tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 24055719
Tiểu thuyết
01.08.2018
Anh Đức
Hòn đất

 


4


 


Thằng Xăm mừng rơn lên khi hay tin tên thiếu úy bắt được Sứ. Đang nằm trong lều, hắn nhổm dậy, co co cánh tay bị thương, đi lộc xộc qua lại rồi khom lưng chui ra khỏi lều. Bọn lính biệt kích đã về tới bờ suối bên kia. Chúng xô Sứ xuống suối. Chị té nhào, ướt cả mình mẩy. Nước ở quãng suối này chỉ lên đến gối. Sứ dầm chân xuống lòng suối buốt lạnh, đi qua. Dòng suối cuốn áng tóc dày mượt của chị, trôi loang loáng. Đặt chân lên tới bờ sỏi bên, chị ngước nhìn thấy hai ba thằng lính đang đứng xách đèn khí sáng rỡ. Chúng giơ cao đèn lên. Liền lúc đó, Sứ nhác trông thấy thằng Xăm. Hắn đang đứng im, tay trái vịn cằm, tay phải bị thương treo băng co lên. Sứ cất bước, giả như không trông thấy, đi ngang qua hắn. Thằng Xăm vẫn đứng im, không nhúc nhích, vẻ mặt hắn lạnh lùng như tạc bằng đá. Đợi Sứ vừa đi khỏi hai bước, hắn gọi giật:


 


- Đứng lại, con kia! Chị Sứ dừng chân, nhưng không ngoảnh lại. Thằng Xăm bước sải tới sát bên Sứ, nháy mắt:


 


- Nè, quên tao rồi sao? Sứ liếc hắn, rồi lại nhìn thẳng tới trước, không đáp. Thằng Xăm ngó chị một lúc rồi nói:


 


- Đ. mẹ, tao cứ tưởng tụi bây ở lì trong hang chớ!... Té ra tụi bây cũng biết khát nước. Mà tao ngỡ là bắt được ai kia chớ đâu dè là mày. Thiệt tao không dè năm kia thả mày về để mày theo Việt cộng! Sứ nhếch miệng nói nho nhỏ:


 


- Mày nói không dè tao theo Việt cộng, còn tao thì tao cũng không dè lâu ngày gặp mày, thấy mày vẫn y như trước.


 


- Y như trước là sao?


 


- Là ăn nói thô lỗ. Đến như mày là trung úy mà cũng ăn nói như vậy, hèn chi người ta chê "quân đội cộng hòa" tụi mày lưu manh là phải lắm...


 


Bị Sứ nói như tát nước sôi vào mặt, tên Xăm giận điếng người. Hắn nắm chuôi dao "cúp cúp" ở thắt lưng, rút soạt dao ra. Hắn đưa lưỡi dao dài và sáng đó ngang tầm mắt, ngắm nghía. Mấy giây sau, bỗng hắn cau mày, từ từ hạ lưỡi dao xuống, đút trả vào vỏ.


 


- Đóng cọc trói nó tại đây cho tao!


 


- Hắn thét lớn. Bọn biệt kích chạy đi lấy cây, đẽo sàn sạt. Lát sau chúng xốc một cây cộc tràm trên bờ suối, rồi dắt Sứ lại trói ghịt vô. Thằng Xăm bước tới trước mặt Sứ, nghiến răng:


 


- Đáng lẽ tao mổ bụng mày liền bây giờ để coi là gan của mày lớn tới bực nào. Ngặt làm vậy mày chết mau quá. Tao cho mày sống đôi ngày nữa để chôn chung một lỗ với anh em đồng chí của mày! Nói xong, thằng Xăm quay lưng đi vào lều. Bọn lính giơ những cây đèn khí đá ra sau lưng Sứ, rọi coi chỗ trói Sứ như vậy đã thật chắc chưa. Rồi chúng cũng xách đèn bỏ đi. Chỉ còn lại một tên lính cầm súng đứng gác trước cửa lều thằng Xăm. Sợi dây dù thít chặt hai bắp tay trần của chị Sứ vào cây cọc. Cứ mỗi lúc, Sứ có cảm giác sợi dây ấy càng thít chặt bắp tay mình hơn. Chị quỳ trên đất sỏi, mái tóc ướt đẫm sau lưng chị rủ đầy, xõa che kín phủ cả hai gót chân. Đêm bỗng nhợt dần, vì trăng sắp lên. Từ chỗ bị trói, Sứ có thể nhìn ra biển cả. Trước đó một chút thì chị chẳng thấy gì đâu, nhưng bây giờ chị đã nhìn thấy biển trước mặt mình. Chị tự nhủ:


 


 


 


“Trăng lên rồi! " và mở to đôi mắt, chị nhìn sóng biển chợt hiện ra, lao xao. Bây giờ, hầu như chị đã quên phắt ngay lưỡi dao của thằng Xăm, quên mình đang bị trói, quên cả tên lính gác đang đi đi lại lại kia. Giờ chị chỉ trông thấy có mỗi mặt biển đang nhấp nhô sáng rộng ra đó, chị chỉ trông thấy cái ánh biếc ngời như tự lòng biển thắm đang xô dậy trên đầu các ngọn sóng đó. Vầng trăng mười tám ngoi lên, vàng rực. Rồi trăng treo cao lên mãi. Đến lúc màu trăng đọng lại vàng ối, Sứ liền thấy mặt trăng giống hệt trái xoài Hòn chín, không có cuống, treo lơ lửng giữa không trung xanh nhạt. 65 66 Đêm nay trời lặng. Sóng biển rì rầm như kể những chuyện không bao giờ hết. Thỉnh thoảng, gió biển tự ngoài khơi lùa qua bờ bãi, thổi vào hơi thở âm ấm mang vị muối. Tấm áo lụa mỏng ngắn tay của Sứ se se khô lại. Tóc chị rồi cũng dần dần được gió biển vuốt cho ráo đi. ánh trăng đổ tràn trên bờ suối, làm nổi rõ bóng Sứ đang quỳ, nổi rõ cây cọc nhú lên quá đầu chị độ một gang tay.


 


 


 


Lát sau, tóc Sứ chợt vờn nhẹ. Thế rồi mái tóc ấy bồng lên bay xõa theo chiều gió. Chẳng còn thấy đầu cây cọc kia đâu nữa. Chỉ có áng tóc tắm ánh trăng của Sứ đang bay lượn. Đêm càng khuya, gió thổi càng nhiều. Sứ không nhìn vầng trăng nữa. Chị ngoảnh về Hòn Đất đen sẫm một vòm, ở sát kề bên chị. Lòng chị rối bời lên vì không biết sự thể trong đó bây giờ ra sao. Có lẽ anh em đồng chí đều bị trúng độc cả rồi cũng nên. Đang khát lại gặp cà - om nước của Năm Nhớ đem về ai lại không uống! Trời ơi, anh em có biết đâu nước trong cà - om có thuốc độc. "Năm Nhớ ơi, chúng nó giết em rồi! " Sứ kêu lên trong lòng, và rùng mình nhớ lại ban nãy chính chị cũng đã định vốc nước đó lên uống. Nhìn xuống dòng suối đang loang loáng chảy xiết, Sứ giật mình sực nhớ lại quãng suối nước ban nãy hình như không chảy. Phải rồi, nước ở đó không chảy như ở đây. Chúng nó ngăn lại để bỏ thuốc độc mà! "Anh San ơi, anh ở ngoài đó có thấu không, tụi Mỹ - Diệm nó ác độc thế đó, anh có biết không? " Trong đêm thâu bàng bạc ánh trăng, chị Sứ gọi chồng mà nói. Chị nói với chồng từ xa, lòng đau đớn không ngờ mình lại nói ra những lời ấy tại lòng suối mà tám năm về trước đã có lần chồng chị đứng dưới khoát nước lên cho chị gội đầu. Rồi chính tay anh ấy cầm lược chải gỡ từng mớ tóc rối cho chị. Tại bên bờ suối này đây, chị đã từng có những phút giây sung sướng. Bây giờ thì trái ngược hẳn. Bây giờ, sợi dây dù buộc chặt đến đỗi từ bắp tay chị trở xuống đã tê đi không còn có cảm giác gì nữa. Lưng chị loi lói thốn đau vì cái báng súng thằng thiếu úy đánh chị ban nãy. Nhưng bây giờ cái làm chị khổ sở nhất vẫn là nỗi lo đang vò xé lòng chị. Chị lo cho mình thì ít mà lo cho anh em đồng chí trong hang, lo cho em gái và nhất là đứa con gái bé nhỏ thương yêu của chị.


 


 


 


Suốt đêm, Sứ mở mắt trao tráo. Vầng trăng lên cao đến đỉnh đầu, rồi khuất sau lưng chị, mà nỗi lo của chị vẫn không vơi. Gần sáng, mỏi mệt, Sứ ngoẻo đầu ngủ thiếp đi, trong lúc dòng suối bên dưới vẫn chảy, reo lên khe khẽ. Và gió biển khơi vẫn lùa vào, thổi bay tóc chị ra phía sau như những làn sóng... Sứ thiếp đi được một giấc dài. Lúc chị tỉnh dậy, trời đã rạng sáng. Bọn lính từ trong các lều vải kéo ra đứng đầy bên bờ suối. Thằng Xăm dẫn hai thằng Mỹ đi xồng xộc đến bên Sứ. Hắn đưa mũi giày nhắc cằm chị lên. Hai thằng Mỹ nhìn mặt Sứ chăm chăm rồi xì xồ nói với nhau bằng thứ tiếng của nó.


 


 


 


- Con Việt cộng này có đôi mắt ương ngạnh nhưng rất đẹp!


 


 


 


- Nói chung là nó đẹp! Bọn lính tập họp trên bờ đã bắt đầu lũ lượt lội ngang suối, qua bên kia. Hai tên Mỹ rời chỗ chị Sứ một cách tiếc rẻ, men xuống suối. Bọn lính biệt kích khom lưng cõng chúng lội qua. Thằng Xăm cũng quay đi, nhưng mới đi mấy bước, hắn quay lại nói với Sứ:


 


 


 


- Mày ráng quỳ đợi đó. Bữa nay, tụi tao vô hang xách cổ hết đồng bọn của mày về cho mà coi! Hắn nói và co co cánh tay buộc băng, bước xuống vệ suối. Một thằng lính đứng lom khom đợi sẵn, cõng hắn lên, lội sồn sộn. Hôm nay, thằng Xăm cũng đi. Chị Sứ ngoảnh nhìn bọn chúng kéo vào Hòn, lòng hồi hộp chờ đợi. Trên bờ suối bây giờ chỉ còn lại năm bảy tên lính vừa nấu cơm vừa coi chừng chị. Bọn lính ngồi bên bếp lửa mới nhóm, ngó chị Sứ, kháo chuyện với nhau:


 


 


 


- Tụi mình không dễ dầu gì kiếm được một con vợ ngộ như con nhỏ này đâu!


 


 


 


- ờ, đờn bà có nhan sắc mà theo Việt cộng, thiệt uổng!


 


 


 


Sứ nghe chúng nói, lấy làm khó chịu mà hơi tức cười. Chị làm thinh, ngước mắt nhìn ra biển. Trời đã sáng rõ. Hồi đêm, Sứ nhìn thấy những lạng sóng vàng lấp lánh ánh trăng, bây giờ trước mặt chị là những lạng sóng hồng, lao xao, rối rít. Màu tím nhạt trên bầu trời biển đã ngả sang màu hồng sen, phơn phớt. Buổi sáng mát rợi mở ra cho Sứ nhìn thấy tất cả những gì đêm qua chị còn chưa thấy rõ. Ban mai như kế tục cái đêm trăng thanh, òa vào lòng chị, an ủi thêm chị bằng những sắc màu của nó. Và chính nó đã cho chị nhìn thấy toàn cảnh Hòn Đất. Chị Sứ yêu biết bao nhiêu cái chốn này, nơi chị oa oa cất tiếng khóc đầu đời, nơi quả ngọt trái sai đã thắm hồng da dẻ chị. Chính tại rẻo đất này, mẹ chị đã hát ru chị ngủ, và đến lúc làm mẹ, chị lại hát ru con những câu hát ngày xưa. Chính tại đây chị đã giơ nắm tay nhỏ nhắn lên chào lá cờ Đảng, nên từ đó chị càng biết yêu thêm cha mẹ, chồng con, anh em, đồng chí. Chị Sứ yêu Hòn Đất bằng cái tình yêu hầu như là máu thịt. Chị thương ngôi nhà sàn lâu năm có cái bậc thang, nơi mà bất cứ lúc nào đứng đó chị cũng có thể nhìn thấy sóng biển, thấy xóm nhà xen lẫn trong vườn cây, thấy ruộng đồng, thấy núi Ba - thê vòi või xanh lam cứ mỗi buổi hoàng hôn lại hiện trắng những cánh cò. Có lẽ chưa lúc nào Sứ yêu Hòn Đất oặn lòng như buổi sáng hôm nay.


 


 


 


Lúc quỳ trước cái chết lại là lúc chị thấy yêu hơn sự sống, yêu hơn mảnh đất chôn nhau mà bình minh giờ đang trải ra một ngày mới. ánh nắng lên tới bờ cát, lướt qua những thân tre nghiêng nghiêng, vàng óng. Nắng đã chiếu sáng lòa cửa biển. Và xóm lưới cũng ngập trong nắng đó. Sứ nhìn những làn khói bay lên từ các mái nhà chen chúc của bà con làng biển. Sứ còn ngó thấy rõ những vạt lưới đan bằng sợi ni - lông óng ánh, phất phơ, bên cạnh những vạt lưới đen ngăm, trùi trũi. Nắng sớm đẫm chiếu người Sứ. ánh nắng chiếu vào đôi mắt chị, tắm rợp mái tóc, phủ đầy đôi bờ vai tròn trịa của chị. Nhưng tất cả những ánh nắng đó bất thần như động đậy lên cả một lúc. Một loạt súng nổ ran ở phía hang Hòn. Sứ giật mình ngoảnh lại. Súng nổ mỗi lúc một dữ dội. Chị nghe tiếng tiểu liên, tôm - xông bắn ngắt quãng và tiếng súng trường "bầm bầm" nhịp từng phát một. Bọn lính chạy ùa cả ra bờ suối ngóng về hang Hòn. Mắt Sứ vụt sáng rực. Ban đầu, chị ngờ là tiếng súng của giặc nhưng giờ thì chị nhận rõ là tiếng súng của anh em trong hang bắn ra. Chị lắng tai nghe thấy giữa những loạt súng nổ, dậy lên tiếng la chói lói, văng vẳng. Mừng quá, Sứ muốn tung cả sợi dây trói mà nhảy lên vỗ tay hoan hô thỏa mãn. Sứ sung sướng nghĩ:


 


 


 


“Vậy là anh em còn sống, còn chiến đấu... " Một thằng lính đứng trên bờ suối vọt miệng:


 


 


 


- Súng nổ "mững" này thì bữa nay thế nào cũng có khiêng về vài "con" nữa cho coi!


 


 


 


- Nè, sao nói tụi nó uống nhằm thuốc độc rồi?


 


 


 


- Biết đâu... Nói vậy chớ có khi tụi nó uống mà không chết. Khúc suối minh mông dài nhằng như vầy mà bỏ thuốc độc thì ăn thua mẹ gì! Thằng biệt kích vừa nói xong câu ấy chợt nhớ có mặt Sứ, nó quay lại hầm hầm nhìn chị, giơ ngón tay lên doạ:


 


 


 


- ??????, nói vậy chớ đừng có mừng nghe "em"! Thân "em" như con cá trê bị chặt ngạnh để trên thớt rồi... Sứ liếc nhìn nó muốn nói lại một câu. Nhưng chị nghĩ:


 


 


 


“Nói với nó chỉ uổng lời mình". Thật ra thì chị chẳng mừng cho thân chị đâu. Chị mừng đây là mừng trong hang vẫn nổ súng, nghĩa là anh em vẫn còn sống, còn chiến đấu, chớ không phải để tụi nó vô xách ra, như thằng Xăm vừa nói. Giữa lúc đó, tiếng súng trong hang bỗng im bặt. Rồi tiếng trung liên rội lên hàng tràng dài, không ngớt. Sứ biết bọn giặc đang bắn trả lại. Chị nghĩ bụng:


 


 


 


“Không lo, giỏi lắm thì cũng như ngày hôm qua hôm kia thôi! ". Lát sau, giữa tiếng súng hãy còn nổ giòn giã. Sứ bỗng ngó ra thấy từ trong vườn dừa nhô ra một tốp lính. Chúng khiêng những tên bị thương đi xồng xộc ra suối. Tốp lính bên này suối cũng vừa trông thấy. Thằng ban nãy nói:


 


 


 


- Thấy chưa tụi bây?... Tao đã nói rồi mà! Tên này vụt chạy xuống sát mé suối, hỏi to:


 


 


 


- thằng nào đó tụi bây? Bọn lính đang khiêng không trả lời. Chúng cố rị chân để xuống cái dốc thoai thoải. Tới bờ suối, chúng để đại bọn bị thương xuống cát. Trong số đó có một tên Mỹ đang chòi đạp và rống lên dữ dội. Tụi lính đưa tay vuốt mồ hôi, hổn hển.


 


 


 


- Đ. mẹ, trung úy nói tụi nó uống thuốc độc chết hết rồi... biểu tụi tao vô hang... Mới nhảy vô, tụi nó ở trỏng xổ ra, chết hết sáu thằng, còn năm thằng bị thương. Có một thằng Mỹ gần xí lắc léo rồi đây nè!


 


 


 


- Bộ tụi nó cũng vô hang sao?


 


 


 


- Không nó đứng ở ngoài xa, bị lạc đạn! Bên kia suối, tên Mỹ to lớn đang giãy giụa. Hai tay nó cào cấu, bươi bươi lớp cát. Hồi sau, nó không la rống nữa, chân đạp mạnh mấy cái rồi ngoẻo vật đầu sang một bên. Chiếc mũ ba rèm úp chụp lấy mặt nó, tối om om. Tên lính biệt kích cúi xuống để tay lên mũi tên Mỹ. Tên lính kêu lên:


 


 


 


- Nó chết rồi!


 


 


 


- Chết rồi à?


 


 


 


- Hết thở rồi. Tên biệt kích lặp lại với giọng thản nhiên. Nó đứng chàng hãng, hai tay chống nạnh nhìn xác tên Mỹ nằm im dưới đất. Một tên bên này bảo:


 


 


 


- khiêng nó đưa qua đây đi. Để nó nằm đó lát nữa bị "cạch" đa!


 


 


 


- "Cạch" mẹ gì, bộ có mình nó biết chết sao! Khiêng mấy thằng còn sống của mình qua trạm cứu thương trước đã! Bọn lính xốc khiêng bốn tên ngụy bị thương lội qua suối. Máu từ các vết thương của chúng nhểu giọt xuống suối đỏ loang. Lúc chúng khiêng ngang qua mặt Sứ, chị thấy rõ từng giọt máu rơi xuống cát, vấy thành hàng, dẫn rải theo gót chân của bọn lính đang khiêng. Xác tên Mỹ bên bờ suối rồi cũng được bọn lính đưa sang. Chiếc mũ ba rèm trụt khỏi gáy tên Mỹ, rớt lại giữa dòng suối, trôi cuốn đi. Sứ thấy lướt qua mặt mình một mớ tóc hoe hoe đỏ, xõa xượi và chiếc mũi khoằm khoằm nhô cao. Tiếng súng trong hang đã ngớt. Tâm linh Sứ bỗng như báo trước một điều gì ghê gớm sắp xảy đến. Chị chuẩn bị tinh thần sẵn sàng chịu đựng. Lời nói của anh San chợt vẳng lên rất rõ bên tai chị:


 


 


 


“Chuyện gì mình có lường tính trước thì tới lúc xảy ra mình vẫn vững tâm hơn." Và Sứ bắt đầu thầm nói với chồng:


 


 


 


- "Được rồi, em sẽ làm theo lời anh, anh ơi! Bây giờ, em vững tâm lắm rồi... Chắc lần này em không còn gặp anh nữa. Vậy khi trở về, anh cũng đừng buồn. Em thương cho anh lắm, vì em biết bảy năm qua anh vẫn nhớ tới mẹ con em. Em biết ngày trở về không có em, chắc anh sẽ buồn nhiều. Tha lỗi cho em, nghe anh! Nhưng nếu còn con Thúy, thì anh hãy coi đó là sự đền đáp của tình em. Anh hãy nhìn con, tức là anh nhìn thấy em rồi... Tới giờ phút này, em cũng chưa biết con ra sao, nhưng em tin là con mình còn sống, vì các đồng chí trong hang đều còn nắm chặt tay súng..."


 


 


 


Sứ thầm nói và chị cảm thấy như có chồng đứng bên cạnh mình thực. Rồi chị thủ thỉ với mẹ và em gái:


 


 


 


- "Má, bây giờ má đương làm gì? Má đương dọn vườn hay cho heo ăn? Ba ngày rồi con không thấy mặt má... E con cũng không còn thấy má được nữa... Nếu con chết, má nuôi con Thúy cho con, nghen má! Má hãy coi con Thúy như là con Sứ của má hồi nhỏ. Vậy thì con cũng còn ở với má hoài chớ con không chết... Em Quyên ơi, em xây dựng với Ngạn là phải đó. Ngạn là một thanh niên tốt, một đảng viên tốt. Chị chắc không dự được đám cưới của em. Nhưng không sao, chị vui và tin rằng đời em đã sung sướng. Em ráng công tác, thay chị săn sóc má, săn sóc con Thúy. Em thương con Thúy nhiều nhiều cho chị, nghe em út!... " Thổ lộ câu này, Sứ cũng có cảm tưởng rằng mẹ và em gái đang nghe mình nói. Nhớ tới con Thúy, chị khẽ kêu:


 


 


 


- "Thúy ơi, con đừng chết, nghen con... " Và rồi chị âu yếm với con trong tưởng tượng, chị ôm ghì lấy đầu con mà vuốt ve, hôn hít. Nhưng đều là trong tưởng tượng. Quả nhiên, Sứ lường tính không sai. Việc chị ngờ đến đã đến. Giữa lúc chị còn mải mê âu yếm với đứa con trong trí tưởng thì mấy tên lính chạy từ trong hang Hòn về đến suối, lội gấp qua, chạy thẳng đến trước chị. Một thằng mở phăng sợi dây trói buộc ngang mình chị:


 


 


 


- Đứng dậy! Sứ tính đứng lên, nhưng đứng không được. Quỳ suốt đêm qua tới giờ, chân chị tê hết cả. Tên lính xốc tay chị lôi đi. Hai chân chị kéo lết trên sỏi. Xuống tới mé suối, chị vùng vằng:


 


 


 


- Buông tôi ra, để tôi đi! Tên lính buông tay chị. Sứ co co chân một lúc mới nhón đi được. Chị chậm rãi lội ngang quãng suối mà hồi đêm hôm chị đã lội qua. Đến bờ bên kia, một tên lính khoát tay chỉ vào hang Hòn. Rồi nó đi xốc lên trước. Tên lính đi sau nói:


 


 


 


- Nè, chị biết dắt chị đi đâu không?


 


 


 


- Không.


 


 


 


- Thiếu tá chỉ huy kêu đem chị vô trỏng đấy. Số mạng chị còn lớn lắm! Nghe tên lính nói, Sứ nghĩ:


 


 


 


“Nó tính làm gì mình? Chắc nó có âm mưu gì đây. Được, cứ để coi, làm gì thì làm, tụi mày vẫn là tụi mày, tao vẫn là tao... "


 


 


 


Hai tên lính dắt Sứ vào vườn dừa, đưa chị đến trước mặt tên thiếu tá chỉ huy hành quân. Tên thiếu tá này mặt xương, nước da đen nhánh. Hắn không đội mũ kết gì cả. Có lẽ hắn muốn chưng bộ tóc hớt kiểu tài tử, chải láng mướt, ốp sát vào gáy. Hắn nhịp nhịp trong tay một cái que gỗ đánh "vẹc - ni" nâu bóng loáng, ở đầu thanh que có bịt bạc (ấy là hắn bắt chước các tên tướng tay sai, hồi này đang bắt đầu có cái mốt ra trận không cầm súng mà cầm gậy chỉ huy). Cùng đứng với tên thiếu tá, còn có thằng Xăm và lũ biệt kích. Thấy Sứ, tên thiếu tá liền nhìn chị với đôi con mắt lấy lại vẻ nghiêm nghị. Hắn cầm thanh que, khẽ nhịp vào lòng bàn tay trái xòe ra. Sau một lúc ngắm nghía và nhoẻn một nụ cười gian giảo, hắn vẫn cứ nhịp nhịp thanh que vào lòng bàn tay:


 


 


 


- Cha, mặt mày coi sáng sủa như vầy mà lại theo Việt cộng à? Sứ day nhìn chỗ khác.


 


 


 


- Nghe nói cô có người chồng tập kết hả? Tôi biết ráo, tôi biết người ta khuyên cô nên cắt đứt với người chồng đó mà cô không chịu nữa. Vậy là cô tốt đó chớ. Đàn bà mà thủy chung là tốt! Sứ vẫn im lặng. Tên thiếu tá lại hào hứng nói:


 


 


 


- Cô không rứt bỏ người chồng tập kết, tôi cũng chẳng nói chi, có lẽ tôi còn khen cô nữa đó. Nhưng cô đi theo Việt cộng thì tôi không khen cô đâu. Đi theo Việt cộng là đi vô con đường chết... Sứ mỉm cười. Nụ cười của chị như nói:


 


 


 


“Mày không còn có chuyện khác nữa sao? Chuyện đó tụi mày nhai tới nhai lui tao nghe chán ra rồi, thôi đi!... ". Nhưng tên thiếu tá không chịu thôi. Trái lại, đứng trước Sứ hình như hắn muốn trổ tài. Hắn ba hoa một lúc về chủ nghĩa "nhân vị", về "đồng tiến xã hội", về lực lượng hùng hậu của "chính phủ quốc gia" do Ngô tổng thống lãnh đạo mà những người lính chiến như hắn là những người tiêu biểu. Cuối cùng, hắn kết luận:


 


 


 


- Cô đừng có trông đợi gặp người chồng cô cho mất công. Không có thống nhứt đâu. Còn chúng tôi và còn nước bạn Huê - kỳ thì ở đây không có thống nhứt gì ráo! Về điểm này, chị Sứ không nhịn được nên chị trả lời:


 


 


 


- Tụi Mỹ với mấy người thì tính như vậy, nhưng nhân dân thì tính khác. Nhân dân tính sớm muộn gì cũng tiêu diệt mấy người, để có thống nhứt! Nghe Sứ nói, tên thiếu tá trố mắt, cười hẹ hẹ:


 


 


 


- Tiêu diệt tụi tôi? Chừng nào mới tiêu diệt được tụi tôi? Hắn vung tay chỉ về phía miệng hang:


 


 


 


- Cô cứ coi kia, tụi đồng chí của cô trong hang cao lắm thì ngày mai cũng phải bò ra. Có mấy đứa với mấy cây súng quèn mà đòi tiêu diệt...


 


 


 


- Anh em tôi trong hang chưa bò ra đâu! Nụ cười gian giảo vụt tắt trên khuôn mặt thằng thiếu tá. Mặt hắn dần dần tái xám lại. Hắn im đi một lúc để nén cơn giận, rồi day qua hỏi bọn lính:


 


 


 


- Đem máy nói lại chưa?


 


 


 


Bọn lính bảo rằng máy nói đã đem ra, và dây điện cũng đã mắc xong. Tên thiếu tá khoát tay:


 


 


 


- Thôi, dắt nó đi! Bọn lính biệt kích của thằng Xăm đẩy chị Sứ chúi nhào về phía trước. Tên thiếu tá và thằng Xăm xồng xộc đi theo sau lưng. Một thằng thiếu úy tâm lý chiến mặt non choẹt, lấm chấm đầy mụn, tay cầm chiếc mi - crô đứng chực sẵn. Tên thiếu tá bước lên sát chị Sứ:


 


 


 


- Nãy giờ tôi nói chuyện hòa nhã với cô, bây giờ thì tôi nói chuyện cứng rắn. Nghe tôi hỏi đây, bây giờ cô muốn sống hay chết? Nếu cô muốn sống, tôi hứa bảo đảm cho sống, nếu muốn chết tôi sẵn lòng cho cô được chết trong nháy mắt. Cô trả lời đi, trả lời liền đi! Chị Sứ nhìn thẳng vào mặt hắn. Lát sau, chị nói:


 


 


 


- Sao tôi lại muốn chết? ở đời đâu có ai muốn chết! Nụ cười trở lại trên đôi môi của thằng thiếu tá:


 


 


 


- à, té ra cô cũng muốn sống... Hắn cầm thanh que trỏ về phía miệng hang:


 


 


 


- Dễ thôi. Chỉ cần cô cho tôi một câu: cô hãy nó với tụi trong hang rằng cô đã đầu hàng, và kêu tụi nó ra đầu như cô... Cô hãy nói rằng tụi tôi đối xử tử tế với cô, và sẽ đối xử tử tế với bất cứ ai bỏ súng xuống, đi ra khỏi hang... Được chớ? Tên thiếu tá dừng lại, chờ đợi. Trong lúc ấy, tên thiếu úy tâm lý chiến cầm cái mi - crô bước nhón tới, để cái mi - crô lên ngay trước mặt Sứ. Đồng thời, thằng Xăm cũng đã rút soạt lưỡi dao "cúp cúp" Mỹ đeo bên hông, bước thoắt đến đứng sát một bên Sứ. Tên thiếu tá chắp tay sau lưng, mắt dõi theo từng cử chỉ của Sứ. Hắn tin rằng chị sẽ khuất phục trước cái chết. Hắn tin chắc như vậy, vì thể theo bụng dạ của hắn, thì nếu lâm vào cảnh ngộ này, hắn sẽ còn làm hơn thế nữa để được sống. Vả chăng trước mặt hắn, chị Sứ là người phụ nữ, mà chị lại là một phụ nữ có nhan sắc, thì lẽ nào chị có thể cưỡng lại sự sống hay sao. Chính hắn, hắn còn tiếc thay, huống hồ là chị. Nhưng chị Sứ vẫn đứng yên, chị nhìn chiếc mi - crô lớn bằng bụm tay, mặt lỗ chỗ như tổ ong, bụng nghĩ nếu mình nói vào đây tất tiếng nói sẽ lớn hơn. Nhìn về phía miệng hang, chị biết rõ từng anh em lúc nào cũng có mặt ở đó, và nếu chị nói, anh em đều có thể nghe thấy cả. Tên thiếu tá sốt ruột, hất hàm hỏi:


 


- Sao? Chịu hay không, trả lời đi! Chị Sứ bước lên một bước, gật:


 


- Được, để tôi nói!


 


5


 


Trong hang anh em vẫn ghìm súng đợi. Sau lúc địch xộc vào rồi bị đánh bật ra, chúng không xộc vào nữa. Đã gần một tiếng đồng hồ rồi, địch không mở thêm một trận tấn công nào mới. Nhưng anh em vẫn ngó thấy chúng còn lố nhố, thấp thoáng qua lại trong vườn dừa, cho nên anh em vẫn ở nguyên chỗ cũ, súng không rời tay. Ngạn nói với anh Hai Thép:


 


 


 


- Sợ chị Sứ bị bắt hay bị tụi nó bắn chết rồi quá!


 


 


 


- Có thể là bị bắt. Hồi đêm đâu có nghe súng nổ!


 


 


 


Anh Hai Thép đáp thế và im lặng. Suốt đêm qua cho tới sáng nay, người lãnh đạo cuộc chiến đấu này bị đặt trước những sự biến không ngờ. Đêm qua, Năm Nhớ sau khi đưa cà - om nước về tới hang, liền ôm bụng kêu đau và một lát sau mặt cô tái nhợt, người toát đầy mồ hôi lạnh. Anh Hai sinh nghi, hỏi cô có uống vốc nước suối nào không. Cô đáp là có. Vừa đáp xong, cô liền ngã vật xuống. Anh Hai lập tức thọc tay chọc cổ cô. Năm Nhớ ói ra một bãi nước lõng bõng, vàng lè. Từ bãi ấy, xông lên một mùi nồng nồng rất khó chịu. Anh Hai Thép kết luận rằng địch đã đầu độc suối, chính Năm Nhớ đã uống phải vốc nước suối có thuốc độc rồi. Nhưng nhờ kịp thời làm cho Năm Nhớ nôn tháo nên cô nằm mê man một lúc thì tỉnh lại. Cái cà - om nước mà Năm Nhớ đem về lập tức bị đổ bỏ. Thế là trong hang vẫn ở trong cái tình trạng thiếu nước như cũ. Hơn thế, trong chuyến đi lấy nước, chị Sứ đã bị mất tích. Sứ không trở về, việc đó làm cho tất cả hang suốt đêm qua không ai ngủ được. Vào lúc nửa đêm, con Thúy giật mình thức giấc trên phiến đá, kêu:


 


 


 


“Má, má ơi! " rồi không có tiếng má nó đáp và ôm lấy nó như mọi khi, nó òa khóc. Quyên phải đến dỗ cho nó ngủ lại. Nhưng sáng ra thì con bé khóc thật sự, vì nó đi kiếm khắp hang mà chẳng thấy má nó đâu cả. Quyên phải nói dối nó rằng má nó đi công tác ra ngoài xóm. Việc chị Sứ đi lấy nước không trở về khiến cho cả hang hết sức lo lắng. Phải chi chính mắt họ trông thấy chị bị bắn chết thì sự việc cũng là rõ ra. Đằng này họ không biết cái gì đã xảy đến với chị. Đêm hôm qua, khi Trọng và anh Ba Rèn về tới hang, thấy thiếu Sứ, hai anh liền quay lại, nhưng không tìm gặp chị. Lượt sau, chính Ngạn xách súng cùng hai anh đi kiếm chị nữa. Họ mò mẫm, sờ soạng từng gốc dừa, ngờ rằng chị đang nằm mê man bất tỉnh cạnh một gốc dừa nào đó ở lối đi lấy nước, vì họ ngờ chị cũng có thể vốc nước suối mà uống như cô Năm Nhớ. Nhưng rồi cả Ngạn cũng thất vọng. Anh đã quần giáp khu vườn mà vẫn không thấy gì cả. Đêm hôm qua, có thể nói là một đêm mà cả hang thấp thỏm, lo âu. Mất chị Sứ, ai cũng cảm thấy như mình có lỗi, và lòng cứ dấy lên sự nhức nhối, hối hận. Ai cũng tưởng như chính mình phải gánh lấy trách nhiệm ấy. Dẫu rằng trong cuộc chống trả này, chị chưa trực tiếp cầm súng, nhưng chị đã lo cho họ từng miếng ăn, giọt nước. Có chị là có sự chăm sóc, có những bước đi nhẹ nhàng không động, có sự dịu dàng đưa cho, và là vì từ buổi lớn thành người con gái, chị đã để lại trong lòng họ nhiều tình thương mến. Cũng giống như dòng suối, lá cành, hoa quả, chị Sứ như thuộc về Hòn Đất, không tách ra được, chị thuộc về niềm hãnh diện của xóm làng, kể cả sắc đẹp lẫn tính tình. Hơn nữa, chị còn là tấm gương chung thủy, là một người phụ nữ ôm riết lấy cả xóm làng đó, bà con đó, mà vượt qua mọi điều thử thách. Anh Hai Thép lòng giày vò hối hận vì đêm qua đã để Sứ đi, mặc dù anh thấy rằng mình nghĩ như thế là không thể được. Trong chuyến đi lấy nước ấy, nếu không có chị Sứ thì là người khác, rốt cuộc cũng sẽ có một người gặp tai nạn.


 


 


 


Mà trong hang này bất cứ một người nào gặp tai nạn cũng đều gây ra tổn thất trong lòng anh. Tuy nhiên, việc không may xảy ra với chị Sứ làm cho người bí thư này bị bứt rứt, giày vò hơn. Nếu như trong những năm gian khổ, mọi người đều phải vất vả và chịu đựng, thì ở Sứ, chị còn cộng thêm sự vất vả khác mà mọi người không có: sự vất vả của người vợ trẻ có chồng tập kết. Cũng cách đây hai hôm, Sứ đã đưa cho anh xem lá thư của chồng từ miền Bắc gởi về. Anh còn nhớ rõ lúc đưa thư cho anh, mấy ngón tay của Sứ run quá, và anh thấy đôi mắt Sứ lúc ấy ánh lên nhiều hy vọng quá. Nhớ lần sau lúc chị bị bọn trên quận bắt, Sứ đã bảo với anh: - "Em không tiếc cho thân em đâu, rủi em có chết em cũng không tiếc, chỉ thương cho con Thúy, với lại em chết thì tội nghiệp cho anh Ba. Thống nhứt trở về không có em, thế nào ảnh cũng buồn nhiều. " Anh Hai Thép đã từng thấy trong những lúc cách mạng gặp khó khăn, có những người phụ nữ như thế. Họ muốn giữ mình được mãi mãi trọn vẹn là một đứa con gái yêu của Đảng, của cha mẹ, của quê hương.


 


 


 


Và đồng thời họ cũng cố sức giữ sao cho tấm thân mình được trinh nguyên, để khi đất nước thống nhất, họ vẫn dành cho chồng mình những điều hạnh phúc. Thật là không ai tin tưởng thống nhất và đấu tranh chờ đợi cái ngày ấy bằng họ. Trong số phụ nữ đó, nổi rõ lên trước mắt anh là Sứ. Đêm hôm qua, anh đã nghe con Thúy giật mình cất tiếng gọi mẹ. Suốt từ đấy, anh cảm thấy gánh nặng của cuộc chiến đấu như càng đè trĩu lên vai anh. Đến sáng, khi nỗi lo của anh chưa trút được thì súng lại nổ. Anh chạy ra miệng hang. Cũng như những lần trước, lần này anh em đã đánh bật chúng ra ngay tức khắc. Có điều hơi lạ là sáng nay chúng xộc vào hang rất táo bạo. Vì thế mà chúng nằm lại trước miệng hang cũng nhiều hơn. Phần đông chúng đều nằm lật ngửa. Có tên chưa chết, chân duỗi soàn soạt, kêu hồng hộc như heo bị thọc huyết. Cuối cùng rồi chúng cũng không còn kêu nữa. Từ bấy đến giờ, anh em đón đợi chúng đột nhập lần thứ hai, nhưng vẫn chưa thấy chúng động tĩnh gì. Từ khi rút, chúng chỉ quạt trung liên vào chớ không thấy bóng một đứa nào xông vào hết. Anh Hai Thép luôn nhắc:


 


 


 


- Phải luôn luôn sẵn sàng. Có thể tụi nó tính mưu kế gì mới! Nắng đã lên. Quyên đã đem túm gạo rang ra đi đến từng chỗ phân phát cho anh em. Những tên giặc trước hang đều đã chết hẳn. Chúng nằm im, phơi mặt dưới ánh mặt trời. Trong vườn dừa, bọn giặc đi qua đi lại, lóng ngóng, nhấp nhổm. Lâu lâu, chúng lại xổ vào miệng hang một băng trung liên. Rồi lại yên lặng. Có thể nghe thấy tiếng chim lại bắt đầu kêu chin chít, tiếng sóc chạy sột soạt trên các tàu lá dừa, và xa hơn là tiếng rì rào của sóng biển. Phút giây yên tĩnh này thật là căng thẳng, nó không cho mọi người nghỉ, cứ bắt mọi người phải để tay nơi cò súng. Và nếu những bóng xám đột nhiên lại xuất hiện ở cửa hang, thì sẽ không còn có chút yên tĩnh nào nữa. Súng sẽ nổ và những bóng xám sẽ quỵ xuống. Anh em cầm súng ngồi sau các hốc đá ngày càng tin chắc hơn, rằng bọn giặc không thể nào lại có thể tránh được những phát đạn của họ. Cửa hang như một khoảnh định rất chuẩn xác, chỉ cần họ bình tĩnh mà bắn thì thế nào họ cũng bắn trúng. Càng ngày cái hang càng lộ rõ lợi thế cũng như nhược điểm. Lợi thế ấy là địa hình phòng ngự vững chắc. Nhược điểm ấy là thiếu nước.


 


 


 


Chính vì vấn đề nước mà Năm Nhớ suýt chết, còn chị Sứ không trở về. Ngay bây giờ, ai cũng thấy cổ họng mình khô khốc. Sau lần chiến đấu, mồ hôi lại đổ, cái khát càng giày vò mọi người dữ hơn. Anh Ba Rèn cứ rít lên từng chập:


 


 


 


- Thiệt là quân chó đẻ! Tới suối nước mà nó cũng bỏ thuốc độc! Anh chửi luôn mấy câu rất tục, bất chấp sự có mặt của Quyên ở đó, rồi thề rằng tên giặc nào bây giờ mà nhảy vô mà anh bắn hụt nó thì anh không phải là con người. Anh lại cung tay đấm vô ngực mình, vật vã oán mình sao hồi đêm mình lại không đi cản hậu.


 


 


 


- Tôi cứ ngỡ là tụi tôi đi đầu, nếu có đụng tụi nó thì đụng trước.


 


 


 


- Cũng tại tôi, - anh Hai Thép nói. - Tại tôi không lường tới chỗ tụi nó bỏ thuốc độc. Đáng lẽ thì phải lường được hết sự hung ác của tụi nó, đằng này...


 


 


 


Chưa nói hết câu, chợt anh Hai dừng lại. Bên ngoài vụt có tiếng gì "rè rè" và tiếng loa phóng thanh đột ngột cất lên:


 


 


 


- A - lô! Nghe đây, nghe đây!... Tất cả đều nín im. Tiếng loa vọng vào hang ồm ồm:


 


 


 


- Quân đội Việt Nam cộng hòa loan báo cho các phần tử Việt cộng trong hang được rõ, cô Nguyễn Thị Sứ là đồng bọn với các người, nay đã lọt vào tay quân đội và đã quy thuận chánh nghĩa quốc gia. Sau khi đã quy thuận, nay cô Sứ có lời nói chuyện với các người... Tiếng loa ngưng lại. Máy nói kêu khọt khẹt. Trong hang, mọi người sửng sốt ngó ra. Nhưng họ không thấy gì cả. Bọn giặc đặt cuộc nói chuyện ấy ở một nơi mà tầm súng trong hang không thể bắn ra được. Cặp mắt người này nhìn người kia, như hỏi nhau rằng có cái tiếng loa ấy thật không, hay tai mình nghe nhầm. Không ai tin ở tai mình nữa. Nhưng sự thực là ai cũng nghe thấy. Không thể có sự ngộ nhận về tiếng loa ấy được. Lúc đó, Quyên mới vốc một vốc gạo rang định đưa cho Ngạn là người cô phân phối sau cùng, thì chợt nghe tiếng loa. Tay cô lẩy bẩy buông xòa vốc gạo đổ xuống lòng bàn tay Ngạn. Mặt cô tái hẳn lại. Cô đứng im, mắt mở to đầy vẻ kinh hoàng, môi dưới của cô giựt giựt luôn mấy cái, tưởng chừng như cô sắp òa lên khóc. Nhưng không, cô cắn chặn lấy môi dưới đang giựt giựt đó, hai bàn tay từ từ nắm lại, và vẫn đứng im. Cô lặng người đi mà đợi một sự việc ghê gớm xảy đến. Chưa bao giờ Ngạn thấy Quyên như thế. Chưa bao giờ anh trông thấy mặt Quyên hoảng sợ run rẩy đến tội nghiệp như thế. Bất giác Ngạn nhớ đến sự hiểu lầm của Quyên trước kia đối với anh, và anh tưởng như thấy lại được phần nào cái dáng dấp vật vã đau đớn của Quyên dạo nọ. Anh Hai Thép cau mày nhìn ra cửa hang. Anh cũng không nhìn thấy gì. Anh nghĩ:


 


 


 


“Rõ ràng là Sứ bị cưỡng ép, nhưng lẽ nào Sứ lại nghe theo sự cưỡng ép của tụi nó. Không, không bao giờ như thế... Nhưng biết đâu được... Cô ta còn trẻ, còn con nhỏ, còn mẹ, còn nhiều cái ràng buộc với sự sống. Nếu cô ta nghe theo tụi nó mà nói những lời phản bội thì thật hết sức tai hại. Chắc chắn sẽ ảnh hưởng không tốt tới cuộc chiến đấu đang giữa lúc gay go. Nhất là Sứ, người mà ai cũng thương cũng quý. Lời nói của một người như Sứ giữa lúc này rất hệ trọng... " Tiếng khọt khẹt phát ra từ cái mi - crô kia đã dứt. Giọng nói ồm ồm của tên giặc giờ lại hăm hở sủa vào máy:


 


 


 


- Các người trong hang chú ý, chú ý! Đây, tiếng nói của chị Nguyễn Thị Sứ... Mọi người trong hang đều nhìn ra. Đây cũng là những phút giây chờ đợi căng thẳng, thử thách. Nhưng mọi người không phải đợi lâu. Ngoài kia đã vọng vào tiếng nói hết sức quen thuộc, ai cũng nhận ra ngay là tiếng nói của Sứ:


 


 


 


- Thưa các đồng chí, tôi là Sứ đây... Tiếp đó, bỗng chị vụt nói rất nhanh:


 


 


 


- Các đồng chí đừng tin, tụi nó nói láo, tôi không bao giờ đầu hàng. Các đồng chí ơi, đừng uống nước suối, đừng bỏ súng. Trong đó còn mạnh giỏi hết không, con tôi còn sống không? Nếu còn thì bắn một phát súng cho tôi mừng!... Mấy lời cuối cùng chị Sứ nói sao mà vội vã, sao mà dồn dập, khẩn thiết! Tiếng chị như gào lên trong máy, cấp bách, dữ dội. Mọi người trong miệng hang đều ngẩng mặt, đứng hết cả dậy. Trên những khuôn mặt ấy bỗng chảy ròng nước mắt. Anh Ba Rèn nhảy phắt ra giữa hang. Anh xoạc chân đưa khẩu ga - răng lên vai, bắn chĩa ra ngoài luôn ba phát "bầm, bầm, bầm"...


 


6


 


Nghe Sứ nói đến đấy, thằng thiếu tá tái mặt chửi lớn. Thằng Xăm thì co chân đạp chị ngã chúi xuống rồi nhảy lên người chị, giẫm đạp. Nhưng huyền diệu thay cho cái tiếng súng. Nó làm rạng rỡ khuôn mặt đang áp sát đất của Sứ. Hình như chị không hề bị đạp té. Chị sung sướng quá, chị mừng quá. Tiếng súng đã đáp lời chị, đáp lại hy vọng sau rốt mà chị hết lòng mong mỏi. "Như vậy là vẫn còn, vẫn còn sống! " chị nghĩ thế và gượng nhổm lên, nhìn vào hang Hòn. Đôi mắt chị mở to ngoái nhìn về cái hang ấy. Có thể là chị nhìn quá cái hang ấy. Trong đôi mắt có ánh vui mừng, ánh cháy bỏng, đau đáu. Đôi mắt đó lưu luyến không nỡ rời, ngập ngụa những yêu thương, những hy vọng, vừa mãn nguyện vừa căm oán, vừa sung sướng nhưng lại vừa mênh mông cái nỗi đau giã biệt. Cho nên đôi mắt đó vốn đã đẹp nay càng tuyệt đẹp. Tên thiếu tá hạ lệnh:


 


 


 


- Treo nó lên cây! Treo nó lên cây dừa ngã kia kìa, cho đồng bọn nó được ngó thấy! Ba bốn tên biệt kích xông tới, túm lấy Sứ, lôi Sứ dậy. Chúng dùng một sợi dây dài buộc thêm vào hai khuỷu tay đã bị trói của chị. Thằng Xăm co co cánh tay, dớn dác chạy tới ngắm nghía một cây dừa ngã xoãi chân trước mặt hang. Hắn nói:


 


 


 


- Treo nó lên! Hắn hất hàm sai một tên lính có đeo dao:


 


 


 


- Mày leo lên vạt một cái khấc để tròng dây cho khỏi tuột. Mau đi! Tên lính nghe theo lời thằng Xăm, leo lên. Leo được năm, sáu bước, tên lính rút dao chặt bồm bộp vào thân dừa. Thằng Xăm đứng dưới ngước nhìn. Khi tên lính đã chặt được một cái khấc quanh thân dừa thằng Xăm nói:


 


 


 


- Thôi, được rồi, xuống đi! Tên lính ném lưỡi dao, tuột xuống. Hắn vừa tuột xuống gần tới gốc thì thằng Xăm chộp mối dây buộc Sứ đưa cho hắn, bảo hắn leo trở lên mắc vào cái khấc mới vạt đó. Bọn lính giữ chặt lấy Sứ. Hai tên đứng đón mối dây sửa soạn kéo sểnh Sứ lên. Sứ nói:


 


 


 


- Tụi mày treo tao lên thì anh em tao ở trong hang có thể ngó thấy tao, nhưng anh em tao càng thêm căm thù tụi mày chớ không sợ tụi mày đâu! Lời nói của Sứ làm hai tên lính cầm mối dây ngần ngừ chưa kéo. Thằng Xăm tức giận nạt:


 


 


 


- Kéo! Hai tên lính giật mình kéo rị mối dây... Chúng còn ghì chân Sứ để chị không vùng vẫy được. Lúc chân Sứ đã bị kéo khỏi mặt đất, bọn chúng mới bỏ ra. Một tên không may bị Sứ xỉa trúng ngón chân vào mặt. Nó bưng mặt la lên:


 


 


 


- Đ. mẹ, con nhỏ này dữ quá! Sứ bị sợi dây kéo lên mỗi lúc một cao, lơ lửng, nghiêng nghiêng. Hai bắp tay trần trắng tươi của chị bị sợi dây rút ngược, tréo ngoặt... Đây là đôi tay đẹp đẽ và mát rượi. Đây là đôi tay làm lụng và vén khéo. Đôi tay này đã có khi rụt rè, đã nhiều lần âu yếm, đã có lúc run lên ôm lấy chồng, ôm lấy con, mẹ và em, cô bác và đồng chí. Nên đôi tay đó bị trói ngoặt trông sao mà tàn nhẫn, trông mà uất, mà thương. Sợi dây tàn bạo cứ kéo lấy đôi tay, lôi sểnh tấm thân mảnh khảnh. Trên tấm thân đó cái gì cũng mịn màng, từ mái tóc rủ gần tới gót chân, từ khuôn mặt tái đi vì đau đớn, từ bộ ngực căng căng sau lần áo lụa đen mỏng. Sợi dây tàn bạo kéo lên không trung người con gái xứ Hòn, người con gái miền Nam, đã một lần sinh hạ, ngóng trông, chung thủy. ở đây, trong lúc này, cái gì cũng tàn bạo. Từ đường dây đó, từ những tên giặc đứng bên dưới đó, ngoại trừ ánh nắng mặt trời và cây cối. ánh nắng xuyên qua lá dừa mà gội đẫm mái tóc tốt dày của Sứ, gội từ đầu đến chân Sứ. Và làn gió sang xuân, và hơi thở của biển.


 


 


 


Sứ vẫn phân biệt được làn gió man mác của đồng nội và hơi gió biển mặn mòi, âm ấm. Trong lúc đôi cánh tay đau điếng, trái sái, Sứ cố nhìn tới hang Hòn bị những tàu dừa che xõa. ại, sao làn gió không thổi rẹt những tàu lá nọ, để may ra vào những giờ phút quý báu này, chị có thể nhìn thấy những bóng người thương mến! Biết đâu chừng chị có thể nhìn thấy Quyên đang cõng con Thúy? Trời ơi, giá mà giữa lúc này chị được nhìn thấy con Thúy, dù là chỉ nhìn thấy nó một thoáng mà thôi! Trong phút chốc, Sứ nhớ lại đêm hôm qua. Chị nhớ đôi bàn tay bé bỏng của con bám riết lấy vai chị. Lúc rời phiến đá, chị đã dừng bước như thế nào, chị đã cảm thấy có một sức mạnh vô hình trì níu chị 99 100 lại như thế nào. Chị nhớ mình đã cởi áo đắp cho con. Phải rồi, đó chính là những phút giây sau rốt, gần nhất, giữa chị và con. Đó chính là cái mốc của tình mẫu tử, cũng như đêm rạng ngày anh San lên đường tập kết là cái mốc gần nhất của tình vợ chồng mà chị hằng ghi dấu. Sứ nhớ từ hai cái mốc ấy nhớ đi. Chị tự nhủ:


 


 


 


“Bữa nay, có lẽ mình chết. Nhưng mình chỉ thấy tiếc chớ không ân hận, mắc cỡ gì cả... Tới phút này đối với Đảng, mình vẫn y nguyên, như chị Minh Khai, như Võ Thị Sáu... nên từ phút này trở đi, mình cũng phải giữ được như vậy... " Bị treo lơ lửng giữa cây dừa lão ngã rạp, Sứ luôn chuẩn bị tinh thần kiên trì cho tới cùng. Nhưng chừng hai mươi phút trôi qua mà bọn giặc chưa đả động gì thêm. Thằng Xăm bỏ đi đâu một lúc, giờ mới quay lại. Hắn đứng bên dưới, ngước mắt, ngó chị lườm lườm. Rồi hắn rảo bước tới lui, vẻ nôn nóng như chờ đợi, một cái gì. Thằng thiếu tá thì nửa ngồi nửa nằm, lưng dựa vào một gốc dừa. Hắn cắn cái ống đót bằng ngà, nheo nheo mắt nhìn Sứ, qua làn khói mà hắn nhả ra không ngớt. "Nó tính làm gì mình nữa đây? " Sứ lại tự hỏi. Và chị lo sợ nghĩ đến một việc mà chị ngờ rằng bọn giặc có thể làm. "Trời ơi, nếu chúng đem má mình tới... Đừng... đừng, má ơi, má đừng tới đây! "... Sự hồ nghi của Sứ quả không sai. Khi chị mới ngờ và kêu lên trong lòng như thế, thì lúc ngoái nhìn ra sau, chị đã trông thấy mẹ. Bà mẹ đi giữa hai tên biệt kích. Vẫn cái dáng gầy gầy, hiền hậu, quen thuộc ấy. Vẫn chiếc khăn rằn đỏ vắt vai và bộ quần áo tơ dệt ngả màu. Nhưng không phải chỉ có mỗi mình mẹ. Đằng sau mẹ có tiếng ồn ào của đông đảo bà con và tên lính biệt kích cứ đi day lui, tay ghìm khẩu cạc - bin. Rồi một toán lính giăng ngang lối đi thành một hàng rào. Tên thiếu tá dụi dụi cái ống đót xuống rễ dừa, đứng bật dậy hỏi:


 


 


 


- Cái gì đó, cái gì mà họ la ó rần rần như vậy?


 


 


 


- Thưa thiếu tá, họ đòi thả bà già. Họ nói bà già không có tội gì, tại sao lại vô cớ bắt bả?


 


 


 


Tên thiếu tá bảo một tên thiếu úy đứng cạnh:


 


 


 


- Anh cho chặn họ lại. Không được để họ tràn lên, nghe chưa. Rồi hắn bảo tên Xăm:


 


 


 


- Dắt bà già đó lên cho bả giáp mặt với con bả đi! Thằng Xăm bước tới trước mặt mẹ Sáu, khoát tay chỉ về phía cây dừa treo Sứ:


 


 


 


- Con của bà nó cứng cổ lắm, nên nó đã bị treo lên kia kìa! Bà tới nói phải quấy cho nó nghe đi! ạng thiếu tá hứa nếu bà nói nó ưng chịu đầu hàng và kêu gọi tụi trong hang đầu hàng thì ổng cho hạ dây thả nó liền. Thằng Xăm nói chưa hết câu, mẹ Sáu đã dang tay vẹt mấy tên lính trước mặt, chạy nhào về phía Sứ. Sứ trông thấy đôi tay nghều ngào, mái tóc bạc trắng bay xõa của mẹ. Và chiếc khăn rằn đỏ trên vai mẹ chị rơi xuống đất. Còn mấy bước nữa đến chỗ Sứ, mẹ không đi được nữa, chân mẹ lóng cóng, khuỵu xuống. Nhưng mẹ nhổm lên, chạy tới. Cuối cùng, Sứ nhận ra đôi tay mẹ lập cập quàng lấy bắp chân chị. Liền đó, chị nghe sao bắp chân mình ướt nóng, giàn giụa. Tiếng mẹ chị bắt đầu nấc lên ở bên dưới, nghẹn tắt. Sứ mở to mắt, nhìn xuống mái tóc bạc phơ và đôi vai gầy của mẹ đang rung rung. Lòng đau điếng, Sứ ngoảnh nhìn nơi khác. Đôi mắt Sứ vụt đỏ hoe, không chớp. Nhưng Sứ cố nén, để nước mắt khỏi trào ra. Sứ muốn khóc, nhưng chị cưỡng lại. Chị không muốn để bọn giặc hiểu lầm một lần nữa, và để mẹ mình khỏi đau đớn thêm. Chị hồi hộp mong sao mẹ đừng thốt lên một lời nào, đừng nói một tiếng nào. Giữa lúc này, chị mong mẹ cứ im lặng, và thương chị mẹ hãy cứ ôm chị thế đó, như ngày nào chị còn bé dại. Nhưng chị cũng đã tính, nếu như vì quá thương chị mà mẹ lỡ nói với chị lời nói không phải, thì chị cũng không nghe theo đâu. Nhưng như vậy ắt chị sẽ đau đớn. Thật là chưa bao giờ, chưa có lần nào Sứ phải riết giữ lòng mình một cách quyết liệt như thế. Cũng chưa lần nào chị có cái cảm giác xao xuyến lạ lùng đến thế.


 


 


 


Đôi tay đó khuôn mặt đó giờ đang áp vào chân chị, truyền khắp người chị một tình yêu. Hơn cả con mình, mẹ Sáu còn oằn oại gấp bội. Hai mươi bảy năm đẻ con ra và nuôi con lớn lên, mẹ đã nặn vắt từng giọt sữa, chắt chiu từng tấm áo. Đôi chân thon thả treo lơ lửng này đây, chính mẹ là người trông thấy nó cất bước đi chập chững đầu tiên. Còn suối tóc mượt mà rủ xuống tới vai mẹ đây, chính mẹ cũng đã vuốt ve khi nó hãy còn lơ thơ bệt dính trên đầu. Rồi những tiếng ngọng nghịu, rồi những ngày mẹ lâm vào cảnh góa bụa, chính đứa con gái này đã cảm hiểu và đỡ đần cho mẹ nhiều nhất trong những năm tháng gieo neo. Mà lúc lớn lên, đứa con ấy nào có sung sướng gì cho cam! Nó lại cun cút nuôi con. Đời mẹ thế nào, đời con gái lớn mẹ cũng thế ấy. Một đứa con như thế mà lại phải dứt ra, mẹ Sáu không đau lòng sao được! Nhưng muốn giữ lấy con, mẹ càng không thể nói những lời bọn giặc buộc mẹ nói. Thiêng liêng hơn đứa con mang nặng đẻ đau đó còn cả xóm làng này, còn cả cái hang đang chống trả quyết liệt này. Thiêng liêng hơn đứa con của mẹ là cuộc cách mạng mà mẹ suốt đời tin tưởng và gắn bó.


 


 


 


- Bà già, bà nói đi! Nếu bà muốn cho con bà sống thì bà nói sao cho nó nghe đó thì nói! Thằng thiếu tá đứng bên lại nhắc. Đôi chân hắn rậm rịch cứ như giẫm lên ổ kiến lửa. Thình lình, Sứ bỗng thấy mẹ buông rời chân mình ra. Mẹ chị day qua phía thằng thiếu tá. Sứ nghe rõ từng tiếng mẹ mình nói:


 


 


 


- Con tôi lớn rồi, nó có trí khôn của nó... ý nó muốn sao xin cứ để nó liệu lấy! Nghe mẹ nói thế, Sứ chịu không nổi nữa, nước mắt chị trào ra, chảy ròng ròng. Chị vặn mình trên dây, la lớn:


 


 


 


- Cởi dây cho tao xuống, mau đi! Tên thiếu tá nhìn thằng Xăm, nháy mắt, thằng Xăm ướm hỏi:


 


 


 


- Sao, chịu rồi hả?


 


 


 


- Được rồi, mở dây cho tao đi!


 


 


 


- Sứ nói.


 


 


 


- Mở dây cho nó... tụi bây. Đem mi - crô lại đây!


 


(còn tiếp)


 


Nguồn: Hòn đất. Tiểu thuyết của Anh Đức. Rút từ Anh Đức – Tác phẩm được Giải thưởng Hồ Chí Minh. NXB Văn học, 2007.


 


www.trieuxuan.info


Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 24.09.2018
Bão - Ngũ Hà Miên 21.09.2018
Hòn đất - Anh Đức 14.09.2018
Hồi ký điện ảnh - Đặng Nhật Minh 14.09.2018
Chuyện kể năm 2000 - Bùi Ngọc Tấn 06.09.2018
Hãy để ngày ấy lụi tàn - GERALD Gordon 26.08.2018
Tử tù tự xử lý nội bộ - Trần Thư 24.08.2018
Sóng lừng (VN. Mafia) - Triệu Xuân 23.08.2018
Những người mở đất - Triệu Xuân 14.08.2018
Mẫn và tôi - Phan Tứ 14.08.2018
xem thêm »