tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 24052677
Tiểu thuyết
30.07.2018
Thanh Giang
Biệt ly huy hoàng

 


 


 



 16



 










N




 


hận lời gởi gắm của bạn thân, bác Martin trước khi đưa Tường Tri xuống tàu, mua cho anh vài món vật dùng đường biển. Đại dương xanh màu mắt mênh mông tiếp chân trời. Con tàu lướt sóng về phía trước; phía ấy là Tổ quốc, thân yêu mà xa lạ mịt mù. Nước Pháp lùi xa dần, xa dần những gương mặt thương yêu không hẹn ngày gặp lại.


 


 Nhớ buổi tiễn đưa, cả cha mẹ và cô em gái đứng khóc ròng! Trước cảnh chia ly, người mẹ từng dạy con nói tiếng mẹ đẻ, chăm nom miếng ăn, giấc ngủ, anh trào nước mắt, bấy giờ muốn quỳ xuống mà tạ tội bất hiếu suýt nữa không vâng lời cha già. Ôi! Một chuyến đi biệt ly gia đình, rồi cũng sẽ không gia đình như chú bé Rémi!... Còn đối với Jeanne, biết em đã về nhà, anh đến lảng vảng trước cửa, bao lần toan sờ tay bấm chuông rồi rụt lại. Thôi đành trốn êm luôn, Jeanne, em yêu ơi! Đành không dám gặp mặt em để nói một lời giã biệt cho phải phép dân Pháp lịch sự. Hay lạt lòng, anh sợ kềm lòng không đậu, ôm nhau hôn lần nữa thì rủn chí tơ lòng, đành đoạn bóp chết cuộc tình thơ mộng, tan nát cả cõi lòng, Jeanne ơi!... Con tàu vượt đại dương mang theo nụ hôn đầu đời, kết nối nụ hôn biệt ly tê lịm đầu lưỡi, cùng thân hình Jeanne kiều diễm chôn sâu trong hồn anh. Tiếng sóng gầm gào vỗ chao chát nỗi buồn biệt ly dày vò trái tim chàng trai lần đầu tiên xa gia đình đến phát khóc. Con trai mà khóc thật xấu hổ, anh khẽ lén lau nước mắt. Bất chợt bác Martin nhìn thấy, bước lại vỗ vai an ủi: “Khi mà nước mắt không cầm được, cháu hãy cứ khóc. Khóc cho nhẹ lòng mà dấn bước vào gian nan thử thách. Đó cũng là định luật của Thượng đế khi sinh ra con người. Ai giỏi vượt qua thử thách người đó sẽ thành công”.


 


 Gần gũi bác Martin, Tường Tri bỗng nhớ ông già Vitali chủ gánh xiếc rong bao bọc kẻ cô đơn lang thang cơ nhỡ - nhân vật trong tiểu thuyết “Không gia đình”. Còn Tường Tri bấy giờ như chú bé Rémi. Lòng thương yêu, tin cậy giữa những con người là điểm tựa của tự cường, vượt lên mọi trở lực, hoạn nạn. Có những đêm mưa biển, trong khoang tàu nằm co rét lạnh, bác Martin đến ngủ với Tường Tri, thầm thì dạy anh hát Quốc tế ca qua nhiều đêm đến thuộc:


 


               Debout! Les damnés de la terre.


 


               Debout! Les forcats de la faim


 


 La raison sont tonne en son cratère …


 


 C’est le éruption de la fin


 


 Du passé faisons table rase


 


 Foule desclave debout debout


 


 Le monde va changer de base


 


 Nous ne sommes rien, soyons tout


 


 C’est la lutte final, groupons nous et demain


 


 L’Internationale sera le genre humain.


 


     Trong hơi ấm của một thủy thủ đảng viên Cộng sản Pháp nhân hậu, Tường Tri thầm ước phải chi các nước lớn, nước mạnh, mở lòng bác ái tương trợ các nước nhỏ, nước yếu, thu phục nhân tâm hơn là tham vọng chiếm đoạt đất đai tài nguyên của xứ người đang sống nghèo khổ, tội nghiệp!


 


 Biết bao là nỗi lòng trong những ngày dài dằng dặc bềnh bồng trên biển. Vượt Đại Tây Dương rồi vượt Thái Bình Dương mênh mông không biết đâu là bến bờ! Dù muốn dù không, anh đã thực sự đi về phía Tổ quốc mình; thân yêu mà xa lạ, hoang mang mà không thể quay lại. Nhớ lời cha, anh chỉ biết thầm gọi một cụm từ hết sức thiêng liêng, hết sức vang trong tâm hồn: Tổ quốc - Nguyễn Ái quốc! Ôi! Tổ quốc mà chưa được nhìn tận mắt, chưa một lần đặt chân về! Nhưng Tổ quốc, trên con tàu cùng bác Martin rồi sẽ về. Còn Nguyễn Ái Quốc thì…? Chưa một lần được gặp mặt, chưa hề biết tung tích! Con biết tìm đâu? Ba ơi!


 


 Hiểu tâm trạng chàng trai lơ mơ mà bồng bột, bác Martin ôn tồn bảo: “Tiền đồ là sự nghiệp phía trước. Con đường ở phía trước. Con người đi tới, tiến tới, biết đi, biết tới!”. Rồi con tàu viễn dương cũng tới bờ, tiến vào sông Lòng Tàu. Ngoài đại dương nhỏ bé, giờ nó trở nên cao nghệu như một toà lâu đài khổng lồ đi trên ngọn Rừng Sác. Nó đã từng ăn hàng đặc sản thuộc địa nên cũng như con vật ngoan, biết cập vào bến cũ.


 


 Vượt biển từ bến cảng Marseille, mang tâm trạng buồn chia ly. Lên bến cảng Sài Gòn, cộng hưởng nỗi buồn nô lệ! Nhìn Sở Nhà Rồng đặt trên đất nước mình mà là cơ quan chi nhánh của Công ty hàng hải Hoàng Gia Pháp, kẻ tên tắt Messageries Impériales hai chữ M.I to tướng gắn trên nóc có hai con rồng chầu bằng đất nung. Trên cao ngạo nghễ lá cờ tam sắc xanh-trắng-đỏ. Xung quanh nghễu nghện lính Pháp quần soóc, nón cối cầm súng canh gác. Dưới bến phu khuân vác người Việt Nam còng lưng cõng bao gạo nặng nối đuôi nhau đem chất xuống những con tàu giăng dây treo lúc nhúc cờ tam sắc. Bọn lính coi phu quất roi gân bò tưới xượi lên những tấm lưng trần đen nhẻm, gầy trơ xương sườn, nổi lằn ngang dọc rướm máu đỏ tươi nhìn thấy mà bắt rùng mình…


 


 Lần đầu về Tổ quốc, trông thấy cảnh dân mình bị hành hạ, Nguyễn Tường Tri phẫn nộ, đôi mắt sâu, mày đậm và dài long lên sòng sọc. Gương mặt trắng bạch vốn sinh đẻ ở xứ lạnh, chợt đỏ bừng. Tên lính Pháp khoát tay xua anh đi mau. Lạc loài tứ cố vô thân, Tường Tri cố nuốt xuống nỗi căm uất!


 


 Học thuộc những tên đường do cha dặn, Tường Tri cặp theo bến cảng... qua cầu quay, bỏ đường Quai de l’Arroyo Chinois, gần đến đường Boulevard de la Somme rẽ trái vào đường Lefèvre, đến ngã tư Boresse rẽ phải đụng ngã tư Rue d’Ayot (nay là Nguyễn Thái Bình) rẽ phải, tìm về số 74 cửa hiệu kim khí Sinh Thành. Chua chát thay con đường nào cũng đều mang tên Pháp, đến mọi góc phố, công sở…nhìn đâu cũng thấy cờ Pháp. Anh có cảm giác như đang lạc vào một thị trấn lẻ nào đó của nước Pháp. Nhưng buồn thay lại là Tổ quốc mình. Tổ quốc mà là miền đất lạ, lần đầu tiên hai mươi tuổi đời anh mới bước chân về!...


 


 Bác Hai, chủ cửa hiệu kim khí Sinh Thành tuổi ngót bảy mươi, trung người, mắt sáng cương nghị, hiền nhu, là bạn cố tri của cha, nhưng đang thời ly loạn, tình báo, mật thám như rươi, mặc dù có lá thư của ba gởi gắm, bác cũng vặn vẹo Tường Tri từ gốc tích ngọn ngành. Tường Tri đáp ba là Nguyễn Văn Tường, quê ở Gia Định, má là Lê Thị Thảo quê ở Long Xuyên; sang Pháp hồi Thế chiến thứ nhất 1914 - 1918… Cảnh giác gạn hỏi nó vậy thôi, chớ bác cũng nhận ra gương mặt tròn bạch diện thư sinh, khôi ngô hiền nhu và bộ tướng lẫm thấp của Tường Tri có nét giống người bạn cố tri Nguyễn Văn Tường. Bác Hai hiện sống độc thân. Con trai một của bác bị Pháp bắt lính hồi 1937, đày đâu mất biệt, cũng chẳng có thư từ gì về, cho đến nay sáu năm cũng không thấy về. Bác gái rầu buồn mất cách nay vài năm. Được có con trai của bạn cố tri về ở chung, có người hủ hỉ sớm hôm, bác Hai mừng hết sức, coi như con, ân cần thu xếp nơi ăn ở cho anh đàng hoàng. Vài hôm, thăm dò bác Hai đủ tin cậy, Tường Tri nói thiệt ý định:


 


– Con vâng lời cha về nước theo Nguyễn Ái Quốc làm cách mạng. Vậy nhờ bác giúp đỡ, chỉ đường cho con đi tìm Nguyễn Ái Quốc.


 


Bác Hai đáp:


 


– Bác có nghe danh con người đó, nhưng chẳng biết gì tung tích Nguyễn Ái Quốc! Còn làm cách mạng là tự nơi lòng yêu nước của mình.


 


– Lòng yêu nước thì con đã có từ ở bên Tây. Vậy bây giờ phải làm gì để thể hiện lòng yêu nước?


 


– Phải kiên nhẫn chờ cơ hội, con à!


 


Trong những ngày ăn không ngồi rồi, Tường Tri càng thêm buồn bã. Để giết thời gian, anh lân la đến các hiệu sách, đọc tạp chí Nam Phong, Tiểu thuyết Thứ Bảy, tiểu thuyết lãng mạn của nhóm Tự lực văn đoàn. Thường gặp những cuốn mới nhìn cái tựa đã buồn lâm ly như: Đoạn tuyệt, Lạnh lùng của Nhất Linh; Thừa tự của Khái Hưng; hoặc như: Đồi thông hai mộ, Hồn bướm mơ tiên... viết về những mối tình éo le trắc trở. Đọc càng gợi nỗi mình cô đơn, bế tắc, chán nản; gợi nhớ cha nhớ mẹ, nhớ Jeanne có đôi mắt xanh quyến rũ. Anh bỏ sách, ra bến cảng, ngồi nhìn những con tàu chở tài sản bóc lột dân nô lệ rời bến Nhà Rồng về Pháp mà lòng dậy lên ước muốn trở về Lyon sum họp gia đình, kết hôn với Jeanne. Ở Pháp, dân họ đối với Việt kiều bình đẳng, thương yêu quí trọng nhau. Còn dân Việt ở nước Việt mình là dân nô lệ. Mặc cảm ấy đang đè nặng tâm tư, giờ đập vào mắt cái cảnh dân nô lệ bị đày ải, hà khắc dã man, Tường Tri càng nản chí! Nhưng đêm đêm trằn trọc, hiện lên đôi mắt cha già u buồn, lấp lánh kỳ vọng, cùng lời phó thác trọng trách. Anh đã tận mắt nhìn thấy thảm trạng mất nước, mất của cải tài nguyên đã đành, trăm ngàn lần khổ nhục hơn là mất tự do! Công chức làm tay sai cũng bằng nô lệ! Nhớ thương ba tuổi cao ngày một ốm o gầy mòn, than thở: lực bất tòng tâm, chỉ còn biết phó thác con trai sứ mạng về nước làm cách mạng thay cha. Vâng lời ba, con đã về đến Tổ quốc, nhưng làm sao biết Nguyễn Ái Quốc ở đâu mà tìm? Ba ơi!...


 


Những tháng ngày mịt mù sầu muộn đi lang thang, chứng kiến thảm cảnh đồng bào đói rét, kiếm sống đầu đường xó chợ càng não lòng. Quân Nhật chiếm Sài Gòn, ngày 9-3-1945 đảo chánh Pháp, bắt giam Decoux cùng các vị tai to mặt lớn của Pháp một cách êm ru. Bấy giờ dân Việt khổ nhục ách nô lệ thực dân Pháp, lại chịu thêm ách áp bức của phát xít Nhật. Chúng bắt phá lúa trồng đay, dùng lúa thay than chạy máy, trong khi dân đói, ăn củ co, bông súng, mặc quần bố tời, cho rận, bọ chét đua nhau hút máu cùng thực dân, phát xít. Miền Bắc chết đói hai triệu người nổi tiếng lịch sử nạn đói năm Ất Dậu (1945) nghe càng nao lòng khủng khiếp!…


 


Trước tình cảnh như vậy, Tường Tri đã chí hiếu với cha, giờ càng phải tận trung với nước. Lại liên tưởng câu nói của Beethoven: “Tôi sẽ tóm lấy cổ định mệnh và không cho nó đánh gục tôi!”. Thượng đế thách đố số phận con người. Bom đạn chiến tranh ập xuống cho thử thách. Máy bay Mỹ, phe đồng minh ném bom khu vực Thị Nghè và dọc hai bên sông Sài Gòn, nhằm vào những tàu chiến của quân Nhật, nhưng lạc vào khu dân cư chết chóc đẫm máu! Cao xạ pháo quân Nhật ký bên bờ Thủ Thiêm bắn lên đỏ trời. Thêm những tàu chở xăng dầu bốc cháy, từng vầng lửa trôi trên sông trông rùng rợn như giặc bà hoả... Phong trào Thanh niên Tiền phong nổi lên. Tường Tri được bác Hai giới thiệu với anh em khu phố. Tuổi trẻ hiếu động, anh hăng hái xông xáo cứu nạn đồng bào bị máy bay Mỹ oanh tạc, tuyên truyền yêu nước, luyện tập đội ngũ Thanh niên Tiền phong, say mê ca hát những bài: Lên đàng, Tiếng gọi thanh niên... của nhạc sĩ Lưu Hữu Phước. Tuy nhiên Tường Tri còn rất mơ hồ, không hiểu cuộc cách mạng nầy ai lãnh đạo?


 


Cách mạng Tháng Tám - 1945 bùng nổ. Căn phố 74 cửa hiệu kim khí Sinh Thành, đường d’Ayot của bác Hai trở thành Hội quán của Thanh niên Tiền phong. Thì ra bác Hai vốn là một cơ sở của cách mạng. Tường Tri gia nhập “đội xung kích” trang bị gậy tầm vông, dây thừng và dao găm; người chỉ huy là Hoàng Thọ nói giọng Bắc, có bộ tướng cao lớn oai vệ thiệt ngon. Nhiệm vụ trong đêm khởi nghĩa 25 tháng 8, đội xung kích cùng với nhiều đơn vị khác, tiến chiếm các công sở, dinh khâm sai, dinh đốc lý, đài phát thanh, nhà đèn… Khi tiến qua các trại lính bảo an thì đã thấy treo cờ đỏ sao vàng từ hồi nào! Hôm dự lễ mừng Độc lập 2 - 9, Tường Tri phát ngợp giữa biển người từ suốt đại lộ Norodom dài xuống trung tâm lễ đài trước dinh đốc lý, nhà hát Tây, tràn ngập cả ba đại lộ: Bonard, Charner, De La Somme và đông nghẹt người cả bùng binh chợ Bến Thành! Rực rỡ trên đài cao băng cờ đỏ chói, kẻ những khẩu hiệu: “Việt Nam độc lập muôn năm”; “Tất cả chánh quyền thuộc về Việt Minh”… Tường Tri chẳng hiểu Việt Minh là ai, hỏi Hoàng Thọ mới biết là cụm từ gọi tắt của tổ chức: Việt Nam Độc lập đồng minh hội. Thấy ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh, anh ngơ ngác hỏi Hoàng Thọ:


 


– Hồ Chí Minh là ai vậy? Sao không thấy ảnh Nguyễn Ái Quốc?


 


Hoàng Thọ vỗ vai Tường Tri cười ha hả, đáp:


 


 – Nguyễn Ái Quốc là Hồ Chí Minh chớ còn ai nữa!


 


 Nghe vậy, Tường Tri sững sờ giây phút rồi nhảy dựng lên reo hò như phát điên: “Nguyễn Ái Quốc là Hồ Chí Minh! Ba ơi! Hồ Chí Minh là Nguyễn Ái Quốc! Con đã tìm thấy rồi! Ba ơi!”.


 


 Từ đó Tường Tri sát cánh cùng Hoàng Thọ, chiến đấu chống giặc giặc Pháp núp bóng quân Anh - Ấn tái chiếm Sài Gòn và toàn Nam Bộ. Còn nhớ đêm 22 rạng 23 tháng 9 đội xung kích tấn công diệt bót Signore, (bây giờ là trụ sở Công an quận 1). Khi mải mê thu súng, một tên Pháp bị thương nằm trong góc tối bắn lén, Tường Tri bị thương vào mông. Hoàng Thọ lia cho nó một loạt mitraillett, dìu Tường Tri đưa về nhà bác Hai điều dưỡng. Mấy ngày nằm ở đây được nghe bác Hai kể rất xúc động về tiểu đội Vệ Quốc đoàn bảo vệ cột cờ Thủ Ngữ chiến đấu ngoan cường cho đến người cuối cùng! Hành động anh hùng ấy khiến kẻ thù phải nể phục. Viên sĩ quan người Anh cho sắp hàng ngay ngắn mười thi thể chiến sĩ ta dưới chân cột cờ Thủ Ngữ rồi tập hợp quân lính, hô khẩu lệnh bồng súng chào. Các mặt trận ở Sài Gòn lần lượt bị vỡ. Tường Tri từ giã bác Hai theo một đơn vị chuyển xuống miền Tây - rừng U Minh. Do có trình độ cơ khí trường Bách khoa, anh được bổ sung vào công tác Ban Quân giới miền Tây. Nhưng ở bên Pháp về thì anh giấu biệt tung tích. Trải quá trình dang nắng dầm mưa nhiệt đới, màu da đã ăn nắng mặn mòi, tổ chức cùng đồng đội thảy đều tin anh dân gốc Sài Gòn. Cống hiến năng lực hiệu quả, anh đã cùng Công binh xưởng sáng chế các loại ba-zô-min, thủy lôi đánh tàu chiến Pháp, cùng các loại vũ khí tự tạo khác như: SKZ, lăng-xà-bom, trôm-lông-V-B, thủy lôi... đánh tàu, diệt xe Jeep, xe nồi đồng... Tường Tri được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương rất sớm. Hòa bình lập lại năm 1954, anh cùng đơn vị Ban Quân giới Miền Tây Nam Bộ tập kết ra miền Bắc. Lòng không vương mang kỷ niệm tình yêu nào, song vương bao tình thương mấy má Năm Căn, Rừng U Minh, Biển Bạch… cùng mấy em gái đầm đìa nước mắt vẫy hai ngón tay tiễn đưa. Người đi đau thắt ruột gan thương bà con ở lại nơm nớp âu lo trong vòng tay giặc như chim treo trên lửa, cá nằm dưới dao!


 


 


 


 


 



 


17



 










T




 


ầm vóc trung trung đầy đặn, da trắng trẻo, vẻ mặt điềm đạm, trán vuông, vành miệng hơi rộng luôn mỉm cười, tân thiếu tướng Phó Tư lệnh Không quân Trần Mạnh tuổi qua ngũ tuần mà trông vẫn còn phong độ. Một đôi lần ông đến liên hệ Ban quân giới miền Tây xin cấp hỏa lực nặng rồi quen thân với Tường Tri. Trong dịp vào làm việc với trung đoàn Không quân 917 - Tân Sơn Nhất, Trần Mạnh nối lại cuộc trò chuyện thân tình với Tường Tri hôm vừa xuống sân bay:


 


 – Chúng tôi được báo cáo: anh Hai xin chuyển ngành, thành thật lấy làm tiếc!


 


 – Nghĩ mình là lính thợ, tôi muốn trở về với đời thợ.


 


 – Anh Hai từng phục vụ chuyên cơ cho Bác Hồ, có lúc sang công tác ở trung đoàn không quân vận tải 919, bỗng dưng anh nằng nặc xin về chiến trường, mà lại dấn thân vô biệt động Sài Gòn?…


 


 – Về chiến trường là tình cảm quê hương. Như tôi đã nói với anh, cha tôi người Sài Gòn. Miền Nam đang bị giặc tàn phá ác liệt, tình cảm thôi thúc tôi về quê hương chiến đấu.


 


 – Rồi khi anh trở về không quân lập một kỳ công hi hữu: tháo rời trực thăng, chở bằng xe tải vượt Trường Sơn ra Bắc, huấn luyện đội bay chuyển hệ, phối hợp chiến dịch Hồ Chí Minh ngon lành. Anh còn góp phần quan trọng tiếp quản sân bay và xây dựng trung đoàn Không quân 917. Hiện thời anh vẫn còn đắc dụng lắm mà!


 


 Tường Tri trầm ngâm, đôi mắt buồn lưu luyến:


 


 – Với chiến trường là tình cảm quê hương; với không quân là duyên nợ; còn với cái nghiệp là tình cảm giai cấp công nhân.


 


 – Thực lòng chúng tôi muốn anh Hai vẫn còn duyên nợ, gắn bó với không quân, anh nên ở lại ít lâu nữa.


 


 – Tôi vẫn tự hào mình là lính quân chủng không quân. Nhưng cũng không quên cội nguồn mình là lính thợ. Tôi nghĩ, hiểu nhau đồng chí cũng nên ủng hộ tôi - Tường Tri xưng hô nghiêm túc, tôn trọng cấp trên - Suy ra mà nói, quên nguồn gốc nên thẹn cho mình lắm.


 


 – Anh nói chí lý còn biết nói sao nữa! Nhớ hôm ngoài ấy về, anh Hai hé lộ cha mẹ sang Pháp, sinh đẻ anh bên Pháp. Tại sao hồi quen anh ở Ban Quân giới miền Tây, tổ chức cũng như mọi người đều tin lý lịch anh khai sinh đẻ tại Sài Gòn. Vậy mà đến bây giờ tôi mới biết anh khéo giấu tung tích với tổ chức, giấu tất cả mọi người. Vì sao vậy?


 


 – Chỉ vì… sợ!


 


 – Sợ gì?


 


 – Từng là thủ trưởng chính trị đồng chí cũng dư biết rồi… cái thành phần chủ nghĩa! Cái thời “dị ứng” Tây dữ dội. Ai trang phục phối hợp ba màu: xanh-trắng-đỏ, hoặc những phát ngôn gì đó trái chiều, nghịch nhĩ… cũng bị nghi gián điệp, chỉ điểm cho máy bay, cho Tây ruồng… Rồi thì… anh cũng dư biết rồi đó. Trông người mà thủ phận mình. Bởi tôi là con công chức của Pháp, sang Pháp. Kể ngọn ngành ra rồi phải khai ra!... Thôi, khai mình sanh đẻ tại Sài Gòn cho yên thân.


 


– Nhưng bây giờ thì đâu còn sợ gì nữa. Tôi sẽ trình bày với tổ chức sự cống hiến của anh Hai và ủng hộ anh Hai chuyển ngành. Dù về với giai cấp thợ, chắc anh vẫn giữ tình cảm mình là sĩ quan không quân.


 


 – Đã là duyên nợ, đương nhiên không bao giờ quên.


 


 Cuối năm 1976, Tường Tri nhận quyết định chuyển ngành về Sở Công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh. Căn cứ lí lịch, theo quy định làm thủ tục chuyển ngành anh được đề bạt cấp quân hàm từ trung úy lên thượng úy, hưởng lương mới 86 đồng. Cán bộ tổ chức đơn vị mới tiếp nhận anh cũng lấy làm lạ, hỏi:


 


 – Hai mùa kháng chiến từ ngày tiền cách mạng tháng Tám 1945, cho đến nay, chú Hai: tuổi Đảng 30, tuổi quân 31 không gián đoạn. Sao chú mới là thượng úy? Nhiều người chỉ một mùa, thậm chí nửa mùa thôi mà cấp chức cũng cao hơn chú?


 


Tường Tri cười đôn hậu, giãn bờ môi coi hiền khô. Khóe mắt rạn chân chim răn reo hàm ý: chuyện không đáng quan tâm. Bản tính anh không phô trương, lặng lẽ sống đời sống nội tâm, không buồn ganh tỵ, không hề so đo, chôn sâu muộn phiền, thiệt thòi; tuân theo tình cảm thôi thúc và yêu cầu trách nhiệm đối với Tổ quốc. Anh đáp vô tư: “Đi làm cách mạng để mưu cầu đất nước hòa bình, độc lập tự do. Chắc tại chú không ham danh phận, tiến chức thăng quan, nên lương vậy thôi, một mình cũng sống đủ”.


 


Hiểu biết quá trình cống hiến của Nguyễn Tường Tri, Sở Công nghiệp rất quý anh, bố trí anh phụ trách Công đoàn và làm “cố vấn” cho ban giám đốc mỗi khi đi kiểm tra các nhà máy, xưởng, trại thuộc ngành. Anh đã đóng góp sáng kiến tạo dựng công trình sự nghiệp mới cho Sở. Ban đầu anh nội trú trong cơ quan. Về sau tổ chức tưởng thưởng, ngầm tạo điều kiện cho anh lập gia đình, cấp cho anh một căn hộ. Tình cờ mà thú vị ngoài tưởng tượng. Căn hộ anh nằm trên con đường d’Ayot, sau đổi tên là Nguyễn Văn Sâm, sau giải phóng lại đổi là Nguyễn Thái Bình, cùng với tên phường. Căn hộ số X chỉ cách tiệm kim khí Sinh Thành xưa vài trăm mét; mặt tiền, cửa sắt xếp hai lớp. Khi anh về ở, tiện nghi có sẵn và cơ quan trang bị thêm vài vật dùng nội thất. Gian trước còn để trống. Gian sau sâu, nở rộng kê cái bàn dài, có 4 ghế lớn đặt hai bên. Phía trong là cái giường ngủ kiểu giường đôi rộng thênh. Góc sau là bàn ăn, nhà bếp; sâu nữa là nhà vệ sinh thông thoáng nhờ cái ngách ăn ra khoảng trống như “giếng trời”. Căn hộ thênh thang dễ làm người ta dòm ngó. Một số nhà buôn hỏi thuê mở cửa hàng, anh dứt khoát không cho. Tự bằng lòng sống đạm bạc với đồng lương hưu, anh lập tâm tự tạo cho mình niềm vui. Vẫn nhớ lời hứa với mấy nhỏ đường d’Ayot, mặc dù anh nói trước là không hứa. Ngày chuyển ngành, anh ca củm trong ba lô một số huy hiệu Bác Hồ. Thời gian công tác ở Hà Nội năm nào anh cũng được bình bầu xuất sắc, được tặng huy hiệu Bác Hồ và nhiều phần thưởng khác. Nay trở về thường trú trên con đường “cố hương”, anh coi là niềm hạnh phúc trời cho, lân la sang những căn hộ hàng xóm, chuyện trò bạn láng giềng, giao lưu thân tình cùng bà con cô bác. Rất vui khi gặp lại mấy đứa nhỏ, nhớ lời hứa tặng huy hiệu Bác Hồ. Nhân chủ nhật, anh gom mấy nhỏ về nhà mình chơi. Sau khi tặng ảnh và huy hiệu Bác Hồ đều hết cho bọn trẻ, nhìn chúng nhảy lên reo mừng, anh nghe lòng vui sướng ấm áp! Vui miệng anh ướm thử:


 


– Nè mấy nhỏ ơi! Mình đang ở phường Nguyễn Thái Bình, đường phố trước cửa đây cũng cùng tên với phường, vậy mấy đứa có biết gì về Nguyễn Thái Bình không?


 


Khoảnh khắc yên lặng. Có đứa cười cười, có đứa lơ láo, có đứa nầy xúi đứa kia nói đi. Một tiếng gọi:


 


– Bé Hảo, nhóm trưởng trong lớp lẻo mép lắm mà!


 


Em tên Bé Hảo chưa kịp lên tiếng, anh đã nhận ra vóc dáng cao kều, mái tóc húi “cua”, hôm nào đã cảm thông chú bộ đội đi chiếc xe đạp cóc gậm! Anh ưu ái xoa mái tóc tròn như bông gáo, động viên em nói. Bé Hảo tỏ ra lễ phép:


 


 – Thưa chú Hai! Ở lớp học cháu được nghe cô giáo giảng, Nguyễn Thái Bình là Anh hùng liệt sĩ.


 


 – Nói vậy ai cũng biết! - Một em khích.


 


 – Mầy giỏi trả lời chú Hai đi? - Bé Hảo lườm đứa vừa chê mình, tỏ ra tự tin, tiếp một hơi - Anh Nguyễn Thái Bình sinh năm 1948, quê ở Cần Giuộc, Long An, lên Sài Gòn học trường Petrus Ký. Nhờ học giỏi nên được chọn đi du học bên Mỹ, trường Đai học Washington. Anh tham gia phong trào đấu tranh chống Mỹ ngay trên đất Mỹ, bị trục xuất ra khỏi nước Mỹ. Nhưng tinh thần bất khuất của anh còn để lại câu nói bất hủ: “Quả bom duy nhất của tôi là trái tim”. Anh bị vu khống là “không tặc”, bị bắn trên máy bay, rồi quăng xác xuống đường băng Tân Sơn Nhất…


 


Bé Hảo đang ngập ngừng tìm lời nối ý thì em vừa kích bác Hảo, giọng lên gân:


 


– Anh Nguyễn Thái Bình bị sát hại trong chuyến bay ngày 2 tháng 7 năm 1972. Sau đó nổi lên phong trào chống Mỹ-Thiệu khắp Sài Gòn, lan ra cả nước, kích thích phong trào phản chiến ngay trong nước Mỹ.


 


– Giỏi quá! Mấy cháu hiểu biết lịch sử tên phố mình cư trú như vậy đáng khen lắm!


 


Nghe chú Hai khen, bọn trẻ hào hứng hẳn lên, nhao nhao:


 


– Sau Sài Gòn giải phóng, ảnh được công nhận là liệt sĩ.


 


– Rồi sau hình như lâu lắm ảnh còn được phong tặng danh hiệu Anh hùng nữa.


 


 – Tại sao lâu? - Chú Hai thử thách mấy nhỏ.


 


Không đứa nào đáp được, hỏi ngược lại chú:


 


– Vậy chú Hai biết tại sao không?


 


– Chú cũng hổng biết luôn!


 


– Ê! ê!… - Bọn trẻ hòa cảm chú Hai vui tánh, hí hửng trêu đùa - Chú Hai cũng hổng biết mà đi hỏi đố tụi mình.


 


– Ê, tụi bây khoan cười tao à nghen! Ta nói không biết là thiệt tình. Bởi ở đời: biết thì nói biết, không biết nói không biết, vậy là người biết. Nhưng có người biết nói lại ta nghe. Giờ chú nói lại tụi bây nghe, được không? Cái nầy cũng nên biết để làm giàu tri thức, nghe chưa.


 


– Hoan hô chú Hai!


 


 – Số là vầy mấy cháu! - Chú Hai trở lại nghiêm nghị - Về tiêu chí phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, phải là chiến sĩ trong quân đội, trực tiếp chiến đấu có thành tích, công trạng. Nguyễn Thái Bình là học sinh du học. Bởi vậy nên xét lâu. Tuy chưa được phong tặng, nhưng hành động anh hùng của Nguyễn Thái Bình anh dũng phi thường, cho nên được nhân dân tôn vinh. Như ngoài đặt tên đường, tên phường ở ta đây, còn nhiều nơi đặt tên anh cho trường tiểu học ở Cần Giuộc quê nhà, trường mầm non và trường phổ thông trung học ở thành phố Hồ Chí Minh; thêm nữa là đặt tên đường cho thành phố Tân An… Ảnh hưởng lớn đó thuyết phục, vượt lên tiêu chí, quy chế. Vậy là Nguyễn Thái Bình vẫn được Nhà nước ta truy tặng danh hiệu Anh hùng các lực lượng vũ trang nhân dân. Dù muộn, nhưng thật là thỏa đáng! Rõ hết chưa?


 


– Hay! Chú Hai la hổng biết mà chuyện gì chú cũng biết. - Bọn trẻ ca tụng.


 


– Chú Hai Tường Tri mà tụi bây! Biết đến tận tường ngóc ngách!


 


– Vậy tụi bây biết chú nhờ gì không?


 


– Nhờ gì chú Hai?


 


– Nhờ nghe. Hổng biết, học hỏi, người ta nói mình nghe để biết. Tỷ như: nói là gieo mà nghe là… là gì? Đứa nào nói trúng ta thưởng. Nghe là gì?


 


– Là lắng tai nghe, ghi nhận vào lòng. - Một em đáp.


 


– Đó là hiệu quả của nghe. - Em khác bắt bẻ. - Chưa đúng, phải không chú Hai?


 


– Nói gọn hơn đi! - Chú Hai gợi - Bữa nay coi như một buổi học văn hóa. Câu chú hỏi như một vế đối. Nghe là động từ. Đối cũng phải động từ.


 


– A! Cháu hiểu rồi! - Bé Hảo gục gặc mái đầu húi cua - Đối với nói là gieo thì nghe là gặt! Nghe là gặt! Gieo rồi lúa chín, gặt hái thu về!


 


– Giỏi! Bé Hảo thông minh lắm! - Chú Tường Tri cười vui thành tiếng. Anh vào trong bê ra hộp chocolat - Đây, đã hứa thưởng là chú giữ lời, chocolat Pháp của mấy chú Không quân tặng; có tạo rãnh ô vuông dễ bẻ ra. Thưởng cho bé Hảo, lẽ nào bé Hảo không mời bạn?


 


Bọn trẻ thưởng thức của ngọt nhộn hẳn lên. Căn nhà thênh thang đầy chật tiếng nói cười nghí ngố. Chú Hai vui lây, chợt trầm ngâm, trang nghiêm:


 


– Nè, mấy cháu! Nhân buổi trò chuyện hôm nay, giúp chú nghiền ngẫm vấn đề gieo và gặt. Là sao à? Nói cách nào đây cho mấy cháu dễ hiểu nè? - Chú Hai động não tí xíu - Nói là gieo. Nghe là gặt. Gặt, năng nhặt chặt bị. Thành ngữ, dễ hiểu héng. Nhưng đâu phải chặt bị để dành làm của! Liên tưởng ngạn ngữ Pháp có câu: Le parole est l’argent, le cilence est d’or. Có nghĩa: nói ra là bạc, im lặng là vàng. Kể cũng có lý. Nhưng suy cho cùng là… ích kỷ! Vì sao à? Vì theo tính khí cụ Đồ Chiểu trong Lục Vân Tiên có câu: thấy chuyện bất bình chẳng tha! Nỡ nào gặp kẻ gây tội ác mà làm thinh, cho im lặng là vàng thì rõ ràng là cầu an, ích kỷ, chớ còn gì? Hiểu không?


 


– Dạ hiểu! Dạ hiểu! Chú Hai tiếp đi? - Bọn trẻ nhao nhao…


 


– Chặt bị để dành cũng là ích kỷ.- Chú Hai vẻ hào hứng - Gặt về, phần nào mình trang trải chi tiêu, phần nào phải chọn giống để… để làm gì?


 


– Để gieo! Để gieo! - Bé Hảo bỗng ré lên - Gieo là nói ra cho người ta nghe!


 


– Đố khỏi chú lại thưởng Bé Hảo nữa! - Chú Hai cười hì hì nói tiếp - Chọn giống để gieo, nghĩa bóng là lựa lời, lựa ở trong nghe. Nghe búa sua, cả lời thô tục nữa, nên phải lựa. Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau. Ông bà ta dạy vậy rồi. Lựa lời, như là sự tuyển lọc chân lý, để khi nói ra, truyền cho người nghe những điều hữu ích. Nói nôm na tỷ như khi nãy chú nghe nói về việc phong tặng danh hiệu Anh hùng cho Nguyễn Thái Bình, chú mới biết rồi lựa lời nói lại cho mấy cháu nghe sao cho gọn, cho dễ hiểu, dễ nhớ.


 


– Ôi! Chú Hai hay quá! - Bọn trẻ reo lên.


 


– Phải tôn sư chú Hai, bây ơi!


 


– Sư phụ! Sư phụ!


 


Ầm ĩ tiếng cười rộ của bọn trẻ xua tan quạnh hiu trong căn nhà thênh thang. Chú Hai vào trong bê ra một rổ chôm chôm, cười hệch hạc hết miệng ít thấy:


 


– Đây, chôm chôm của ông Tư Chu trên Thảo Điền mới gởi xuống cho. Cái nầy thưởng chung hết mấy đứa. Cháu nào cũng đều thông minh!


 


Nỗi niềm độc thân, Tường Tri tìm nguồn vui từ bọn trẻ, không hề buồn cô đơn. Ngược lại bọn trẻ cũng thích thú gần gũi chú Hai. Chú Hai “sư phụ”, thông thái mà giản dị, hiền khô, dễ gần gũi. Những ngày nghỉ học, bạn nhỏ thường hay đến chơi, trò chuyện thân tình, bộc trực.


 


– Thím Hai đâu mà chú ở có một mình?


 


 – Chú đâu có ở một mình! - Anh cải chính.


 


 – Vậy thím Hai đâu?


 


 Anh áp bàn tay lên ngực trái:


 


 – Ở trong nầy nè!


 


 Bọn trẻ cười ran. Nghe vậy, bé Hảo khoe:


 


 – Cháu có người cô chồng liệt sĩ, còn trẻ, đẹp lắm, chưa có con, để cháu dẫn cô cháu đến làm quen với chú nhen?


 


 – Thôi, thôi! Chú có thím Hai rồi! Tụi bây con nít đừng bày đặt lộn xộn!


 


 Thương chú Hai độc thân vui tính, Bé Hảo đem cho anh con mèo con lông trắng mượt, vá đen tuyền lại điểm đốm vàng như bông hoa, gọi sang là mèo tam thể. Anh vui lắm, gọi tên là miêu cưng. Tới bữa ăn, anh cho ăn cùng bàn, cơm trắng thịt mỡ hấp dẫn, vừa trò chuyện thủ thỉ: “ Nè miêu cưng, nói cho mà biết! Mèo đừng mê mỡ ham mồi mà quên chức năng mèo bắt chuột à nghen!”


 


Vui anh hơn nữa là các bạn nhỏ khu phố quấn quýt anh ngày một thân thiết. Như năm ngoái bọn nhỏ bày cho anh mua hàng “bán chạy”, bây giờ mấy chàng choai choai đáp ứng nhanh lẹ theo yêu cầu của anh, đưa anh ra “chợ trời” mua cái máy đánh chữ Olympia; dẫn đến cửa hiệu văn phòng phẩm mua ram giấy, hộp carbon và 2 cuộn ruban. Hồi nào mua cái radio casette bé xíu, bây giờ mua cái Radio cassette hai loa nghe thoải mái trong căn nhà thênh thang một mình một cõi. Cái bàn dài trống trơn bây giờ có cái bày biện cũng ra vẻ bureau. Vui thú là khi anh ngồi đánh máy chữ, chú mèo tam thể dễ thương leo vào khoanh trong lòng anh, khoái cảm thoát ra trong cổ cái âm điệu gừ… gừ….


 


Nghĩ càng cám ơn tình bạn nhỏ bé Hảo cho con mèo làm bạn hủ hỉ sớm hôm. Hơn nữa là mấy nhỏ bày ra mua hàng “bán chạy”, dẫn đến tình cờ anh gặp Thu Thảo - đồng đội - đồng hương, đã giúp anh mua máy nghe nhạc, sống lại kỷ niệm cùng Jeanne … Ôi, duyên kỳ ngộ! Thu Thảovới mái tóc buông lơi đen mướt, phủ vầng trán một cách tự nhiên, khiêm nhường, giản dị, không một đường ngôi, không một cái kẹp cái vắt trang điểm. Lạ lùng, từ người nầy anh mường tượng tái ngộ người kia. Với Jaenne, cũng mái tóc buông lơi y hệt, tuy màu vàng kim sáng đối lập đen huyền… Đôi khi anh muốn đến số nhà lắm cái “xẹc” Thu Thảo đã cho ở đường Cô Giang - Nguyễn Thái Học, thăm cô em đồng hương, đồng đội mà ngại ngùng cách gì lạ lùng, kỳ cục. Cứ lo Jeanne, Việt La cùng Thùy Dung, không bình yên trong trái tim mình! Với Thu Thảo, anh dặn lòng, hãy để rộng đường cô ấy đi bước nữa. Mà chắc gì Thu Thảo yêu mình? Thiệt là mơ mộng viển vông hết chỗ nói!


 


                                                                       


 


 


 


 


 



                    


18                    



 


           


 










  N




 


ăm 1983 Tường Tri nghỉ hưu, đúng quy định 60 tuổi. Anh cảm nhận trong niềm hạnh phúc lớn lao không nguôi thương nhớ biết bao người ra đi không trở về; hoặc trở về không vẹn toàn thân thể. Còn như anh được trở về trên cung đường khép kín một vòng tròn địa lý! Từ đất Pháp đáp về con đường Rue d’Ayot coi là quê hương; rồi từ Rue d’Ayot ra đi mênh mông đường trần khúc khuỷu… Điểm quay về “hạ cánh an toàn” cũng lại đúng con đường “cố hương” Rue d’Ayot, nhưng vinh quang thay được mang tên Anh hùng liệt sĩ Nguyễn Thái Bình!


 


Thỉnh thoảng đồng đội vừa là cương vị cán bộ tổ chức của trung đoàn không quân 917 đến thăm anh, thấy anh trong nhà chỉ có cái máy đánh chữ tòng tọc và cái radio cassette cho nên lần sau đến đem ra tặng anh chiếc xe đạp Hữu Nghị mới toanh. Từ ấy anh thường đạp xe tới lui thăm Nguyễn Thành Trung, Chinh và thủ trưởng cũ Tư Chu ở Thảo Điền bên kia cầu Sài Gòn, cùng bạn bè quen thuộc khác. Anh thích đến thăm Tư Chu. Cả gia đình ba thế hệ ở một biệt thự miệt vườn bình dị, không lên lầu, lối vào sâu, hai bên trồng hoa kiểng đẹp mắt. Xung quanh vườn cây trái bao bọc xum xuê, mát mẻ. Vợ Tư Chu chị Nguyễn Thị Nhỏ vừa là lính của chồng, rất vui tính, cầm Tường Tri ở lại ăn cơm cho bằng được. Trong bữa cơm chị Nhỏ gợi chuyện:


 


 – Anh Hai bộ cứ sống một mình cô đơn trong căn hộ mênh mông vậy hoài sao?


 


 – Tôi độc thân mà không cô độc đâu nhé! Hầu như tôi có duyên toàn với bạn vong niên, từ Chinh, Nguyễn Thành Trung, rồi về nơi thường trú được trẻ em khu phố Nguyễn Thái Bình thường tới lui quấn quýt vui lắm.


 


– Mà rồi đau yếu đêm hôm biết cậy ai lo thuốc men, cơm cháo cho anh? Còn gia đình anh bên Tây bặt luôn rồi sao? Hòa bình rồi, ai còn sống cũng đều tạo điều kiện sum họp gia đình. Sao anh Hai cứ làm thinh hoài. Chuyện cấp chức cũng làm thinh; đời tư cũng làm thinh. Làm thinh hoài thiệt thòi ráng chịu.


 


Tường Tri trầm ngâm bất động nụ cười hiền gượng gạo, che giấu nỗi buồn, trông thương quá, Tư Chu nói thay lời:


 


– Cái số phận người ta còn phấn đấu vượt lên. Còn cảnh ngộ cô đơn của anh Hai như là định mệnh. Biết nhà nước không thể giải quyết trường hợp ngoại lệ; dù nói cũng bằng không. Thôi thì chấp nhận định mệnh cho dù nghiệt ngã đến đâu! Cũng như nước Việt Nam nhỏ bé, định mệnh đặt sát nách một nước khổng lồ, dân số lớn nhất thế giới. Biết khéo giữ thì tồn tại và phát triển; biết sống hữu nghị thì không bị quật ngã; biết tìm niềm vui thì lạc nghiệp!


 


Dứt lời, Tư Chu cười lên ha hả. Tường Tri đắc ý thoải mái cười theo, bộc bạch:


 


– Tổ hưu trí của tôi, cũng như các đồng chí bên ủy ban phường có giới thiệu đến năm ba chị góa chồng còn trẻ, gọi là đến giúp đỡ người độc thân trong việc bếp núc, nhã ý cho tôi coi mắt. Tôi từ chối hết.


 


– Tạo điều kiện như vậy mà không ưng bà nào! Anh thiệt là… - Chị Tư tán vô một cách nhiệt tình - Vậy bây giờ tụi tôi làm mai cho anh một cô đẹp gái lắm! Cô Thu Thảo con nuôi dì Út đó, ba nó! Vợ liệt sĩ mà còn trẻ lắm, nết na lắm! Anh Hai chịu không?


 


 Tường Tri từ chối liền:


 


– Làm ơn thôi dùm chuyện làm mai làm mối, tội nghiệp cho cái thân già…


 


Nhìn Tường Tri với ánh mắt cảm thông, Tư Chu chậm rãi từng lời:


 


– Hiểu biết quá trình cống hiến, cũng như bao nỗi thăng trầm của anh Hai cho tới giờ nầy, tôi nhận thấy anh vẫn tỏ ra lạc quan. Con người giàu lạc quan là con người luôn đấu tranh nội tâm, giải tỏa muộn phiền, bất hạnh và biết rèn luyện bản lĩnh sống! Nói không phải tặng anh, nhưng thật đáng trọng nể… Còn tôi!...


 


Chuyển đề câu chuyện, Tư Chu kể nỗi niềm mình đa mang về những cảnh ngộ của anh em biệt động, những cán bộ chiến sĩ yêu quý mà mình đã dày công đào tạo, bây giờ tan đàn, tứ tán. Có người sửa xe đầu đường, có người đạp xích lô, có người đi làm phu hồ; xa xót nữa còn không ít người hy sinh cho tới nay chưa được nhận văn bằng liệt sĩ! Huống gì hài cốt lạc địa, cô hồn lang thang!... Buồn thay! Đến cả phiên hiệu “biệt động Sài Gòn” một thời lừng danh oanh liệt cũng xóa mất! Một số đội viên có thành tích đề nghị tuyên dương anh hùng cũng không được duyệt…


 


Sau những chuyến thăm nom như vậy về, tình cảm Tường Tri luôn trăn trở, thôi thúc muốn viết ra. Anh mở máy đánh chữ, lắp giấy pelur lót carbon, gõ lọc cọc phá tan quạnh hiu trong căn phòng thênh thang. Bàn tay thợ quen với mỏ-lết, kềm búa, song những ngón tay đa tài từ thời sinh viên vẫn múa lượn. Con mèo tam thể quen thói, để một chân lên đùi anh thăm dò rồi leo vào khoanh trong lòng anh. Cảm nhận bàn tay vuốt ve, nó rên gừ gừ… Bỗng có tiếng đập cửa sắt lạch xạch. Mấy bạn nhỏ mua chuông định lắp cho chú Hai, nhưng anh không cho, bảo: Ít khi có ai tới; lắp chuông quấy rầy. Tiếng đập cửa lần nữa, mạnh hơn, dồn dập, kèm theo tiếng réo trong vắt của phụ nữ. Anh thả con mèo xuống, lê dép ra mở cửa. Vừa trông thấy anh, Thu Thảo mặt chừ bự, giọng hờn mát, lẫy đương:


 


– Tuốt bên Thảo Điền anh còn tới. Còn đây với Cầu Muối gần xệu, đi bộ mười phút, mà đi không nổi! Phải mà, thăm thủ trưởng chớ còn lính lác thăm ch-i-i...!


 


– Thôi vô! - Anh đỡ lấy cái giỏ xách, Thu Thảo giằng lại, anh năn nỉ - Đừng giận mà! Giận mặt nhăn nhó mau già lắm.


 


– Già chát còn sợ gì già! - Giọng Thu Thảo nhão ra nghe thiệt thương - Chỉ có buồn đứa em đồng hương bị quên tám năm đành đoạn!


 


– Ừ, bậy quá! Quên mà không phải quên. Thôi xí xóa héng. Xách gì lùm đùm vậy?


 


Không buồn trả lời, Thu Thảo trở lại tính cách hồn nhiên, vừa đi vào vừa đảo mắt quan sát, nhìn thấy đâu nói liền tới đó:


 


 – Trời! Gian trước rộng thênh thang vầy mà để trống lổng, không có salon, khách tới phủi chân ngồi dưới đất chắc? Bên trong sao không làm cửa ngăn? Có cái bàn dài để viết, hay. Anh đang đánh máy gì đó, có lẽ viết văn đây! Phải vậy. Để trí não ở không sanh ngu và hay bịnh hoạn. Chà! Thương cho cái giường đôi mà gối chiếc…


 


 – Thôi đừng thương hại đồng chí ơi! Thương chỉ làm người ta giận. Ai đã từng nói vậy ha? Để đồ xuống cái bàn ăn cơm trong kia, có mèo đó.


 


 – Không lo, trái cây đem anh ăn cho vui. Sa-pô-chê, thì cây nhà lá vườn, còn lê táo và nho Mỹ thì hái ở vườn… chợ. - Vừa sắp trái cây vào dĩa đặt lên bàn, mắt liếc vào máy đánh chữ, Thu Thảo đọc lẩm nhẩm: Những đứa con… Trằn trọc mà không ngủ được, bởi thương những anh em đồng đội bao người ngã xuống cho sự nghiệp hòa bình thống nhất nước nhà mà hài cốt lạc địa, cô hồn lang thang; người còn sống bươn chải kiếm sống nhọc nhằn!... - Thu Thảo ngừng đọc, quay ra trách - Anh Hai viết buồn quá!


 


 – Thực trạng còn buồn hơn. Nhưng đó là mở đầu để giao tiếp chuyện chiến công như của Chinh, của Nguyễn Thành Trung…


 


 – Vậy thì anh kể em viết cho?


 


 – Nhưng để anh hỏi chuyện em đã.


 


 – Hỏi gì hỏi miễn hỏi chuyện chồng con. - Thu Thảo trở lại vẻ tinh nghịch - Nhưng mà khỏi hỏi để em trả lời anh muốn hỏi gì. Là sau khi gặp anh hồi cuối 75, em đăng ký học hết phổ thông do dở dang hồi chiến tranh. Học Anh văn, Pháp văn nữa, rồi học hàm thụ đại học văn khoa. Học thật, bằng thật; chớ không phải học giả mà bằng thật đâu nghen! Anh hỏi học rồi làm gì à? Em viết báo, viết văn. Không vào biên chế ở toà báo nào hết, khỏi phải gò bó theo chỉ đạo của Tổng biên tập; viết tự do theo cảm quan, cảm xúc của mình, đề tài thích hợp cho báo nào gởi cho báo đó. Mà thôi dông dài về em chi! Bây giờ gọt sapôchê anh ăn, vừa kể chuyện cho em viết. Em quen nhiều báo lắm, đài phát thanh nữa. Gởi đâu cũng được dùng liền.


 


– Thôi, chuyện đồng đội để anh viết. Em có duyên thì viết chuyện của anh. Cũng bởi có một nhà văn do Tư Chu giới thiệu thành ra anh phải kể… Mà thôi đi!


 


- Sao thôi? Ai viết, giọng của người đó. Em viết giọng của em. Em đồng đội, em đồng hương không hơn sao? Còn nhớ năm mới giải phóng gặp anh giữa đường Nguyễn Huệ, anh bảo cuộc đời anh như một người lữ hành trên trường đồ tri mã lực. Chuyện dài, hứa hôm nào có dịp kể. Nay có dịp rồi, kể đi!


 


 - hưng mà… - Tường Tri dụ dự - Kể công lao mình hóa ra công thần rồi bắt thiên hạ đọc, nó trơ trẽn làm sao đâu! Như Pháp có câu ngạn ngữ rất hay: “Il ne faut pas parler de soi”.


 


– Anh kỹ tánh quá! Nói về mình mà không hàm ý: Le moi est haissable - là cái tôi đáng ghét! Nói về mình trong quan hệ cộng đồng tốt đẹp, thì rất tốt thôi. Mà hay là thôi cái chuyện kể công lao đi. Anh kể chuyện đời riêng cho em nghe. Chuyện tình yêu càng hay. Thị hiếu bạn đọc trẻ bây giờ mặn chuyện tình yêu mà ngán chuyện chiến tranh. Tình yêu thì muôn hình vạn trạng. Mà kể em nghe thôi, em không viết gì hết.


 


Thu Thảo thuyết phục khéo, Tường Tri được gợi, tỉ tê kể chuyện đời mình. Từ hôm ấy và luôn mấy hôm sau, Thu Thảo đến nghe anh kể chuyện và thường mang theo thức ăn, kể cả mua hoa hồng, chưng trong cái bình thủy tinh mới. Trên bàn có bình hoa, bên cái máy đánh chữ và cái Radio cassette, căn phòng có vẻ sang, đẹp mắt. Đúng là có bàn tay phụ nữ không gian trở nên tươi mát hẳn. Gợi cảm nữa là mái tóc buông lơi đen mướt, tỉa tót vén khéo líu ríu quanh bờ vai, tôn gương mặt Thu Thảo trắng trẻo đầy đặn ửng hồng. Ánh mắt đen huyền trữ tình khơi gợi anh luôn nhìn trộm, đánh thức mộng mơ cùng Jaenne chung sống cảnh vợ chồng… Cảm hứng như vậy nên chuyện tình yêu với Việt La cứ rỉ rả tuôn ra lan man. Vừa làm cơm vừa kể, cho đến lên mâm cùng ăn, kẻ nói say sưa, người nghe chăm chú… Tuy nhiên chuyện tình với Jaenne, với Thùy Dung thì anh giấu nhẹm.


 


                                                                              


 


 


 


 


 


 


 


 


 



19



 










V




 


ào một buổi sáng, chiếc xe Jeep dừng trước cửa nhà, rước Nguyễn Tường Tri vào sân bay Tân Sơn Nhất dự lễ tuyên dương Trung đoàn 917 danh hiệu: “Anh hùng các lực lượng vũ trang nhân dân”. Tại nhà khách trung đoàn, anh tay bắt mặt mừng với đông đủ đồng đội chiến đấu cùng biên đội trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Có cả Tư lệnh Không quân Đào Đình Luyện và Trần Mạnh - Phó tư lệnh, từ Hà Nội vô. Đông vui nữa là có đại diện các đơn vị trong quân chủng không quân ở phía Nam và nhiều chiến sĩ mới sau ngày giải phóng. Anh vô cùng xúc động khi đồng chí Tư lệnh đến bắt tay một cách trân trọng, vừa tỏ ra ngạc nhiên nói một câu: “Cho đến nay, tôi mới biết đồng chí Tường Tri từ bên Pháp về mà là sinh viên École Polytechnique”. Đặc biệt xúc động gặp lại bạn cũ Tư lệnh phó Trần Mạnh ôm nhau với nụ cười và ánh mắt thân tình; cho anh ngầm hiểu ra chính vị nầy đã thổ lộ với Tư lệnh chuyện Tường Tri ở bên Tây về. Cảm động nữa là đồng chí Trịnh Minh Đức trung đoàn trưởng và đồng chí Nhậm từng gắn bó với anh nhiều cuộc bay chuẩn bị chiến đấu, phối hợp chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng. Mỗi người tách một bông hồng của lẵng hoa do Chủ tịch Hội đồng Nhà nước tặng trung đoàn, tặng lại anh và bảo rằng: “Thành quả của Trung đoàn được tuyên dương danh hiệu Anh hùng là có công lao Nguyễn Tường Tri góp phần”. Hít thở hương hoa dịu ngọt làm anh bồi hồi liên tưởng những tháng ngày gian lao trong tình đồng chí đồng đội đồng cam cộng khổ. Thật không ngờ anh được đơn vị cũ tưởng lệ và nhiều người ưu ái đến vậy!


 


 Về đến nhà, anh thay hoa trong bình đã tàn, cắm vào hai bông hồng hưởng lây niềm vinh dự. Trực nhìn bàn máy đang còn để mở, anh đang viết bài: “Những đứa con” đến đoạn cùng Chinh đón Nguyễn Thành Trung sau khi ném bom dinh Độc Lập về chiến khu. Anh ngồi vô gõ tiếp cảm xúc buổi tham dự cuộc lễ với dòng chữ: “Hương hoa thoảng nhẹ như nhắc nhở chúng con - những đứa con của Tổ quốc phải luôn giữ vững truyền thống tốt đẹp của Quân đội Nhân dân anh hùng!”


 


Đang gõ máy lọc cọc bỗng lại nghe tiếng đập cửa lạch xạch, anh đoan chắc Thu Thảo đến, vừa bước ra cửa vừa gắt yêu:


 


– Gì mà gõ cửa như giặc tới vậy em bậu ơi!


 


Nhưng khi mở cửa, hiện ra một người đàn ông cao lớn, mái tóc rễ tre quen thuộc, anh nhận ngay ra đồng đội cũ, ôm chầm lấy, reo mừng. Vừa lúc nhận ra người đàn bà sồn sồn đứng sau đang nhoẻn miệng cười. Một gương mặt khả ái, gợi nhanh đến hình ảnh Thùy Dung; hóa ra là bà chị Thùy An.


 


– Mời vô nhà, ngồi, ngồi! - Tường Tri tỏ ra rất vui, cười lớn - Hai ông bà bữa nay đi đâu lạc đây? Thùy An, sao không thấy Thùy Dung đi cùng chị?


 


– Anh Tường Tri cũng còn nhớ em gái tôi sao? - Thùy An liếc xéo, hỏi mắc. – Anh là bạc tình lắm đó! Công lao vợ chồng tôi thành công cốc!


 


– Còn ông về Nam rồi bặt vô âm tín; chẳng thèm nhớ đến bạn bè đồng đội gì ráo! - Phước Lợi vừa ngồi, cười ha ha, nhổm lên thân tình đấm vai bạn, giọng ồm ồm trách móc - Tệ đến không viết nổi lá thơ nữa sao?


 


Chú mèo tam thể sống với chủ độc thân quạnh hiu, đang ngủ lơ mơ nghe khách tới ồn ào men ra rà rê đến cạ cạ cái đầu niểng qua niểng lại vào chân Phước Lợi, được ông nầy bồng lên vuốt ve làm chú ta rên gừ gừ. Nữ giới không mấy ưa mèo mà chuộng chó; tuy nhiên liếc nhìn con tam thể sắc lông đẹp quá, Thùy An thò tay sang vuốt ve con mèo khoanh trong lòng ông xã, vừa dòm quanh, vẫn mồm mép dẻo kẹo như ngày nào:


 


– Ở rộng thênh thế nầy mà vợ con đâu vắng, anh Tường Tri? Sém chút nữa tôi được làm chị vợ rồi, còn bây giờ anh cũng làm ông nội, ông ngoại gì rồi đấy nhỉ?


 


– Một mình vẫn phòng không, bạn tới chưa kịp mời nước nôi gì không thấy sao? - Tường Tri đứng vụt dậy vào trong mang phích nước bình trà ra thao tác, vừa thanh minh - Công tác bận rộn lu bù, toàn việc không tên như Thiên lôi. Tay quen cầm lắc-lê, ê-tô, không quen cầm viết, chẳng khi nào viết thơ cho ai.


 


– Gì nhìn lom lom dễ sợ thế? - Thùy An thôi vuốt ve con tam thể, ngồi trở bộ, tránh cái nhìn nhột nhạt của Tường Tri - Tôi là chị à, không phải em nó đâu!


 


Bị bắt nọn, Tường Tri cười hì hì, chữa ngượng, chẳng úp mở làm gì:


 


– Hai ông bà đi đây mà không đưa Thùy Dung theo!


 


– Mới nãy giờ mà hai lần anh nhắc tới Thùy Dung rồi đấy nhé! - Thùy An buông giọng nửa đùa, nửa trách - Phải hồi ấy cưới đi, hứa hôn rồi để đó cũng được. Để chi bây giờ ôm bầu tâm sự nhớ nhung, nhắc đi nhắc lại mãi! Báo hại vợ chồng tôi làm ông tơ bà nguyệt vô duyên, buồn quá thể!


 


– Ngày ấy tôi cũng biểu vậy, không chịu là không! - Phước Lợi xen vô - Lại còn lên lớp chánh trị tôi nữa chớ. Nào là lời nguyền, nào là sứ mạng thiêng liêng… Ôi cha! Rầu ông thợ máy lạm quyền chánh trị viên quá trời!


 


– Nhưng mà Thùy Dung bây giờ đã có gia đình chưa? - Tường Tri bộc lộ sốt ruột - Từ chia tay đến nay ngót mười bốn năm rồi! Chắc là cổ đã lập gia đình, làm bà nội bà ngoại gì rồi phải hôn?


 


 – Còn ông? Sao không trả lời chúng tôi? - Phước Lợi làm mặt giận, thả con mèo xuống, cho nó te te sang trèo vô lòng chủ tiếp tục gừ gừ…


 


– Tôi thì như hai người thấy đấy. Độc thân. Nhưng không cô độc!


 


 - Hồi ấy đang chiến tranh còn dễ chấp nhận - Thùy An lắc đầu rung mái tóc phi-zê muối tiêu - Hòa bình chín mười năm nay rồi, độc thân em không tin!


 


Tường Tri bỏ qua, hỏi lại:


 


– Chớ Phước Lợi có về Gành Hào thăm gia đình mạnh giỏi ra sao?


 


– Sau giải phóng ít năm mình có đưa vợ con về thăm gia đình ở Gành Hào. - Phước Lợi trầm ngâm, thoát giọng biển, ngậm ngùi rỉ rả kể chuyện nhà - Sau khi tụi mình xuống tàu đi tập kết, năm sau ông già bị Mỹ-Diệm trả thù kháng chiến cũ, chặt đầu ổng quăng xuống biển. Bà già sống lây lất nuôi cháu ngoại. Con của thằng Minh. Ông già cho nó với em gái tao động phòng chẳng cần cưới hỏi trước khi đi tập kết. Có kể cho mầy nghe hồi ở trên tàu Ki-lin-ski đó. Em gái tao lần đó mang thai, sanh con rồi gởi lại bà ngoại nuôi, thoát ly công tác phụ nữ tỉnh Bạc Liêu. Thằng Minh đi tập kết, năm 1961 trở về làm cán bộ tham mưu Bộ Tư lệnh khu 9. Chưa kịp rước vợ con ra thăm, trên biệt phái nó theo tiểu đoàn cơ động của khu, chỉ đạo tác chiến, tham dự trận Hộ Phòng lãnh viên đạn mồ côi hy sinh tức tối! Tội nghiệp con em mình! Một đời chồng chỉ vài ba đêm ngắn ngủi, rồi thành đàn bà góa! Nghỉ hưu rồi, về nuôi mẹ già tới chín chục tuổi bã qua đời. Con nhỏ vẫn ở vậy độc thân thành bà lão. Thằng con nó năm 1972 mười bảy tuổi, theo bộ đội đúng đơn vị cha nó được biệt phái, chiến đấu cho tới ngày giải phóng. Kể ra trời cũng còn thương cái thằng mồ côi, bị thương ba lần không chết, thành thương binh; bây giờ làm Phó Chủ tịch Đông Hải - huyện nhà. Phước Lợi đột ngột trở lại giọng biển ồm ồm - Hôm đón cậu mợ về, cháu đãi một chầu cua biển lột nhậu lết bánh! Hê! Hê!


 


Thường khi Phước Lợi phát giọng cười vui thế, Tường Tri cười ăn theo hì hì. Nhưng hôm nay anh ngồi lặng im, động đậy cặp lông mày dài, hai ổ mắt sâu tròng đen nhuốm vẻ u hoài đen mun, lóng lánh nước. Đa cảm thường lạt lòng, bi kịch chuyện nhà Phước Lợi dư ba trong hồn anh. Ám ảnh nhứt là cái nỗi cô em gái có chồng “chụp giựt” với cảnh ngộ tuần trăng mật bẽ bàng trong vài ngày rồi sinh ly. Rồi đợi chờ đằng đẵng. Rồi khi chồng về tưởng sẽ tái ngộ, nhưng rồi định mệnh oan nghiệt tử biệt luôn! Rốt cuộc cô em thành đàn bà góa từ tuổi mười tám non tơ! Lịch sử đất nước bị chia cắt, như vũng xoáy khổng lồ, cuốn hút dữ dội biết bao số phận chìm trong đau thương tang tóc!... Ngẫm ra, độc thân vẫn nhẹ nhàng, không gây hệ lụy. Dẫu trái tim có thổn thức tình yêu, cám cảnh biệt ly cũng sầu đau như ai, song cố vượt qua thì cũng như gió thoảng mây bay.


 


Vẫn tính cách nhộn như thường ngày, nhìn vẻ mặt Tường Tri thờ thẫn, Thùy An uốn giọng phỉnh làm thư giãn không khí:


 


– Này anh Tường Tri! Khi chúng em chuẩn bị chuyến đi du lịch nầy, có rủ Thùy Dung. Nhưng cơ mà… cô nàng từ chối bởi bận bịu… trông cháu nhò-ỏ-ỏ…!


 


 – Thảo nào! Đúng là tôi phán đoán không sai mà! - Tường Tri trở lại trạng thái bình thường, nhưng không tỏ ra vui - Vậy xin nhờ chuyển hộ lời tôi chúc mừng Thùy Dung hạnh phúc gia đình.


 


Vợ chồng Phước Lợi bỗng cười ngất.


 


– Là cháu di-ì…ì! Con của chúng em. - Thùy An cũng ngại đùa dai tội nghiệp ông anh đa cảm – Còn về chúng em đã được hai con. Thằng lớn đang đại học Cơ khí năm thứ hai. Nhưng con bé em nó thì mới hai tuổi, đi xa đem theo bất tiện. Nhờ dì Dung trông giúp. Chứ Thùy Dung nào đã chồng con gì đâu. Vẫn độc thân như anh vậy. Lính “phòng không” mà! Nghỉ hưu rồi. Vả lại cái tính nết con nhỏ khép kín, mặc cảm giao lưu rộng rãi, anh còn lạ gì. Vẫn như hồi nào, “con mọt sách” đó anh ơi!


 


Bị lỏ chèn, Tường Tri chữa ngượng cười hì hì; nhạy miệng cầm khách:


 


– Chiều sắp tối rồi, hai ông bà ở lại chơi, ăn với đồng đội già bữa cơm rau.


 


– Thôi! - Thùy An lẹ miệng - Đàn ông đàn ang đơn chiếc, cơm nước vất vả. Chúng em đi theo tour du lịch, họ bao ăn nghỉ khách sạn.


 


– Bao nhiêu năm mới gặp lại, đạm bạc cầu vui, kể gì vất vả. Ờ mà làm sao ông bà biết mình ở đây mà tìm tới thăm, giỏi vậy?


 


– Tưởng tình nhau thì ở trong hóc đùng, bà tó người ta cũng tìm tới. - Phước Lợi nhấp ngụm trà nguội, nghiêm túc - Tour du lịch đi Bạc Liêu, tới nơi, mình với bà xã đi taxi về Gành Hào thăm bà già với con em, mới hay chuyện bà già qua đời, con em ở giá. Hôm sau lại theo tour đi Cà Mau, tới thăm Bảy Đặng, hồi đi học chung với mình ở Trung Quốc đó. Chả nghỉ hưu về quê ở huyện Trần Văn Thời, lập nghiệp thành trang chủ, hỏi thăm mới biết Tường Tri ở đây. Cái sự nó vòng vo vậy đó. Còn mình cơ ngơi đã yên bề ở Hà Nội rồi. Quê nhà ở sát biển mà mình dở ẹc nghề đánh bắt. Ví Thùy An còn cha mẹ già không xa được…


 


– Ờ, có lần Bảy Đặng tới thăm tôi. Vậy bao giờ ra?


 


– Tám giờ sáng mai ra sân bay. Bây giờ xin tạm biệt.


 


– Chúc thượng lộ vui vẻ; hạ cánh an toàn. - Tường Tri cùng đứng lên ôm hôn Phước Lợi. Khi anh bắt tay Thùy An giữ hơi lâu, giọng ngậm ngùi - Cho tôi nhắn lời với Thùy Dung: Tường Tri cũng đang là bạn độc thân chung thủy với Thùy Dung. Chúc sống vui và hạnh phúc đọc được nhiều điều hay trong kho tàng trí tuệ nhân loại.


 


Nhạy cảm vui mà cũng nhạy cảm buồn, Thùy An muốn nói gì bỗng nghẹn ngào rồi quay mặt đi, lau nước mắt. Tường Tri theo đưa ra tận đường, gọi taxi, bắt tay lần nữa trước khi đóng cửa xe.


 


                                                                


 



 


20



 










   B




 


ẵng một thời gian hơi lâu Thu Thảo không thấy tới. Anh đâm nhớ và thầm lo, bèn thả bộ dọc đường Nguyễn Thái Bình vài mươi bước đụng trụ sở Công an quận 1, nằm trên đường Yersin. Lần nào đến đây cũng gợi anh chợt nhớ đêm 23 tháng 9 năm 1945 anh cùng đội tự vệ Hoàng Thọ đánh lấy bót cảnh sát Signore, lãnh vết thương đầu tiên cuộc đời chinh chiến. Bồi hồi nhìn vào cảnh cũ một lúc, anh rẽ trái đi lần tới đường Nguyễn Công Trứ quẹo phải đến đường Nguyễn Thái Học, băng qua chợ Cầu Muối. Chợ lan ra nhà lồng chạy dài theo hai bên lề đường Nguyễn Thái Học đang ồn ào bán mua náo nhiệt. Còn Cầu Muối mà chẳng thấy cầu, chỉ thấy cầu Ông Lãnh. Chú mục tìm số nhà, tới góc đường Cô Giang - Nguyễn Thái Học - anh rẽ vào “cái xẹc” đầu là con hẻm nhỏ rồi quẹo trái con hẻm kế ngoắc ngoéo uốn theo góc tường những căn hộ leo ra thụt vào. Quẹo cái xẹc cuối hẹp hơn, sâu hơn, góc tường leo ra, thụt vào nhiều hơn nên bà con ở đậy kêu là con hẻm “e-o-ẹo…”; xe Honda chạy ẹo qua ẹo lại. Ngoài xa, anh đã nhìn đúng số nhà hằng nhớ gắn trên cánh cửa tole sát góc tường bên phải, chắn ngang bởi hàng rào lưới B.40 “khóa đuôi” con hẻm cùng. Bên trong rào, nhìn ngang qua vuông sân nhỏ ở góc phải có cây mai lão gốc to sần sùi, bộ cành khẳng khiu ra dáng cổ thụ, nép sát tường phố cao. Góc trái cây sa-pô-chê cũng gốc to sần sùi, nhưng cành lá xum xuê chen chúc trái lớn trái nhỏ màu cám gạo đang tiếp nhận ánh mặt trời buổi sáng lên khỏi phố cao. Một căn hộ nhỏ nhoi dựa lưng vào dải tường khu nhà cao tầng, có chiều sâu hút, chiều ngang chỉ 5 mét, trở cửa ra vuông sân khiêm nhường. Trước thềm, bên phải chậu nguyệt quế lá xanh mướt chờ tuần trăng tròn. Bên trái chậu đinh hương được tỉa tót lá lí rí xanh non thật dễ thương. Đứng quan sát một lúc anh mới bấm chuông. Một bà trạc trên bảy mươi, tóc hoa râm, mặt hiền hậu từ phía sau bước ra đon đả tiếp anh. Đoán chắc là dì Út của Thu Thảo, anh tự giới thiệu là đồng đội của cô, đến thăm. Bà dì vẻ săn đón, hơi lúng túng xưng hô vì trông Tường Tri tóc cũng muối tiêu suýt soát tuổi bà:


 


– Mời ngồi. Vậy là cũng dân biệt động với em nó?


 


 Dì Út rạng rỡ vẻ mặt phong sương trổ vài đốm đồi mồi. Phong thái nhanh nhẹn, dì kéo ghế mời khách ngồi vào đầu bàn dài kê giữa nhà, mỗi bên hai cái ghế “tô-nê”, miệng đãi bôi xã giao, tay nhậm lẹ pha trà.


 


Vẻ tò mò, anh nhìn gian nhà xây đơn sơ, trần cao, vài chỗ tróc vôi loang lổ. Nhìn qua phía sau lưng dì Út, bộ đi-văng lâu năm màu vec-ni chết nước lem luốc. Phía sau lưng anh là cái bàn con, trên có máy đánh chữ Olympia đóng nắp. Bên trong là vách ngăn, hai bên hai cửa buồng đang buông màn lụa hường, trên có rèm the thêu hoa lá. Giữa hai cửa buồng là tủ thờ mi-ni bằng gỗ trắc được lau chùi sáng bóng. Tuy nhỏ, song tủ thờ cùng hai bên hai chân đèn đều bằng gỗ hoa văn nguyên thủy đẹp mắt. Chính giữa, cái lư hương lớn bằng gốm bát tràng màu xanh cẩm thạch, chân nhang đỏ dày đặc. Bên trong, hai bức chân dung trong khung gỗ dựng trên chân đế cao.


 


- Uống nước đi! - Dì Út rót thêm trà mời trống không - Hồi đó ở trỏng ra hay ém trụ trong nhà nầy; địa thế rất yếm cho hồi còn giặc che mắt cảnh sát… Ông nhà qua, tham gia hoạt động hồi trước khởi nghĩa, khéo chọn cái địa thế ở đây. Kể từ mặt tiền là đường Cô Giang, bên phải đường Nguyễn Thái Học, bên trái đường Đề Thám, mặt hậu đường Cô Bắc. Ở đây như cái rún giữa những nhà cách mạng nòi. Yếm lắm! Nên ở yên từ đó đến giờ. Nghĩ, những người đặt tên đường ở vùng nầy thiệt là… là đáng khâm phục! Có lẽ ứng với lời đồn từ ngày xưa: khu vực Cầu Muối có nhóm khởi nghĩa Yên Bái. Ở giữa vùng mà tên đường là những nhà cách mạng tiền bối, cảm thấy tự hào. Nhứt là đúng con đường Cô Giang gắn liền với Nguyễn Thái Học, như cặp vợ chồng còn sống trên dương trần! Cũng nhờ con Thảo mua cuốn sách “Cuộc khởi nghĩa Yên Bái” về cho tôi đọc. Có chuyện xúc động nhứt là Cô Giang; tức Nguyễn Thị Giang, vợ Nguyễn Thái Học. Bà đã cùng chồng hoạt động cách mạng. Sau khi bí mật chứng kiến chồng bị thực dân Pháp xử chém tại pháp trường Yên Bái, bà về thắp hương lạy tạ tổ tiên, lạy tạ cha mẹ chồng, rồi dùng khẩu súng lục chồng tặng tự vận, để lại bài thơ khóc Nguyễn Thái Học. Còn nhớ có đoạn đọc rớt nước mắt: “Thân không giúp ích cho đời/ Thù không trả được cho người tình chung/ Dẫu rằng đang độ trẻ trung/ Quyết vì dân chúng thề lòng hy sinh”. Tấm gương của bà được nhiều người làm thơ ca ngợi: Một tấm can trường trời đất thảm/ Nghìn thu tiết tho quỷ thần kinh/ Cuộc đời sá kể chi thành bại/ Trai đã trung thì gái hẳn trinh… - Dì Út chợt ngẩng nhìn ông khách mới - Tôi hình như múa rìu qua mắt thợ thì phải! Đừng chấp nghen! Già hay sinh tật!


 


- Dạ không, thưa dì Út! Thực tình hôm nay tôi mới nghe dì kể chuyện nầy. Là lớp hậu sinh, thường chỉ tìm hiểu chuyện đương thời, chuyện mới, còn chuyện quá khứ làm giàu cho tri thức lại bỏ qua.


 


- Ủa? Chớ … cũng dân biệt động cùng em nó mà? Sao không được gặp về đây?


 


 – Năm đó tôi còn ở Hà Nội. Năm 70 mới vô.


 


 – Không biết tôi kêu bằng gì đây? Mấy mươi rồi?


 


 – Dạ còn ba tuổi nữa đầy bảy mươi.


 


 – Vậy là ít hơn qua bốn tuổi. Chớ thứ mấy?


 


– Dạ thứ hai. Còn dì thứ mấy?


 


– Thứ Út. Cậu Hai kêu qua bằng chị thôi! Ờ mà đến thăm hay có chuyện chi?


 


– Thăm thôi. Cô Thu Thảo đâu vắng?


 


– Ối, nó đi xành xạch tối ngày không hay ở nhà. Có hôm ăn ở đâu không về.


 


– Trên bàn thờ, thờ hai bức ảnh là ai vậy?


 


– Ảnh người trẻ là chồng con Thảo, còn ảnh kia là ông nhà của qua.


 


– Dượng Út sao mất?


 


– Chở thuốc nổ vô thành bằng ghe hai đáy, đánh mấy trận nổi đình đám rúng rính tới tòa “Bạch Ốc Bạch Sò” gì đó! Chiêu hồi độc địa lắm, trùm bồng bột khoét lỗ hai con mắt nhìn mặt, chỉ chọc. Ổng bị bắt trên đường công tác, bị tra đánh hộc máu rồi đày chuồng cọp Côn Đảo. Mang bịnh hậu chết rũ xương trong chuồng cọp; chẳng có mồ mả gì.


 


– Còn chồng cô Thảo?


 


– Chồng nó hy sinh hồi Tết Mậu Thân -1968, đánh vô tòa Đại sứ Mỹ; cầm cự cho đến sáng béc rồi hy sinh hết trơn, tụi nó kéo xác cả xe tải, đào hố chôn chung! Chỉ còn mình Ba Đen bị thương mê man bị bắt đày Côn Đảo.


 


 – Vậy còn ba má cô Thảo?


 


 – Trái bom “đìa” rơi trúng nhà, thành đìa rồi. Ba má nó thịt xương tan tành trong hố bom đìa đó. Nếu con Thảo có ở nhà hôm đó chắc cũng không còn miếng thịt. Đâu phải riêng nhà nó. Dân người ta gọi Củ Chi đất thép thành đồng là “đất thép thành đìa”cậu Hai ơi!


 


– Cô Thảo đến nay vẫn ở vậy?


 


– Ở vậy từ mười tám tuổi đến giờ. Cũng có mấy người góa vợ đeo đuổi đó. Biểu nó đi bước nữa mà cứ lông bông riết già hết duyên. Bốn mươi rồi chớ còn trẻ trung gì ở đâu! Ờ mà cậu Hai ngồi chơi để qua nấu cơm ăn, chờ con Thảo về.


 


– Dạ thôi, để khi khác.


 


– Ờ quên nữa, toàn lo nói chuyện mình không, vô duyên. Chớ cậu Hai nhà ở đâu? Có gia đình vợ con gì chưa?


 


– Dạ, nhà ở đường Nguyễn Thái Bình đằng kia, cô Thảo có đến rồi.


 


– Vậy nữa! Còn gia đình vợ con?


 


– Dạ chưa lập gia đình.


 


– Mèn đéc ơi! Từng tuổi nầy mà…Vậy giờ vẫn sống độc thân?


 


– Độc thân mà không cô độc, dì Út.


 


– Nói nghe ngon quá! Ờ mà biểu kêu qua bằng chị! Vậy còn song thân hiện giờ mạnh giỏi thế nào, quê quán ở đâu?


 


– Dạ ở bên Tây, dì Út. Chia ly từ năm 1943, tôi mới hai mươi tuổi, từ ấy đến nay bặt vô âm tín.


 


– Dữ vậy lận! Cơ khổ! Đáng thương không! Cả một đời người đơn thân độc mã chiến chinh rày đây mai đó!


 


Tường Tri không muốn kể dây dưa vội từ giã. Trong khi dì Út chép miệng ngậm ngùi thở dài. Đôi mắt hiền lóng lánh, dì Út tiễn anh ra cửa, đứng nhìn mãi theo…


 


                                                                          


 


 


 


 


 


 


 



 


21



 










  V




 


ề đến nhà, Tường Tri mở máy chữ gõ lọc cọc ghi cảm xúc về những cuộc đời hy sinh vừa được nghe dì Út kể. Được một lúc nghe đập cửa lạch xạch, thì ra Thu Thảo tới.


 


– Em vừa về nghe dì Út nói. Sao anh không ở chơi chờ em, về chi vội.


 


– Nghe dì kể thương tâm quá chịu không nổi, về ghi kỷ niệm.


 


 – Bi kịch chiến tranh từ thời mấy anh đi tập kết, Mỹ-Diệm lê máy chém trả thù kháng chiến cũ, tàn sát sanh linh đẫm máu; cho tới thời thực binh Mỹ qua cùng với quân chư hầu, giết chóc dã man bằng vũ khí hiện đại mới thảm khốc không bút mực nào ghi cho xiết! Mà thôi, không nhắc chuyện đau thương làm chi nữa cho thêm phiền lòng. Em hỏi anh đêm qua có nghe Đài phát thanh thành phố đọc chuyện đêm khuya không?


 


– Anh ít khi nghe đài, quen đêm khuya nghe nhạc giao hưởng.


 


– Em có thu băng đây. Bây giờ em mở cho anh nghe nghen. Em có mang theo thực phẩm, để em đi làm cơm rồi cùng ăn.


 


Tác phong vốn nhậm lẹ, Thu Thảo đem radio cassette ra lắp băng vào, bấm play, lẳng lặng xuống bếp, mọi động tác cô làm rất nhẹ nhàng. Sau khúc nhạc hiệu đọc chuyện đêm khuya của Đài phát thanh thành phố, một giọng nữ trẻ tao nhã cất lên: “Thưa các bạn. Nhân kỷ niệm 51 năm ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam, chúng tôi xin trân trọng giới thiệu truyện ngắn: “Sân băng êm đềm” của nữ sĩ Thu Thảo. “Sân băng êm đềm” là câu chuyện tình đẹp như một bài thơ tuyệt tác của một sĩ quan không quân Việt Nam, dù tình yêu ấy có đôi lúc sắp đốt cháy trái tim người chiến sĩ, nhưng thương đồng bào miền Nam còn lầm than khốn khổ bởi bom đạn của quân thù, ông đã không đành lòng an hưởng hạnh phúc riêng tư mà mãi mãi giữ chặt hình ảnh người yêu và mối tình muôn thuở.” Bản Tình ca của Hoàng Việt trỗi lên giai điệu trữ tình tha thiết qua giọng ca Quốc Hương: Khi hát lên tiếng ca gửi về người yêu quê ta; ta át tiếng gió mưa thét gào cuộn dâng phong ba. Em ơi nghe chăng lời trái tim vọng ra… Khúc ca nhỏ dần... Một giọng nữ vào truyện diễn cảm… “Vừa đến sân bay Thiên Tân, xúc cảm đầu tiên của Nguyễn Tường Tri…”.


 


Đang lúi húi làm bếp, thỉnh thoảng Thu Thảo liếc lên thấy Tường Tri ngồi nghe một cách nghiêm túc. Cô bỗng ngạc nhiên không rõ đoạn nào đó mà anh xúc động rút khăn lau mắt. Bài đọc đến khúc chuyển đoạn, bản Tình ca đệm giai điệu ca từ gợi cảm: “Rung trong không gian mặt biển sôi ầm vang. Qua núi biếc chập chùng xa xa. Qua bóng mây che mờ quê ta, tiếng ca đời đời chung thủy thiết tha…”. Giọng đọc tiếp tục diễn tả bữa cơm gia đình Vương Dũng tiễn Tường Tri về Bắc Kinh thực tập và câu chuyện bà Vương gợi ý cho Việt La theo Tường Tri về Hà Nội. Khúc mâu thuẫn nội tâm Tường Tri từ ấy suốt cho đến khi về Bắc Kinh, đến đỗi đi tham quan nơi nào hình ảnhViệt La vẫn lởn vởn theo anh. Cũng như bản Tình ca vẫn theo đến cuối truyện mà ca từ da diết khiến anh lại lau nước mắt lần nữa: “Giữ lấy đức tin bền vững em ơi. Giữ lấy trái tim đời sống yêu đời. Làm một bài tình ca của đôi lứa ta dâng cả bao người…”


 


Băng từ kết thúc với lời cảm ơn của cô dẫn chương trình, nêu tên buổi nầy do BY, MN và CH thực hiện. Tường Tri vẫn ngồi yên vị không nói không rằng. Mái tóc muối tiêu trắng muối hơn tiêu, hơi cúi xuống mặt bàn. Đôi mày dài, mắt sâu, hầu như luôn tiềm ẩn tâm trạng cô đặc gom vào tròng con ngươi đen mun lóng lánh. Trào lòng xúc động cũng đã qua, biết rèn luyện bản lĩnh sống thì việc gì phải khóc. Có điều trái tim vốn đa cảm níu anh lặng đi chờ nguôi ngoai nỗi ngậm ngùi. Cho đến lúc Thu Thảo đến tắt đài, lau bàn chuẩn bị dọn cơm, anh mới đứng lên bước ra sau rửa mặt. Không gian trong căn phòng trở nên lặng trang, chỉ còn tiếng bát đũa Thu Thảo dọn cơm khua rón rén. Khi hai người ngồi vào bàn ăn, Thu Thảo thủ thỉ:


 


 - Chuyện tình xưa hơn ba mươi năm, gợi lại làm anh buồn, cho em xin lỗi nghen!


 


 – Không không! - Tường Tri bừng tỉnh - Em đâu có lỗi gì. Bởi kỷ niệm gây nhớ. Cả gia đình Vương Dũng tốt với anh quá. Bả người Nga, không biết thời kỳ Hồng vệ binh - Trung Quốc ông bà có mệnh hệ gì không! Mà chuyện anh kể giản đơn thôi. Đôi chỗ không đúng vậy!


 


– Không đúng vậy mà tại sao anh xúc động?


 


– Tại em viết tận ruột gan người ta.


 


– Truyện ngắn mà anh. Có chút tưởng tượng của tác giả về tâm trạng nhân vật cùng cảnh vật sinh tình. Có vậy mới hấp dẫn và còn nâng ý nghĩa kỷ niệm ngày thành lập quân đội nữa chớ.


 


– Em cho anh xin cái băng nầy được không?


 


– Sao lại không. Em đem đến tặng anh đó mà.


 


– Cám ơn Thu Thảo!


 


– Cám ơn thì em buồn đó!...


 


 Thu Thảo bùng thụng bộ mặt hờn dỗi trông như trẻ con. Chợt anh giật thót bắt gặp ánh mắt Thu Thảo nhìn anh sắc lẻm, hệt như ánh mắt Việt La hốt hồn anh thuở nào ở sân băng êm đềm bên Thiên Tân. Không dám nhìn lại giao cảm, anh đứng lên lẹ tay thu dọn chén đũa. Cô hất vai anh giành lại:


 


– Đây là phần việc của em…


 


Trời ơi, cái giọng ngọt ngào êm ái như… vợ mà không phải vợ, mà là gì nghe xao xuyến lắm. Anh trở nên như người câm, lặng lẽ dọn dẹp, cô rửa chén thì anh múc nước, để mặc Thu Thảo “độc diễn”:


 


 – Hôm anh đến nhà, dì Út rất mến anh. Từng tuổi đó mà vẫn độc thân. Hòa bình rồi, nghỉ hưu rồi, cuộc sống cũng nên có niềm vui hạnh phúc, có bàn tay phụ nữ chia sẻ, làm bạn mà hủ hỉ sớm hôm...


 


 Nói mà người nghe không giao cảm, đáp lại tiếng nào, Thu Thảo dường cũng thua buồn. Thu dọn xong cô xách cái làn không lầm lũi ra về. Anh theo đưa ra cửa, thái độ xoa dịu, giọng mềm mỏng:


 


 - Anh sắp đi Hà Nội. Vừa nhận được thơ ngoài ấy triệu tập; không rõ chuyện gì? Chừng nào về anh tới em.


 


- Không tới luôn cũng được! - Đáp cộc lốc hờn dỗi, cô ngoe ngoảy te đi.


 


 


 


 


 


 


 



 


22



 










D




 


ì Út ngồi têm trầu ở góc bộ đi-văng kê về bên phải cửa ra vào. Bên trái cái bàn dài trấn giữa nhà là cái bàn vuông sát vách, Thu Thảo đang gõ máy chữ lọc cọc. Răng dì Út hãy còn nguyên, nhai rạo rạo miếng trầu, vui miệng nói bông lông: 


 


– Hai cái phần số mồ côi, cô đơn, hai dì cháu hợp lại thành hai má con trong gia đình; nghĩ cũng là có phước lớn - Nhai nhóc nhách miếng trầu đã bã ra trong miệng, nhổ cốt trầu vào cái ống nhổ thau xinh xắn, dùng hai ngón tay chùi mép sạch sẽ, dì lại tiếp - Chồng hy sinh, con còn con gái, bây giờ bốn mươi vẫn là con gái.


 


 – Con gái thì sao? - Thu Thảo dừng tay day ra - Sao tự nhiên bữa nay má nói chuyện xưa như trái đất?


 


 – Già hay nói chuyện xưa như là đất sanh cỏ vậy! - Dì Út cười lành.- Xưa ông bà ta dạy: Làm thân con gái chớ ăn trầu người. Huống hồ ăn cơm…


 


 – Là mẹ con, má muốn dạy con điều gì nói đại đi. Nói xa nói gần mệt quá!


 


 – Con đã trưởng thành. Thiệt ra má cũng không cần phải dạy con. Có điều muốn nói con hay tới lui, ăn uống nhà ông Tường Tri hoài, không khéo người ta dị nghị, đàm tiếu.


 


 – Vậy má đã nghe gì?


 


 – Chưa nghe gì. Má muốn nhắc chừng con giữ tư cách là con gái vậy thôi.


 


 – Dị nghị thì đã sao? Dị nghị mà thành chuyện thật thì càng tốt!


 


 – Úy! Thiệt vậy sao?


 


 – Thì nghe má cũng tỏ lòng mến mộ anh ấy. Mà thực lòng bấy lâu con thầm yêu anh ấy, má nghĩ sao?


 


– Chênh lệch tuổi nhiều quá! Hăm bảy tuổi!


 


 – Xem trong tình ý anh ấy cũng yêu con. Tình yêu bất phân tuổi tác mà má. Tại hôm nay má nói ra, cho nên con nghiêm túc xin ý kiến má có đồng ý cho con lấy anh ấy không?


 


 – Lấy nhau, đi ra với bè bạn, người đầu bạc, người đầu xanh, coi như cha con!


 


 – Ăn thua là tình nghĩa hòa hợp, chân thành, đồng điệu, thủy chung. Hình thức đẹp đôi vừa lứa tìm hiểu qua loa, cưới nhau vài tháng bất đồng ly dị. Khổ đời cả hai!


 


Dì Út nhả bã trầu, chậm rãi têm miếng khác, mở lời thủng thẳng tròn tiếng:


 


 – Nếu cái sự yêu nhau chánh đáng thì má tán thành. Chớ còn theo lệ thường phía nam họ “coi mắt”, lên tiếng trước. Xưa có câu: “Trâu tìm cột…” chớ có đâu ngược lại “cột tìm trâu?”


 


 – Ôi! Đâu phải chuyện gì, điều gì nhứt nhứt cũng theo xưa, coi chừng lạc hậu không hay! Ngày nay đổi mới, dân chủ, tôn trọng phía nữ có quyền bình đẳng lựa chọn, vậy mới công bằng chớ má.


 


– Nhưng mà… Má chỉ ngại một điều là tình ý cậu Tri thế nào má chưa biết. Xáng xả lên tiếng trước hay gọi là bình đẳng quyền lựa chọn của phía nữ, lỡ bị từ chối thôi quê một cục! Vậy… hôm nào con mời cậu Tri đến chơi, thăm dò coi sao đã!


 


Trao đổi với má như vậy, song thâm tâm Thu Thảo vẫn dành cho mình “một cửa khác”. Quan hệ thân tình, lắm khi bắt gặp Tường Tri biểu lộ khát vọng yêu đương. Tình yêu bắt đầu từ đôi mắt. Cái câu xưa như trái đất mà vẫn còn người ta bấu víu vào! Trách sao gái lỡ thời từ 18 đến bốn chục, cơ thể sinh học sung mãn, hay làm mình làm mẩy “đòi cơn”... Lửa gần rơm không trèm thì trụa… Cố giữ mà rồi cũng bén tình mộng mơ vầy duyên. Thuyết phục má, má cũng thuận tình. Nhưng mà rồi suy đi ngẫm lại. Đã viết truyện về anh, nhập tâm sâu sắc tâm trạng nỗi niềm… Vậy thì Thu Thảo mi ơi! Kết duyên với anh mi sẽ là hình bên gối, còn hồn vía chàng ngoại tình với bóng xưa… giữ vẹn hương nguyền…! Cho nên cánh cửa thầm nhủ lòng: “Ở vậy suốt đời!” đã hé…


 


 Chợt có bóng người thấp thoáng ngoài cửa. Thu Thảo nhanh mắt bước ra, đột nhiên vỗ tay ré lên:


 


– Má ơi! Linh như miễu! Quới nhơn đến rô-ồi…!


 


 Có lẽ cũng do duyên số, Tường Tri đi Hà Nội về hứa đến, anh đã đến. Anh còn tay xách nách mang quà gì với vẻ rất thận trọng. Anh chưa vào tới cửa, Thu Thảo vội chạy ra đỡ lấy, ca na lùm đùm các thứ vào nhà.


 


– Nhẹ tay! Nhẹ tay! - Anh bảo với nụ cười rạng rỡ, vừa cúi chào dì Út, rồi nhẹ nhàng để cái hộp vuông dài lên cuối bàn.


 


– Cậu Hai đi Hà Nội chuyện gì mà lâu vậy? - Dì hỏi lấy lệ chớ chẳng biết lâu mau - Mời cậu Hai ngồi uống nước.


 


– Dạ cám ơn dì Út! Đi có một tuần lâu la gì đâu. Thu Thảo! Em khui quà đi. Tặng cả hai má con đó mà.


 


 Thu Thảo mở trong túi giấy bồi in chữ Chúc mừng năm mới trên nền hoa mai xoắn xuýt hoa đào, lấy ra mấy gói giấy nhỏ, lần lược mở ra từng gói, vừa xướng lên líu lo: Đây nầy lụa đen, đây nầy lụa hoa đào, satin trắng… Ôi có cả dầu thơm Eau de Colonne nữa. Đúng mode Paris. Lấy ra từ túi khác cô lại xướng: đây là cốm làng Vòng, nho hộp, đây mứt hạt sen, xí muội, còn dưới cùng hộp gì đây? A, chocolat made in France Chơi đồ Tây không hà!


 


 Ngồi ghế bên trái bàn giữa, Tường Tri nhấm nháp tách trà dì Út mời, mắt nhìn theo Thu Thảo khui quà trên bộ đi-văng. Sau cùng anh khui cái hộp vuông dài trên bàn, thận trọng lấy ra bộ bình trà 6 tách. Từ tách đến bình trang trí hoa văn kim nhũ tranh cổ tích phong cách Âu châu, màu đỏ đen trên nền sứ trắng được lót trên vải sa tanh vàng óng mượt; trông rất sang trọng. Kế tiếp, anh mở túi xách tay lấy bức ảnh trao cho dì Út, giọng trịnh trọng:


 


 - Xin tặng má và Thu Thảo.


 


 Tiếp lấy bức ảnh màu sắc rất đẹp, dì Út xem qua rồi đưa sang Thu Thảo, cô reo lên:


 


– Ôi! Ảnh anh Tường Tri đội kê-pi, cầu vai bốn sao. Oai hết ý! Sao hồi nào anh giấu em, bảo chuyển ngành là “thượng úy” hà! Trời! Còn huy hiệu Anh hùng nữa, má ơi! Ngực trái còn ba huân chương không rành huân chương gì rồi à? Ngực phải 2 huy hiệu 40, 50 tuổi Đảng; còn huy hiệu gì gì nữa búa sua!


 


 – Còn cái nầy nữa, đáng thưởng công em. - Anh mở một cuốn tròn đưa ra tờ tạp chí Hàng không Việt Nam in ảnh cô tiếp viên xinh đẹp với áo dài màu hường, trên nền nhành đào to lớn nở đặc hoa. Anh lật vào trang đầu, màu hồng, đưa trở ra phía hai mẹ con, nghiêng đầu đọc: - Thư chúc mừng năm mới của Cục trưởng Cục Hàng không… Nhưng đáng chú ý là góc trên chữ viết tay đây nè: Thân tặng nữ văn sĩ Thu Thảo. Thân, ký tên- Nguyễn Văn…


 


– Ối! - Thu Thảo giẫy nẩy - Tại sao tặng em lại còn gọi là nữ văn sĩ?


 


Tường Tri chẳng trả lời, trao tờ tạp chí cho Thu Thảo, bảo:


 


– Em tìm đọc những trang trong thì sẽ rõ.


 


 Thu Thảo lật từng trang một chăm chú xem, đến một trang cô dừng lại, mắt sáng rỡ, mặt đỏ bừng vẻ ngượng ngùng lẫn sung sướng, kêu ré lên:


 


 – Trời! “Sân băng êm đềm” được đăng ở đây! Ở đâu ra? Em chỉ có gởi Đài phát thanh thành phố thôi mà! Ôi! Má coi nè. Có in bức ảnh ba người. Trên có hàng chữ trắng: Lễ đón nhận danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân. Chú thích bên dưới: “Đồng chí Đào Đình Luyện trao danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân cho đồng chí Nguyễn Văn Ba và đồng chí Nguyễn Tường Tri (người đứng giữa).- Cô dừng giây lát đọc thầm rồi xướng lên - Lời dẫn của bài đăng ở đây cũng y như đài dẫn trong băng từ. Anh Tường Tri! Sao lại có chuyện trên trời rơi xuống, nầy?


 


– Ra ngoải anh mới biết mình được phong tặng danh hiệu Anh hùng cùng với Nguyễn Văn Ba. Sẵn trong túi có cái băng cassette em tặng, anh đưa cho các đồng chí Phòng Chánh trị phát nghe thử, không có nhã ý gì. Ai dè nghe xong họ sang băng liền, đồng thời cho phát lên hệ thống loa truyền thanh toàn Sân bay Gia Lâm. Cùng dịp ra báo xuân họ bốc băng ra đăng. Đặc san nội bộ, thay vì nhuận bút đồng chí phụ trách biên tập tỏ lòng biết phải đề tặng tác giả, giản đơn vậy thôi.


 


 – Ôi! Anh hùng nằm trong lá ủ mà nay mới biết chớ! Sự đời nghĩ cũng thiệt ngộ! Năm 1976 chuyển ngành rồi về hưu đến nay ngót hai chục năm hưởng lương thượng úy bèo, đùng một cái được phong tặng muộn màng: Đại tá Anh hùng không quân. Chuyện như nằm chiêm bao?


 


– Ừ! Cuộc đời như chiêm bao thiệt! - Tường Tri cười hì hì, gương mặt ngây ngô hiền hậu dễ thương. - Bao lần mình lao vô nhiệm vụ hiểm nguy cầm chắc kể chết. Như thời chống Pháp chế tạo thủy lôi rồi xung phong thử nghiệm, lặn lội sông nước đánh tàu… Thời chống Mỹ về Củ Chi đất trắng bom vùi… Vậy mà rồi bao lần thoát hiểm vẫn cứ sống nhăn! Đời lính chiến chỉ biết lao vô hoàn thành nhiệm vụ, đâu màng gì công trạng nêu danh. Miễn hoàn thành nhiệm vụ là vui rồi.


 


– Kể ra cũng không hẳn “nằm chiêm bao”. Công trạng có thực đấy chớ - Thu Thảo góp lời - Năm anh về đội biệt động, chăm lo vũ khí đánh nội thành, sống dưới tầm bom đạn Củ Chi đất trắng, xíu nữa thành đất đen! Rồi được kêu đi tháo chiếc trực thăng vượt Trường Sơn ra Bắc, lắp ráp từng mảnh vụn rồi leo lên bay thử, có kể gì trục trặc rớt xuống lìa đời! Lại vượt Trường Sơn trở vô Nam, vừa về tới chiến trường liền được kêu đi chuẩn bị sân bay cho Nguyễn Thành Trung đáp xuống. Có lẽ… - Thu Thảo ngẫm ngợi giây lát - Bao nhiêu nhiệm vụ của anh toàn là việc quan trọng, cỡ như phụ trách chuyên cơ cho Bác Hồ; đến bao nhiêu vụ việc nguy hiểm khác…. Nhưng vụ việc thì có tên mà người thừa hành thì chức danh không có. Thành thử dễ bị lãng quên. Theo em nghĩ ở đời… nói anh đừng cho em lên giọng nghen. Ở đời thường tình có danh thì có phận; có phận mới nên danh. Còn như anh: có phận mà chẳng nên danh gì! Buồn không!


 


– Em nói phải, đâu có lên giọng gì. Nhưng anh không buồn! Buồn thêm phiền lòng. Chỉ lo tu dưỡng sao cho giàu có ở lòng. Thơ Ức Trai có một câu bất hủ: “Phú quý lòng hơn phú quý danh”. Anh tâm đắc, đó là giàu lòng yêu nước, giàu lòng nhân ái, giàu lòng đam mê sáng tạo cống hiến hiệu quả cho đời. Liên tưởng bậc công thần văn võ song toàn Nguyễn Công Trứ từng triết lý: “Làm trai đứng ở trong trời đất/ Phải có danh gì với núi sông”. Vậy mà qua bao phen lận đận thăng trầm “vào tù ra tội”, rốt cuộc đại thần bất mãn kiếp làm người, muốn: “Làm cây thông đứng giữa trời mà reo!”. Đến đỗi trăng trối khi qua đời mồ bia không cho khắc tên. Hẳn cuối đời ông mới ngộ ra danh phận gì rồi cũng: “Như bóng đèn, như mây nổi như gió thổi, như chiêm bao!”. Chẳng là em cũng vừa nói anh được tặng muộn màng danh hiệu Đại tá Anh hùng Không quân như là chiêm bao vậy thôi. Là chính em nói ra đó mà!


 


 Thu Thảo bật cười khúc khích, liếc nhìn qua má gỡ bí. Dì Út cũng tức cười, nói vui:


 


 – Tui dân dã quê mùa, nghe mấy người nói như… vịt nghe sấm. Nhưng mà cũng nghe ra cái con nhỏ nó nói xuôi cũng được mà nói ngược cũng xuôi! Ôi! Gẫm ra sự ở đời cũng nên dè chừng: cái lưỡi không xương nhiều phương uốn éo; cái miệng không vành khi méo khi vuông!


 


Thấm ý má nói, Thu Thảo cười ngả ngớn, giả lả:


 


 - Nói là nói vậy thôi. Chớ làm gì có chuyện chiêm bao mà anh được phong tặng danh hiệu Anh hùng. Phải có danh gì với núi sông? Cụ Trứ cũng bảo thế mà!


 


 – Đúng vậy! Hèn gì người ta hay dùng cụm từ: chức-danh. Khi không, ai phong chức cho mình. - Tường Tri ngẫm nghĩ, chợt hớn hở - Nhớ ra rồi. Có lần ông Tư Chu giới thiệu một nhà văn đến gặp Tường Tri để viết bài nhân sinh nhật Bác Hồ. Tôi từng phụ trách chuyên cơ cho Bác mà dì Út. Chuyện tuy quan trọng nhưng kể ra thì giản dị, kể một hồi hết chuyện. Nhưng cái ông nhà văn nầy tò mò hết biết, hỏi phăng tới lai lịch ngọn ngành. Thông qua Tư Chu giới thiệu, nên tin tưởng ông nhà văn, thành ra kể hết như đã kể với Thu Thảo vậy. Những tưởng nhà văn viết về Bác Hồ, hóa ra viết chuyện tình yêu của Tường Tri hồi ở bên Tây. Cũng như Thu Thảo viết “Sân băng êm đềm”, chuyện tình yêu bên Tàu vậy. Đó là truyện ngắn “Chim bạch yến”. Rồi cũng anh nhà văn đó lại viết về Tường Tri nữa, hoàn toàn chuyện thật, lấy tên thật, tựa là Cung đường hình hoa hồng, đăng báo Quân đội Nhân dân cuối tuần. Các chuyện ấy nhà văn tập hợp in thành sách, mang tên “Chim bạch yến”, nhà văn có đem tặng và tôi mua thêm để tặng cho bạn bè trong sân bay. Có lẽ từ đó nên có lần vô sân bay, gặp Tư lệnh Đào Đình Luyện bắt tay và nói một câu làm giật mình: Hóa ra cho đến nay tôi mới biết anh từ bên Pháp về…


 


– Thôi, em hiểu ra rồi. - Thu Thảo cười buồn - Phải chăng từ tác phẩm văn học, bạn bè anh đọc, rồi tâu rỗi thế nào nên lãnh đạo mới biết danh anh. Cuộc đời bị lãng quên, “lịch sử” vốn công bằng trả “danh” về cho anh để giữ tiếng. Có nhiều thân phận hẩm hiu mong được chiêm bao như anh mà hổng được đấy!


 


 Dì Út nãy giờ mải chăm chú nghe, bấy giờ sực nhớ, xăng xái nói:


 


 – Chèn đét ơi, tôi quên lửng! Thôi cậu Hai ngồi nói chuyện với em nó, để qua ra chợ Cầu Muối sát bên đây mua con vịt xiêm về nấu cháo ăn mừng cậu Hai được phong anh hùng!


 


 – Thôi để sau dì Út. Vừa xuống sân bay, về ghé nhà chút xíu rồi đến đây liền. Chắc bây giờ trước nhà có khách chờ chúc mừng rồi đó! Xin cám ơn. Thôi chào.


 


 Tường Tri ra khỏi, dì Út nhìn Thu Thảo với vẻ mừng:


 


– Coi cái cung cách cậu ấy quý trọng con như vậy chắc là… Để rồi hôm nào tiện mình sẽ trao đổi chính thức.


 


 


 


                                                                


 



23



 










V




 


ề gần tới nhà, Tường Tri đã nhìn thấy bà con khu phố cùng Bé Hảo và mấy chú bạn nhỏ, đứng lố nhố trước cửa. Chợt trông thấy anh, ai nấy reo lên:


 


 – Chào mừng Anh hùng nằm trong lá ủ!...


 


 Anh mở cửa, mọi người ùa vào ríu rít hỏi chuyện. Nhà không đủ ghế ngồi, trẻ nhường người lớn, còn lại đứng xớ rớ quanh quẩn. Bé Hảo giọng huynh trưởng hô bảo, bọn trẻ xăng xái lấy ấm nấu nước, súc bình pha trà… Anh lục giỏ lấy kẹo ra mời mọi người thưởng thức hương vị Hà Nội. Một không khí chộn rộn mà ấm áp trong căn nhà rộng thênh trống trải. Lát sau có đoàn khách gồm Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận Một cùng Bí thư Đảng ủy phường Nguyễn Thái Bình mang lẵng hoa đến chúc mừng Nguyễn Tường Tri được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Không quân Việt Nam. Sau khi trò chuyện một lúc, Bí thư Đảng ủy phường cho thư ký ghi ngay vào sổ vàng tên anh hùng thứ hai của phường Nguyễn Thái Bình là Nguyễn Tường Tri. (Người thứ nhất là Nguyễn Thanh Tùng – Anh hùng lực lượng võ trang vừa là Bà mẹ Việt Nam anh hùng). Anh xúc động đến bàng hoàng, đáp từ lúng túng…


 


 Chiều lại, một chiếc xe tải chở bộ salon mây rất đẹp, các anh lính trẻ bê vào kê ngay gian trước lâu nay còn để trống. Anh em thưa với chú Hai Anh, đây là quà của Bộ Tư lệnh Thành phố Hồ Chí Minh kính tặng. Từ rày quan khách cùng bè bạn không quân ra chơi có salon ngồi thoải mái.


 


***


 


Như thường khi, Thu Thảo tới xách theo làn thực phẩm làm cơm. Bắt mắt hơn là trên tay cô ôm bó hoa hồng nhung năm bông tươi rói. Miệng líu lo chưng hoa mừng anh hùng đây, vừa nhanh nhẹn, cô bước vào đặt làn thực phẩm rồi thay hoa cũ, súc bình hoa thủy tinh, cho nước mới, cho từng bông vào bình, ngắm nghía chỉnh sửa, ở giữa bông hồng chúa vàng tươi tỏa hương thơm dịu dàng. Qua mắt anh, Thu Thảo vẫn gương mặt trắng trẻo, đôi má hồng, trang phục quen thuộc mà sao hôm nay coi duyên dáng dễ ưa lạ lùng. Tuy lỡ thời, song tính cách thiếu nữ vẫn chưa qua, Thu Thảo hồn nhiên nhí nhảnh reo:


 


– A! Nhà Anh hùng bữa nay có bộ salon đẹp hết xảy! – Linh hoạt, cô đặt ngay bình hoa lên salon.


 


– Bây giờ thì em hết chê nhà anh khách đến phủi chân ngồi dưới đất rồi héng.


 


– Anh thấy không, đời có danh có khác.


 


– Nhưng mấy ngày nay anh thấy mệt vì phải gò bó trước những giao tiếp trịnh trọng. Đều là thân tình, chân thành. Thực sự xúc động và biết ơn. Hạnh phúc đấy mà bồi hồi khôn nguôi! Anh nhớ biết bao người ra đi không trở về! Người thương vò võ nhớ mong. Hoặc trở về cũng hiếm ai trọn vẹn thân thể như anh. Thú vị hơn, với anh đã trải qua tròn một vòng trên cung đường đầy gian lao thử thách, trả giá cho danh hiệu anh hùng.


 


 – Thôi, bây giờ để em làm cơm anh em mình cùng ăn.


 


 Như lệ thường chung tay, anh vo gạo nấu cơm. Cô quết cá thác lác cùng thịt nạc, chế biến gia vị. Anh mổ dọc trái khổ qua moi ruột ra; được trái nào cô dồn thịt vào trái nấy. Khổ qua hầm là món hợp khẩu của hai người. Ngoài ra còn những món hợp khẩu khác mà mỗi lần đến làm cơm cô đáp ứng cho anh theo “gu” bình dân miền Tây. Chẳng hạn hôm thì cá lòng tong kho tộ, canh bù ngót cá bống dừa. Hôm thì rau bông súng, mắm kho lươn nướng cùng thịt ba rọi xắt mỏng… Vừa làm bữa hai anh em hồn nhiên líu lo vô tư chuyện trên trời dưới đất. Đó là mọi khi. Còn hôm nay thì cớ sao im lìm. Họ thầm đoán ý nhau mà rước việc. Hẳn nhiên trong quãng lặng của mỗi người đang tiềm ẩn bao điều hệ trọng muốn nói với nhau…


 


Cuộc đời thiếu phụ từ 18 tuổi vẫn ở vậy cho đến nay đã 46! Duyên đâu tao ngộ lão ông anh đồng đội đa cảm, đa truân, đâm ra thương tình đem vào cõi mộng. Kể từ Sài Gòn mới giải phóng tình cờ giữa phố quen nhau, rồi gắn kết quan hệ ngót hai mươi năm trời, càng lúc càng mặn mà. So tuổi tác như cha con, nhưng bao lần tâm tình đồng điệu, sinh hoạt cơm nước giao cảm như vợ chồng son. Tình yêu đến độ chín, khát khao sum họp. Ấy thế mà cứ ngập ngừng, lúng ta lúng túng…


 


Với Tường Tri, đôi mắt lá răm đen mun sâu thẳm. Hèn nào cô đầm Jeanne chẳng mê tít anh từ hồi còn học tiểu học ở thành phố Lyon; rồi vương vấn mãi cho đến thời sinh viên Paris… Đôi mắt ấy lắm lúc nhìn trộm Thu Thảo, anh hình dung Thu Thảo ra nàng Việt La. Từ khuôn mặt đôi má no đầy ửng hồng, cho đến nét duyên thầm nết na cả hai cùng giống nhau, tuy dù màu mắt khác nhau: một đen, một xanh. Lòng anh thêm xao xuyến đến thèm gắn nụ hôn lên làn da mịn màn thơm tho nghe cả hương vị ngọt ngào. Sao mà tâm hồn đa cảm, phức tạp quá! Không khí có vẻ đầm ấm trong căn nhà độc thân hôm nay, coi như là cuộc đời nên đôi cùng Việt La …


 


Mãi cho đến lúc cơm dọn ra, hai người ngồi cùng ăn đối diện mà vẫn không ai nói lên lời nào. Vốn nhạy miệng, thinh lặng lâu không chịu nổi, Thu Thảo giải tỏa, song khi thốt lên thì không phải lời định nói:


 


– Bữa nay hết pin, đài im lặng. Cho nên món khổ qua hầm công phu mà chẳng nghe bình phẩm!?


 


– Ờ, thì do bàn tay nữ công tài hoa của em, món nào mà chẳng ngon.


 


– Thôi, đừng có nịnh. Em hỏi thiệt đó. Có khác gì không?


 


– Có, có! Bữa nay đúng điệu xưa má anh từng làm. Tức là có thêm trứng gà, trộn bún tàu, nấm mèo xắt sợi nhuyễn, rắc hành lá xắt nhỏ, phối hợp các thứ dồn vô khổ qua, bắc lên bếp hầm. Hầm nhừ rồi ăn. Ăn không biết mùi vị là “Thực bất tri kỳ vị” thì bị chê. Cho nên điệu ăn uống cũng là văn hóa.


 


– Anh sanh đẻ bên Tây mà má anh làm sao kiếm đâu ra khổ qua?


 


– Chà! Bắt bí anh ha! Không chỉ có khổ qua mà còn có


 


nước mắm Phú Quốc để chấm nữa kìa. - Biết là kiếm chuyện nói bâng quơ lấp khoảng trống, anh vẫn tình thật - Ăn khổ qua hầm phải chấm nước mắm trong không chế biến mới đúng điệu. Lần đầu lạ miệng anh chê đắng. Má nói: Phải biết ăn món ăn Nam Bộ mình để luôn nhớ về xứ sở cội nguồn.


 


 Dông dài chuyện tào lao rồi bữa cơm cũng xong. Cô dọn rửa, anh pha trà Thái Nguyên, dọn kẹo Hải Châu. Thành phố đã lên đèn tự bao giờ. Ngoài đường Nguyễn Thái Bình vọng vào tiếng rao thức giải lao bình dân cho phu xích lô, phu thợ: “Ai ăn cháo đậu đen…”. Ngồi vào bàn, đối diện nhau, nhấp ngụm trà nóng sảng khoái, cô nàng lại nói ghẹo như cố tật:


 


– Có mỗi món đặc sản đi Hà Nội về đãi hoài không hết!


 


Nhìn âu yếm người đẹp Sài Gòn mà anh hình dung mỹ nhân Thiên Tân. Chạnh nhớ những lần uống cà phê cùng Việt La, cô bày ra những món bánh tự tay làm ăn ngon hết ý. Anh buột miệng phản vệ có ý khiêu khích:


 


– Bộ hết chuyện gì nói rồi hay sao?


 


Thu Thảo nghiêm sắc mặt lặng im hồi lâu. Giây phút toan nói lên hết cõi lòng. Nhưng rồi tính cách tự trọng cố hữu, cô chuyển lời, nói khéo hơn:


 


– Dì Út muốn đến nói chuyện với anh.


 


– Chuyện gì? Em biết gì nói đại ra đi.Việc gì phải dì Út?


 


– Nhưng mà… em không tiện nói.


 


– Quan trọng đến vậy kia à? Ờ… mà có lẽ anh cũng hiểu ra rồi.


 


– Hiểu sao?


 


– Chuyện giữa em và anh chớ gì?


 


– Giữa anh và em là sao? - Giọng nữ cao rít the thé - Là em hay đến nhà anh nấu cơm ăn chung hoài người ta dị nghị chớ gì?


 


– Nếu vậy thì việc gì em khó nói?


 


– Nếu không phải vậy thì anh nghĩ sao?


 


Bấy giờ đến phiên Tường Tri mặt ngây thộn, làm thinh. Lập tâm tuy đã sẵn, song tình yêu đương vương bao mối tình còn tranh chaáp... Quan hệ tình đồng đội đồng hương với Thu Thảo từ ấy đến nay ngót hai mươi năm trời, càng ngày càng gắn bó mật thiết; tâm sự đồng điệu cạn hết nỗi lòng. Nhưng hai mối tình đầu ở Lyon và Thiên Tân, rồi Hà Nội đều đẹp như mơ. Sâu nặng nhứt là mối tình Việt La; một cuộc tình lậm trong xương cốt lời nguyền thủy chung…


 


Nhìn mặt lão anh si tình nghệch ra, cô vẫn nhí nhảnh hỏi:


 


– Nếu không phải vậy thì là gì? Việc gì anh khó nói?


 


Ngoài đường lại vọng vào tiếng rao khuya khàn khàn mỏi mòn: Ai…cháo đậu đe-en… Đậu đe-en đa-ay… Thừa cơ, Tường Tri mở đường:


 


– Thôi bây giờ khuya rồi, em về kẻo dì Út trông! Để vài ba hôm anh đến nhà thưa chuyện cùng dì Út.


 


 – Vài ba hôm! Hôm nào thì anh nói chắc đi! - Giọng điệu hờn dỗi, cô buộc vào.


 


– Hôm nào thì không chắc. Hoặc mai hoặc mốt. Chuyện đâu còn có đó, mà!


 


– Mà em muốn anh hứa chắc ngày, để dì Út còn…


 


– Trời! Còn đòi hứa chắc để bày chuyện! Anh nói không hứa là không hứa. Lỡ hứa rồi có chuyện gì đột xuất trong sân bay gọi anh vào, không đến được thành thất hứa sao? Người xưa dạy ở đời nên giữ gìn chữ tín. Dân gian thường nói: Hứa trước bước hổng tới. Ông vua Pháp Napoléon I cũng có câu đi vào sách: “Cách giữ lời tốt nhất là không bao giờ hứa”.


 


Thu Thảo đứng lên, đỏng đảnh châm chọc:


 


- Thôi, chào “danh nhân” em vê-ê-ề…!


 


 


 


 


 



24



 










K




 


huya vắng. Đêm thành phố bình yên. Bao hồn đau thao thức. Bao tâm trạng trằn trọc… Trên chiếc giường đôi phía đầu nằm, băng cassette phát lên to dần tiết điệu: tình- tinh-tính… điệp khúc cao dần hòa cao trào chủ âm mạnh lên gióng giả: peng…peng…peng-peeng… péng!… Tiếng piano vút cao âm vang như tiếng chuông nhà thờ trôi trong ánh trăng mông lung. Hồn người hòa điệu cùng bản nhạc cổ điển Moonlight Sonata. Không sành điệu, nhưng Tường Tri thích nghe bởi vì giai điệu âm nhạc lắng vào hồn tương tư. Thời sinh viên cùng Jeanne nghe hòa nhạc thính phòng ở Paris, nàng cảm thụ bản nầy không liên quan gì đến ánh trăng mà bảo là rợn người lên tưởng chừng tiếng chuông nguyện hồn ai; khiến liên tưởng hồn văn tiểu thuyết: Chuông nguyện hồn ai (For Whom the Bell Tools) của Ernest Hemingway mà Jaenne đã đọc. Nàng truyền cảm sang anh niềm xúc động nhân vật Robert Jordan, một chiến sĩ người Mỹ trong Lữ đoàn Quốc tế, tham gia cuộc chiến tranh của nhân dân Tây Ban Nha chống chủ nghĩa Phát xít. Trong quá trình chiến đấu diễn ra mối tình giữa chàng cùng cô du kích Tây Ban Nha Maria xinh đẹp… Cuộc tình bi tráng sâu nặng và đồng điệu cùng lý tưởng, giúp cho hai người nhận thức sâu sắc ý nghĩa cuộc sống và nhiệm vụ đang thừa hành. Nhiệm vụ hoàn thành, trên đường rút lui, quân thù bắn Jordan gãy chân. Chàng từ giã đồng đội và người yêu, trụ lại chận địch, bảo vệ đội du kích cùng Maria rút lui an toàn. Robert Jordan đã hy sinh; biệt ly mối tình thơ mộng bằng niềm lạc quan cao thượng mà người đời hằng hoài niệm!


 


Peng!…peng!…peng-peeng!… pé-éng!… Khúc nhạc gióng giả vút lên tầng không vang vào cõi lòng. Tiếng chuông nguyện hồn ai? Biết phải cùng không như Jeanne liên tưởng tiếng chuông nguyện hồn Robert Jordan biệt ly mối tình nàng Maria? Hay là tiếng chuông nguyện hồn Tường Tri biệt ly bao mối tình cùng Jeanne; cùng Việt La; cùng Thùy Dung!… Còn mối tình Thu Thảo nghẹn ngang tâm hồn! Bao nỗi niềm hùa lên phân tâm giằng xé. Đêm trằn trọc thả hồn tương tư vào âm nhạc hòng cứu rỗi, nào hay nỗi khát khao tình yêu càng bỏng cháy. Tường Tri trở mình, bất chợt quờ tay chạm phải cái gối kề bên gối mình. Bàn tay anh thoa nhè nhẹ mặt gối sa-tanh mịn mát. Tối qua, tối thứ ba kể từ Thu Thảo ra về, anh lang thang dạo qua cửa hàng thời trang, may mặc. Tâm thức còn mơ hồ mà mắt thì chú mục vào những cặp gối hạnh phúc. Cơn mơ ái ân chập chờn trong nét nhạc mà băng từ đã chuyển qua bản Concerto số 2 của Rachmaninov sâu lắng, réo rắt như tự sự bao nỗi niềm trắc ẩn. Dần dần dàn nhạc hòa tấu cùng piano chuyển sang khúc thức dịu dàng, êm đềm, hầu xoa dịu, hàn gắn nỗi thương đau... Khiến anh nghe cường độ giai điệu va chạm trái tim cương bao mối tình biệt ly! Bản nhạc dần dần trở nên trong trẻo nhẹ nhàng, đưa tâm hồn anh vào cõi mộng...


 


… Đâu như nghe văng vẳng tiếng cánh cửa sắt khua lạch xạch. Anh lấy làm lạ, giờ nầy khuya rồi ai tới chi? Hay Thu Thảo chờ anh quá hẹn ngày thứ ba mà không tới, đến trách? Nghĩ vậy anh bước ra mở cửa. Té ra là hai anh bộ đội trao cho anh phong thư đóng dấu HỎA TỐC. Được nghe nói thêm: “Tám giờ sáng mai chuyến bay cất cánh ra Hà Nội. Mấy chú Tư lệnh bảo chú Hai chuẩn bị gắp, sáng sáu giờ có xe đến đón”. Hai anh bộ đội rú Honda cái vèo để lại anh nỗi bần thần hồi hộp. Trở vào đọc thư anh được biết: “Bộ Ngoại giao nhận được thư của Đại tá Vương Dũng từ Trung Quốc, đề nghị xin mời Nguyễn Tường Tri, một trong số bảy sĩ quan Việt Nam qua Trung Quốc học hàng không hồi năm 1957, sang thăm gia đình; mọi phí tổn gia đình đài thọ.” Chà!... Điệu nầy lỡ hẹn, thất hứa với Thu Thảo rồi! Phỏng đoán vu vơ mà trúng y. Phải đi Trung Quốc thôi. Tình xưa nghĩa cũ sâu nặng tới cả hai ông bà Vương Tư lệnh! Sống giản dị, tư trang gì nhiều đâu mà chuẩn bị, vài bộ sơ mi, quần tây đi đây đi đó, một bộ quân phục đi họp. Lòng mừng khấp khởi, anh vừa xếp đồ đạc vào vali nghĩ thầm: Kỳ nầy tái ngộ bà Vương Việt La, hẳn là bà nội, bà ngoại gì rồi đố khỏi!...Chuẩn bị đâu đó xong, anh ngồi viết thư cho Thu Thảo.


 


Sáng ngày, xe chưa tới, anh đã bước ra khóa trái cửa, để vali đó, bước dọc theo phố đến gõ cửa căn hộ bé Hảo. Một chàng trai sải cặp giò cao kều bước ra, thoạt chạm mặt đã hồ hởi chào:


 


– Chú Hai! Đi đâu sớm mà mặc quân phục vậy?


 


– Đi Hà Nội! - Vừa trả lời anh trao phong thư cho chàng trai - Bé Hảo! Con hay đến nhà chú chơi đôi lần gặp cô Thu Thảo, chắc còn nhớ?


 


– Dạ nhớ! Mà có chuyện chi hả chú Hai?


 


– Độ trưa trưa con cầm thư nầy đến số nhà chú đề ngoài bao đây trao tận tay cô ấy. Chú đi Hà Nội rồi sang Trung Quốc!


 


– A! Khoái chí tử! - Bé Hảo nhảy cửng như con nít gào mái đầu húi cua lia lịa - Về mua quà bên Tàu thứ gì rẻ nhứt tặng mấy cháu nghen chú Hai! Ờ mà đi bao lâu về, chú?


 


– Chưa biết nữa. Chú gởi chìa khóa nhà cho con, mỗi bữa vô cho con mèo ăn. Con tam thể y chang con tam thể mẹ mà hồi đó con cho chú đó. Mẹ nó đẻ ra mới mấy bữa, trộm bắt mẹ ăn thịt, con còn lại chú cho hết, giữ lại một con nuôi. Ăn cơm theo chú riết mập lút ú ỳ không còn bắt chuột nổi, phải cho nó ăn.


 


Hai chú cháu cười ha hả vang cả phố Nguyễn Thái Bình sương còn vương ngọn dầu ngọn sao. Cũng vừa lúc chiếc xe Jeep đến đón Tường Tri ra sân bay.


 


Sân bay Gia Lâm dưới cánh bay, một cảm giác ngày xưa lâng lâng. Dòng sông Hồng uốn quanh màu phù sa da thịt trẻ thơ! Ôi! Hà Nội! Lăng Bác Hồ! Những tháng ngày chăm lo máy bay chuyên cơ cho Bác… Hồ Gươm! Hồ Tây êm đềm kỷ niệm Thùy Dung… Quá khứ bước vào hiện tại loang loáng. Một chuỗi thời gian đời người loang loáng! Con tàu kéo còi băng qua ga Bằng Tường. Bánh sắt nghiến đường ray rì rầm êm đềm…


 


Trong quãng thời gian dài ngót bốn mươi năm, anh hình dung Việt La tưởng đâu già nua, da dẻ răn reo; phán đoán có thể là bà nội bà ngoại gì rồi. Hóa ra kỳ diệu thay như mơ. Việt La vẫn trắng hồng, kiều diễm từ mái tóc bôm-bê đen nhánh, cái cổ gáy trắng ngần đến khuôn mặt đôi má no đầy ửng hồng cùng đôi mắt xanh trữ tình lung linh như xưa…


 


 – Hóa ra ngót bốn mươi năm nay Việt La vẫn ở vậy?


 


 – Không có mối tình nào đẹp bằng, em vẫn ở vậy. Dù em biết rằng anh về chiến trường miền Nam, có thể hy sinh, hoặc không thì cũng khó bề trở qua Trung Quốc. Em vẫn ở vậy! Còn “đồng chí” Tường Tri của em thế nào?


 


– Về phạm trù tâm linh, anh nghĩ dường như ứng nghiệm. Ở cõi ấy ta luôn bên nhau. Hồn anh trong em. Hình em trong anh. Năm trở về chiến trường, tổ chức cấm không cho mang theo hình ảnh giấy tờ gì hết. Anh nghĩ ra vật mang hơi em, anh cắt một mảnh hộp bánh em tặng anh ăn trên đường về Hà Nội, thành hình trái tim, mang theo trong ba lô về chiến trường. Nhưng rồi chiến trường Củ Chi “đất thép thành đìa”, bom dập tan theo cát bụi; chỉ còn hình bóng em lung linh trong hồn anh.


 


Việt La mang ra những bánh ngon tự tay làm như ngày xưa đãi anh, ân cần pha cà phê cho anh. Ôi! Bánh hạnh nhân thích mắt, khoái khẩu không tả xiết! Người yêu mắt xanh long lanh tràn trề âu yếm nhìn anh, thốt lời trong veo như pha lê:


 


– Anh biệt vô âm tín! Nỗi nhớ chỉ còn biết theo dõi qua Đài Hà Nội, tin chiến sự Sài Gòn, biết anh về chiến đấu nơi quê cha. Gần đây nghe đài thông báo danh hiệu Anh hùng Không quân. Ôi! Anh hùng ngồi kề bên em đây, vinh hạnh chưa! Vậy chiến công của người hùng chắc là phi thường lắm đó! Kể em nghe đi nào?


 


– Lại tâng bốc nhau như hồi nào! - Anh trầm ngâm giây lâu, rồi giọng chân thành. Anh vượt Trường Sơn về Nam, rồi vượt Trường Sơn trở ra Bắc… Vậy mới có chuyện nói!...Nhớ hồi anh sang Trung Quốc học về kỹ thuật động lực hàng không. Liên tưởng những nhà động lực học cơ giới phát minh sáng chế quy tắc, tính năng tăng tốc, giảm tốc cho các loại máy bay, xe lửa, xe hơi... Vậy thử hỏi động lực tình yêu - sức mạnh kỳ diệu của tình yêu có ai đo lường, đúc kết tính năng, định lý? Hay đó là động lực vô lượng tiềm năng khôn lường? Chính động lực của tình yêu khôn lường giúp anh vượt lên bao trở lực, khó khăn gian khổ hoàn thành nhiệm vụ… Mà thôi em ơi! Công trạng nhỏ nhoi nên cho vào quên lãng. Anh hùng của anh làm vui cho dân phố Nguyễn Thái Bình gọi tặng: Anh hùng nằm trong lá ủ.


 


 Buông một câu dí dỏm anh cười hiền, nhón lấy cái bánh hạnh nhân, cắn một miếng nhỏ, hấp háy mắt liếc nhìn Việt La hàm ý gợi ngày xưa cô mượn tên bánh nầy tán tụng đức hạnh con người. Anh cầm tay Việt La, đôi tình nhân hạnh ngộ cùng vào vấn an ông bà Vương. Lạ lùng! Ông bà Vương Dũng vẫn trẻ trung hệt như xưa. Cả Vương Ca Ly chạy ra mừng vẫn nhảy nhót đúng là con nít. Phải chăng thời gian là vị thầy thuốc linh diệu chăm sóc những người tốt bụng và vui tính, dung nhan không phai tàn. Rồi bữa cơm tái ngộ diễn ra như ngày xưa; có phần mặn mà hơn bởi cả nhà cũng như Tường Tri mặc nhiên coi là rể của gia đình.


 


 Chiều hoàng hôn. Đôi uyên ương nắm tay nhau dạo quanh “sân băng êm đềm”. Bấy giờ là mặt hồ thu trong xanh như gương, lăn tăn gợn bóng những cây thông màu rêu cùng nền trời bàng bạc trong ánh tà dương phơn phớt hồng. Ngồi lại trên thảm cỏ ngày xưa uống cốc rượu ấm ran trước khi trượt băng, tìm lại hơi ấm kỉ niệm. Phút chốc đến ngay căn phòng ngày xưa. Lại lạ lùng, hầu như không gian khung cảnh trời đất bấy giờ như cõi non bồng dành riêng cho đôi tình nhân tự do yêu đương. Trong phòng ấm, thơm nức hương cà-phê, bánh hạnh nhân. Trên chiếc giường xưa, phút giây tái hợp nụ hôn dài mùi mẫn ngạt thở. Chót lưỡi uốn éo quấn quýt nhau đê mê. Lưỡi chàng rà rẫm trên làn môi mềm khiến nàng rùng mình. Chàng trườn lên người nàng. Một tấm hình hài kiều diễm mềm mại, ấm rực, trơn mịn. Lực chế ngự yếu ớt, nàng chỉ còn biết quàng đôi cánh tay ôm ghì lấy chàng, bấu những ngón tay vào tấm lưng săn gân bắp của chàng, cong người quằn quại… Đôi nhũ hoa cựa quậy vào ngực chàng, gợi mời chàng cúi xuống ngoạm vào đôi môi chiêm ngưỡng đê mê…


 


 Thình lình một tiếng rơi đánh “roảng!”. Anh choàng ngay dậy, bật đèn, nhìn quanh quất, lóa mắt chưa kịp thấy gì! Nhìn gần, mất bình hoa hồng trên bàn. Nhìn xuống chân bàn phía ngoài. Sững sờ! Bông hồng vàng đè chồng lên bốn bông hồng đỏ, lăn lóc trên mảnh vỡ bình hoa thủy tinh. Sàn gạch lênh láng nước! Vì sao? Nhìn rộng ra góc phòng. Hai mắt con mèo tam thể mở hết cỡ con ngươi xanh loè như ánh điện trừng trừng nhìn anh không chớp. Trời! Con tam thể thành linh miêu rồi sao? Nó nằm như một đống thịt ba màu: trắng toát, vàng khè, đen mun! Miệng nó đang ngoạm con chuột mập lù như chính nó. Anh lên tiếng gọi:


 


– Miêu cưng! Con hờn oán gì cha mà nhìn cha dễ sợ vậy!


 


Hai con ngươi mắt mèo xanh lòe vẫn lom lom nhìn anh không chớp. Miệng cố ngoạm chặt con chuột đang giẫy giụa. Anh vẫn ôn tồn:


 


 – Ừ phải mà! Lâu nay cha hay mắng con ăn cho mập thây rồi ngủ li bì, bắt chuột hổng nổi thì còn là mèo gì nữa! Cho nên hôm nay con trả lời cha bằng cách bắt con chuột trèo lên bàn mà làm bể bình bông của cha đó phải không?


 


Dường như mèo nghe ra. Cái đuôi tam thể dài thậm thượt như con rắn có khoang ba màu ngo ngoe, ngo ngoe. Giọng anh ngọt ngào hơn, tỉ tê:


 


– Miêu cưng! Tại cưng chiều thái quá con ỷ lại, thui chột bản năng tự lực. Có câu “giáo đa thành oán”. Lỗi cha. Thôi! Bỏ qua hờn oán, cũng không cần phải bắt chuột nữa để tỏ rõ mình là mèo, miễn ngoan hiền làm bạn ta cũng đủ vui rồi. Nhớ nghe! Thôi tha chuột bỏ thùng rác đi.


 


 Con tam thể chớp mắt mấy cái, khép tròng xanh con ngươi, nhìn lại anh với ánh dịu hiền. Nó ngoạm chặt con chuột lần nữa, vẻ nặng nề, cố na tấm thân bề bộn thỗn thện đi về cuối phòng, lẩn vào góc tối.


 


Bấy giờ anh mới cảm giác lành lạnh ở đáy quần. Vậy là đã hiểu chuyện gì xảy ra. Anh lọ mọ vào phòng vệ sinh vừa than thầm: Tổ cha cuộc đời biết làm thằng đàn ông cũng chỉ trong… chiêm bao!


 


 


 


 


 



25



 










  B




 


ách bộ dọc đường Nguyễn Thái Bình, đụng trụ sở Công an Quận 1, quẹo Yersin đi một đỗi, quẹo Nguyễn Công Trứ đến Nguyễn Thái Học, anh chậm rãi nghe từng bước chân dội lên trái tim. Trái tim quá đát còn si tình! Sau giấc mơ tái ngộ Việt La, bình hoa vỡ! Điềm gì? Lập ngôn rồi còn băn khoăn gì nữa? Trái chín mùi càng phải nâng niu, bạo tay trái dập! Bước chân đi mang tâm trạng kéo dài mãi cho đến tận trước cửa rào nhà Thu Thảo.


 


Có lẽ mong ngóng Tường Tri đến theo hẹn nên vừa thoáng thấy bóng anh, Thu Thảo chạy ra mở cửa rào. Mái tóc huyền lả lướt ve vuốt đôi má hồng. Cô đấm vai anh lịch bịch trách yêu:


 


 – Dữ ác! Anh hẹn vài ba ngày. Thất hứa rồi nghe! Anh biết bữa nay tới ngày thứ mấy rồi không? Ngày thư tư rồi đó...ó! Báo hại em ngày nào cũng ngóng trông, hổng dám đi đâu hết trơn!


 


Anh đón lời trách ngọt ngào cười trừ dễ thương. Dì Út bước ra chào vừa la con:


 


– Cái con nhỏ nầy bữa nay…! Già mà làm điệu làm bộ như con nít!


 


– Không như con nít già ngắt sao má! – Chúm làn môi hồng Thu Thảo trả treo.


 


– Cậu Hai vô nhà uống nước. - Dì Út kéo khay gỗ mun bộ bình trà 6 tách, gần lại, rót nước nóng từ phích tráng bình pha trà, tiếp lời ngọt ngào - Qua cũng định hôm nào tới thăm cậu Hai cho biết nhà.


 


– Anh Tường Tri ở nhà nói chuyện với dì Út nghen, em đi chợ đây. - Thu Thảo liến thoắng, chạy rẹt vào thay bộ đồ “vía”, dắt xe đạp ra ghé ngồi vắt vẻo trên yên, ngoái lại líu lo - Hôm nay đãi anh bữa cơm vườn: thịt vịt xiêm gói lá cách chấm nước mắm gừng. Thành phố mấy chợ nhỏ tìm không ra lá cách, chỉ chợ Bến Thành mới có. Chợ “chúa” mà!


 


 – Cậu Hai uống nước đi - Dì Út chậm rãi rót trà ra tách - Cậu Hai đến, con Thảo hóa trẻ con, đừng chấp.


 


– Dạ không, dì! Tôi cũng quen rồi tính nết cô ấy. Thân nhau như anh em ruột vậy. Hai anh em nấu cơm ăn cơm chung hoài, tâm sự hết nỗi lòng.


 


– Vậy nữa! - Dì Út khẽ đẩy bình hoa hồng lan toả hương ra trước bàn, ngồi dịch vào trong trầm ngâm lựa lời - Mà nó có… có thổ lộ gì về chuyện riêng tư của nó với cậu chưa?


 


– Dạ chưa! Chỉ nói về thân phận của cô cùng bao anh chị em biệt động Sài Gòn từ khi ra quân rồi tổ chức hầu như bỏ quên…


 


Chợt Thu Thảo trở vào, tay ôm bó hoa hồng 5 bông như hôm nọ đến nhà anh. Một loáng, cô đặt nơi bàn Dì Út và Tường Tri đang ngồi bình hoa bằng sứ trắng muốt hình vuông thẳng đứng, đã chưng 4 bông hồng nhung cánh tà, giữa là bông hồng vàng. Lẹ làng cô đổi bình hoa cũ đem qua bàn viết, lui ra, nói lí nhí:


 


– Bây giờ mới là đi chợ đây!


 


Liếc theo bóng áo xanh lá sen con nhỏ nhí nhảnh, dì Út quay lại cười tủm tỉm:


 


– Tuổi già vui lây cũng nhờ con nhỏ nó nhí nha nhí nhảnh. Nó mà chim bĩm tối ngày chắc tôi già khú đế mất.


 


– Dà! Tôi cũng vậy. Tôi vui lên thật sự từ khi tình cờ quen Thu Thảo giữa chợ, nhận ra đồng đội, đồng hương nữa nên vô cùng mừng rỡ, thân thiện nhau tức thì. Dài dài về sau bao nhiêu nỗi lòng tâm sự dốc hết với nhau …


 


– Vậy… em nó có mại hơi gì về… - Dì Út chợt bỏ lửng, hấp háy ánh mắt nhân từ ngẫm nghĩ nửa muốn mớm việc hôn nhân giữa hai người, nửa để thử thăm dò ý tứ cậu Hai coi sao nên thủng thẳng lựa lời nói xa nói gần - Về… thí dụ như con nhỏ nó có đốc vô cái việc tổ chức ở phường Nguyễn Thái Bình đưa chị em vợ liệt sĩ đến để cậu Hai coi mắt xây dựng gia đình?


 


– Dạ, có chuyện đó, nhưng tôi từ chối hết. Có kể cho em nghe, cô làm thinh, không bày tỏ thái độ gì.


 


– Chớ em nó không hề hỏi lại cậu Hai tại sao từ chối chuyện lập gia đình ha?


 


– Dạ không! Cô chỉ nói trỏng không là đời cô đơn thì buồn lắm! Rồi câu chuyện cô lảng sang đàm luận về cô đơn. Cô viết văn mà. Sau cùng đồng cảm nhau. Cô nói rất hay. Cô đơn chính là… cảnh ngộ để tự mình nhìn thấu ruột gan mình, để trả lại cuộc đời những cống hiến thực chất ruột gan mình. Đúng là cô viết bài được báo chí và đài phái thanh sử dụng nhiều lắm. Chà! - Anh bỗng thấy hối mình dông dài không phải lúc, nói chữa - Ngược lại tôi có khuyên em còn trẻ lắm, nhan sắc mặn mà lắm, nên đi bước nữa.


 


– Rồi em nó trả lời làm sao? - Dì Út hỏi dồn.


 


– Cô chỉ ứ…ừ… một cách nhí nhảnh từ chối lời khen tặng.


 


Mặt trời nhô lên dãy nhà cao tầng mặt tiền phố Nguyễn Thái Học, rọi bóng nắng ngoài thềm dạ quang vào gian nhà sáng lên hơn đôi chút. Vừa lúc Thu Thảo về tới, nhạy miệng véo von: “Đạt yêu cầu tối ưu rồi nghen!”. Loáng một cái cô đưa xe đạp luôn vào phía sau, từ đó lúc thúc lo chuyện bếp núc, vừa ríu ra ríu rít: “Từng đôi chim bay đi, tiếng ca  rộn ràng”.


 


Trầm tư một lúc lâu, dì Út ngẩng lên nhìn Tường Tri ánh nhìn ưu ái khác thường, với giọng điệu chậm rãi như bản tính:


 


– Cậu Hai nè!… Tôi muốn hỏi thẳng cậu về chuyện… tỉ như em nó thương cậu… trung thành muốn kết duyên cùng cậu thì… cậu nghĩ sao?


 


Bao đêm nằm tơ vương, lừng khừng mua đại cặp gối cưới, rồi chiêm bao bừng thức lời nguyền mối tình Việt La. Bình vỡ đem điềm?!. Dự đoán hồi kết thúc, mà sao giờ trước câu hỏi của dì Út đâm ra bối rối? Anh bấm bụng trưng cầu ý kiến, hỏi ngược lại:


 


– Theo dì Út lâm phận tôi, dì nghĩ sao?


 


– Tôi là cậu Hai, hả? Khỏi nói cả bao nhiêu năm quan hệ gần gũi, nỗi niềm tâm tình dốc hết, hiểu cạn lòng nhau hết thì cậu Hai cũng nên lên tiếng trước. Còn tôi là mẹ, tức nhiên tôi đứng về phía con gái! - Làm chủ câu chuyện, dì Út đáp dứt khoát - Tôi chấp nhận cuộc hôn nhân muộn màng nầy. Dù muộn, nhưng hạnh phúc suốt đời! Sự phụ lòng sẽ làm đau lòng nhau đó cậu Hai à!


 


Nghe vậy anh càng thêm “hoang mang thiên địa” như hồi bà Vương mớm cho Việt La theo Tường Tri về Việt Nam. Ôi! Cái nguồn cơn bỗng gợi liên tưởng cuộc tình xưa! Cuộc tình trót nặng mang lời nguyền. Anh bíu lấy “lời nguyền” như phao cứu hộ, lập tâm chỉ bằng tấm lòng thành mà giãi bày thuyết phục. Anh ngồi trở bộ, ngấp ngụm trà, giọng chùng hẳn xuống tỉ tê kể về mối tình Việt La. Ân tình hơn nữa là đối với ông bà Vương Dũng mà vừa rồi đã gởi thư cho Bộ Ngoại giao ta, mời Nguyễn Tường Tri sang Trung Quốc thăm gia đình. Thực sự chuyến đi không thành vì thời tiết xấu, nhất là lo ngại sức khoẻ Tường Tri không bảo đảm trong mùa đông xứ tuyết. Giọng kể mỗi lúc một ngậm ngùi. Anh thuật những ngày rời Thiên Tân chia tay Việt La cô khóc tràn nước mắt. Lên Bắc Kinh thực tập xong, chuẩn bị về nước trong tâm trạng biệt ly, anh lưu niệm Việt La chiếc khăn phula, kèm theo lá thư với mấy dòng ngắn ngủi: “Còn mấy hôm nữa anh lên đường về nước. Cho dù không còn dịp gặp nhau, anh vẫn giữ mãi mối tình cao đẹp và trong sáng của hai ta. Hình ảnh em vẫn ở mãi trong tim anh cho đến cuối cuộc đời…”.


 


 Khẽ liếc thăm dò thái độ dì Út, anh chậm rãi lặp lại câu cuối trong lá thư. Dì Út vẫn trầm ngâm, vẻ mặt hờn hờn lành lạnh, nhưng tỏ ra biết điều, bảo: cậu Hai kể tiếp. Không nén xúc động, Tường Tri ngậm ngùi kể tiếp như mạch nguồn tuôn chảy…


 


Mấy hôm sau, Vương Dũng từ Thiên Tân đi máy bay lên Bắc Kinh đến gặp Tường Tri, trao cho anh hộp bánh của Việt La làm. Cái hộp bánh bằng giấy các-tông in hình những bông hoa rất đẹp, có dán dòng chữ: “Tặng anh Tường Tri hộp bánh để ăn trên đường trở về Tổ quốc Việt Nam”. Nhìn đôi tay Tường Tri run run ôm hộp bánh, Đại tá Vương xúc động nói: “Việt La nó khóc mùi tội quá! Nó yêu đồng chí sâu nặng lắm! Hay là cứ cho Việt La theo đồng chí về Hà Nội, chuyện cưới hỏi tính sau. Đồng chí quyết định đi?” Tường Tri nghe chết điếng trong lòng, như có vật gì chẹn ở cổ không nói nên lời. Trong tình cảm sâu xa anh không quên mình là người con của Sài Gòn, nói rộng hơn là con của miền Nam. Nơi ấy kẻ thù đang phá hoại hiệp định Genève, trả thù những người kháng chiến cũ, tàn sát đồng bào đẫm máu. Hằng đêm anh nghe tin trên đài… mà buốt nhói trái tim xa xứ!… Ôi! Tổ quốc và tình yêu?… Với ý chí mạnh mẽ, Tường Tri rành rọt từng lời sắt son trước Vương Dũng: “Cuộc chiến tranh chống Mỹ ở Việt Nam đang hồi quyết liệt! Những đứa con của miền Nam nhứt định phải trở về quê hương chiến đấu. Con không thể nào để Việt La phải theo chồng, gánh chịu đạn bom cực kỳ nguy hiểm! Còn tình yêu Việt La, hình ảnh Việt La luôn ở trong trái tim con. Thủy chung chỉ một lời nguyền!”


 


– Nén nỗi đau, tôi đáp dứt khoát như vậy, dì Út à! Thương quá, đại tá Vương đứng lên ôm chầm lấy tôi. Hai người đàn ông một trẻ một già của hai dân tộc láng giềng ôm lấy nhau lưng tròng nước mắt. Không chỉ Việt La mà tình cảm của mẹ cha cô cũng in sâu trong ký ức của tôi!


 


Dì Út chừng cảm thông tấm lòng chung thủy, rót trà cho anh. Ngẫm nghĩ một lúc, dì thủng thẳng:


 


– Hồi ấy đang chiến tranh? Bây giờ hòa bình rồi?


 


– Dạ biết! Nhưng… Nếu phép mầu biến tôi trẻ lại tuổi năm mươi. Tôi bước qua thất thập nhiều năm rồi dì ơi! Trong khi em mới hơn bốn chục, tuổi tuy vậy mà người lại trẻ hơn tuổi. Tôi tin em sẽ còn cơ duyên xây dựng hạnh phúc gia đình. Không nên ràng buộc vào ông già cận địa viễn thiên cho lòng tôi thêm vò xé, nếu không nói là… mang tội!


 


– Cậu Hai khắt khe với mình hơi quá đó thôi! Gì mà mang tội. Tôi vẫn thấy có ông già tám mươi lấy con gái hai mươi. Người đời có câu: “Bảy mươi có của cũng vừa mười lăm”.


 


– Ông ăn chả thì bà ăn nem là cái thói thường tình. Liên kết vô đây làm gì. Tôi không giống như họ. Trái tim tôi vẫn luôn lung linh hình bóng người yêu xưa…


 


– Tôi ngẫm nghĩ rất đáng khen cậu Hai! Thương cậu, tôn trọng cậu thủy chung với mối tình xưa, giữ vẹn hương nguyền.


 


– Vậy tôi phải ứng xử với em thế nào, để tránh được hai chữ “phụ lòng” mà dì vừa buộc vào nghe dễ sợ!?


 


– Về lý tình cậu Hai đã phân giải, tôi nghe xuôi thuận rồi. Còn làm sao để không phụ lòng thì lát nữa cơm nước xong cậu trực tiếp trao đổi với em nó!


 


– Nhưng nếu dì… nói vô phụ. Ơ… nói ra chớ, bàn ra chớ đừng đốc vô!


 


Dì Út mấp máy môi lau sạch cốt trầu, nửa muốn ừ, nửa không…


 


***


 


 Bữa cơm vườn giản dị dân dã ở chỗ bước ra vườn là có sẵn các thứ cho làm bữa. Khi nãy Thu Thảo khoe cốt thi vị hóa cho vui chứ ở chợ thì mọi thứ phải hái bằng tiền. Chợt sau bếp vọng lên một chuỗi từ líu lo trong trẻo như chim hót:


 


 – Má ơi! Dọn bàn được chưa?


 


– Được rồi! Con gái cưng của má đảm đang qua-á!... - Dì Út đứng vội lên - Để má xuống phụ một tay. Nước mắm gừng làm chưa?


 


 – Cho tôi phụ với! - Lẹ miệng rồi lẹ tay Tường Tri bê bình hoa hồng và khay trà đặt bên bàn viết Thu Thảo. Anh tót xuống bếp, qua ngang cửa buồng treo màn hồng, trên có rèm thêu, gợi không khí phòng the. Lòng vui khiến anh buột miệng - Chà! Thu Thảo mặt đỏ lơ đỏ lưỡng, vất vả quá! Mọi hôm hai anh em chung tay, bữa nay anh Tri làm biếng không phụ gì em hết!


 


–  Thôi khỏi đãi bôi lấy lòng anh Hai ơi!


 


Anh nhìn lại Thu Thảo đã trút bộ trang phục “kiểng”, chỉ mặc chiếc áo lụa hồng cổ tròn trơn lu, khoe dè sẻn làn da trắng mịn, cổ ngực lấm tấm mồ hôi. Một vẻ đẹp “miệt vườn”, cốt cách nông dân giản dị, dễ thương quá chừng! Có cảm giác anh ấy nhìn mình, cô ngoảnh lên sai bảo:


 


- Cháo em múc ra cái tô bự rồi đó, anh bưng lên bàn đi. - Quay lại tiếp tục sắp những miếng thịt vịt xiêm tươm mỡ mướt rượt lên cái dĩa bàn to, cô bảo dì Út - Má nếm lại nước mắm gừng dùm con đi. Tưởng đơn giản mà cũng phức tạp. Điệu là phải pha đường hòa chua đường mới tan, hãm mặn dịu! Đã gừng cay còn phải chua cho thanh! Nói chung các phối chất trung hòa hợp khẩu vị phải nghề, nếu không nói là nghệ thuật. Má thử lại dùm con đi!


 


Dì Út chăm chú nếm nếm, chép chép, rồi gia giảm liều lượng, chừng cảm giác tới độ ngon, dì sớt ra ba chén nhỏ cho mỗi người, nói thêm hiểu biết của người trải nghiệm:


 


– Trong các món ăn, bất cứ món ăn nào cũng phải có nước chấm riêng biệt của món đó. Nước chấm mà lạc quẻ thì món ngon lãng xẹt! Thôi dọn bàn nhanh lên con. Bữa ngon nghe hơi thơm ngậy làm mau đói quá chừng…!


 


Nghe vậy, Tường Tri cũng cảm nhận mùi thơm hỗn hợp béo ngậy làm tiết dịch vị nuốt đánh ực. Vừa lúc em giục:


 


– Anh Hai! Còn dĩa lá cách kìa, bưng lên dùm coi! - Phán với giọng nũng nịu cô lý sự - Ăn thịt vịt mà thiếu lá cách phối vị đăng đắng giảm béo cũng bằng như … - Tìm không xứng lời cô bỏ lửng, bưng dĩa thịt vịt đầy hụ đem lên đặt trên bàn.


 


Bày biện mâm cơm xong. Dì Út ngồi ghế đầu bàn bên trái, Thảo ngồi kế má. Bên phải ghế đầu để trống, khi trên bàn đã sẵn hai cái chén hai đôi đũa. Thu Thảo đang múc cháo vào chén như thông lệ cúng cơm bữa vong linh hai liệt sĩ: cha và chồng mình. Không khí mang hơi thiêng pha đậm đặc hương vị trần tục. Tường Tri ngồi ngang Thu Thảo khiến cô quan tâm gắp thịt bỏ vào chén anh đầy vun. Chợt cô kêu thảng thốt bước nhanh vào trong đem ra hai lon bia 333, rót ra hai ly lớn và một ly nhỏ cho dì Út, động viên: “Má uống chút cho vui, má!”. Cô và Tường Tri chạm cốc. Trông Thu Thảo hồn nhiên và ăn rất ngon miệng. Làm vui không khí, cô kể những món ăn miệt vườn. Được người nghe chăm chú cô càng hào hứng. Như một lần sau Mậu Thân 68, đơn vị biệt động né xuống Bến Tre, đóng vùng Phú Túc, Phú Đức bên ven sông Tiền. Tới bữa không có thức ăn, bà con bày cho bắt ốc len đeo bập lá. Lá dừa nước mọc hoang theo các mương rạch, mương vườn như rừng. Ốc len đeo bập lá bự con hơn ngón tay cái; còn ốc len đeo bần ngoài cù lao Thới Sơn chỉ bằng ngón tay út thôi. Mỗi bữa bắt cả rổ sảo, rửa thiệt sạch, đem rộng ngâm trong nước cơm chừng nửa buổi cho nhả sạch bùn. Sau khi rửa lại nước muối rồi rửa nước sạch lần nữa, chặt bỏ phần đuôi nhọn. Chỉ việc cho vô nồi, bắt lên bếp nấu chớ còn sao. À khoan. Phú Túc, Phú Đức miệt đó dừa phải nói như rừng. Bà con cho dừa tha hồ ăn. Ăn cơm bữa với dừa kho hồi ấy là thường xuyên. Nói tiếp món ốc len héng. Dừa rám ngon hơn dừa khô. Nạo dừa, vắt nước cốt để riêng, lấy nước giảo nấu ốc. Ốc chín tróc mày đều hết cũng vừa cạn nước, bấy giờ mới cho nước cốt dừa vô, để lửa riu riu một lúc… Nhắc xuống múc ra tô, chỉ việc ngậm miệng ốc mà hút cái rột vô miệng mình. Nước chấm món nầy hợp khẩu vị là muối tiêu chanh…


 


Bữa xong. Bàn được dọn lau sạch. Anh lại bê bình hoa hồng và khay trà sáu tách về chỗ của nó ở bàn giữa, súc bình châm trà mới. Chờ một lúc, anh rót trà ra ba tách, đặt về vị trí của người ngồi như lúc ăn cơm. Dì Út lục đục phía trong như nói gì với Thu Thảo, lát trở ra ngồi vào chỗ cũ, nhấp ngụm trà, chẫm rãi têm trầu.


 


 


 


 


 


 


 



26



 










B




 


óng nắng giữa trưa ngoài vuông sân bé tẹo cắn mí thềm chói chang. Cây nguyệt quế cảm ứng gần kỳ trăng tròn, nụ ngà ngà nở rộ chen lẫn trong chi chít lá bắt nắng xanh bóng. Chậu đinh hương lá rí vẻ mảnh mai gió nhẹ lay yểu điệu. Phố trưa bớt phần ồn ả, nhường bóng mát cho phu xích lô tạm giấc. Hẻm vắng trở nên đìu hiu. Trưa đi chậm. Bóng nắng lặng yên. Lòng người tâm trạng bâng khuâng …


 


– Thảo! Con! Trang điểm gì ở miết trỏng? - Dì Út nhai vừa giập bã trầu, giục.


 


– Già khú còn trang điểm gì nữa má! – Thu Thảo đã thay trang phục bà ba lụa đen đặc trưng phụ nữ Nam Bộ. Từ cửa buồng bước ra, cô làm vẻ nghiêm nghị, lí nhí - Má nói oan con!


 


 Bằng cử chỉ thân tình, cô dùng ngón tay trỏ chĩa vào sườn non Tường Tri nguậy nguậy ngầm bảo anh lên ngồi ghế đầu bàn. Anh ngoan ngoãn chuyển lên ngồi ghế trên, đối diện Dì Út. Cô ngồi vào ghế anh, gần kề vai anh, vói bưng tách trà bên kia bàn về phía mình. Sau buổi làm bếp hào hứng, bữa ăn ngon, gương mặt mãn nguyện, má cô ửng hồng. Cô đinh ninh khi mình làm bếp, má đã nói những điều mà mẹ con cùng thuận tình chuyện xây dựng hôn nhân với Tường Tri. Tình yêu thực sự chín tự cõi lòng. Tỏ ra hồn nhiên, song Thu Thảo tự bao giờ vẫn mở ra cho mình “cánh cửa”. Giờ đây đôi mắt huyền sâu lắng, trang nghiêm như tính cách chính trực, tôn nét sắc sảo toát lên lòng tự trọng và cả nghĩ…


 


 Bóng nắng ngoài thềm rề rà liếm dần ra phía chân rào. Gian nhà im lìm. Tiếng động cơ các loại xe máy, xe tải ngoài đại lộ Trần Hưng Đạo vọng vào rì rầm như tiếng sóng xa. Thu Thảo chờ má, chờ Tường Tri lên tiếng. Anh chờ dì Út. Cuối cùng không chịu nổi sự im lặng, cô nhìn thẳng dì Út khẽ kêu một tiếng ẩn bao hàm ý: “Má!?” Nhìn con gái chờ đợi, má Út sa sầm, đượm buồn. Thương con gái lỡ thời duyên phận bẽ bàng, song không thể ép uổng Tường Tri phản bội lời nguyền. Dì buộc lòng “khai khẩu” như châm ngòi khối thuốc nổ phá bung mặt đập đang tức nước:


 


– Cậu Hai! Như khi nãy đã trao đổi, tôi để cậu nói gì với em nó, giờ cậu lên tiếng đi!


 


Biết vậy, nhưng mở lời anh cảm thấy thật là khó khăn! Bên vai anh gần chạm bờ vai em. Anh ngắm bông hồng chúa vàng tươi hưởng thụ làn hương dịu ngọt. Chợt bừng thức trong anh nhục cảm giấc mơ cùng Việt La đêm qua… Hầu như cuộc giao tranh giữa tình cảm và lý trí không khoan nhượng! Im lặng kéo dài. Anh nhấp ngụm trà nguội ngắt. Vị đắng chát quánh đầu lưỡi líu lại lời tâm sự với dì Út. Giây phút, anh tự trách mình mâu thuẫn với chính mình! Hằng tự răn mình giữ lời, lẽ nào vượt qua lời nguyền! Anh tin Thu Thảo cảm thông cho anh không mang tiếng phụ lòng. Trở bộ ngồi lại thẳng lưng, anh hắng giọng nghiêm trang:


 


– Ba người chúng ta, mỗi người một cảnh ngộ cô đơn!... Dượng Út hy sinh ngoài Côn Đảo. Chồng Thu Thảo hy sinh trong trận Mậu Thân lịch sử. Tôi biệt ly gia đình bên Pháp từ tuổi hai mươi, về nước tìm Nguyễn Ái Quốc làm cách mạng. Ngẫm ra… ba thân phận chúng ta trời đã sắp đặt vậy rồi!... Bản lĩnh biết sống, đồng hành cùng định mệnh, hạn chế uy lực tác hại là sống vui! Âu trời đất xui khiến, ba thân phận cô đơn hợp thành, ngồi chung một nhà với nhau hôm nay, coi như một gia đình. Những chuỗi ngày cô đơn, đêm đêm thao thức, ta nhìn thấu ruột gan mình, tự phán xét mình, ứng xử trung thực với cuộc đời, cống hiến công sức cho cuộc đời. Rõ ràng mỗi chúng ta đều đã làm tròn bổn phận của mình. Đó là… ta biết tìm niềm vui hạnh phúc trong định mệnh bất hạnh, cô đơn! Thực sự như hôm nay, ba người chúng ta: trong một Gia đình Hạnh phúc!


 


Cảm thấy mình dông dài mà chưa nói thẳng ra điều cần nói, Tường Tri nín bặt, lắng nghe hơi thở từ bên em để nhận biết phản ứng. Nhưng không nghe được gì. Em vẫn thở nhẹ nhàng, vẻ mặt bình thản. Đến giờ phút nầy thì Thu Thảo dự phòng “cánh cửa ở vậy suốt đời” đã mở toang! Từng viết truyện về anh, nhập tâm sâu sắc nỗi niềm tâm trạng sâu kín của đời anh, cho nên chuyện tình yêu hôn nhân chẳng qua chỉ là ngộ nhận, lãng mạn viển vông mà thôi… Đời từng trải dãi dầu bom đạn ác liệt, tôi bồi khả năng khám phá hiện thực nhân sinh phức tạp đa chiều, sáng tạo những tác phẩm văn học, Thu Thảo hẳn cũng đủ bản lĩnh và nghị lực nhận ra và sống vui với định mệnh “gái góa suốt đời”. Bỗng dưng cô cảm thấy buồn cười cho anh và cả cho chính mình, chợt cười phá lên, đứng dậy từ phía sau anh, hồn nhiên ôm quàng cổ anh, líu lo:


 


 – Thôi đủ rồi, đừng nói nữa anh Hai của em ơi! Em vẫn chưa nói toạc với anh điều gì kia mà. Cho dù anh hiểu điều sâu kín lòng em thì cũng như em hiểu điều sâu kín lòng anh.- Thu Thảo đứng trở lại nơi ngồi, thái độ nghiêm chỉnh, trịnh trọng - Nên ngay giờ đây, trước mặt má em, anh là anh trai của em, em là em gái của anh. Má là má chung. Ở đời có bạn vong niên thì việc gì không có mẹ vong niên. Héng má!


 


– Vậy chớ sao! - Má Út biểu đồng tình, gương mặt rạng rỡ hẳn lên, đưa ánh mắt trìu mến nhìn Tường Tri, nói rành rọt - Má thì xưng má. Nhưng kêu con vẫn bằng “cậu Hai” vì đã quen xưng hô vậy rồi. Hả cậu Hai?


 


– Dạ phải! Dì Út! À… Má Út! - Tường Tri rơm rớm nước mắt - Con xa mẹ từ hai mươi tuổi, khát khao tình mẹ ngày đêm. Nay về đây chung một gia đình, hưởng tình cảm… Má Út chăm nom như mẹ hiền, con ấm áp sung sướng biết chừng nào! Ấm áp nữa còn có em gái Thu Thảo ngoan hiền giỏi giang dễ thương.


 


Nghe lòng phấn khích dậy lên niềm cao hứng, Thu Thảo reo lên như hát:


 


– Vốn không gia đình, từ nay ba người mình trong một gia đình! Hạnh phúc sao đâu! Vui sướng sao đâu, anh Hai của em ơi! Rồi đây em… em, anh biết sao không?


 


– Em sẽ đi lấy chồng!


 


– Ối!... Không! Không! - Thu Thảo lập tức nghiêm trang - Anh mà còn nói cái giọng đó là em buồn anh lắm nghen. Bộ chỉ có mình anh biết giữ vẹn mối tình chung thủy. Em định nói là em sẽ viết thành truyện dài mối tình đẹp như mơ giữa anh và chị Việt La. Dù bạc đầu tình yêu mãi xanh. Rút gọn: Tình yêu mãi xanh!...


 


 Trầm ngâm một lúc, Tường Tri mở rộng đôi mắt dài đen mun thân thiết nhìn Thu Thảo, thán phục cô em gái trí tuệ tuyệt vời, nhưng chưa tìm xứng lời để nói.


 


– Nghĩ sao, anh Hai? Tình yêu mãi xanh?


 


– Ý tứ cũng mang hơi triết lý. Nhưng liệu có mòn không? Thiên hạ chạy theo thị hiếu tình yêu, ca tụng tình yêu, sính thơ tình yêu … Coi chừng “tình yêu” lạm phát!


 


 – Cũng có lý. Hay là thay cái tựa khác, hợp tính cách nhân vật hơn: Người mắc lời nguyền? Đó là lòng chung thủy cổ kim như sấm truyền?


 


Lại ngẫm ngợi, anh khẽ cười:


 


– Lời nguyền! Suy cho cùng vẫn là ngôn từ. Mà ngôn từ chỉ là tương đối. Hiểu nôm na như dân gian thường nói: “vật đổi sao dời”. Cho nên trong một cảnh ngộ biến đổi, lời nguyền nói “mắc” làm sao chắc?


 


– Đây là cuộc đời anh! Anh chê thì đặt tựa khác dùm đi?


 


– Anh đâu phải là tác giả. Cứ viết đi đã! Đặt tựa trước, quá trình viết có khi không phù hợp, phải thay đổi luôn cho mà coi.


 


 – Anh nói vậy chứng tỏ là người có “nghề” lắm đó. Nghĩ dùm đi? Đừng làm hiểm mà anh Hai?


 


 – Anh chỉ muốn gợi ý. Sao cho thật giản dị. Giản dị nhưng không dễ dãi, quê mùa. Giản dị mà tài hoa phát xuất từ tấm lòng thành, trái tim chân thật. Càng giản dị, càng chứng tỏ công phu và… tài hoa.


 


Nghe hai anh em nó nói chuyện gì đâu xa vời, má Út cảm thấy mình như bị thừa, xen ngang:


 


– Bây giờ chuyện sát sườn cho tôi xin hỏi có được hông?


 


– Dạ! Má hỏi gì mà không được. - Thu Thảo vốn nhạy miệng - Chuyện gì vậy má? Là chủ gia đình, má phán quyết còn được nữa là…


 


– Ba thân phận mồ côi!… - Má dừng lời nghĩ thêm chín chắn - Ba thân phận mồ côi, họp nhau lại coi là một gia đình. Thật là hạnh phúc rồi! Vậy ba người hiện ở hai nhà, bây giờ tính sao?


 


Chuyện nhỏ, đơn giản nhưng chưa ai nghĩ tới, lặng im hết. Có lẽ dì Út cũng đã kịp nghĩ, đề xuất:


 


 – Thôi, má tính vầy. Cậu Hai với con Thảo nghĩ coi được không nghe?


 


– Má là chủ gia đình, má nói đi. - Tường Tri động viên.


 


– Đã là một gia đình, theo má là nên ở chung.


 


– Má nói phải đó! - Thu Thảo hưởng ứng liền.


 


– Nhưng ở chung, hiện có hai nhà, ở nhà nào? - Má Út bỏ lửng câu hỏi…


 


Không gian lặng trang. Chiều ngả sang xế bóng từ bao giờ. Bên góc phải, lão mai cổ thụ nép tường phố cao Nguyễn Thái Học, giờ mới được hưởng ánh tà dương lấp lánh ánh vàng tươi. Thân cành khẳng khiu bạc phếch, mốc cời, lá thu tàn le hoe vàng úa trông tội nhiệp dường nào! Ngược lại, bên góc trái cây sa-pô-chê được hưởng ánh nắng ban mai nên xum xuê cành lá, chen chúc trái lớn trái nhỏ màu cám gạo, giờ trong bóng râm ngả màu xanh sẫm mát mắt.


 


– Má đã xướng nên ở chung. - Thu Thảo không chịu nổi lên tiếng - Vậy má ý kiến trước đi?


 


– Chuyện nhỏ, vậy mà coi bộ khó ha? - Má Út lấy ô têm trầu rề rà cân nhắc tìm lời - Cậu Hai đàn ông đàn ang, trọng tuổi rồi. Nên về đây ở chung, có con Thảo chăm lo cơm nước. Còn cái nhà của cậu Hai nhà nước cấp thì trả lại cho nhà nước, để cấp cho người khác.


 


– Má tính phải đó! - Thu Thảo hưởng ứng tức thì.


 


– Ở chung một nhà là hợp lý lắm rồi, đành rồi! - Tường Tri lại nhìn quanh như lạ lẫm cái nhà này - Không phải tôi chê chật hẹp gì, nhưng trong buồng kê hai cái giường hai má con; bên ngoài nào bàn thờ, nào bàn khách kiêm bàn ăn cơm; phía bên trái bàn viết của Thu Thảo, phía bên phải cái đi-văng trơ trọi thế nầy mà làm giường ngủ… e... bất tiện! Chi bằng hai má con về ở đằng nhà tôi, rộng mênh mông, tiện nghi đầy đủ. Còn cái nhà nầy lâu đời xuống tới cấp năm, cấp sáu! Rủi ro giông to gió lớn sập bất tử nguy hiểm!


 


 – Chuyện nhỏ, vậy mà coi bộ khó ha?... - Má Út vẫn lập lại, thả miếng trầu têm xong vào miệng nhai chầm chậm, lắc khẽ cùng hơi thở dài. - Cái nhà nầy dù rệu rã không biết sập lúc nào! Nhưng là cái nhà của cha con Thảo! Bốn xung quanh là bốn con đường mang tên những nhà cách mang tiền bối: Nguyễn Thái Học, Cô Giang, Đề Thám, Cô Bắc. Nơi đây là cơ sở cách mạng trong lòng địch từ thời chống Pháp, sang thời chống Mỹ. Qua hai mùa kháng chiến cho tới nay ngót năm mươi năm, căn nhà tồi tàn nầy đã đùm bọc che chở cho không biết bao nhiêu cán bộ làm nơi ăn chốn ở đi về, lập nên bao chiến công nổi đình nổi đám vang lừng thế giới. Kiểm lại hết thảy đều tồn tại an toàn. Bây giờ đạp đổ nó mà đi ở nhà rộng thì sao đành lòng! Hỡi hai con!...


 


– Má nói phải đó anh Hai! Anh dọn về đây ở đi! Em sẽ tạo cho anh tấm ri-đô có cánh cửa như ở buồng riêng vậy đó.


 


 Những lời bà má kể thấu vào gan ruột, xúc động ngậm ngùi, nhưng Tường Tri vẫn làm thinh. Thực ra anh đắn đo không phải vì chật hẹp. Giữa anh và Thu Thảo hiện giờ là anh em kết nghĩa, đương nhiên phải giữ lấy đạo luân thường. Nhưng quá trình ngót hai mươi năm quan hệ, tuy ngoài mặt tỏ ra tình anh em, nhưng trong lòng lửa tình yêu nhen nhóm luôn âm ỉ. Hai bên biết tự kềm chế nghiêm khắc nên chưa cháy bùng, song lửa than hồng còn ủ tro tàn vẫn đỏ. Ở riêng còn dễ bề… Ở chung lửa gần rơm… càng cực lòng lắm thay!


 


– Má tính thế nầy! - Người mẹ mở đường - Nếu cậu Hai thuận tình về đây ở thì ta sẽ nâng cấp cái nhà nầy lên. Cậu Hai khi đặt vấn đề với nhà nước, lấy lý do sống một mình mà nhà quá rộng không hợp lẽ, xin trả lại nhà và đề nghị bù lại vật tư cho tôi để tôn tạo chỗ ở mới cùng bà mẹ nuôi cho tiện bề sinh hoạt.


 


Tiếp ngay lời má, cô em gái sốt sắng:


 


– Chỉ cần anh Hai ừ một tiếng, còn mọi thủ tục em lo. Anh Hai là anh hùng mà; có chế độ chánh sách mà!


 


– Ừ! Hì-hì! - Sau một tiếng “ừ” mạnh, là tiếng cười lấy lòng quen miệng, anh Hai nhìn em gái nháy mắt tán thưởng rồi day sang bà má - Con thành thật biết ơn tấm lòng của má và em Thảo. Nhưng trước mắt việc ăn ở hãy khoan dời đổi. Con còn phải báo cáo chuyện nầy với Chi bộ cùng chánh quyền phường. Chuyện nhà cửa ở chung nhất định rồi, nhưng để từ từ tính.


 


– Cậu Hai cẩn thận vậy cũng phải! - Bà má chợt nhìn ra sân thấy màu nắng tàn, chép miệng - Cơ khổ! Chỉ bàn có chuyện cái gia đình bé mọn, cùng cái nhà chó ngồi ló đuôi mà chiều rồi không hay. Vậy con Thảo lo bữa cơm chiều đi con; đặng anh Hai con ăn rồi còn về sớm.


 


– Cần gì phải lo nữa má. Sáng ăn cháo vịt nửa con, còn nửa con kho gừng chiều ăn cơm là xong.


 


Nói rồi cô em gái nhí nhảnh nhảy chân sáo xuống bếp. Khi nầy bà má đứng lên vặn lưng vài cái, thong thả bước ra sân. Ông anh Hai bước theo ra. Cả hai không tìm ra lời một khi lời cùng đã cạn, lòng cũng đã thỏa, nên đều cùng chú mục nhìn cây cảnh, thư giãn.


 


Quen mắt cây nguyệt quế chen chút nụ búp ngà trong lá xanh, cùng chậu đinh hương lá rí, má Út hướng cặp mắt tinh anh tuổi ngót tám mươi, chăm chú nhìn sang lão mai cổ thụ nép mình bên tường phố cao Nguyễn Thái Học. Nắng chiều vàng rượm từ ngọn xuống nửa thân, thu tàn lá loe hoe vàng úa, trơ bộ cành khẳng khiu, da mốc cời, gốc sù sì. Tường Tri cúi sát nhìn cận cảnh. Dưới mắt anh, thảm rêu xanh mịn mọc quanh cội mai, lan ra vòng bán kính chừng 50 cm, trườn theo dáng đất mấp mô tạo hình dợn sóng lăn tăn. Từ chân sóng xanh sẫm, nhạt dần lên ngọn nhú búp rêu bé tí màu vàng chanh lượn vòng bán nguyệt mảnh mai đẹp lạ lùng. Thảm rêu như bức tranh thiên nhiên tuyệt tác, độc đáo chỉ có… rêu! Loài thảo mộc dân dã mộc mạc, khiêm cung tự tại; song khó lấy gì so sánh.


 


Nhìn ông con già kết nghĩa mặt ngây ra. Má Út giọng trầm hẳn, xa xăm:


 


– Cây mai đó trên năm mươi tuổi rồi nghen cậu Hai! Của ông nhà trồng đó. Nghĩ cũng như số phận con người ta. Cái địa thế chật hẹp thì sống theo chật hẹp. Nó thiếu ánh mặt trời, nên èo uột ròm rĩnh tội nghiệp dường nào! Nhưng mùa nay cuối thu nên lá vàng ẻo. Nói cậu Hai nghe. Nhìn cái dáng ngoài của nó mà tội nghiệp chớ thiệt ra nó biết sống theo chật hẹp chính là tự bám rễ sâu nên bền gốc. Tới mùa xuân nghen cậu? Hấp thụ nguyên khí âm dương trời đất trong lành, lão mai già vẫn nảy lộc non lá nõn, cành nào bông cũng nở rộ bông là bông vàng tươi! Năm nào nhà bà con hàng xóm quanh đây, cũng đều được biếu cành mai chưng tết từ cây mai “lão làng” nhà nầy.


 


Bà má nói về cây mai bằng ngôn ngữ bình dân mà triết lý sâu sắc, biết là vô tư nhưng anh liên hệ mình vừa chê nhà chật hẹp, đâm ra thầm xấu hổ. Giờ đây là trưởng nam của tân gia đình, Tường Tri chân thành bộc bạch:


 


 – Con rất thấm thía những lời của má, cũng như rất quý trọng tấm lòng của má! Cái nhà xuống cấp nầy, cuộc đất nhỏ hẹp nầy, nhưng là cả một trời kỷ niệm của cả một quãng đời dài hơn nửa thế kỷ đầy gian truân thử thách, nhưng cũng đầy tự hào. Trong cảnh huống cô đơn, âm thầm, vẫn bền tâm quyết chí, góp phần vào thành quả cách mạng mà ngày nay đất nước an lạc thanh bình. Thật may mắn và hạnh phúc đời con. Thằng đàn ông cô đơn không cô độc, được sống chung trong một gia đình kiểu mới chưa từng thấy như vầy!


 


Từ trong nhà chợt có tiếng gọi vọng ra trong trẻo như chim hót, song chất giọng cho anh nghe ngọt ngào sao đâu:


 


– Mời má… ví anh Hai… vô ăn cơm nghe - en!...


 


Bước theo má Út vào nhà, Tường Tri cảm nhận cõi lòng ấm áp, bồi hồi, lâng lâng…


 


 Thành phố Hồ Chí Minh, Thu 2010.


 


 THANH GIANG


 


Nguồn: Biệt ly huy hoàng. Tiểu thuyết của Thanh Giang. NXB Văn học, 2011.


 


www.trieuxuan.info

Mục lục:
1.
2.
3.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 24.09.2018
Bão - Ngũ Hà Miên 21.09.2018
Hòn đất - Anh Đức 14.09.2018
Hồi ký điện ảnh - Đặng Nhật Minh 14.09.2018
Chuyện kể năm 2000 - Bùi Ngọc Tấn 06.09.2018
Hãy để ngày ấy lụi tàn - GERALD Gordon 26.08.2018
Tử tù tự xử lý nội bộ - Trần Thư 24.08.2018
Sóng lừng (VN. Mafia) - Triệu Xuân 23.08.2018
Những người mở đất - Triệu Xuân 14.08.2018
Mẫn và tôi - Phan Tứ 14.08.2018
xem thêm »