọt vào. Vì thế, tuy bị giam cầm ở hốc hang trong cùng, nhưng y vẫn biết được phần lớn cái gì đã xảy ra trong bốn ngày đêm quyết chiến. Y đã bắt đầu có cái thói quen nhổm bật dậy kể từ khi loạt súng thứ nhất của bọn giặc nổ ran. Buổi sáng lựu đạn nổ ngót một ngàn trái là một trong những buổi sáng mừng rỡ của đời y. Đêm chặt tay thằng Bé đối với y là một đêm hả hê. Hôm Quyên bị bất tỉnh về những quả lựu đạn MK3 và Năm Nhớ bị trúng độc, y khoái trá. Cả về việc chị Sứ ra đi không trở về hang, y cũng biết. Rồi cái chuyện giặc bắc loa buộc chị Sứ kêu gọi đầu hàng cũng gieo vào lòng y nỗi mừng khấp khởi, nhưng y rất đỗi kinh ngạc và hậm hực khi biết chị Sứ đã nói ngược lại. Không có nước uống, cổ họng y cũng khô khát như ai. Nhưng trong nỗi khổ thiếu nước, lòng y cũng vẫn dấy lên cái hy vọng độc địa là nếu không có nước thì bọn người trong hang này không thể chống trả lâu được. Riêng khi biết rằng chị Sứ có thể chết đi thì y nơm nớp. Không phải lo cho tính mệnh Sứ, mà là lo cho tính mệnh của y:


 


“Chắc tụi nó giết mình để trả thù! " Đôi khi y cũng không muốn đám người trong hang bị đánh nột quá, vì thế theo sự suy đoán của y, một khi nột quá họ có thể xử tội y trước. Ngày cũng như đêm, y cứ lo quẩn về số phận của vợ chồng y, nhất là của y. Trước sự đe dọa của cái chết. Thằng chỉ điểm ác ôn này có nhiều ý nghĩ diễn biến hết sức lạ lùng. Tất cả mọi ý nghĩ đó đều đen như chính cái bóng tối đang vây quanh y. Đêm nay, giữa lúc mụ vợ thở dài sườn sượt, tên Ba Phi bỗng giật mình thấy có cái chi rọi sang sáng trước mặt. Thì ra đó là ánh nến. Người cầm nến đi xồng xộc về phía y. Mấy bữa nay, trước mắt y chỉ tuyền là bóng tối, nên y bị lóa chưa kịp nhận ra ai, thì đã nghe:


- Đứng dậy! Người nói ấy là anh Hai Thép. Tên Ba Phi vội vã đứng lên. Cả mụ vợ cũng ríu ríu đứng lên theo. Nhưng anh Hai Thép giơ ngón tay ngăn mụ lại bảo mụ cứ ngồi đó. Anh quắc mắt nhìn tên Ba Phi:


- Nghe tao hỏi, mấy bữa nay mày đã thấy ra tội của mày chưa? Như vậy mày đáng chết chưa? Thằng chỉ điểm cúi thấp chiếc đầu hói, im lặng.


- Nói!


- Anh Hai Thép lớn tiếng giục. Bấy giờ, y mới đáp một tiếng cụt ngủn:


- Đáng! Anh Hai Thép gật đầu:


- Ờ, đáng chết! Ngừng một giây, anh nhìn y nói tiếp:


- Thôi đi! Tên Ba Phi thoạt nghe thế thì liền đó, hai gối chân y tự nhiên rủn xuống. Nhưng ở phía sau, anh Ba Rèn đã lách tới, lẹ làng đưa cánh tay lực lưỡng xốc ngay nách y dậy. Anh Ba Rèn chợt thấy thằng Ba Phi như không còn có chân nữa. Đôi chân đó giờ cứ như cọng bún, cứ ngoặt ngoẹo rủ xuống. Anh Hai Thép giơ cao ngọn nến soi lối cho Ba Rèn lôi y ra khỏi hốc đá. Mụ vợ Ba Phi lẽo đẽo đi sau, khóc rấm rứt. Anh Ba Rèn vừa lôi xốc thằng Ba Phi đi vừa càu nhàu:


- Thằng này dở quá, chưa chi đã xỉu rồi! Anh Ba Rèn đem nó vào cuối hang. Chỗ này ở gần chỗ để một cái lu mái lớn màu da lươn đựng di cốt sáu đồng chí bị giặc thảm sát. Đó là những xương cốt mà hồi năm ngoái chị em Sứ đã lén lút mò nhặt từ trong bàu rừng. Bọn giặc đập đầu các đồng chí ta bằng cột chèo rồi liệng xác xuống bàu. Ba ngày trời, Sứ và Quyên đi kiếm không gặp. Tới bữa trưa ngày thứ tư, hai cô mò vô rừng tràm thì bỗng nghe tiếng chó hoang tru từng hồi dài. Hai cô lần tới đó, thấy một bầy chó bốn năm con từ dưới bàu chạy lên, mồm ngoạm những cái xương tước thịt lòng thòng. Chính Sứ vác cây tất tả đuổi đánh bầy chó, giật lại từng cái xương, còn Quyên thì xăng quần lội xuống quờ tay mò. Hai người mò hết tất cả những xương dưới bàu, túm vào vải nhựa vác về Hòn giấu. Bấy giờ thì chẳng còn nhận ra là xương của ai nữa. Đồng khởi lên rồi, xương đó mới được đặt vào cái lu mái để ở đây. Xốc thằng Ba Phi quá khỏi cái lu chứa xương một chút, anh Ba Rèn đặt dựa y vào vách đá. Đầu thằng chỉ điểm vẫn ngoẹo xuống. Anh Ba Rèn và anh Hai Thép đứng đợi mãi, một lát sau y mới tỉnh dậy. Hai người lôi y vào tận trong cùng. Lúc trở ra, anh Hai Thép nói với Ba Rèn:


 


- Tôi coi tụi ác ôn thì đứa nào cũng vậy, ông à! Tụi nó có gan giết người, chớ không có gan chịu chết. Hồi nãy, nó ngỡ mình đem nó đi giết nên nó chết giấc đó!


 


- Thì thứ đó mà gan góc mẹ gì! Có tài chỉ chọc chớ nhát hít thôi. Hai người ra tới ngoài miệng hang thì Ngạn cũng vừa về tới. Anh liệng cặp dừa xuống đất giữa tiếng vỗ tay hoan hô rôm rốp của mọi người. Tới và Trọng cũng vào đến nơi, tháo cặp dừa trên cổ để xuống. Quyên sờ soạng tìm đến bên Ngạn. Ngạn đứng im hồi lâu mới nặng nhọc nói:


 


- Chị Ba hy sinh rồi! Tất cả mọi người đều dừng sững lại ở cái động tác của mình. Có những bàn tay đang vỗ trong bóng tối, chợt từ từ để xuống. Ngõ hang bỗng chốc trở nên hết sức im lặng. Anh Hai Thép đến sát bên Ngạn, khẽ hỏi giọng đau đớn:


 


- Chú lần tới được chỗ cô Sứ chết à?


 


- Không, chị ấy không còn ở đó nữa. Bà con đã đem chị về xóm rồi. Tụi tôi nghe bọn lính nói chuyện với nhau...


 


Ngạn ngồi bệt xuống giữa ngõ hang, kể lại với anh em câu chuyện mấy tên lính trò chuyện ban nãy. Đến cuối lúc lặp lại lời chị Sứ gọi bà con, gọi Bác trước lúc giãy mình chết, Ngạn nghẹn ngào không nói được nữa. Quyên vùng khóc nức nở. Cô gục vào vai Ngạn. Đầu cô cứ rung lên trên chiếc vai trần rịn ướt mồ hôi của Ngạn. Mọi anh em đều ứa nước mắt. Nhưng ai cũng cố nén không để bật khóc thành tiếng, dù trước đó, họ vẫn nghĩ là Sứ khó sống được, nhưng họ chưa biết chắc Sứ đã chết và biết chết thế nào. Bây giờ nghe Ngạn kể, họ mới thấy đau đớn thật sự. Và cùng một lúc, ai cũng chợt nhận ra hình như tình yêu mến và sự hiểu biết của bản thân mình trước nay đối với Sứ đều là không đủ. Dường như người con gái đó đang ở trên cao, mà họ còn đứng thấp, nên với lên chưa tới. Đức kiên trinh và cái vẻ đẹp dịu dàng của người con gái đó chừng như bây giờ mới lộ ra hết, mà lại rất gần, rất quen. Kìa, chị đang khẽ mỉm cười và lặng lẽ. Kìa, khuôn mặt trái soan thon thả của chị đang mở to đôi mắt đẹp đẽ chân thật. Kìa là mái tóc óng mượt tươi tốt mà cả Hòn Đất ai cũng lấy làm hãnh diện. Những nét đó từ nay chẳng thể phôi pha trong lòng họ. Những tiếng nói sau cùng của chị cũng không sao tắt được giữa lòng họ. Thế là một lần nữa trong đời, anh Hai Thép cảm thấy tim mình như bị những móng sắc vô hình quào cấu. Anh từ từ đứng dậy, run run nói:


 


- Các đồng chí thấy không, sống với anh em đồng chí Sứ lo từng miếng cơm giọt nước, hiền lành nhường nhịn tất cả, nhưng giáp mặt với kẻ thù, Sứ thiệt cứng cỏi, thiệt không chịu thua chúng nó một tấc! Sứ dặn chúng ta đừng buông súng, chúng ta phải nhớ lấy. Sứ dặn chúng ta phải trả thù cho Sứ, chúng ta cũng phải nhớ lấy! Dưới ánh nến chập chờn, mọi người không ai bảo ai đều đứng lên, im phăng phắc. Đầu họ hơi cúi xuống. Họ hình dung ra Sứ, nghĩ đến chị với tất cả tình yêu mến. Trong phút đó họ nắm chặt súng, lòng càng riết siết cái quyết tâm chiến đấu tới giọt máu chót... Từ đấy trở đi, không ai khóc nữa. Họ gạt những giọt lệ còn sót lại trên mi mắt. Họ nóng lòng mong đêm qua mau, để rạng ngày địch tấn công vào, họ có cơ hội trả thù cho Sứ ngay lập tức. Anh Ba Rèn nói:


 


- Vậy mới biết vàng thiệt không sợ lửa. Cô Sứ là vàng thiệt đó, anh em à! Đâu có như thằng Ba Phi ban nãy, chưa chi mà nó đã té chết rồi.


 


- Chết thiệt à?


 


- Ngạn hỏi.


 


- Không, chết giấc thôi! Anh Hai Thép day hỏi Ngạn:


 


- Bẻ được mấy trái dừa, chú?


 


- Sáu!


 


- Bẻ dễ không?


 


- Cũng dễ. Nhưng ở sát bên vòng vây tụi nó, phải đợi nó bắn súng mới dám buông dừa rớt xuống. Nghe tụi lính nói chuyện không sót một câu. Tụi nó hút thuốc, rít thở phào phào, thấy mặt mũi hết ráo. Coi bộ tụi nó hoang mang dữ. Thằng nào cũng sợ vô hang. Tụi nó gọi cái hang mình đây là cái hang thảm thiết... Anh Hai nói:


 


- Nó đặt tên như vậy cũng phải, nhưng thảm thiết ở đây là thảm thiết đối với tụi nó, chớ đối với mình thì đây vẫn là hang Hòn Đất thôi. Chú Tư Nghiệp gật đầu


 


- Phải, tên Hòn Đất nghe hiền khô, vậy mà thằng nào ăn hiếp ăn đáp thì không được, dứt khoát không được! Ngạn nói:


 


- Nè, trận này có tụi Mỹ theo nữa. Chết một thằng rồi!


 


- Vậy sao?


 


- Nghe tụi lính nói ngày hôm qua trực thăng xuống chở thằng Mỹ và mấy thằng sĩ quan ngụy bị thương về rồi. Tụi lính tức lắm, vì mấy thằng Mỹ lái trực thăng từ chối không chịu chở lính bị thương nặng!


 


- Tụi chó đẻ quá!


 


- Vậy cho lính nó sáng mắt ra chút đỉnh chớ! Tưởng đi theo Mỹ sướng lắm! Mỹ may ra chỉ có tình nghĩa với chó thôi, chớ cái thứ lính mướn mỗi tháng từ tám trăm tới một ngàn đó bị cụt cẳng đổ ruột thì nó dại gì mà cứu. Có cứu sống cũng là lính bị loại khỏi vòng chiến rồi, đánh chác mẹ gì được! Ngạn nói:


 


- Tình hình này tôi coi bộ tụi lính thối chí dữ. Phải chi mình vừa đánh vừa kêu gọi cho tụi nó rã tinh thần thì hay quá! Anh Ba Rèn bảo:


 


- May ra chỉ trông cậy ông Tám Chấn và bà con ngoài xóm làm chuyện đó, chớ mình ở đây dễ thấy thằng nào nhào vô là mình phải "bửa" lật thôi, chớ còn kêu réo gì nữa!


 


- Không, mình cũng có thể làm được chớ,


 


- chú Tư Nghiệp nói,


 


- Phải chi mình có vài cái loa!... Một mặt đánh, một mặt kêu. Như vậy tụi nó mau rã đám hơn.


 


- Có lý lắm, hay lắm. Nhưng làm sao kiếm được loa?


 


- Ngạn hỏi. Chú Tư Nghiệp ngẫm nghĩ một lúc rồi bảo:


 


- Không có loa bằng thiếc thì làm như vậy cũng đặng... Tôi để ý thấy trên nắp cái lu mái đựng hài cốt anh em hy sanh có đậy nhiều tấm mo cau. Lấy mo cau đó làm loa tàm tạm được. Tôi chắc vong linh anh em cũng không buồn phiền gì mình đâu! Ba Rèn bảo:


 


- Buồn gì, phải chi mình đội mo cau đi đầu hàng thì mấy chả mới buồn, chớ đằng này... Mà chết rồi còn buồn khỉ gì nữa, cha nội!


 


- Ấy, đừng nó vậy chớ Ba Rèn,- giọng chú Tư trở nên nghiêm trang thật sự


 


- Anh em khuất rồi thì phải để anh em yên nghỉ, tôi ngại là ngại mình mó máy làm động xác thể anh em, tội nghiệp... Anh Ba Rèn im đi một chốc rồi nói nhỏ, giọng hơi kéo dài ra:


 


- Sao lóng rày tôi để ý thấy ông đâm mê tín trở lại quá!


 


- Không phải mê tín, tôi... tôi...


 


- Chú Tư Nghiệp ấp úng cãi. Anh Hai Thép cười, xua tay:


 


- Thôi đi!... Anh Tư nói vậy không hẳn là mê tín đâu. Nhưng nếu thấy tấm mo cau đó có thể dùng làm loa, thì cứ lấy làm, không sao. Vong linh anh em đồng chí mình còn mừng nữa chớ không buồn đâu. Anh cứ lấy mo cau đó làm loa đi anh Tư!


 


- Được, để tôi làm... Nhưng nói là nói... Chú Tư Nghiệp bằng lòng làm loa bằng những tấm mo cau nọ, nhưng vẫn còn tấm tức về câu nói của Ba Rèn. Đối với chữ "mê tín", chú không chịu, mặc dù từ lâu chú vẫn tin có Trời, có Phật. Trong một cuộc nhậu nào đó, đã có lần chú quào sườn nói:


 


“Nè, giả tỷ trên mặt địa cầu ba ngàn triệu con người đều không tin có Trời, Phật thì vẫn sót một người còn tin nghe đa! " Đoạn, chú Tư trỏ vào ngực mình, nhấn mạnh từng tiếng một:


 


“Người đó là Tư Nghiệp! " Bây giờ chú Tư Nghiệp không còn ăn chay nữa, vì như chú nói:


 


“Tôi tu tại bụng, chớ không tu tại miệng. ăn chay cày ruộng đuối lắm, mà mặt lại xanh dờn, coi kỳ quá! " Lạ thay, con người còn tin Trời tin Phật đó lại có cái nguyện vọng hết sức tha thiết là được kết nạp Đảng. Nhiều lần, chú thắc mắc, hỏi anh Hai Thép liệu như chú có thể được vô Đảng không. Anh Hai Thép bảo:


 


- "Được chớ, nhưng muốn làm người Đảng thì phải thực tế. Người Đảng tôn trọng tín ngưỡng của tín đồ các đạo, nhưng không tin có Chúa, có Phật, có Trời. Cái đó tôi nói thiệt, không giấu giếm ông làm chi. Nhưng tụi tôi tin là có kẻ bóc lột và người bị bóc lột. Tụi tôi tin là nếu mình đồng lòng đánh Mỹ - Diệm thì mình sẽ sung sướng, nông dân có đất cày, đạo giáo được gìn giữ". Cái gì chớ đánh Mỹ - Diệm thì chú Tư Nghiệp chịu lắm. Nhưng nghe anh Hai Thép nói kiểu người Đảng như thế thì chú nghĩ mình khó vô Đảng được. Bởi vậy chú lấy làm đau khổ. Vì chú chưa rứt được cái này nhưng lại muốn với tới cái kia. Lời nói của anh Ba Rèn vừa rồi tự nhiên khơi lại mối khổ tâm đó của chú, chớ chú không giận anh Ba Rèn. Tánh chú không giận ai lâu. Lát sau, chú đã mò mẫm vào trong hang, thắp nến đi lấy mo cau. Rồi đến sau phiến đá mà mọi đêm mẹ con Sứ vẫn ngủ, chú lựa chỗ cặm nến, và bắt đầu hì hục gò mo cau lại để làm thành những cái loa... Bên trên phiến đá đó, Quyên vừa đặt lưng xuống cạnh con Thúy. Con bé đã ngủ. Nó vẫn chưa hay biết gì về cái chết của mẹ nó. Nằm bên cháu, Quyên mở mắt nhìn lên vòm hang tối đen. Đôi mắt Quyên ráo hoảnh, cay nóng. Cô lăn qua, ôm cháu vào lòng. Trên người con Thúy đêm nay vẫn đắp thêm chiếc áo của mẹ nó. Và dưới lần tay ve vuốt của mình, Quyên thấy mớ tóc xấp xõa trên đầu đứa cháu chừng như cũng đã mọc dày, mướt mượt, hệt như mái tóc chị Sứ ở một ngày xa xôi mà cô mang máng nhớ.


3


Nhà vợ chồng Hai Thép có một cái hầm bí mật. Hầm này nguyên đã sẵn có hồi mấy năm đen tối. Sau khi đồng khởi lên rồi, anh Hai Thép chẳng những không lấp mà còn ra sức củng cố. Hầm trổ miệng ngay giữa nhà, nhưng nó còn có tới ba bốn nhánh ăn thông ra ruộng. Nếu địch có khui miệng, cũng không dễ gì phăng ra được. Mấy hôm nay, anh Tám Chấn ở dưới hầm, đêm đêm anh mới lên thở hít không khí cho khỏe rồi cũng trở xuống đốt nến làm việc. Chiều hôm ấy, vào lúc trời vừa tắt nắng, chị Hai Thép từ ngoài xóm về giậm khẽ mấy gót chân xuống miệng hầm, và dở hầm. Anh Tám Chấn mới trồi lên, chị nghẹn ngào nói:


- Cô Ba Sứ chết rồi! Anh Tám đau đớn lặng đi giây lâu. Lát sau, anh mới khẽ hỏi:


- Chết hồi giấc nào?


- Mới chết hồi nãy, cách đây chừng non một tiếng. Thằng Xăm chém cô ấy. Tụi tôi đã cùng bà con giành được xác cô. Cô Sứ chết làm cả xóm đều khóc, bà con kéo ra đường ùn ùn. Lúc giành giựt xác cô Sứ, đã xảy ra một cuộc ẩu đả giữa tụi tôi và lính.


 


- Hiện thi thể của Sứ để ở đâu?


 


- ở nhà má Sáu. Bà con bây giờ đã kéo tới đó đông lắm! Anh Tám Chấn đứng thẳng lên, hai tay choàng qua hai mé miệng hầm, ngó đăm đăm vào khoảng không trước mặt. Chốc sau, anh nói:


 


- Bây giờ thím phải ra đó ngay. Tổ chức hàng ngũ bà con lại cho chặt chẽ để đưa đám Sứ. Cần phải biến đám tang thành một cuộc biểu tình, đi khắp xóm, nhơn đó mà làm cho bà con căm thù thêm. Chị Hai Thép đáp:


 


- Tụi tôi cũng tính vậy. Để tôi trở ra ngoài liền... Nói rồi, chị đứng nhổm lên định sửa soạn đậy nắp hầm. Chợt nghe anh Tám Chấn lại bảo:


 


- Khoan đã!... Thím Hai, theo thím, liệu có thể nào điều động đám tang cô Sứ đi qua cận cửa hang Hòn được không? Chị Hai Thép tỏ vẻ ngạc nhiên:


 


- Chi vậy anh? Anh Tám Chấn không đáp, kéo áo chị ngồi xuống. Và anh dặn điều gì rất khẽ, rồi hỏi:


 


- Sao, thím nhắm liệu bề có được không, nếu được thì rất tốt! Chị Hai Thép im đi một lát rồi mới nói:


 


- Để tôi bàn với chị em coi, hễ có cơ hội thì kết hợp làm luôn. Thôi, tôi đi nghen anh?


 


- Thím Hai, thím phải cân nhắc cho kỹ, không nhường bước mà cũng không để căng quá, đừng để xảy ra tình trạng ẩu đả với binh sĩ nữa... Phải tranh thủ lôi kéo họ là chánh... Mà thím nè, mấy đứa nhỏ đi đâu mất hết rồi?


 


- Tôi gởi tụi nó ở nhà bên rồi. Chị Hai Thép đáp, và khi anh Tám rụt xuống, chị lẹ làng đậy nắp hầm lại, rồi lấy chổi quét qua mấy nhát. Chị Hai Thép ngắm nghía coi lại nắp hầm lượt nữa rồi dựng chổi, bươn bả đi tới nhà mẹ Sáu. Bây giờ trời đã nhập nhoạng. Trước sân và quanh nhà mẹ Sáu, bà con lối xóm đến đông nghịt. Chị Hai Thép đến một lúc thì cuộc tẩn liệm bắt đầu. Khi chị và chị Ba Rèn sắp sửa đặt Sứ vào hòm, mẹ Sáu gác nhẹ đầu Sứ lên đùi, rồi cầm cái lược chải tóc cho con. Mẹ chải kỹ lưỡng, như mọi bữa mẹ vẫn chải cho Sứ. Cũng với chiếc lược thưa bằng sừng trâu đen huyền ấy! Nhưng lần này, mẹ chải rất lâu, chải mãi. Vừa chải mẹ vừa lần gỡ hết các món tóc rối. Chải xong, mẹ bảo chị Hai Thép với giọng tỉnh hẳn:


 


- Vợ Hai Thép coi phía sau tủ thờ có chai dầu bông bưởi, lấy giùm tao! Con Sứ nó ưa xức thứ dầu đó lắm. Hồi rồi nó kiếm ở đâu đem về để đó, chắc tính xức mà chưa kịp xức...


 


Chị Hai Thép mò tìm được chai dầu, mở nút, đem lại đưa cho mẹ Sáu. Mẹ Sáu cầm chai dầu, nhểu mấy giọt vào giữa lòng bàn tay, xức lên tóc con gái. Dầu bông bưởi thoảng khắp nhà mùi hương thơm dìu dịu, trinh bạch. Mẹ Sáu xức cạn chai dầu, rồi cầm lược chải lại tóc con lần nữa. Chừng đó mẹ mới bắt đầu bới tóc cho con, nhẹ nhàng và khéo léo. Biết bao lần mẹ đã bới mái tóc ấy, nên mẹ quen lắm. Chiều dài và tính nết của làn tóc ấy ra sao mẹ thuộc lắm. Mẹ Sáu bới cho đứa con mình một đầu tóc thực là khéo. Đầu tóc đó tròn trịa, đầy đặn hơn cả khi Sứ còn sống. Có lẽ đây là cái đầu tóc khéo nhất của Sứ, kể từ thời tóc kẹp đuôi gà của Sứ qua đi, kể từ lúc Sứ biết ham bới tóc và có đủ tóc để bới. Đầu tóc đó được bới khéo như vậy tưởng cũng không lạ. Vì đây là lần cuối cùng mà một người mẹ bới cho con, với đôi bàn tay trút hết tình âu yếm. Bới xong, mẹ Sáu cũng chưa yên tâm rời con ra được. Mẹ với tay ra sau đầu tóc mình, rút chiếc lông nhím đồng, ghim vào đầu tóc con. Còn mớ tóc của Sứ bị thằng Xăm chém đứt hồi trưa, bà con đem về, mẹ nâng đặt lên bàn thờ. Bây giờ, mẹ mới bắt đầu khóc lặng. Bà con nới nhẹ tay mẹ Sáu ra, dìu mẹ đến bên giường. Chị Hai Thép và chị Ba Rèn đỡ lấy Sứ, đặt Sứ vô chiếc hòm sơn màu chu. Bà con chuyền tay nhau những súc vải mùng trắng tinh đắp liệm lên mình Sứ. Khi nắp hòm sắp sửa đậy lại, mẹ Sáu giằng mọi người ra, chạy đến. Nhưng mẹ không còn thấy gì nữa. Trong tiếng nấc của mẹ, nắp hòm đậy xuống, liền mí, và cái hòm bấy giờ hoàn toàn đỏ, đỏ thẫm. Cái hòm trong đó có Sứ đặt giữa sàn gỗ, nơi chị sinh ra và lớn lên, nơi chị đùa giỡn thuở còn tấm bé. Tại đây chị đã khóc, đã cười, đã chơi đánh búng và chuyền đũa. Bây giờ, tại đây chị yên ngủ rồi. Chị ngủ mãi mãi. Nhưng cả cuộc đời hai bảy năm thì chị vẫn để lại, nhất là những giờ phút chót của cuộc đời ấy. Người ta nghe tiếng chị Hai Thép dõng dạc ra lệnh cho bà con ở trong nhà và đứng dài từ bậc thang đổ xuống sân:


 


- Đốt đuốc lên! Các bà các chị bắt đầu đốt đuốc lá dừa và đuốc rơm đánh vội. Nhiều người, trong đó có cả Cà Mỵ, đang bó túm những vật gì vào vạt áo. Lát sau, ánh đuốc cháy sáng sân nhà. Mẹ Sáu xin cho chôn Sứ bên mộ cha chị. Đáng lẽ bà con đưa Sứ đến thẳng chỗ mộ cha chị dưới chân Hòn thì gần hơn. Nhưng bà con không đi cái lối gần đó. Bà con đưa Sứ đi qua các vườn, đi qua xóm. Đám đưa tang biến thành một cuộc diễu hành đi ngang qua các nhà đi ngang vườn cây, quê hương yêu dấu của người con gái chết. Toán lính tuần đêm đầu tiên bắt gặp đám người đó giữa một khu vườn vú sữa. Chúng thét:


 


- Giờ thiết quân luật mà mấy người kéo đi đâu rần rần vậy? Thím Ba ú bước sấn lên:


 


- Mấy người giết con cháu chúng tôi, thì chúng tôi phải đi chôn chớ đi đâu! Tên cầm đầu toán đi tuần nghe nói, đưa hai tay về phía trước:


 


- Được, cứ đi đi!...


 


Mấy người biểu tình luôn cũng được nữa. Tên này nói xong, quay lưng khoát tay ra hiệu toán lính giạt ra hai bên. Đoàn người, dẫn đầu là chị Hai Thép và thím Ba ú, lại tràn tới. Đuốc lá dừa trên tay họ cháy kêu lép bép. Đuốc rơm cháy nghe xèo xèo. Mỗi người, ngoài bó đuốc cháy sáng trên tay, họ còn cầm theo một bó đuốc dự trữ, chưa đốt. Đoàn người và lửa đuốc, cứ ồ ồ, phừng phừng, lũ lượt tốp trước, tốp sau nối đuôi cái hòm ghé đầy những vai phụ nữ. Lửa đuốc chiếu cái hòm đỏ chói giữa đường đêm lòa sáng. Lửa đuốc còn rọi óng ánh những mái tóc bạc phơ của các mẹ, rọi bóng nhãy vòm lá trên đó từng chùm vú sữa tím căng da bóng lưỡng. Mẹ Sáu đi ngay sau cái hòm, bên chị Ba Rèn và các mẹ Hòn Đất. Hai chị dìu mẹ. Nhưng mấy lần mẹ gạt tay hai chị ra, bươn tới. Giờ mẹ không khóc. Cuốn theo dòng người ồ ạt, mẹ không còn muốn khóc nữa. Có cái gì cứ nóng sôi trào lên trong bộ ngực già nua lép kẹp của mẹ. Ban nãy, mẹ đau đớn chia lìa con gái. Giờ đây, đi giữa đoàn người, mẹ thấy hình như không phải chỉ có mỗi con của mẹ hy sinh. Biết bao người cùng đi với mẹ đây có chồng con, anh em đã chết hoặc bị đánh dập phổi, dập gan, kẻ không còn chân, người không còn tay. Có biết bao nhiêu thân nhân ruột thịt với họ giờ còn trong lao tù hoặc bị đọa đày ngoài hải đảo! Bảy năm nay cả Hòn Đất không có mấy gia đình thoát khỏi cảnh tang tóc, khảo tra, bức hiếp. Xương người còn đó, máu người còn đây... Không, không phải chỉ có mỗi mình mẹ riêng chịu cảnh ấy, mà là tất cả xóm giềng. Không phải chỉ có mỗi mình mẹ tranh đấu, mà còn có trăm, ngàn người ở Hòn Đất, triệu triệu người ở miền Nam đi tranh đấu. Sóng biển đánh ầm ầm sau lưng mẹ như bảo mẹ hãy dấn lên đau khổ mà đi. Vườn lá rào rào nổi gió như giục giã mẹ thù kia phải trả. Xương đòi xương, máu đòi máu. Không phải chỉ có mẹ và bà con đang đi đày, còn đám con đám cháu của mẹ đang bị vây trong hang kia nữa! Năm ngày đêm ròng rã, đám con cháu đó nhịn đói nhịn khát chống trả quyết liệt. Chỉ có một người bị sa vào tay giặc, nhưng người đó không đầu hàng, người đó là con gái ruột của mẹ. Còn đứa cháu mới mồ côi, còn con rể, còn chồng hai người đàn bà đang đi bên mẹ đổy - chị Hai Thép và chị Ba Rèn - còn thằng Bé con chú Tư Râu, còn bao nhiêu người mà mỗi lần nghĩ tới, thì mẹ thấy yên yên trong dạ. Đoàn người đã kéo tới bên con suối Lươn. Quân giặc đóng trên bờ suối khi nhìn thấy ánh đuốc như một đám cháy lớn trườn về phía chúng, chúng liền la lên và chạy xổ ra. Tên đại úy Cao, chỉ huy tiểu đoàn lính chủ lực vừa ở trong lều chui ra, nhác trông thấy đám người khiêng cái hòm đỏ chói thì gã hiểu ngay. Gã lập tức ra lệnh cho bọn lính cầm súng dàn hàng ngang, chắn lấy một quãng suối. Rồi gã chạy xồng xộc tới trước đoàn người, khoát mạnh tay:


 


- Không được đi tới! Thím Ba ú bước lên, nhỏ nhẹ:


 


- ạng à, cháu chúng tôi bị mấy ông giết, phải để chúng tôi đem chôn chớ!


 


- Thiếu tá cấm chôn ban đêm. Giọng thím Ba ú vẫn nhẹ nhàng:


 


- ạng à, cháu tôi bị mấy ông giết thế đó, để lâu đâu có tiện!


 


- Không tiện thì mặc kệ. Việt cộng mà cho chôn là quý rồi!


 


- Thưa ông, dẫu cháu tôi nó có theo Việt cộng đi nữa thì nó cũng là cháu tôi. Chúng tôi đem chôn nó ở chân Hòn thì có mất mát gì mấy ông đâu? Tội nghiệp, nó bị mấy ông giết cách thảm thiết quá mà!


 


- Con mẹ mập này ăn nó xốc óc dữ hôn? Đã nói là ban đêm ban hôm, thiếu tá không cho ai léo hánh đi đâu hết, nghe chưa? Thím Ba ú buông tay xuôi lơ, vẻ thất vọng:


 


- Vậy mà tôi tưởng ông có quyền ở đây, té ra ăn thua ở ông thiếu tá! Thôi được, vậy ông cho tôi gặp thiếu tá để tôi xin ổng! Gã đại úy Cao niễng đầu qua, niễng đầu lại như để nhận dạng thím Ba ú, đoạn gã dằn giọng:


 


- Đòi gặp thiếu tá đặng đấu tranh hả? Coi bản mặt chị, tôi biết là dân cầm đầu đấu tranh liền mà! Một tên lính nói chen vào:


 


- ối, cái chị này tôi gặp chị đi biểu tình ở Rạch Giá hoài đây!


 


- ‰, đừng nói bậy nghe! Tôi đang nói chuyện với ông đại úy, mắc mớ gì anh mà anh xía vô? Thím Ba mắng tên lính xong, lại bóp bóp hai bàn tay nói với tên đại úy, vẫn với giọng nhẹ nhàng như trước:


 


- ạng làm ơn để chúng tôi được gặp thiếu tá đi, thế nào ổng cũng cho. Mấy ông đánh nhau với Việt cộng trong hang, mấy ông bắt được họ đem giết là đủ rồi, lẽ nào lại không cho chôn?


 


- Không cho,- gã nạt.


 


- Cứ nói dai nhách! Không nhịn được nữa, thím Ba ú thét lên:


 


- Chẳng cho chúng tôi cũng đi! Rồi bước thoắt qua mặt tên đại úy, thím khoát tay kêu mọi người tiến lên. Đoàn người ồ theo, xô rẹt những tên lính, tràn xuống suối. Gã đại úy gào lên:


 


- Đứng lại không tôi bắn! Đoàn người vẫn không đứng lại. Họ giơ cao đuốc, lội sồn sộn qua suối. Lòng suối phút chốc sáng rực ánh đuốc. Tên đại úy chạy lại bảo khẽ mấy tên lính:


 


- "Bắn bổng đi! " Bọn lính tuân lệnh cất cao họng súng bắn "đoành đoành". Dòng người đuốc vẫn lội qua suối, tràn tới bờ bên kia. Chiếc hòm đỏ đã được đưa lên bờ. Chị Hai Thép nói chuyền ra sau:


 


- Nó bắn bổng, đừng sợ, đi đi! Kinh nghiệm các cuộc đấu tranh đã từng dạy cho mọi người rằng giữa giờ phút này chỉ có tiến chớ không được lùi. Mà họ cũng nghe những phát súng bắn bổng kiểu đó nhiều lần rồi, nên họ vẫn bình tĩnh. Vả lại, mỗi người đi đây đều biết rõ ngoài việc đưa Sứ, họ còn có mục đích khác hết sức quan trọng là nhân lúc kéo tới chân Hòn, một số chị em sẽ chạy đến miệng hang liệng vào đấy những gói cơm, thức ăn và những chai nước mà họ đã chuẩn bị, đã bó chặt và giấu kín trong người từ lúc chạng vạng.


 


Gã đại úy Cao là một tên đã từng có kinh nghiệm đàn áp các cuộc đấu tranh nên việc hạ lệnh bắn thẳng vào đoàn người gồm cả ngàn phụ nữ này là việc gã rất thận trọng. Đã đôi lần gã suýt chết vì những quả đấm, những gậy gộc hoặc đá cục liệng vào người khi gã cho nổ súng giết chết mấy người trong đoàn biểu tình nọ. Ban đầu, gã cứ ngỡ là nếu bắn một người chết, ngàn người phải chùn lại. Lạ thay, lần nào hễ có một người chết, ngàn người đều tràn tới, đấm đạp, cấu xé vào gã và đồng bọn một cách dữ dội. Nên bây giờ sau sáu phát súng bắn bổng, gã vẫn chưa dám hạ lệnh bắn thật. Hơn nữa, ngay từ hôm tới đây, tên thiếu tá đã căn dặn bọn gã:


 


“Muốn tiêu diệt được tụi Việt cộng trong hang, cần nhứt là không nên để nổ ra một cuộc đấu tranh chánh trị nào tại đây. Chọc ổ tụi đờn bà thì bê bối lắm!... Có gì mấy anh cũng phải đợi lịnh của tôi! " Hôm đó, gã thầm phục thiếu tá là người sâu sắc, thấy được sự lợi hại. Bây giờ thì ổ đã động, đám đờn bà lộ qua suối ùn ùn không chờ lệnh gì cả, gã biết làm sao được. Chỉ còn cách là gọi điện thoại cho thiếu tá. Nghĩ thế, gã liền chạy tới lều truyền tin, chui vào vớ lấy ống điện thoại quay liên hồi. Bên kia đầu dây vọng lại tiếng ồ ồ ngái ngủ của tên lính trực máy:


 


- Ai kêu?


 


- Tôi đây, đại úy Cao ở tiểu đoàn ba đây. Cho tôi nói chuyện gấp với thiếu tá!


 


- Thiếu tá à, ổng ngủ khò rồi!


 


- Kêu dậy, kêu ổng dậy!... Dân chúng họ biểu tình tràn qua suối rồi, mau đi! Gã để ống nói nơi tay chờ. Tới năm phút sau, từ bên kia mới có tiếng tên thiếu tá hỏi:


 


- Sao, dân chúng biểu tình hả?


 


- Dạ, phải. Họ đòi đem con nhỏ bị chém vô chân Hòn chôn, tôi không cho, họ kéo đại qua suối...


 


- Bắn dọa cho họ lui ra. Bắn đi!


 


- Thưa, bắn rồi mà họ vẫn không lui. Thưa, cho phép tôi bắn thiệt may ra...


 


- Bắn thiệt à... Không, không, rắc rối lắm!... Họ đã qua suối rồi hả, rượt theo, rượt theo ngăn chặn!


 


- Dạ dạ...


 


Gã đại úy bỏ ống nói, chạy ra ngoài. Nhưng đã muộn rồi... Đứng trên bờ suối gã chẳng còn thấy bóng một người nào nữa. Những ngọn đuốc cuối cùng đã khuất vào vườn dừa. Chỉ còn thấy ánh đuốc hắt lên lá dừa chập chờn, loang loáng. Khi gã đại úy dẫn một trung đội vượt suối rượt kịp khúc đuôi đoàn người thì cũng đúng vào lúc từ trong đoàn người vút tách ra nhiều cái bóng đen, chạy riết về phía hang Hòn. Đó là những chị em đã được chị Hai Thép giao cho nhiệm vụ đem cơm nước vô miệng hang. Cái bóng vụt lên trước tiên là Cà Mỵ. Một tay cô xách chai nước đã được bó lại bằng rơm, còn tay kia cô xách một gói cơm nếp nén chặt. Cà Mỵ chạy nhào tới, tất tả. Theo sau cô, là những cô những chị khác cũng xách nước xách cơm như cô. Lúc Cà Mỵ chạy gần tới miệng hang, thình lình một phát súng từ trong bắn ra, nổ vang. May cho cô, viên đạn chỉ bay sướt qua tóc. Cô hoảng quá, đứng khựng lại, la ré lên, giọng lơ lớ:


 


- Tui đây, tui là Cà Mỵ đây, mấy anh ơi!... Tui, tui đem cơm cho mấy anh mà! Trong hang, người vừa bắn phát súng là một du kích. Anh rụng rời chúi mũi súng xuống:


 


- Trời ơi, Cà Mỵ đó hả? Có sao không?


 


- Không sao, không sao... Cà Mỵ lắp bắp. Bóng cô lao tới miệng hang. Và cô chuồi nhẹ chai nước, gói cơm vào hang.


 


- Mấy anh còn đủ không?


 


- Còn.


 


- Chị Sứ chết rồi, tụi tui đi đưa chị Sứ đây!


 


Cà Mỵ chỉ kịp hỏi và nói thế rồi chạy ngược trở ra. Người sau lại tới. Cứ thế mà liệng cơm, liệng chai nước vào. Mỗi một bóng người đều xưng tên, hỏi thăm trong hang ai còn ai mất, rồi chạy đi. Thoáng thấy bóng đen nào, từ trong cũng vẳng ra tiếng nhắn nhủ:


 


- Nói bà con yên tâm, tụi tôi chỉ bị thương có hai, tụi tôi còn chiến đấu như thường!


 


- Bà con ngoài đó ráng đấu tranh với tụi nó. Phải đòi bồi thường tài sản bị phá. Phải làm rã ngũ tụi lính. Nhớ nghe, nhớ đấu tranh gắt lên, nghe!


 


- ờ, nhớ rồi, nhớ rồi! Chợt có tiếng chú Tư Nghiệp thốt lên:


 


- Trời ơi, ai phải má con Lụa không?


 


- Phải... phải, tía nó đó hả?... Tôi đây nè, tía nó ơi!... Thôi tôi đi!... Những câu hỏi hấp tấp và những câu trả lời vội vã. Người bên ngoài hỏi dồn người trong hang. Người trong hang nhắn gởi người ở ngoài. Tiếng những chai nước, gói cơm rơi lịch bịch xuống ngõ hang. Rồi tiếng thở hào hển, tiếng chân phụ nữ lụi dụi chạy tới. Cái miệng hang sáng ánh trăng trong phút chốc đổ dồn hết bóng người này tới bóng người khác, mà bóng người nào cũng quen, cũng có kẹp tóc, búi tóc cả. Anh em du kích nhận ra em họ, con họ, vợ họ. Còn từ ngoài trông vào, các chị và các em chỉ thấy hang tối om, thấy những bàn tay chìa ra chụp lấy họ. Tuy vậy, nghe tiếng nói, họ biết liền là chồng mình, là anh mình hay họ hàng lối xóm. Đều là những tiếng người thân thiết với mình cả. Năm ngày qua, họ không gặp mặt nhau, lo lắng cho nhau. Đêm thứ năm này, vầng trăng đã chứng kiến cái cảnh họ gặp nhau. Một nguồn cổ vũ kỳ lạ truyền đến cho từng người, ở trong cũng như ở ngoài, tại cửa hang mà năm ngày năm đêm địch không vào nổi. Những người trong hang lòng náo nức biết rằng mình không cô độc. Những chị em sau khi vội vã chạy đi, họ mang theo cả niềm hy vọng rằng hang sẽ được giữ vững. Họ tin rằng đêm gặp gỡ hôm nay sẽ không phải là đêm cuối cùng. Nhưng khi chị em đã chạy đi hết thì vẫn còn một bóng đen thấp bé ở lại với bóng một con chó chạy quẩn theo. Cái bóng đó tọt vào hang, đụng nhằm anh Ba Rèn. Anh túm lấy, hỏi:


 


- Ai đây, sao không chạy đi?


 


- Tui, tui không về, tui có một trái lựu đạn! Anh Ba Rèn chợt kêu:


 


- Trời ơi, thằng út, thằng út, mấy cha ơi!


 


- Tui ở lại, tui không về đâu. Thằng út nói thế rồi luồn ra khỏi tay anh Ba Rèn, xớn xác quờ tay đi tới, đụng ai nó ôm nấy, ngọ ngoạy cái đầu trọc xửng bông gáo vô bụng những người đó. Nó cười khúc khích vẻ đắc chí.


 


- Mấy thím đó về thấy mất tui chắc hoảng hồn dữ!


 


- Út, út, mày đó hả út? Bên trong có nhiều tiếng hỏi mừng rỡ. Thằng út nhận ra anh Năm Tấn. Nó nói:


 


- Chú Năm hả? Eo ôi, thím Năm ở nhà sợ chú chết rồi cứ thắp nhang vái tối ngày!


 


- Cái thằng dóc quá!... Nè, anh mày bị thương nằm trong kia, vô thăm anh mày đi! Thằng út đáp, giọng thản nhiên:


 


- Tui biết rồi, gấp gì, chút xíu vô thăm ảnh. Ba tui cũng biết nữa, ba tui nói đánh giặc bị thương là thường... à, mà quên, tui chốp được của bọn lính một trái "láng", tui có đem theo đây nè. Mai, hễ tụi nó đánh vô, tui rút chốt chia hai! Trong hang mọi người nghe nói đều cười ồ:


 


- Mày thiệt con nít, chừng nào nột quá mình mới làm vậy, chớ nó còn ở xa thì cứ liệng thôi, chia hai chi cho uổng mạng? Thằng út ậm ờ, nhưng nó nói bọc theo ngay:


 


- Thì... thì tui nói là gặp nột đó chớ!


 


- ờ, nếu vậy thì được. Nhưng ở đây không đến nỗi ngặt quá phải chơi vậy đâu, bồ ơi! Hễ tụi nó vô là mình bắn hoặc liệng lựu đạn thôi!


 


- Vậy thì ngon quá! Thằng út xăng xở nói. Nó chợt hỏi:


 


- Chị út Quyên đâu mấy chú, chị út Quyên đâu?


 


- Ở trong hang. Chợt thằng út đứng sững lại. Thình lình, mọi người nghe nó khụt khịt mũi liên tiếp mấy cái. Bỗng dưng nó nức nở òa kêu: - "Mấy chú ơi, chị Ba chết rồi... ư... ư ư... " Đứng giữa ngõ hang, nó khóc hù hụ. Ai kéo tay nó dỗ nó cũng vùng ra, càu nhàu, tuồng như giận dỗi mọi người lắm vậy. Rồi cũng như lúc bắt đầu khóc, nó đột ngột ngưng khóc, đưa tay quệt nước mắt, hít mũi rẹt rẹt. Anh Hai Thép kéo tay nó, nói:


 


- Út à, thôi, bây giờ mày ở đây với tụi tao. Nhưng tao dặn sau đây vô trong hang, có gặp con Thúy, mày không được hở miệng nói má nó chết, nghe chưa? Nó mà biết thì nó khóc tụi tao dỗ không xiết đâu... à, còn mày nói mày có một trái láng hả? Đâu, đưa đây, đưa tụi tao cất cho! Thằng út móc trái lựu đạn MK3 lận ở lưng quần cụt ra đưa cho anh Hai Thép. Nó dặn:


 


- Chú cất giùm tui. Hễ mất thì tui mắc đền chú!


 


- Ừ, mất tao đền trái khác cho mày. Tụi tao có thứ này thiếu gì? Anh em đã lượm gom số lương thực của đồng bào tiếp tế. Họ bấm đèn kiểm lại thấy có tới mười hai chai nước, mười hai gói ốp bẹ chuối cơm nếp, cơm tẻ, và vài cái gói mo cau non bọc sáu bánh thuốc lá giồng, một tút thuốc thơm hiệu Ru - bi. Những ốp bẹ chuối đựng cơm còn in dấu dao rọc tươi rói, rỉ nước. Anh em mở thử ra một ốp thì thấy cơm nếp nén, bên trong còn ấm... Giữa cơm nếp nhét đầy những miếng thịt gà chiên vàng, thơm sực mùi tỏi sả. Anh em reo lên:


 


- Phen này tươi rồi, nghe! Anh Ba Rèn bảo:


 


- Tối nay, phải bù lại mới được! Cho anh em ăn no, uống đã khát rồi tính gì thì tính. Sau đó mình hút Ru - bi, phun khói ra ngoài cho tụi lính hửi chơi! Anh Hai Thép nói:


 


- Ru - bi thì có thể hút, nhưng ăn thì phải dè xẻn và uống đỡ khát thôi. Phải để dành... Có thể tụi nó còn vây mình lâu. Đề nghị giao tất cả những thứ này cho út Quyên giữ, để cô ta trọn quyền phân phối!


 


- Phải, để út Quyên giữ, nhưng còn thuốc hút tôi lãnh giữ cho! Chú Tư Nghiệp bảo. Mọi người đều cười rộ và đồng ý. Anh Ba Rèn lè lưỡi:


 


- Nhè ông sâu thuốc mà giao cho ổng thì chết rồi! Chú Tư Nghiệp nghiêm giọng:


 


- Đừng nói vậy chớ Ba Rèn!... Tui coi trọng của chung chớ có "cá nhơn" cho tui đâu! Ba Rèn cười hà hà.


(còn tiếp)


Nguồn: Hòn đất. Tiểu thuyết của Anh Đức. Rút từ Anh Đức – Tác phẩm được Giải thưởng Hồ Chí Minh. NXB Văn học, 2007.


www.trieuxuan.info

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Dưới chín tầng trời - Dương Hướng 16.11.2018
Bão - Ngũ Hà Miên 16.11.2018
Bến không chồng - Dương Hướng 08.11.2018
Trở lại cố hương - Thomas Hardy 07.11.2018
Nguyễn Trung Trực - Khúc ca bi tráng - Dương Linh 06.11.2018
Sông Đông êm đềm - Mikhail Solokhov 02.11.2018
Sóng lừng (VN. Mafia) - Triệu Xuân 02.11.2018
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 29.10.2018
Trăm năm cô đơn - G. G. Marquez 25.10.2018
Trả giá - Triệu Xuân 24.10.2018
xem thêm »