tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 24055835
30.07.2018
Mã Thiện Đồng
Bóc vỏ trái đất (5)

TRÊN ĐẤT CỦ CHI 


            Chòm sao Cầy đã chếch quá về phía Tây, tốp người hầu hết là phụ nữ không còn đủ sức chạy nữa, chưa đến nỗi quỵ hẳn xuống, nhưng ai cũng đuối quá rồi. Suốt dọc đường, giữa đêm tối căng thẳng, bụng đói đã lâu, lúc này, tình hình thấy khá ổn, mọi người mới thấy mệt, chân tay rời rã uể oải, nhưng vẫn cố lê bước. Khi Hai đã Thương quay về hướng bờ sông, mọi người tiếp tục bước đi, bỗng những cơn đói, cơn mệt như ở đâu len lỏi ùa vào từng bước chân, từng bắp thịt. Nhớ lời Thương dặn, nhớ ơn người đồng chí, người anh đã tận tình hết lòng vì mọi người trong chuyến vượt vòng vây gian khổ đầy nguy hiểm vừa qua, chị em chấn tĩnh lấy lại tinh thần, đôi chân mệt mỏi vẫn bước như cái máy. Xóm làng vườn tược bên này cũng cháy tan hoang xơ xác điêu tàn, mọi người đều cố gắng bứt lá cây ngọn rau, trái đậu bắp, đậu que quen thuộc, bỏ vào mồm nhai cho đỡ đói, vớ gì nhai nấy, cũng giống như con nai con hươu trong rừng, con người cũng nhai vài ngọn cỏ lá cây là sống, dẫu sao thì niềm tin vào việc thoát khỏi cơn nguy hiểm của trận càn cũng đã trở thành sức mạnh cho những bước chân bước lên trong niềm tin chiến thắng. Nhưng hình như rau cỏ cũng trốn đi đâu sạch, hiếm hoi lắm mới tìm được một vài cây, thôi thì đắng, chát, cả rau nhái già, lá cách lá vông, lá xoài, lá gì cũng thấy ấm lòng.


            Gần sáng, cả tốp người đã vào một xóm chỉ còn lác đác vài nhà. Chị Năm Thu bụng bầu vẫn bám theo đoàn người, Ngân đi kè bên lo lắng, nhưng chị Năm không hề tỏ ra mệt mỏi, yếu đuối, đôi lúc chị còn vui đùa động viên chị em:


- Tao thấy cái bụng chỉ to hơn tụi bay chứ có sao đâu mà lo, tao vẫn chạy được bình thường, không biết thằng hay nhỏ mà ngoan lắm, biết mình đang chạy giặc và chịu đói nên thông cảm, biết điều nằm im không đòi chui ra quấy nhiễu mọi người. Giờ này là yên trí rồi, tội nghiệp anh Hai Thương, ảnh lo quá trời, chỉ sợ sanh ngay lúc trên đò qua sông thì thật không biết làm sao, ông lo tao chết cả mẹ lẫn con, nên khi lên tới đây rồi, ổng mừng lắm. Sau này khi nhỏ ra đời tao cho nó gọi ông Hai là ba, không có ổng cứu, thì làm sao tao còn sống mà sanh ra nó. Cha nó giờ này đang ở mặt trận nào, có thấu cảnh cam go này không.


 


Vào được mấy nhà dân, hầm hào đã có tạm đủ trú, hỏi thăm thấy tình hình không căng lắm, bọn địch càn chiều qua rồi rút ngay về Đồng Dù, đoàn nghỉ tại đây để lấy sức. Nơi đây, cả gần tháng nay địch càn quét cào xới xăm moi tìm kiếm, đất cát cây cối nhà cửa đổ ngổn ngang, cháy trụi. Nhà dân cũng không còn gì cho mọi người ăn, bom đạn tàn phá không khác gì bên Bến Cát.


 


Ngân vội đi kiếm xoong nồi, nhóm lửa luộc hột vịt, bởi cái tay nải đeo bên người vẫn còn thấy nằng nặng. Lúc chạy trên cánh đồng bên kia sông, anh Hai Thương giục đi mau nhưng Ngân cố nhoai lại lượm được ít hột, giờ này mới có dịp bỏ ra sử dụng. Thì hỡi ôi, hột vịt bể ướt nhẹp, lạo xaọ đầy ruột tượng, tanh rình, bốc mùi thum thủm, chắc là có cả hột thúi bể. Ngân tiếc rẻ bươi bươi, thấy còn mấy hột còn nguyên và chỉ bị dập, chị chờ nước sôi, nhấc khéo đặt vào nồi, vậy mà một lúc sau, mấy chị em cùng được ăn hột vịt luộc ngon lành.


 


Ở hầm nguyên ngày đó yên ổn với vài thứ linh tinh và nước uống trong bao tử, mọi người ngủ thiếp một giấc dài. Gần tối, nhờ mấy anh du kích dẫn đường, Ngân và Châu đi mua đồ ăn, gặp được quán bán, có thứ gì là mua hết thứ đó, nào bánh kẹo, cả bánh tráng, bánh phồng, bỏng bắp, đường sữa, đồ ăn con nít mua tất về ăn chống đói. Còn tiền, Ngân mua cả bàn chải kem đánh răng, bởi đã mười mấy ngày nay không có đánh răng rửa mặt. Chị nghĩ đến cậu Hai Thương, cậu Hai giỏi quá, chu đáo đến thế, lo lắng cho mọi người từng chút từng chút, lại tính đến cả đưa tiền, thật may mà có cậu Hai, nếu không, mọi người rồi sẽ ra sao nếu giờ này còn ở bên Bến Cát. Nghĩ đến những giờ phút căng thẳng nguy nan, Ngân bàng hoàng rùng mình.


CÁC NÀNG “VŨ NỮ” 


Ba ngày sau, liên lạc đến dẫn tất cả đoàn người tiếp tục đi tới vùng căn cứ giáp Bến Dược.


Đoàn người hầu như ai cũng bị thương hoặc trầy xước mệt mỏi tơi tả, còn gặp địch càn ngang xương trên đường đi. Xe tăng, xe chở toàn lính Mỹ rầm rầm đang hành quân về phía Bến Dược. Liên lạc viên kịp thời báo hiệu cho mọi người tản vào bìa rừng, tìm hầm trú ẩn. Nơi đây có một xóm nhỏ, nhà cửa đã bị đốt cháy tan hoang hết, cây cối tiêu điều, ruộng đồng loang lở hố bom, hoa màu không còn gì. Đây là vùng giáp gianh với vùng giải phóng, là vùng xôi đậu. Giặc chỉ đóng từng cụm, chỉ khi nào có lính hành quân về càn thì bọn bảo an dân vệ này mới dám ngang nhiên ra oai kết hợp hoành hành, còn thì chủ yếu chúng lại rút vào bốt, hoặc dò xét bắt bớ ở những nơi có trạm kiểm soát, chúng được bố trí vũ khí lực lượng đầy đủ. Ở vùng xôi đậu này chúng ớn nhất là vào ban đêm. Đêm xuống, không một tên nào dám ngo ngoe ra khỏi bốt gác, gần như chúng rút hết để “nhường” chỗ cho Việt cộng.


 


Người liên lạc chỉ một số cửa hầm cho mọi người ẩn nấp.


 


Ngân chống tay lên miệng hầm nhẹ nhàng đưa hai chân xuống trước, đụng đất thì vừa ngập đầu người, khi đứng vững thì người ở trên trao cho cây đèn dầu bưng kín gần hết. Ngân vặn tim sáng thêm một chút cho thấy rõ rồi khom lưng bò bò lần sâu vào trong đường hầm, mấy người lần theo vào hầm trú ẩn tạm.


 


            Căn hầm này chắc đã lâu không dùng, không mở nắp cho thoáng khí nên xông lên mùi hôi mốc rất kinh. Những con dét nằm chực sẵn đã lâu, nay thấy có mùi lạ mồi ngon, chúng xô ra đốt chích. Ngân xua tay, đập tát, nhưng không nhanh bằng dét, chúng thi nhau bám chặt lấy đối tượng, chỉ một lát sau, khắp người ngứa ngáy, nổi tụt tịt lên đầy, khổ sở vô cùng, nhưng ai cũng phải cắn răng chịu đựng. Những vết dét cắn sau này đỏ ửng, tụ máu và mấy ngày sau do ngứa gãi và thường hay bị nhiễm trùng, làm mủ.


 


            Ngân nhớ lại chuyện của mấy anh kể, dưới hầm địa đạo thường có nhiều loại đáng gờm, nhất là rắn, các loài rắn dết, có cả rắn hổ cắn người không chữa kịp có thể chết ngay. Các anh không sợ rắn bằng dét, bởi rắn còn nhìn thấy mà tránh mà bắt, còn dét thì xin chịu, nó bé như hạt cát mà lại trong bóng tối lờ mờ không nhìn thấy gì, chỉ có nó tấn công người chứ người không làm gì nổi nó, kể cả xua đuổi cũng vô hiệu.


 


Ngược lại với dét, các anh rất thích những con dế, nó hiền vì không đốt chích, lại thấy vui mắt khi ngồi hầm cả ngày không làm gì. Các anh đặt cho cái tên rất kêu: các “nàng vũ nữ”. Các nàng dế trông thì hung dữ nhưng thật ra rất hiền lành và vui tính. Mỗi lần xuống hầm, nhất là các hầm sâu, lâu không có người xuống, các nàng phóng loạn xạ, đậu trên người, trên tay trên đèn, đen cả xung quanh. 


 


                                    TRÊN ĐƯỜNG TRỞ LẠI BẾN CÁT


 


            Đơn vị A36 hy sinh mất hai, còn năm đồng chí, các anh về tới căn cứ Thanh An, đây cũng là trạm trung chuyển gần của tình báo ở Bến Súc, đơn vị Phòng tình báo ở đây đón các anh và đủ cả máy móc điện đài, chỉ có con người là gần như kiệt sức vì mệt vì đói lả. Thủ trưởng, anh em gặp nhau mừng rỡ. Anh Sáu  khen:


 


            - Đơn vị ta giỏi lắm, cấp trên khen ngợi các đồng chí cụm A36 chiến đấu dũng cảm chống càn, đưa đoàn người vượt vòng vây trận càn, đây là một chiến công rất đáng biểu dương, các đồng chí giỏi lắm!


 


            Anh em nghỉ ngơi ăn uống cho lại sức, củng cố lại các phương tiện điện đài, chuẩn bị nhận nhiệm vụ mới.


 


Đến ngày thứ ba, Thương, Kiển, Thành lãnh nhiệm vụ từ căn cứ Thanh An lại quay trở về Nam Bến Cát, Bình Dương nắm tình hình và đi làm nhiệm vụ giao liên. Mỗi người khoác trên vai AK, giắt súng ngắn, lựu đạn và một số đồ ăn, bên ngoài khoác áo gió ngụy trang.


 


Đường về Củ Chi, Mỹ mới rút quân hồi sáng, nhà cửa xóm ấp cháy rụi, cây cối đổ nát xơ xác, có chỗ vẫn còn những mái nhà lửa khói, cả những xác người nằm đây đó chưa được chôn cất…


 


            Bơi sang bên kia sông Sài Gòn là đất Bến Cát, mấy ngày nay hình như quân Mỹ đã phát hiện cuộc rút lui ra khỏi vòng vây, và có lẽ Việt cộng không còn ở miền Nam Bến Cát, nên từng bộ phận lính Mỹ đang rút quân.


 


            Ba người đang đi trên Hương lộ 14, ngang chỗ Rạch Kiến, lúc ấy đã khoảng 5 giờ rưỡi chiều. Bỗng thấy ba chiếc trực thăng dàn hàng xuất hiện ở phía trước đang bay tới trước mặt, chúng bay rất thấp, ba người núp vội vào bụi tre. Thương kịp thời nhận định tình hình, chuẩn bị chiến đấu, anh nói to:


 


- Tụi này đang chở quân đổ xuống càn hay phục kích ở đâu đây, chuẩn bị AK bắn máy bay!


 


Cả ba người cùng dương AK lên ngắm hướng ba chiếc máy bay trực thăng. Đôi mắt Thương sáng lên một tia quyết liệt, anh hô:


 


- Tao bắn chiếc thứ nhất, Kiển chiếc thứ hai, Thành nhằm chiếc thứ ba, chuẩn bị nổ súng.


 


Thương vốn bản lĩnh đã rất quen chiến đấu đối diện, trước quân thù là tinh nhanh trầm tĩnh và chính xác. Chỉ còn khoảng cách rất ngắn, anh ngắm, lia nguyên băng 25 viên AK, chiếc trực thăng bốc lửa lao xuống cháy bùng, chỉ cách chỗ ba người khoảng vài chục mét. Hai tay súng của Kiển và Thành cũng bình tĩnh chính xác không kém gì Thương, hai chiếc trực thăng kia đã trúng đạn bốc khói, một chiếc vừa bay lên cao thì bốc cháy lao ụp xuống như một đống lửa, một chiếc bay ngoặt về phía Đồng Dù. Vừa bay được một lúc thì cũng phát lửa, rơi xuống cánh đồng bên Củ Chi.


 


Những chiếc trực thăng này từ Đồng Dù bay qua rải quân phục kích, tụi này gây không biết bao nhiêu thiệt hại, khó khăn cho các cán bộ ta trên đường đi công tác từ chiến khu về các căn cứ vùng ven, từ căn cứ lên chiến khu.


 


 Tổ chiến đấu ba người của đơn vị Cụm tình báo A36: Thương, Kiển, Thành lập thành tích ở Rạch Kiến trên đường đi liên lạc, về căn cứ Bến Cát (trận chiến đấu chóng váng này đã được xác định và có ghi rõ trong cuốn “Sáu mươi năm ngành tình báo”). Chỉ một phút đồng hồ, ba người tiêu diệt gọn ba chiếc máy bay và hàng chục lính trinh sát phục kích của địch ngồi trong đó khi chúng chưa kịp làm nhiệm vụ đã bị tiêu diệt. quả là một chiến công tuyệt vời của ba chiến sỹ ngành tình báo dũng cảm.


 


           


 


CHIA ĐỀU


 


            Chừng mươi ngày sau, anh em trong đơn vị A36 ngồi họp, được nghe lãnh đạo Phòng nói chuyện. Anh em thật không thể ngờ thành tích của đơn vị mình lại cao đến thế.


 


Nhận xét đánh giá những thiện hại của ta trong trận càn khá nhiều: “Cuộc càn Xêđaphôn diễn ra ác liệt từ đầu đến cuối trong vòng nửa tháng, Quân Mỹ đã hủy diệt hoàn toàn thị tứ Bến Súc, triệt hại hầu hết làng mạc Bắc Củ Chi, toàn bộ vùng Tây, Nam Bến Cát, hủy diệt theo trục hai bên sông Sài Gòn”. (theo tài liệu cuốn Lịch sử lực lượng võ trang miền Đông Nam Bộ).


 


Nhưng ngược lại, chúng ta người ít, vũ khí ít gấp hàng trăm hàng ngàn lần quân Mỹ, vậy mà chúng ta chiến đấu sáng tạo, gan dạ dũng cảm, quyết liệt khiến quân địch cũng phải chịu những tổn thất nặng nề.


 


            Tính chung toàn bộ cuộc càn Xêđaphôn cả vùng Tam giác sắt địch bị tổn thất 3500 tên, 130 xe tăng thiết giáp, 28 máy bay. (theo cuốn liệu lịch sử lực lượng vũ trang miền Đông Nam Bộ).


 


Mục tiêu hủy diệt căn cứ cách mạng của Mỹ không đạt được, như tướng A. Mácasen đã thú nhận một phần: “Cuộc điều tra cho biết: ngay khi quân của chúng ta chưa rút khỏi vùng Tam giác sắt thì Việt cộng đã đột nhập vào từ trước rồi. Như vậy là chẳng bao lâu, căn cứ cách mạng này vẫn đâu vào đấy.”


 


            Trên thực tế trận càn này của Mỹ đã thất bại, dù tướng Westmoreland vẫn tuyên bố “đã tiêu diệt được đại bản doanh của Cộng sản” thì việc đưa được gần hai trăm cán bộ vượt ra khỏi vòng vây, rồi sau đó chúng ta lại về củng cố căn cứ cũ, cũng đủ thấy kết quả.


 


Riêng đơn vị Cụm tình báo A36 dưới sự chỉ huy của Nguyễn Văn Thương, đã bắn rơi 5 máy bay trực thăng, diệt được 12 xe tăng thiết giáp và 115 lính Mỹ (tư liệu được viết trong cuốn “60 năm ngành tình báo”).


 


Lúc ngồi tính toán thành tích, bình bầu chia công cho đơn vị, Thương vui vẻ nói lớn:


 


            - Thôi, tôi nghĩ như thế này, anh em mình ai cũng có gắng hết sức cả, từ thủ trưởng ở Sài Gòn đến anh điện đài, chị giao liên, từ người cầm vũ khí đánh trận, đến người đánh cá nhân, ta chia đều, cho ai cũng được hưởng thành tích chung. Theo ý tôi, tiêu chuẩn cấp trên đã đề ra: cứ diệt ba Mỹ là đạt danh hiệu  “dũng sỹ diệt Mỹ”, ta chia Mỹ cho anh em trong toàn Cụm, để ai cũng được danh hiệu dũng sỹ diệt Mỹ hết. Anh Ba Hội, anh Ba Quốc, cô Tư, cô Nhiễm ở Sài Gòn, anh Bảy Anh ở Củ Chi, cả bác Sáu Nửa, cô Út Ngọc, tất cả các anh em trong đơn vị mỗi người ba Mỹ để được lĩnh huy hiệu dũng sỹ diệt Mỹ.


 


            Anh em ai cũng tán thành ý kiến của Thương, chia cho cả đơn vị cùng được danh hiệu thành tích.


 


Chia Mỹ hết cho mọi người rồi, vẫn còn khá nhiều, cuối cùng, Kiển quyết định:


 


- Công anh Hai Thương nhiều lắm, người ba Mỹ đủ tiêu chuẩn danh hiệu dũng sỹ diệt Mỹ, du kích diệt Mỹ. Còn nhiêu là của anh Hai, tất cả các trận đánh của đơn vị ta trong trận càn này đều do anh Hai bày đặt cách đánh, đều có anh xông pha dẫn đầu, anh Hai phải được mười huy hiệu dũng sỹ diệt Mỹ mới phải.


 


            Hai Thương phản đối:


 


- Chia cho bốn thằng mới đúng, cả Thôn, Mới, Đo nữa, bốn anh em ta cùng đánh chứ có mình tôi đâu. Cả anh điện đài, anh cơ yếu nữa, nhiệm vụ của họ quan trong lắm công của họ còn hơn chúng ta, còn lại ta chia làm sáu.


 


Thương lặng lẽ nói một mình:


 


- Giá mà đổi tất cả những danh hiệu này của chúng ta để Thôn và Mới sống lại, tôi đổi liền. Tôi không ham gì những huy hiệu phải đổi bằng bao nhiêu xương máu này; trên cánh đồng An Thành kia, Thôn và Mới đã chiến đấu dũng cảm bao nhiêu trận, Thôn, Mới đã nằm xuống, mãi mãi nằm trong lòng đất ngay quê hương, nơi mà chính hai người đã sinh ra, ấp 4 xã An Thành Nam Bến Cát này đây. Hai đứa ấy có nghĩ được lúc này anh em trong đơn vị đang bình bầu thành tích không! Và còn biết bao đồng chí, bao bà con cô bác, bao cá cháu nhỏ đã đổ máu trong trận càn này.


 


 


 


Cả đơn vị Cụm tình báo A36 được thưởng huân chương Quân công hạng hai.


 


Riêng Nguyễn Văn Thương được thưởng Huân chương Quân công hạng ba. Và anh được nằm trong danh sách đề nghị nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lương vũ trang nhân dân năm 1967.


 


 


 


ĂN TẾT SAU TRẬN CÀN XÊĐAPHÔN


 


            Chỉ còn mấy hôm nữa là tết, anh Ba Hội Cụm trưởng A36 và anh Ba Quốc, điệp viên của Cụm A36 đang ở Sài Gòn (sau này ra công khai là Trung tướng Đặng Trần Đức) nhận được bản báo cáo thành tích của đơn vị mình gởi về, các anh Ba mừng rỡ như muốn chạy lên ngay căn cứ, gặp gỡ anh em đồng đội thân yêu của mình. Anh Ba Quốc gởi một bức thư cho anh em trong cụm A36 biểu lộ niềm vui sướng thân mật yêu thương như cho cách anh em ruột thịt:


 


Tao và ông Ba Hội có bắn viên đạn nào mà tụi bay cũng chia cho cả huy hiệu dũng sỹ diệt Mỹ, lại thằng Thương bày đặt phải không? Được rồi, tao xin nhận, tao cũng thưởng cho tụi bay: Mỗi chiếc xe tăng của Mỹ hàng triệu đô la, tao thưởng cho chúng bay một ngàn tiền ngụy, mười hai chiếc xe tăng, thưởng mười hai ngàn cho tụi bay. Tiền này là lương tao lĩnh của ngụy, Tổ chức sẽ trả lại cho tao sau, nay tao cứ tự thưởng cho tụi bay ăn tết cái đã…”


 


 Anh Bảy Anh, bí thư chi bộ, là Cụm phó A36 thì lại nói trong buổi họp toàn chi bộ:


 


- Chỉ tiếc rằng Cụm chúng ta đã để mất hai đồng chí Thôn và Mới! Trách nhiệm ấy thuộc đồng chí Thương, đồng chí đã để tổn thất lực lượng.


 


Như bị xúc phạm tới nỗi đau vì mất hai người em, hai người bạn chiến đấu vào sống ra chết có nhau, Thương không nén được cơn bực bội, đã thẳng thắn phản ứng lại lời nói của bí thư chi bộ, vì vậy, đấy cũng là lý do mà đồng chí Bí thư chi bộ phó Cụm phó cụm tình báo A36 không để Hai Thương trong danh sách những người được nhà nước phong anh hùng lực lượng vũ trang năm 1967.


 


Anh Ba Hội Cụm trưởng nói:


 


- Hy sinh mất mát là không thể nào tránh khỏi, trong trận càn dữ dội và thiệt hại khá nặng này, đơn vị ta là đơn vị tổn thất ít nhất, bảo toàn điện đài liên lạc mà lại lập đựơc nhiều chiến công nhất. Chỉ riêng việc đưa cả đoàn cán bộ vượt sông ra khỏi vòng vây là thành tích rất lớn của các đồng chí trong đơn vị chúng ta. Tiêu biểu nhất, đáng khen ngợi nhất là đồng chí Thương.


 


Ông già tình báo, tên mà Hai Thương gọi thủ trưởng mình (chú Sáu Trí), sau đó tiếc cho anh và ông vỗ vai Thương nói: Chỉ việc trong trận càn, mày xông xáo đưa đoàn cán bộ vượt sông, cũng đủ anh hùng lắm rồi. Thôi, còn nhiều dịp nữa, lo gì!


 


Thương không tiếc vì anh luôn nghĩ: mình chiến đấu với quân thù chứ không phải vì nghĩ tới danh hiệu này nọ mà phiền. Sau đó, anh lại lao vào công việc hăng say đầy tự tin và trách nhiệm.


 


Những ngày sau đấy, thấy tình hình êm, các đơn vị ai còn ở lại lo củng cố căn cứ, ai đã sang Củ Chi, ai đã qua Bến Súc đều lần lượt quay trở về Bến Cát. Bàng hoàng vì những gì đã xảy ra, bom đạn, chết chóc, cây cỏ đồng ruộng xóm làng tan hoang, một vùng đất đỏ tơi tả nhào xới. Còn lại bao nhiêu xác người rải rác nằm đây đó hay vùi lẫn trong đất sâu… Giặc Mỹ tưởng chắc rằng không còn ai sống sót, chúng đã lần lượt rút quân. Có thể nói ngay sau trận càn này, quân địch đã thỏa thuê thu được kết quả. Số thương vong thiệt hại của lính Mỹ dù cũng khá đấy, nhưng mặt trận là như vậy. Mục đích của trận càn là san bằng địa vùng căn cứ Việt cộng này đã đạt được.


 


 Nhưng cũng như ngọn cỏ, mầm cây, chỉ vài ngày sau đã lại nhú lên xanh rờn trên đất đỏ, con người cũng vậy, dù mất mát bầm giập, dù hy sinh khá nhiều, nhưng chỉ một thời gian ngắn sau, người đã trở về, đâu vào đấy, lại đào hầm, củng cố khôi phục các đường địa đạo, các cơ sở tổ chức lại hình thành, hoạt động và phát triển. Vụ lúa chuẩn bị gieo xạ đón mùa mưa năm ấy vẫn đều đặn như nhịp sống hai mùa mưa nắng của đất rừng phương Nam.


 


Quay đi quay lại đã là đêm 30 tết. Anh em đồng đội các đơn vị háo hức hồi hộp chờ đợi giây phút thiêng liêng cảm động nhất, đón nghe thư chúc tết của Bác Hồ gởi cho toàn quân và toàn dân. Cả đơn vị có một chiếc Sương Mao vặn lớn hết cỡ. Được nghe giọng Bác chúc tết. Bác đọc bài thơ xuân 1967. Anh em đang nuốt từng lời Bác vào tim, uống từng chữ, từng giọt từng giọt nước mắt tràn lên trên hốc mắt trũng sâu, lăn trên gò má hốc hác, nụ cười trên khuôn mặt còn vương đầy khói bom và những mất mát. Sau những ngày cam go gian khổ đã qua, tiếng Bác Hồ thiêng liêng, như ngọn lửa hồng sưởi ấm lòng người chiến sỹ. Tiếng Bác Hồ như truyền thêm sinh lực cho các anh tiếp tục đứng vững trên tuyến đầu tổ quốc:


 


                                    Xuân về xin có một lời ca


 


Gởi chúc đồng bào cả nước ta


 


Thắng Mỹ hai miền đều đánh giỏi


 


Tin mừng thắng trận nở như hoa.


 


Bác đọc xong bài thơ Xuân 1967, tất cả im lặng xúc động trong nước mắt nghẹn ngào, ngay sau đó là tiếng ngâm thơ quen thuộc trong sáng thân thương của người nghệ sỹ ngâm thơ Trần Thị Tuyết cất lên thiết tha âm vang bài thơ xuân của Bác. Tiếng thơ vang ấm lên trong từng căn hầm địa đạo mới được khôi phục sau trận càn Xêđaphôn. Giọng ngâm sao mà hay đến thế, lại được rơi nước mắt vì xúc động, vì niềm tin vào Bác Hồ, vào ngày “toàn thắng ắt về ta”.


 


 


 


Các đơn vị chuẩn bị ăn tết cũng khá, dù còn ở Bến Súc hay đã về Bến Cát chưa kịp củng cố hầm hào sửa sang căn cứ, dù bánh trái không có, bởi nhà dân còn tan hoang, nhưng có gạo là ổn cả. Vịt nuôi của dân con lớn con nhỏ chạy tán loạn tan tác nay vô chủ, lạc ngoài đìa, ven sông, từng bầy từng đàn không có người sử dụng, chúng trở thành vật hoang. Ai bắt được cứ việc ăn tự do. Anh em dượt về nấu cháo, lội xuống kênh, xuống đìa bắt cá những bữa ăn tự nhiên hôi hổi sức sống, bồi dưỡng sức khỏe, hồi phục sức quân, hồi sức vui vẻ như không có trận càn Xêđaphôn ác liệt vừa xảy ra.


 


Một chuyện vừa ghê gớm nhưng là chuyện thật thì cứ xin nói ra cho hết: Anh em trong đơn vị ăn tết, bựa có nồi cháo vịt và những con cá trê vàng ươm nướng thơm phức, vừa ăn xong, một người hỏi:


 


 - Các cậu có biết mình bắt cá này ở đâu không?


 


- Ngoài đìa hay bờ kênh chứ còn ở đâu.


 


- Tớ bắt trong cái đìa sắp cạn, mò thấy cá quá trời, xong rồi đi một khúc mấy mét, có bộ xương người nằm dưới đìa, ớn quá.


 


Một cậu còn rất trẻ nói:


 


- Thì lúc chạy rượt đuổi bắt vịt trên ruộng, em cũng thất bộ xương người nằm sấp sấp nước, cỏ xanh um, hẳn vịt thoang cũng mò vào đó chứ nó đâu biết tránh. Em còn thấy một bao nhỏ, mở ra ở trong toàn tiền nguỵ, nhưng tiền đã mục rách nát hết rồi.


 


- Vậy là ta ăn vịt và cá nó ăn phải thứ đó rồi, chết cha rồi.


 


Mấy người oẹ oẹ… móc móc cổ.


 


- Thôi có gì thì ta cũng đã ăn mấy ngày liền, tiêu hóa hết trọi hết trơn rồi còn oẹ oẹ nỗi gì nữa giờ.


 


- Em thấy ớn quá trời, thôi rày không dám ăn vịt, ăn cá nữa đâu, sợ lắm.


 


            - Thì bây cứ việc ăn cháo trắng, ai bắt.


 


            Nói vậy thôi chứ ngày hôm sau, không ai dám ăn vịt ăn cá nữa. Tội nghiệp cho bầt vịt mới bắt về bị bỏ đói, chỉ được uống nước, bỏ thì thương vương thì tội, không ai có đủ tinh thần dũng khí mần vịt mần cá, sau lại phải thả cho chúng đi kiếm ăn.


 


                                               


 


NGƯỜI MỸ ĐÃ NÓI GÌ


 


Năm 1986, trong một cuộc gặp gỡ nói chuyện với phái đoàn quân sự, cựu quân nhân Mỹ sang Việt Nam, họ có phỏng vấn một số cựu chiến binh Việt Nam, trong đó có anh hùng tình báo Nguyễn Văn Thương, anh Bảy Bê Nguyễn Thanh Xuân biệt động Sài Gòn, chị Ánh Tuyết, anh hùng Biệt động … một cựu quân nhân Mỹ hỏi anh Thương:


 


- Tôi được nghe trong trận càn Xêđaphôn, ông là người lập nhiều thành tích, vậy sau đó các ông làm gì, có tổ chức tiệc mừng và được trọng thưởng như thế nào, có mở sâm banh không?


 


Thương trả lời ngay:


 


- Có chứ, ngay sau đó chúng tôi ngồi họp bàn chia Mỹ.


 


Ông ấy ngớ ra không hiểu “chia Mỹ” là gì. Khi Thương giải thích, người phiên dịch phải dịch khá lâu…  ông ta lắc đầu nhún vai, tròn mắt ngạc nhiên, bởi chỉ người Việt Nam ở miền Nam này mới có từ “chia Mỹ”.


 


Người Mỹ nhìn anh cảm phục bởi họ biết chính CIA Mỹ đã tra tấn, cưa tới sáu lần hết hai chân anh năm 1970. Khi bắt được Nguyễn Văn Thương, vì biết anh nắm được lưới tình báo quan trọng, chúng đã tìm mọi cách dụ dỗ mua chuộc, tra tấn, nhưng anh vẫn không khai.


 


 Một đại tá Mỹ ái ngại hỏi anh Thương:


 


- Trong những ngày chiến tranh, người Mỹ tra tấn anh, người Mỹ đã cưa hết hai chân anh, vậy anh có căm thù người Mỹ không?


 


- Tôi căm thù chứ, ngày ấy tôi căm thù người Mỹ đã giết hại nhân dân nước tôi, căm thù người Mỹ đã cưa hai chân tôi. Nhưng sau ngày hòa bình rồi, tôi hiểu trong cuộc chiến tranh xâm lược của người Mỹ và cuộc chiến đấu bảo vệ độc lập cho dân tộc của chúng tôi thì chuyện hy sinh, chết chóc là không thể tránh khỏi! Chiến tranh là phải có mất mát khi chiến đấu loại trừ nhau, tiêu diệt nhau. Trong chiến tranh thì có kẻ thắng người thua. Người thắng là chúng tôi, người thua là các ông, hai bên đều mất mát cả. Bây giờ tôi không căm thù người Mỹ, mà chỉ căm thù chiến tranh xâm lược, Tôi căm thù tổng thống Mỹ thời kỳ đó gây chiến tranh ở Việt Nam, còn người Mỹ, nhân dân Mỹ yêu chuộng hoà bình, cũng phản đối lên án chiến tranh như chúng tôi, làm sao tôi lại căm thù họ!


 


Ông Đại tá Mỹ đứng dậy, bắt tay anh thật chặt và xúc động vô cùng. Hẳn ông ấy cũng như bao người dân nước Mỹ và nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới đang lên án chiến tranh, bắt tay với những ai phản đối chiến tranh.


 


Còn tướng M. Mácesen đã thú nhận một phần sau trận càn Xêđaphôn: “Cuộc điều tra cho biết: Ngay khi quân của chúng ta chưa rút khỏi vùng “Tam giác sắt” thì Việt cộng đã đột nhập vào từ trước rồi”.


 


Binh lính sư đoàn số 25 Mỹ ở Đồng Dù rất khiếp sợ bàn chông sáu mũi của nữ du kích Củ Chi, vùng Tam giác sắt. Một đại tá phái viên Bộ quốc phòng Mỹ nghiên cứu về chiến tranh du kích ở Việt Nam, khi đến Đồng Dù đã ngán ngẩm nói: “Xe bọc thép 8 tấn, pháo 105 ly và máy bay chiến lược B52 không tiêu diệt nổi cái bàn chông và chắc chắn không thể thắng nó và người du kích Việt Nam”.


 


Trận càn Xêđaphôn là một điển hình của tội ác chiến tranh, sự tàn phá và giết hại con người vô cùng khốc liệt của chiến tranh, trong đó người gây chiến tranh xâm lược và người kháng chiến bảo vệ đất nước đều mất mát hy sinh quá nhiều. Hậu quả của nó thật kinh khủng bởi những mất mát về con người, nỗi đau thương trong tâm tưởng và chất độc hoá học để lại cho con người còn dai dẳng mãi cho những thế hệ sau không thể nào kể xiết. Lịch sử đã ghi lại tất cả. Chúng ta đã được chứng kiến và biết đến qua sách báo, phim ảnh, bảo tàng lưu giữ chiến tích chiến tranh…


 


Và lịch sử lại vẫn đang tiến triển không ngừng đúng theo quy luật tự nhiên của nó. Như cây cỏ hoa lá trong ánh nắng và gió trời, lại xanh ngời sức sống, con người cũng vậy, ở nơi đây sự sống lại hồi sinh cùng với rừng cây xanh trong đất đỏ của miền Đông Nam Bộ.


 


           


 


MIỀN ĐÔNG, BẾN CÁT NGÀY NAY


 


Tôi đang đi trong rừng cao su xanh tươi bạt ngàn của miền Đông Nam Bộ, bồi hồi như có tiếng hát đang vang vọng quanh đây:


 


 Ai đã qua rừng miền Đông đất đỏ


 


 nghe máu đổ nhuộm hồng đã bao lần …


 


… Trong đấu tranh người miền Đông anh dũng


 


 trong lao động người lại cũng anh hùng…


 


 Thật khó có thể tưởng tượng được miền cây lá thanh bình với bao nhiêu nhà máy xí nghiệp, những khu công nghiệp trù phú hôm nay, cả một vùng mênh mông khu công nghiệp ngày nay lại chính là nơi mà trước đây đã bị bom đạn hủy diệt tất cả, trong trận càn Xêđaphôn ác liệt nhất của một thời khói lửa chiến tranh, trận càn “Bóc vỏ trái đất”.


 


 Nơi đây, mảnh đất vùng Nam Bến Cát, Bình Dương còn đang chứa đựng trong lòng bao nhiêu chiến tích. Những người dân miền Đông Nam Bộ chân chất hiền lành nắm trong tay một pho tư liệu lịch sử bằng vàng. Chỉ vài năm nữa thôi, ở tuổi bảy tám mươi, họ sẽ ra đi hết, mang theo bao nhiêu câu chuyện thần kỳ. Chỉ những con người đã sống trong cuộc chiến tranh trên mảnh đất miền Nam đắng cay chung thủy, trên mảnh đất miền Nam gan góc dạn dày, những con người đã làm nên lịch sử mới có được. Nếu như ta không ghi chép lại thì thật đáng tiếc lắm thay!


 


            Rừng miền Đông Nam Bộ hôm nay vẫn đất đỏ cây xanh bạt ngàn rừng cao su và cây trái. Vùng Nam Bến Cát bây giờ giữa màu xanh còn có bao nhiêu khu công nghiệp mọc lên trông xa xa như một thành phố lạ. Khu công nghiệp Mỹ Phước lớn rộng mênh mông, có hàng chục công ty, nhà máy xí nghiệp hoạt động. Cả một vùng trời đất mênh mông thay da đổi thịt. Con người ở đây lại đang anh dũng trong xây dựng nền kinh tế mới, đang chào đón những người bạn ở khắp nơi, cả người ở nước ngoài, cả người Mỹ cùng đến đây xây dựng kinh tế. Hoà bình là thế, con người chỉ muốn có cuộc sống hoà bình để chung sống và xây dựng kinh tế giầu mạnh. Vì cuộc sống hoà bình mà cả một hế hệ đã chiến đấu dũng cảm, hy sinh bao nhiêu xương máu.


 


Chao ôi! Giá như không có chiến tranh thì con người đỡ mất mát bao nhiêu! Những cánh rừng cao su, ngút ngàn, vẫn xanh tươi trù phú như bao đời của vùng đất đỏ miền Đông đang ngân vang câu hát:


 


…Tổ quốc ơi! Ta yêu người mãi mãi


 


Từ trận thắng hôm nay, ta xây lại bằng mười


 


Từ trận thắng hôm nay, ta xây lại đẹp hơn. 


 


PHỤ LỤC:


Một lá thư của chị Hồ Thị Kim Ngân người trong trận càn Xêđaphôn từ Bình Dương gởi về cho tôi bộc lộ lòng cảm ơn cuốn sách “Người bị CIA cưa chân sáu lần”, đã giúp chị và một số anh em tìm ra anh Nguyễn Văn Thương, người đã đưa một đoàn cán bộ thoát khỏi vòng vây giữa trận càn Xêđaphôn đầu năm 1967. Lòng cảm động và duyên may đã dẫn tôi đến với họ. Tôi đã viết truyện này theo đúng lời kể của các nhân chứng lịch sử. Xin được trích một số đoạn trong lá thư này: 


                        Bình Dương ngày 22 - 4 - 2006 


Kính gởi: Cô Mã Thiện Đồng (Tác giả quyển Người bị CIA cưa chân sáu lần) 


“Tôi thật vô cùng xúc động khi cầm trên tay cuốn sách tác giả viết về một con người mà từ lâu lắm rồi đã là thần tượng, là vị cứu tinh của không những riêng tôi mà còn của rất nhiều người là đồng đội, là bạn bè của tôi, đó là quyển: “Người bị CIA cưa chân sáu lần”. Viết về người anh hùng tình báo Nguyễn Văn Thương, chính là người đã cứu chúng tôi trong trận càn Xêđaphôn 40 năm về trước.


 


Xin ngàn lời cám ơn tác giả Mã Thiện Đồng, người đã góp phần không nhỏ trong việc ban tặng cho chúng tôi và cho đời một vầng hào quang sáng chói, người đã chắp cánh cho những giai thoại có một không hai trong cuộc chiến đấu một mất một còn với kẻ thù, mà trong đó, anh hùng Nguyễn Văn Thương đã chiến đấu và chiến thắng.


 


Tôi đã khóc rất nhiều về nội dung của quyển sách. Có lẽ không phải riêng tôi mà bất cứ ai khi hạnh phúc có được nó trong tay đều phải khóc khi đọc xong trang đầu của tác phẩm.


 


Trong từng chữ từng lời của nội dung tác phẩm, tôi như cảm nhận được tâm quyết, tình cảm và trách nhiệm của tác giả trong quá trình xâu chuỗi lại những sự kiện những vấn đề và nâng niu, phản ảnh trung thực với sự việc xảy ra trong thực tế, để bạn đọc chúng ta có được một cẩm nang vô giá về bài học đạo đức lòng yêu nước nồng nàn và lập trường kiên định, mà chỉ có người Cộng sản chân chính mới có được.


 


Tác giả Mã Thiện Đồng đã hoàn thành trọng trách của mình là thêm một nốt nhạc hùng tráng vào bản anh hùng ca của dân tộc Việt chúng ta.


 


Có thể nói, Nguyễn Văn Thương là người đã sinh ra tôi lần thứ hai. Vì nếu không có ông thì không những riêng tôi, mà cả chúng tôi (186 người) trong những ngày trận càn Xêđaphôn xảy ra khốc liệt tại Nam Bến Cát đã phải hứng chịu hy sinh mất mát mà không thể tránh khỏi. Căng thẳng nhất là cái đêm chúng tôi - 186 con người - dưới sự chỉ huy của ông, đã mở đường máu, vượt sông Sài Gòn trong vòng vây lửa đạn của địch để thoát ra ngoài trung tâm cuộc càn quét của kẻ thù.


 


Với tính cương nghị, tinh thần dũng cảm đầy trách nhiệm và sự thông minh, ông đã đưa chúng tôi ra khỏi tâm điểm của trận càn vào đêm hôm đó, trong muôn vàn khó khăn và nguy hiểm. Khi mà đoàn chúng tôi và các đoàn khác đã hy sinh gần 50% quân số. Chúng tôi đã chôn đồng đội của mình trong nước mắt thương tiếc để tiếp tục bước đi.


 


Đến hôm nay, gần 40 năm trôi qua, những người còn sống sót trong trận càn của ngày hôm đó chỉ còn đếm trên đầu ngón tay và tóc đã điểm bạc. song nếu có dịp gặp nhau, lại say sưa kể lại những kỷ niệm mà chúng tôi thấy như mới xảy ra ngày hôm qua. Chúng tôi cũng không quên nhắc đến ông với lòng ngưỡng mộ và trân trọng, nhắn nhủ con cháu sống sao cho xứng đáng với tình cảm của ông đã dành cho chúng tôi những ngày ấy.


 


Khi đài truyền hình giới thiệu về hai quyển sách của tác giả Mã Thiện Đồng, con gái tôi tức tốc mua ngay mang về, mẹ một quyển, con một quyển. Mẹ con tôi đọc say sưa, đọc quên thời gian, quên cơm nước, đọc rồi khóc, khóc rồi đọc và xúc động vô cùng. Ai cũng phải khóc, huống chi chúng tôi là người đồng đội đã được ông cứu trong trận càn Xêđaphôn, đã biết ông từ trước mà lại thấy sau đó những gì đã xảy ra khi ông bị bắt, bị tra tấn cưa chân đến sáu lần mà vẫn không khai.


 


Nguyễn Văn Thương, ông là con người như thế đó. Thật là một người đáng kính trọng biết bao.


 


Một lần nữa, tôi xin được mạnh dạn làm một việc là thay mặt trước hết cho gia đình tôi, sau đó cho bạn bè, cho đồng đội của tôi, những người đang sinh sống nơi này, nơi khác và hương hồn của những anh những chị, những người đã nằm lại nơi địa đạo trong cuộc càn Xêđaphôn đầy ác liệt của ngày ấy để bày tỏ lòng biết ơn đối với tác giả Mã Thiện Đồng, người đã bắt nhịp cầu cho chúng tôi gặp lại đại ân nhân của mình. Còn hơn thế nữa, tác phẩm như là một thông điệp đầy sức sống đối với thế hệ hôm nay và mai sau về lòng yêu nước của dân tộc ta, mà trong đó anh hùng Nguyễn Văn Thương là hiện thân, là nhân chứng sống cho chân lý đó.


 


Cuối cùng, xin chúc tác giả thành đạt để cho ra đời nhiều tác phẩm hay và đầy xúc động hơn…”


                                                                        Người viết: Hồ Thị Kim Ngân                                


                       Ban Tuyên huấn tỉnh Bình Dương trong trận càn Xêđaphôn


                                    CUỘC GẶP GỠ SAU 40 NĂM


            Hôm nay, giữa rừng cao su xanh bạt ngàn của miền Đông Nam Bộ, một cuộc hội ngộ lịch sử giữa Anh hùng tình báo Nguyễn Văn Thương và đồng đội ngày xưa, sau vừa tròn 40 năm từ ngày trận càn Xêđaphôn xảy ra. Những chàng trai cô gái mười tám hai mươi, những người chiến sỹ trẻ có mặt trong trận càn ngày ấy, (tháng 1- 1967), người còn sống nay đã tóc bạc da mồi và chỉ còn đếm trên đầu ngón tay, nhưng kỷ niệm thì không thể nào quên. Họ đang ngồi kể lại những hồi ức về trận càn Xêđaphôn Những mái đầu điểm bạc, những dòng nước mắt nghẹn ngào của niềm vui và cả những kỷ niệm còn nhoi nhói trong tim. Chị Năm Thu ôm lấy vai anh Thương, nắn đoạn đùi còn lại của anh nói trong nước mắt:


            - Trời thần đất ơi! Anh Hai anh còn sống được như thế này ư?


Chị khóc nấc, rồi nghẹn ngào:


- Sau hòa bình, em mới nghe tin anh bị tra tấn cưa hết hai chân, vậy mà đến giờ còn sống được như vầy này trời! Anh Hai có nhận ra em không?


 


            - Có chứ sao không, quên sao được Năm Thu và cái bụng bầu khi chui xuống địa đạo, tôi phải lấy dao khoét miệng hầm thêm ra đó.


 


            Chị Năm vừa chùi nước mắt nước mũi, vừa gọi to:


 


            - Thật ơi! Thật ơi ra đây, con lạy ông Hai Thương và gọi là ba đi con!


 


            Vừa dắt tay con, vừa lắc vai anh Thương, chị Năm cười:


 


            - Anh Hai, cái bụng bầu của em hồi đó đây này, nếu không có anh cứu, đưa thoát ra khỏi vòng vây của trận càn Xêđaphôn ngày ấy thì em đâu còn sống để sanh ra nó. Nó đây anh Hai, nay vừa tròn 40 tuổi rồi đó!        


 


            Cậu Thật cũng xúc động theo mẹ, cậu chắp hai tay:


 


            - Con thưa ba!


 


            Cậu nghẹn ngào, mặt đỏ bừng vì những điều mới lạ. Cậu đã nghe cha mẹ kể chuyện nhiều về ông Hai Thương nhưng hôm nay mới được chứng kiến. Trong cuộc sống đơn giản bấy lâu nay với rừng cao su, với công việc chăm sóc và cạo mủ, rồi những mùa thất bát, thắng lợi, lên bổng xuống trầm của vườn cao su, rồi những năm đổi mới kinh tế, cuộc sống ngày càng khá lên, cậu vẫn là người con của rừng cao su miền Đông Nam Bộ chân chất hiền lành. Thật khó có thể tưởng tượng nổi người thanh niên trai tráng cao to hiền lành này lại chính là cái bụng bầu của chị Năm Thu trong trận càn Xêđaphôn bốn mươi năm về trước.


ĐÔI DÒNG MUỐN NÓI


            Đọc được lá thư của Hồ Thị Kim Ngân mà tôi gọi thân mật là nhỏ Ngân tôi cũng rất xúc động. Các chị, các anh trong trận càn Xêđaphôn ngày ấy còn nhớ như in những gì đã xảy sau 40 năm. Đó chính là những kỷ niệm sâu sắc nhất đời tôi, không bao giờ quên. Nay chúng tôi được gặp lại nhau sau bao nhiêu năm, thật là điều kỳ diệu. Chỉ rất ít người còn sống đến ngày nay, chúng tôi đều có ý nguyện nhờ chị Đồng viết lại những gì chúng tôi đã sống đã trải qua trong trận càn Xêđaphôn, vì tôi biết chị Đồng là người có tâm quyết, có tấm lòng và có duyên với những chuyện về thời chiến tranh. Đây là chuyện thật do chúng tôi kể, rất mong được anh em bạn bè và lịch sử biết đến để chia sẻ với chúng tôi.


TP. Hồ Chí Minh 4 - 2007


Nguyễn Văn Thương


Thiếu tá tình báo, Anh hùng LLVTND


LỜI KẾT


Tôi viết khi được nghe chính những nhân chứng lịch sử đang sống ở Bình Dương ngày nay kể chuyện. Tôi muốn viết để các thế hệ sau hiểu biết thêm về những người dân Miền Nam dũng cảm chiến đấu và hy sinh bảo vệ quê hương đất nước như thế nào cho có ngày hòa bình tự do hôm nay; cho thế hệ trẻ học tập và phát huy truyền thống anh dũng, đạo đức cách mạng, sự chịu đựng gian khổ hy sinh của lớp cha ông đã viết nên trang sử hào hùng của dân tộc Việt Nam trong cuộc chiến tranh giành độc lập hoà bình cho tổ quốc.


Tôi mong cuốn sách này góp một phần nhỏ bé trong việc tìm hiểu sự thật lịch sử cho thế hệ mai sau.


Xin được cám ơn Ban Tuyên giáo tỉnh Bình Dương, Phòng Khoa học Lịch sử Bộ chỉ huy Quân sự TP. HCM, Anh hùng tình báo Nguyễn Văn Thương, anh Út Ý, (Anh Út Ý sau này là Bí thư Huyện Uy huyện Bến Cát nhiều năm, nay đã nghỉ hưu), chị Hồ Thị Kim Ngân, Chị Năm Thu, anh Thái Thành Công, Chị Châu, Chị Hoa… cháu Thật đã giúp đỡ tôi hoàn thành cuốn sách này. 


 Tp. Hồ Chí Minh năm 2006


Mã Thiện Đồng 


Nguồn: Bóc vỏ trái đất. Ký. Mã Thiện Đồng. NXB Văn học, 2007.


www.trieuxuan.info        


 


                       


 


 


bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Phùng Quán: "Có những lúc ngã lòng/ Tôi vịn câu thơ mà đứng dậy" - Trần Thanh Phương 21.09.2018
Bội Trâm – Người đàn bà bất chấp tai ương - Ngô Minh 19.09.2018
Một chuyến làm báo ở Tây Nguyên - Thanh La 19.09.2018
Gián điệp quốc tế - Vũ Thư Hiên 07.09.2018
Ba ngôi mộ không có nấm mồ - Hà Đình Nguyên 06.09.2018
Chiến tranh Việt Nam và trò chơi nguy hiểm của Phạm Xuân Ẩn - Nhiều tác giả 05.09.2018
Hồ Chí Minh - Nguyễn Đăng Mạnh 05.09.2018
Nguyễn Khải - Nguyễn Đăng Mạnh 05.09.2018
Nguyên Ngọc - Nguyễn Đăng Mạnh 05.09.2018
Syria, bóng đá & chiến tranh - Nguyễn Thu Trân 29.08.2018
xem thêm »