tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 24052767
30.07.2018
Mã Thiện Đồng
Bóc vỏ trái đất (3)

 


GIÁP MẶT


 


            Tổ chiến đấu của đơn vị Huyện đội Bến Cát do anh Út Ý chỉ huy đã từng nhiều phen chống càn, chiến đấu giáp mặt với quân địch. Trong đường địa đạo ấy, du kích ẩn hiện khôn lường. Mấy ngày đầu khi trận càn xảy ra, tất cả đều rút và địa đạo tránh bom. Ở dưới hầm trú quân, đêm tối, du kích vẫn bò lên quan sát, liên lạc nắm tình hình các cơ quan, sang đến ngày thứ ba, bom đạn đã làm đứt liên lạc hết, các đơn vị độc lập tác chiến, mạnh đơn vị nào đơn vị ấy đánh. Mạnh tổ nào tổ ấy tìm kiếm cách đánh. Đêm thứ ba, chứng kiến cảnh khu vực kho dự trữ và cơ quan Hậu cần 83 bị bom phá nát, hàng chục người của đơn vị núp trong hầm, trúng bom tan tành, thi thể anh chị em lẫn theo đất đá, lá cây. Mấy chiến sỹ bò tới tận nơi, chứng kiến cảnh tan nát mà đau lòng, anh em ra sức thu gom cũng chỉ được vài mảnh thi thể, không thấy được một xác người còn nguyên vẹn. Lương thực chất đống trong kho mới được thu hoạch về mấy ngày nay, trúng bom tan tác, còn lại bao lúa nào thì bị lính phụt súng phun lửa đốt cháy hết. Mùi khét cháy, mùi khói bom, mùi hôi thối tràn ngập cả khu vực. Gần hai chục người được cử xuống đây thu hoạch lúa, coi kho, vận chuyển lên R, không biết ở ngăn hầm địa đạo nào, có ai còn sống trong lòng đất mà không còn ra được nữa!


 


Ngay từ ngày đầu, đơn vị Út Ý đã tìm ra cách đánh, đánh để bảo vệ các cơ quan, đánh để mà sống, nhưng bom thả suốt đêm ngày ác liệt quá, mọi người còn nằm im trong hầm tránh bom. Sang đến đêm thứ ba, anh em đã được phân công mỗi người một nhiệm vụ: cài mìn chống tăng, cài trái DH10 quanh khu vực cơ quan huyện Bến Cát theo các hướng mà xe tăng địch có thể tiến vào, sẵn sẵn trên đường “đón” chúng. Chừa lại một hướng chúng ta để trống không gài trái, phòng khi phải rút quân.


 


 Yên tâm ngồi trong địa đạo, anh em chờ nghe tiếng nổ nhưng chờ mãi đến 9 giờ sáng vẫn , Anh Út nóng ruột, liền bò lên miệng địa đạo quan sát tình hình. Vừa ghé mặt nhìn lên, bất chợt thấy ba tên lính Mỹ to lù lù đứng nghênh ngang ngay gần, cách chừng chưa đầy 10m, xe tăng chúng cũng đậu ngay đấy. Hoá ra chúng hành quân vào trúng ngay đường ta không gài mìn. Nó đã ở ngay trung tâm cơ quan huyện. Gọi là cơ quan nhưng không có trên mặt đất mà ở dưới hầm địa đạo.


 


 Ngay gần những tên Mỹ đứng có hai tên khác đang ngồi dưới bóng cây trứng cá nghỉ mát, xung quanh vứt la liệt những vỏ đồ hộp, vỏ lon bia. Tụi nó ngồi ngay trên đầu mình nghỉ dưới bóng cây ăn uống, trong khi ấy anh em lại cứ ngóng tai chờ mìn chống tăng nổ. Không nhẽ ta tụt xuống, núp sâu dưới địa đạo, để chúng tự do làm mưa làm gió trên này mãi, gặp đây hãy cho chúng nó biết tay đã. Út Ý quay lại nói nhỏ:


 


- Tụi nó tràn vô đúng đường mình chừa ra không gài trái, đâu có hay nó vào tới nơi, cứ tưởng nó sẽ trúng mìn khi hành quân vào đây. Bây giờ DH10, mìn chống tăng gài hết phía ngoài rồi, nay chúng ngay trên đầu, ta phải hạ gọn mấy thằng này, cho chúng biết tay mới được. Ta phân nhau ba người cùng nổ súng một lúc. Tôi bắn hai thằng ngồi, hai đứa bắn ba thằng đứng, tôi hô bắn là nổ súng nha, chuẩn bị súng xong chưa?


 


            Tụi lính Mỹ vẫn không hay biết gì, tên ngồi dưới bóng cây chắc là sỹ quan, đang nốc bia ừng ực, ba tên lính đứng vẫn nhởn nhơ ngắm nhìn mây gió. Tụi này không thể ngờ, nay cạnh đây, chỉ cách chúng có gần chục mét đang có những họng súng, mà nếu mũi chúng cũng tinh như mũi bécgiê thì chúng đã ngửi thấy mùi Việt cộng ngay gần rồi.


 


            Anh Út hô nhỏ:


 


- Chúng mày phải đền tội, nhằm chính xác…!


 


- Bắn!


 


Những phát đạn cùng nổ giòn, ba tên lính Mỹ đang đứng ngã hết xuống tại chỗ, hai tên ngồi cũng gục xuống, anh em vội biến nhanh vào đường địa đạo. Anh Út còn nán lại quan sát tình hình trước khi kéo nắm hầm, thấy lính Mỹ la ôi ối, tốp lính gần đấy chay qua chạy lại, nổ súng loạn xạ, xúm chạy lại chỗ xác Mỹ nằm kêu la rầm rĩ.


 


Cuộc càn này toàn lính Mỹ, Mỹ đổ quân càn quét cả khu vực, Mỹ trực tiếp xăm moi đào bới hầm hào, Mỹ bắn không chừa người nào sống sót. Còn quân nguỵ chỉ ở vòng bìa ngoài, trực sẵn, tiếp tục bắn giết khi còn người nào sống sót, chịu không nổi trong vòng vây mà chạy thoát được ra ngoài. Đây là một trận càn huỷ diệt tàn khốc. 


 


Tại hầm địa đạo cua đơn vị Hậu cần 83, sau những trận mưa bom pháo lửa của Mỹ, các kho lương thực trúng bom tan hết, cả sáu bảy người coi kho cũng hy sinh. Đất vẫn che chở cho người, người bám chặt đất qua được trận bom mấy ngày đầu, nhưng ngày thứ ba, xe ủi đất xới tung, phát hiện miệng hầm, chúng tập trung quân vừa ủi, vừa thải lựu đạn, trái ngạt vào các cửa hầm. Cả đơn vị gần hai chục người đang về tập trung thu hoạch lúa, hy sinh gần hết. Có những hầm địa đạo, xe ủi không tới, nhưng bề mặt của hầm đã bị xới tung cào mỏng, xe ủi, xe tăng hạng nặng lăn qua, cà lại, hầm sập, sập trúng người chết, hoặc hầm sập vít đường, vít lỗ thông hơi, người ở dưới ngạt thở không đủ sức đào ra, cả hầm không còn ai sống! Mà dù có còn người chạy ra thì các họng súng của lính Mỹ trực sẵn, không tha người nào, chúng lia hàng băng đạn, không chừa một ai sống sót.


 


Ở vòng ngoài, bọn nguỵ tinh ranh hơn, chúng xăm khui được hầm nào, bắt sống người lên, tra hỏi bắt khai nơi có hầm địa đạo, nếu không thu được kết quả, chúng cũng bắn luôn không thương tiếc. Dù biết người đó là dân, dù là đàn bà dù là trẻ nít cũng bắn chết, với phương châm “thà bắn nhầm còn hơn bỏ sót”


 


 


 


DH10 “BẮN” MÁY BAY


 


Quan sát mất ngày liền, Thương thấy cứ khoảng bốn năm giờ chiều, tại bãi đất rộng góc sân banh của trẻ nít, khi cụm lính Mỹ đã hạ trại dựng lều bạt xong, máy bay trực thăng tải rà tới phun mưa xuống. Lính Mỹ trần như nhộng hò hét tắm mưa, chừng một lát, ngưng phun, lính trà xà bông, lại tiếp tục mưa từ trực thăng xuống xả sạch, rồi sau đó trực thăng thả đồ hộp, sau cùng đến thả gái xuống. Đúng là lính công tử, lính nhà giàu Mỹ, đi đánh trận mà vẫn sướng như vua, không thiếu thốn thứ gì. Sướng quá thì làm gì có ý chí, có nghị lực, tinh thần. Nội cái khoản sức chịu đựng, lăn lộn trên chiến trường và tinh thần quyết chiến đấu dám hy sinh thì lính Mỹ làm sao có thể sánh được với quân Giải phóng. Chúng ta hãy xem anh em du kích sáng tạo ra cách đánh thần kỳ như thế nào!


 


Từ nghiên cứu hiện trường, Thương đã nảy ra cách đánh đặc biệt. Thương bàn với anh em trong tổ:


 


- Chiều mai ta đánh trận này, dùng DH10 đánh máy bay.


 


- DH10, mìn định hướng sao đánh máy bay được anh Hai?


 


- Tao có cách rồi.


 


Đêm hôm ấy, theo đúng kế hoạch tính toán, Thương bò lên mặt đất, trèo lên ngọn cây dầu, một cây dầu cao còn lơ phơ vài cành ngay sát khu vực “bãi tắm”, anh cột chặt trái DH10 vào ngọn cây, hướng trái cho nổ lên khoảng trống, nơi mà máy bay hạ thấp cỡ hơn chục mét phun nước, dòng dây điện theo thân cây, lấy bùn trét và vín cành lá nguỵ trang cả mìn lẫn dây, ròng về tới cửa hầm. Hai trái DH1O được Kiển và Đo bò vào cài đặt sát gần lều trại quanh bãi trống mà lính Mỹ sẽ tắm. Cả ngày hôm ấy, các anh hồi hộp đợi chờ giờ nghỉ tắm của Mỹ mà cồn cào, lo lắng. Không biết hôm nay chúng có tắm như mọi bữa không, lo mìn và dây bị phát hiện, giữa ban ngày thế này, nhỡ lộ thì mất toi mấy trái DH10. Rồi đánh xong tất nhiên chúng sẽ nã bom, pháo đạn xuống căn cứ hầm địa đạo của ta, rồi cuộc rút lui có an toàn không! Bao nhiêu vấn đề đặt ra trong đầu khi những giây phút chờ đợi kéo dài. Nhưng ý chí và tinh thần bị lôi cuốn vào trận quyết đánh táo bạo sắp tới khiến các anh tỉnh táo minh mẫn hơn bao giờ hết. Thời khắc hành động rồi cũng đến. Thương phân công:


 


- Tao cho nổ trái trên cây, 5 giây sau Kiển cho nổ trái thứ hai, rồi đến Đo cho nổ trái thứ ba, xong rút lui. Vũ khí sắp cạn rồi, trận này ta để giành không sài AK và lựu đạn.


 


Kia rồi, phía xa đã có tiếng trực thăng xuất hiện. Ba chiến sỹ hồi hộp quan sát chiếc trực thăng hạ dần dần, phun nước. Lính Mỹ hò reo sung sướng, cởi văng tất cả quần áo, tồng ngồng chạy ra hứng nước mưa, giơ tay hỉ hả há mồm đón nước phun xối xả.


 


- Cho nổ đi anh Hai!


 


- Chờ đã.


 


Thương nói nhỏ:


 


- Để bọn này trà xà bông xong, sẽ đông hơn, máy bay sẽ xối nước cho bọn này xả xà bông lúc đó mới đánh.


 


Nhìn cả bầy lính Mỹ đông đúc đang trà xà bông, những thân thể to cao lực lưỡng, trần truồng trắng ngồn ngộn. Thương cảm thấy lòng se sắt, nhói nhói một cảm giác khó tả. Những con người này cũng là da là thịt, máu đỏ da mềm, tại sao nó tàn ác thế, nó giết hại bà con dân lành, giết đồng đội chúng ta không biết gớm tay, cả những cô gái trẻ giúp vui cho bọn chúng, chúng cũng giết hại như loại bỏ như những vỏ đồ hộp không thương tiếc, chúng không còn tính người, và bây giờ, những thân thể trắng ngồn ngộn này lại đang chuẩn bị phải đền tội. Lại máu chảy lênh láng, lại thịt nát xương tan, ôi chết chóc. Bỗng anh rùng mình! Chiến tranh thật là tàn khốc, đổ máu chết chóc là không thể tránh khỏi. Mình chết nhiều, họ cũng chết! Chỉ có hoà bình, Thương ước ao bao giờ có hoà bình, sẽ không còn cảnh chết chóc, đổ máu và tàn phá, Muốn có hoà bình, ta phải chống trọi và giành giật từng phút từng giờ, như lúc này đây, ta phải loại trừ kẻ đã gây chiến tranh xâm lược, gây tội ác đẫm máu, lại phải lấy máu trọi với máu mới có hòa bình.


 


Đúng lúc chiếc máy bay đang xả nước và đoàn người ở dưới đang ngửa mặt chen chúc nhau giành nước, kỳ cọ vò đầu cười  hô hố xì xồ, la hét, Thương cho chập ngòi nổ. Trái DH10 trên ngọn cây nổ ầm… vang động, đúng theo dự định, nó nổ và hướng những mảnh bi mảnh gang thép lên phía chiếc máy bay đanh trụ lại gần đấy phun nước xuống. Loại DH10 trái mìn định hướng do chúng ta tạo ra bằng 10 kilôgam thuốc nổ và găm vào đó hàng mấy trăm mảnh sắt thép và các viên bi lấy được từ những trái bom bi điếc của Mỹ, nhồi nặt chế tạo ra, thật hữu hiệu. Xưa nay chỉ có bắn máy bay bằng đủ các loại súng, chưa ai thấy trái mìn DH10 lại bắn hạ máy bay bao giờ. Vậy mà nay tổ chiến đấu của Thương sáng tạo một cách đánh lạ lùng như thần thánh, thật kỳ lạ.


 


Trái DH10 đã cho hàng trăm mảnh găm vào chiếc máy bay đang phun mưa, nó bốc khói xẹc lửa, rồi rơi ngay xuống đám lính Mỹ đang tắm đông nghẹt ở dưới và bốc cháy ngùn ngụt. Tiếng DH1O thứ hai, rồi tiếng thứ ba nổ bồi theo, không biết có bao nhiêu những tấm thân trần chuồng bị dính miểng. Chỉ thấy có tiếng la ối khóc rống và những tiếng kêu gào nhỏ dần. Hai chiếc trực thăng sau kế tiếp toan hạ độ cao thả đồ hộp và các cô gái xuống, vội vàng ngóc đầu lên, bay đi thẳng. Chọn thời khắc đánh này, Thương có ý định cứu hàng mấy chục những cô gái Việt làm nhiệm vụ hỗ trợ tinh thần cho lính Mỹ sắp phải chết oan uổng vô tội cùng với lính Mỹ đầy tội ác ở chiến trường Nam Bến Cát, giữa trận càn Xêđaphôn này.


 


Quan sát lính Mỹ thu gom mặt trận, cứ thi thể là chúng cuộn bọc nilông bó chặt đặt trên cáng khênh lên máy bay, còn tên nào bị thương, cho nằm trên cáng, cũng khênh lên máy bay chở về căn cứ. Ngay sau đấy, pháo bom nổ tứ tung xuống quanh khu trận địa, đạn lửa, pháo sáng rần trời, hàng tiếng đồng hồ sau mới thấy trực thăng hạ cánh và cả sáng hôm sau nữa, với công việc chuyên chở các băng ca. Từ các điểm quan sát, ta còn nhìn thấy không biết bao nhiêu là cáng khênh lên máy bay, cái thì bọc ni lông quấn kín, cái không bọc, hết chuyến này tới chuyến máy bay khác.


 


Địch lồng lộn điên cuồng vì những tổn thất. Chúng đã đinh ninh Việt cộng bị tiêu diệt sạch sẽ, sức đâu, vũ khí đâu còn tồn tại sau trận mưa bom pháo huỷ diệt và những xe ủi xe tăng xới tung tìm kiếm “đến một con chuột cũng không chạy thoát.” Tưởng rằng có thể “ăn sống nuốt tươi một nhúm người ăn lông ở lỗ”, vậy mà không ngờ lính Mỹ phải trả bằng cái giá đắt. Cái vùng Tam giác sắt này quả là vùng đất thép rắn như sắt quái quỷ không dễ nhai! Cũng như cái mảnh đất miền Nam Việt Nam nhỏ bé này từ khi quân Mỹ đổ vào, tưởng rằng dễ ăn, ai ngờ đâu toàn chết chóc và thương vong. Từ lá cây, cành tre, từ con ong, con kiến con muỗi cái gì cũng có thể làm lính mỹ chết được. Không biết những người đứng đầu nước Mỹ có thể tưởng tượng ra những cái chết ngập ngụa sa lầy của lính Mỹ ở đây và vũ khí hiện đại Mỹ trước những con người bằng thép, đất cũng bằng thép và cả những loại vũ khí tự tạo ở miền Nam Việt Nam, các loại vũ khí kỳ lạ mà không có một cuốn từ điển vũ khí quân sự nào trên thế giới đã biết tới. Ngành khoa học chế tạo vũ khí cũng phải sửng sốt ngạc nhiên.


 


 Chiến tranh đã làm cho cuộc sống con người kiệt quệ về vật chất nhưng chiến tranh cũng làm cho con người ở đây dày dạn, kinh nghiệm và cứng rắn lên rất nhiều về tinh thần. Tinh thần ấy xuất phát từ lòng yêu thương con người, yêu quê hương đất nước và lòng căm thù tội ác. Chiến thắng của vũ khí hiện đại có thể hữu hiệu một phần, nhưng dù có hiện đại và phong phú đến đâu cũng không thể thắng nổi một loại vũ khí vô hình, đó là vũ khí tinh thần. Ở đây, ngay mặt trận này, trong trận càn “bóc vỏ trái đất” này chúng ta đang thấy điều đó.


 


 


 


BƠM NƯỚC XUỐNG ĐỊA ĐẠO


 


            Ngày thứ tám của trận càn, trời mới tờ mờ sáng, Hai Thương đã bò lên mặt đất trinh sát. Ngồi trên một nhọn cây to đã bị bom xén gần trụi cành lá, anh phóng tầm mắt nhìn bốn phía, trại lều đóng quân của lính Mỹ cách đấy chừng vài trăm mét vẫn còn im lìm trong sương sớm. Bỗng Thương nhìn thấy có hấp thoáng bóng người từ phía bìa kênh xa xa, Thương đưa ống nhòm lên quan sát, phát hiện ra một dấu hiệu mới. Bọn này đang làm gì mà rất lạ, hai ba thằng một, chạy lăn những cuộn gì to bành, rải chạy dài trên mặt đất. Một thoáng sau, Thương nhận ra việc bọn này đang lăn những ống nước, không nhẽ chúng bơm nước dưới kênh lên cho lính sài, bọn lính công tử này đâu có sài nước này. Nước sông Thị Tính nhánh của sông Sài Gòn hẳn có chứa cả thuốc độc hóa học do chúng rải xuống. Vậy chúng rải ống nước làm gì? Chúng đang làm gì đây? Dọc theo bờ kênh, có đến hàng chục tốp người đang ra sức kéo ống nước về phía bìa rừng. Thương chợt nghĩ ngay tới việc chúng chuẩn bị cho việc bơm nước vào hầm địa đạo.


 


Khi đào hầm, chúng ta cũng đã nghĩ tới tình huống này. Đội quân chuyên nghiệp đánh trong lòng đất của Mỹ cũng khá nhiều kinh nghiệm đánh hầm, nước sông Sài Gòn không thiếu, máy bơm Mỹ lại quá nhiều, vậy phương án đánh này của chúng cũnh không có gì là mới lạ, nhưng trong tình hình này thì thật là một điều nguy hiểm. Bom đạn làm xáo trộn tất cả, giao thông liên lạc khó khăn, nhiều đoạn hầm địa đạo bị cày xới không còn liên mạch, phải chuẩn bị đối phó ngay. Thương nhanh chóng nhảy xuống, lao vội xuống địa đạo, cùng tổ điện đài vận hành máy, báo tin gấp lên cấp trên. Ngay lập tức, Thương nhận được lệnh:


 


- Tìm mọi cách báo tin cho các đơn vị, khẩn trương lập vách ngăn cách chống nước vào địa đạo. A36 phải bảo vệ bằng được điện đài.


 


Mấy ngày trước, chúng đã phát hiện một số cửa hầm và những khúc địa đạo, chúng đã dùng đủ cách thức xăm moi thải lựu đạn, đạn cay, xịt hơi ngạt. Đến lúc này chúng thực hiện biện pháp bơm nước vào địa đạo để tiêu diệt những người còn sống sót đang chui sâu trong đó. Nếu nước tuôn vào cứ dâng lên trong địa đạo, nếu nước bít kín cửa hay lỗ thông hơi thì tính mạng những người trong đó sẽ ra sao? Một là phải chịu chết, hai là phải trồi lên mặt đất …


 


Tổ chiến đấu của A36 vừa phải cử ba người lập tức đi báo cho các đơn vị để kịp đối phó, vừa chia nhau đào moi đất lập vách ngăn nước ngay lập tức. Nhận được tin khẩn cấp, các đơn vị dồn tất cả sức lực vào việc lấp vách ngăn. Bao đất dự trữ, đào bới, dồn về ngăn bên này để dành ngăn bên kia chứa nước. Phải đóng kín cửa và lấp hết mọi đường qua lại giữa hai ngăn, chia khúc địa đạo, thật nhanh tay thật khẩn trương dồn cuốc xẻng vào việc đào đắp.


 


Đơn vị tình báo còn phải khẩn trương hơn vì ngoài việc bảo vệ sinh mạng, còn nhiệm vụ bảo vệ điện đài, bằng mọi giá không được để điện đài ngập nước hoặc nước rò rỉ vào. Mấy anh em ra sức người đào, người đắp, người nện không ngơi nghỉ, nằm bò vừa nhoai, vừa đào, mồi hôi bết cùng bùn đất, bụng đói cồn cào lép ruột, chân tay có lúc rã ra đuối sức, nhưng ai cũng mím chặt môi, dồn hết nghị lực tinh thần vào công việc. Bởi ai cũng hiểu lúc này thời gian quý từng giây từng phút, phải giành giật sự sống với kẻ thù bởi khi nước ùa vào mà chưa đắp xong thì không còn gì nữa cả. Công lực lúc này được sinh ra từ ý chí, năng suất công việc của mỗi cánh tay bằng cả chục lần ngày thường, hơn cả lúc không đói. Lấp được, ngăn cách được mọi đường hào ăn thông giữa hai ngăn là quan trọng. Nhưng nếu để chỗ lấp hàn đó bị bung ra, hoặc bị rò rỉ sẽ là cái tội không thể nào hối cải hay tha thứ được, nên anh em cố sức làm cho thật chắc.


 


 Thương vừa chêm chặt đất vào các khe bao đất, đóng cọc giữ các tấm ván vừa nghĩ tới những căn hầm địa đạo của các đơn vị bạn, không biết họ đã ngăn xong chưa, có kịp không, có chắc chắn không, liệu những vách ngăn vội vàng này có đủ sức chặn dòng nước quái ác lại không. Còn đơn vị nào không nghe báo tình hình, không hay biết gì việc chúng sắp bơm nước vào địa đạo! Lòng anh đau thắt lại, cuộc chiến tranh tàn khốc này đã giết hại bao nhiêu sinh mạng con người? Nếu như dòng nước kia ập vào, ai có thể thấy được chúng ta đã hy sinh ra sao, những cái chết im lìm bí ẩn, thảm thương, im lặng trong lòng đất. Chúng ta là những ai, những người con của nhà nông, gắn chặt với ruộng đồng bao đời nay, bom đạn Mỹ đến huỷ hoại, chúng ta tự nguyện dũng cảm chịu đựng gian khổ, cầm súng chống trả, chặn bàn tay đẫm máu của giặc. Chúng ta hy sinh để giải phóng quê hương, với khát khao được sống hoà bình. Nhưng lúc này đây, cuộc chiến tranh tàn khốc quá, cái chết và sự sống đang gần trong gang tấc! Các hầm địa đạo cũng đang giành giật thời gian với tình huống căng thẳng từng phút từng giây. Thương động viên:


 


- Cố lên các đồng chí ạ, chúng ta sẽ phải vượt qua thử thách này!


 


Bỗng có tiếng gì ồm ồm ẹc ẹc vọng xuống, nghe một lúc một rõ, hoá ra chúng phóng loa điện từ trực thăng:


 


- …Hỡi anh em cán binh Việt cộng, các bạn đang như những con chuột nằm trong hang, chúng tôi là những người bắt chuột, đã biết rõ chỗ ở của các bạn, trong vòng nửa giờ đồng hồ nữa, nếu các bạn không lên đầu hàng, chúng tôi sẽ cho bơm nước ngập hết các địa đạo. Lúc đó các bạn có muốn cũng không còn kịp ngoi lên, vậy các bạn hãy lên ngay bây giờ, chính nghĩa quốc gia sẽ khoan hồng cho các bạn được trở về với gia đình vợ con anh em… Chúng phát đi phát lại liên hồi.


 


Kiển nói to:


 


- Còn ba mươi phút nữa, thời gian đang ủng hộ chúng ta, đủ thời gian cho ta ngăn lấp chắc chắn hơn. Nếu hầm nào không nhận được tin báo trước rất có thể còn kịp lấp ngăn địa đạo. Bọn này khôn mà vẫn ngu thấy mẹ, bay báo trước nửa giừa, đủ cho chúng tao ngăn hầm. Làm gì có chuyện quân giải phóng phải ngoi lên đầu hàng tụi bay. Hãy xem chúng bay bắt chuột dưới hang được không, chuột nó mới ngoi lên, còn chúng tao lại là người, chúng tao không biết đầu hàng.


 


Người trong địa đạo lại hối hả đào cuốc, truyền tay nhau từng bao đất, truyền cho nhau những đồ đạc mảnh gỗ mặt ghế, tất cả những gì có thể chắn ngăn dòng nước sắp ùa vào. Tiếng loa vẫn lải nhải kêu Việt cộng hãy lên đầu hàng. Càng khó chịu với tiếng loa điện ấy, anh em càng gắng sức, tiếng loa như thúc giục công việc trong lòng đất đồn dập khẩn trương hơn, kỹ lưỡng hơn, chắc chắn hơn, bao nhiêu đói mệt như tiêu tan hết. Giữa lúc nguy nan sống còn này, sức mạnh tinh thần và ý chí như trỗi dậy, dồn lên đôi tay bới đào dẻo dai, mạnh mẽ còn hơn lúc khỏe.


 


Khi dòng nước đầu tiên xối xả tuôn xuống, mọi người sững sờ mệt mỏi rã người nằm vật ra thở dốc.


 


Trên thế gian này đã có loài ác quỷ ăn thịt người, đã có loài ác ôn khét tiếng giết người hàng loạt theo kiểu văn minh như vậy đấy. Nó cũng bơm nước vào hầm chứa hàng trăm người trong thành phố, chết không còn một người, ở cuộc chiến tranh thế giới lần thứ hai. Giờ đây, hàng ngàn lính Mỹ cũng đang reo hò, chúng say sưa hài hòng ngắm nhìn cái công trình hợp tác quân sự Mỹ -Việt. Chúng đinh ninh đến giờ phút này hẳn sẽ không còn một tên Việt cộng nào sống sót. Chúng khoái trá, khui Côca, khui bia ngửa cổ nốc ồng ộc trước các cửa hầm nước đang sôi lên ùng ục ùng ục nước cuốn xoáy vào trong lòng đất.


 


Trong các hầm địa đạo, nước ào vào vách đất, nước liếm mất cả mảng hầm, những ngăn để chứa nước ngập dần, ngập dần, ngập lút hết. Anh em sững sờ, không khỏi lo cho vách ngăn liệu có chịu đựng được bao lâu. Liệu các anh em đồng chí ở hầm khác có bị nước vào, có đắp, có ngăn kịp thời không? Không biết có hầm nào, địa đạo nào, có người đang nằm im trong hầm đầy nước! Những vách ngăn này khi gặp nước, dễ có thể nhão ra, ụp nước. Còn hầm tài liệu, điện đài, hầm của những anh em bị thương khi chiến đấu, hầm của những con người đã mấy ngày nay không có miếng gì vào bụng! Những tổn thất đau lòng quá!


 


Kinh nghiệm đào hầm, đào địa đạo cũng đã được chú ý tới một khi ngập nước hay địch bơm nước xuống, nên cũng không dễ xơi ngon như địch tưởng, không dễ dàng gì nước có thể tuôn xuống hết địa đạo. Cái khó bó cái khôn, anh em du kích đủ tài trí đương đầu với mọi điều kiện xấu nhất có thể xảy ra. Tuy vậy, không phải hầm nào vách ngăn cũng đứng vững, và không phải tất cả các hầm địa đạo đều biết trước mà chuẩn bị, rồi không phải hầm nào cũng tránh được nước xối vào. Hy sinh tổn thất trong việc địch bơm nước vào địa đạo làm sao có thể tránh khỏi.


 


 


 


LÁ THƯ TRONG VÒNG VÂY


 


Đến ngày thứ chín của trận càn anh em các hầm ai cũng đuối sức hết cả vì vừa vận lộn chống càn, đánh địch vừa chịu đói. Hầm của Thương nay còn thêm ba đồng chí ở đơn vị khác chạy sang. Các anh này sống sót sau khi chúng ủi dũi vừa lúc sập hầm, may sao xe ủi vừa dũi tung cạnh hầm địa đạo thì một bụi tre già rất lớn, đổ bật gốc nằm đè lên. Hầm gần lộ thiên nhưng có bụi tre cứu mạng, xe chúng không húc vào bụi tre đã bị bật hốc, nên anh em nằm im trong căn hầm tróc nóc, có bụi tre già nằm trên. Đêm ấy, các anh moi đất, bò đi tìm địa đạo, nơi nào cũng bị cày xới tung, tìm mãi không ra, may mà lần mò được tới một ngách, và người của A36 dìu họ xuống hầm.


 


 Ba đồng chí đã mệt lả, Thương vội cho uống nước và nhai mấy miếng củ mỳ vừa lên moi kiếm được hồi đêm qua. Hỏi thăm được một số tin tức tình hình quanh khu vực, hai anh này đều ở cơ quan Tuyên huấn tỉnh Bình Dương, còn một anh giao liên đang đi công tác qua vùng, lạc trong trận càn, bị thương ở cánh tay, kịp chạy xuống hầm của cơ quan Tuyên huấn Bình Dương, nay thì ba anh cùng sang trú nhờ trong hầm đơn vị A36.


 


Người giao liên khuôn mặt còn rất trẻ, chừng mười tám tuổi, tuy mệt mỏi hốc hác xanh xao nhưng nét mặt vẫn ánh lên sáng sủa đầy bản lĩnh, cậu nói nhẹ, giọng khẩn khoản:


 


- Tôi đi giao liên, nhiệm vụ đã hoàn thành, nhưng còn một lá thư của một cán bộ gởi cho một người đang ở trong khu vực trận càn này, tôi nhờ anh giữ và có thể chuyển giùm, lỡ tôi có hy sinh!


 


Đồng chí cần chuyển thư cho ai?


 


- Tôi cần gặp anh Hai Thương.


 


Thương mừng quá, vội kêu lên:


 


- Hai Thương là tôi đây nè.


 


Anh giao liên mừng đến bất ngờ, cậu nhe hàm răng khểnh cười sáng cả khuôn mặt còn bám đầy đất cát. Ai cũng mừng vì sự tình cờ hãn hữu này. Trong ánh đèn pin lờ mờ mọi người háo hức không kém gì Thương, anh cầm lá thư dày đến mấy lớp phong bì, giấy đã sờn bụi đất loang lổ, nét chữ quen quen: Gởi anh Hai Thương…  Anh vội vàng mở ra đọc to, thư chiến trường mà, Thương reo lên:


 


- Cô Xuân, thư của cô Xuân, cô Xuân lâu quá rồi tôi không gặp!


 


Giữa chiến trận ác liệt gian nan như lúc này mà lại nhận được thư của cô, tình cảm trong anh dậy lên, người nóng lên, chắc ngoài trời nắng, mọi người đã thấy Thương đỏ mặt. Cô Xuân, người nữ tu, người bạn gái từ năm hoạt động ở miền cao su Xuân Lộc mà Thương đã cảm hoá để cô có cảm tình với cách mạng, đi theo cách mạng. Nay cô đang công tác ở Ban Tuyên huấn Bình Dương. Thương mừng quá, Xuân đã trở thành người hoàn toàn khác trước, cô vẫn còn nhớ đến anh với lời lẽ thân thương trìu mến. Xuân đã là người đồng chí của anh. Cô Xuân tiến bộ nhanh khiến cho Thương thật sung sướng tự hào. Lá thư như có phép lạ, không những Thương mà tất cả gần chục con người đang ngồi đây, nghe Thương đọc thư, nghe anh kể chuyện về người nữ tu như thế, từ nhỏ đến lớn ở trong trường dòng, một người rất thông minh, hiểu biết rộng, nay cô đã mang trí tuệ và sức lực của mình đóng góp cho cách mạng. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước này, từ nông dân, công nhân, từ thành thị đến nông thôn, khắp cả tới vùng xa hẻo lánh, dân ta đã nhận thức được con đường mình phải đi phải làm là tham gia hoạt động cách mạng giải phóng dân tộc, đánh đuổi quân xâm lược. Người có học thức như cô Xuân và những thanh niên nông dân đang ngồi quanh Thương đây, hiến dâng tất cả tuổi trẻ, tinh thần, công sức của mình cho cuộc kháng chiến, những ngày cam go gian khổ như lúc này đây, họ vẫn vượt qua tất cả, dân ta ai ai cũng một lòng hướng theo cách mạng như thế, lo gì cuộc kháng chiến này không thành công, thành công là chắc chắn. Bức thư của cô Xuân đã động viên tinh thần, lòng tin cho anh em trong địa đạo, như một món quà quý giá.


 


Riêng với Thương, anh xúc động và như có dòng máu nóng rần rần chảy trong người, ấm áp tràn đầy sung sướng, hồi tưởng và thương yêu. Cô Xuân, người bạn gái đầu đời với bao kỷ niệm bao cảm xúc, bao lần nhịp tim rạo rực, bao lần trò truyện giảng giải cho nhau nghe về cuộc sống, mà chưa có một lời bày tỏ nỗi lòng. Điều mừng hơn cả là bây giờ, cô Xuân đã tham gia cách mạng, là người đồng chí đồng hướng với Thương.


 


 


 


            CHUYẾN GIAO LIÊN TÌNH BÁO GIỮA TRẬN CÀN


 


Chiều ngày thứ 9 của trận càn, Thương nhận được điện của Cụm trưởng mật báo: “đồng chí Thương về ngay cơ sở làm nhiệm vụ”. Cơ sở mà Thương phải đến tận nơi lấy tài liệu là tại ấp chiến lược Mỹ Phước, gần về phía Sài Gòn. Nhiệm vụ quan trọng của cụm A36 vẫn là liên lạc thường xuyên qua điện đài và theo đúng định kỳ, Thương phải giữ đúng nhiệm vụ, vẫn đi về cơ sở để lấy tài liệu từ Sài Gòn chuyển ra.


 


Thương họp phân công anh em người nào việc nấy, nhất là công tác trực điện đài. Anh nói:


 


- Dù vòng vây trận càn có xiết ngặt cỡ nào, tôi cũng phải về Mỹ Phước lấy tài liệu, tôi chỉ đi trong vòng 24 giờ là sẽ quay về tới đây thôi.


 


Kiển hỏi:


 


- Anh Hai tính đi đường nào?


 


- Tôi sẽ băng qua cánh đồng An Thành.


 


- Không được đâu anh Hai, lối đó chúng đóng quân dày đặc, kiểm soát gắt gao, khó vượt vòng vây lắm, hay anh Hai bơi qua sông, sang Phú Hòa Đông rồi đi tiếp.


 


- Không nên, tôi đi thẳng Mỹ Phước ngay.


 


Trong đơn vị A36, ngoài thủ trưởng là anh Ba Hội biết Thương có vợ là Hai Em ở Phú Hòa Đông, là con rể của má Hai Kiều, còn lại không ai biết Thương đã có vợ. Đám cưới do Tổ chức đứng ra lo chỉ có thủ trưởng và Thương với nhà má Hai Kiều. Khi Hai Em có thai phải mang tiếng chửa hoang, thằng con trai mới sanh chưa có ba đứng ra. Hoàn cảnh chiến tranh, nhiệm vụ tình báo, bí mật ngăn cách, bao nhiêu gian khổ và chịu đựng, tất cả đã thành quen. Thương không thấy buồn và ân hận gì, ngược lại anh đang rất vui vì đã có một thằng con trai, hẳn ba má mình dưới chín suối cũng được hài lòng.


 


Mọi người đang lo cho anh, anh sẽ đi bằng cách nào, không thể đặt hy vọng vào các loại giấy tờ hợp pháp trong lúc này. Thương còn phải vượt qua bao lớp vòng vây của lính Mỹ. Hai chiến sỹ giao liên cùng lên mặt đất đưa chân Thương đi một đoạn và kết hợp làm luôn nhiệm vụ gài trái.


 


Thương lặng lẽ nhìn về phía ấp chiến lược Phú Hòa Đông, theo đường chim bay chỉ cách chừng 8 km, còn nhìn rõ ánh điện bên ấy. Thấy căn cứ Bến Cát này đang nằm trong vòng vây, bom đạn như vậy, hẳn Má Hai Kiều và Hai Em lo lắng nhiều lắm. Nỗi nhớ thương dội lên trong lòng anh. Thằng con trai anh mới sanh mấy tháng nay, thằng con trai anh yêu quý như chính ba anh yêu thương anh ngày nào. Ba mẹ ơi! Anh bỗng thốt lên, con đang nối tiếp chí hướng của ba mẹ, ba mẹ đã hy sinh trong nhà tù, còn con, con đang từng ngày vật lộn với súng đạn trong trận càn Xêđaphôn, con và anh em đồng chí đang chống chọi với mọi gian khổ khó khăn, nhưng chúng con sẽ kiên quyết vượt qua tất cả để tồn tại, để hoàn thành nhiệm vụ. Anh cũng mới được gặp con một lần khi tranh thủ chuyến công tác cách đây gần một tháng có dịp ghé qua. Nó đang cùng ngoại ở bên đó! Nhưng nhiệm vụ cấp bách ngay bây giờ, không cho phép anh nghĩ tới. Thương chia tay, dặn dò hai đồng chí rồi bước đi.


 


Thương tin ở mình, anh sẽ vượt qua khu vực này không khó khăn gì.


 


Bằng chiến thuật đặc công, nguỵ trang, trét sà bông Mỹ, anh qua mấy cánh đồng tan hoang ở An Điền, bom đạn cày xới, lồi lõm nhấp nhô, qua mấy cánh rừng cao su xơ xác cháy xém vì bom đạn an toàn. Cả khu rừng 123 tan tành (khu rừng này rộng 123 mẫu). Trong bóng đêm, Thương định hướng tiến lên, khi bò, khi ẩn nấp quan sát, những viên đất ném lên phía trước thăm dò động tĩnh, mùi thuốc lá, đốm tàn thuốc đỏ trong đêm tối của địch đang ngồi canh gác là những tín hiệu cho anh biết đường né tránh khỏi đụng ổ phục kích. Thương lại nhớ tới lời dạy của Đại tướng Nguyễn Chí Thanh: “nắm thắt lưng Mỹ mà đánh” lúc này anh đang đi bên thắt lưng Mỹ đây. Kinh nghiệm giao liên cho anh được những bài học, trên trận địa, càng đi gần địch bao nhiêu càng đỡ nguy hiểm do súng đạn bấy nhiêu. Có lúc anh chạy lao thật nhanh qua đường, lúc lội qua kênh qua rạch, Thương lẩn nhanh như sóc vượt qua vòng vây trận càn đúng như dự tính trước.


 


 Bốn giờ sáng, Thương đã bơi vượt qua sông Thị Tính, ra xa khỏi khu vực trận càn, anh mở bọc bông xô, lấy bộ quần áo khô nguyên ra thay. Lúc này trông Thương như một thanh niên trong vùng, có đủ giấy tờ tùy thân, anh đi về hướng ấp chiến lược Mỹ Phước ở ven đường quốc lộ 13. Trời đã rạng đông, không còn đủ thời gian bò qua hàng chục lớp rào kẽm gai bao quanh ấp chiến lược để “đi” vào trong theo con đường bí mật mà anh đã vào ra nhiều lần. Tình hình căng thẳng quanh khu vực trận càn cũng không cho phép anh đi công khai vào ấp chiến lược với ba cái giấy tờ “hợp pháp” giả này.


 


Cổng ấp còn đóng kín, tụi lính gác chưa cho người dân ra đồng. Thương nằm chờ tại nơi điểm hẹn quan sát. Miên man suy nghĩ, không hiểu bác Sáu Nửa có ra đây không? Qua dấu hiệu bên ngoài, rõ ràng kẻ địch đang canh gác nghiêm ngặt, tăng cường kiểm soát. Không hiểu tình hình trong ấp chiến lược có gì mới không? Cô Ngọc đã mang tài liệu từ Sài Gòn về đây chưa?


 


Cô Ngọc là người được Thương cảm hóa, có cảm tình đi theo cách mạng, đưa vào hoạt động trong mạng lưới giao liên được hơn một năm nay, cô rất phù hợp với công việc nhận tin tình báo từ Sài Gòn chuyển ra cơ sở này vì cô là người nhanh nhẹn, tháo vát lại có nước da trắng ngần, thân hình đẹp và nụ cười rất duyên dáng, với hình thức rất bắt mắt ấy, cô Ngọc dễ dàng qua lại được các trạm lính gác.


 


Tám giờ sáng, cổng ấp mới mở, người người trâu bò đứng ùn từng tốp để lính lục soát trước khi cho ra khỏi ấp. Chúng lộn túi áo, nắn gấu quần, vắt cơm cũng bị cắt làm tư làm tám. Chỉ cho người một vắt mang ra ăn bữa trưa, chúng đề phòng khi dân mang đồ tiếp tế cho Việt cộng trong vòng vây trận càn Xêđaphôn. Tốp lính gác cổng ấp này toàn người lạ ở nơi khác đến, kiểm soát kỹ từng người, không quen biết nể nang ai. Chúng huy động cả bầy con gái “dân vệ” để kiểm soát phụ nữ, đưa vào phòng kín bắt lột bỏ hết quần áo, rà soát không chừa chỗ nào. Bọn này xét rất ngặt đề phòng người dân tiếp tế lương thực, liên lạc cho Việt cộng


 


Bác Sáu Nửa đã lùa đàn trâu ra khỏi ấp. Theo tín hiệu quy định thì bác cầm nón ở tay là an toàn; nhưng sao vẫn thấy bác đội nón, hay là bác quên! Không, bác là người rất cẩn thận lanh lợi, tháo vát, có tấm lòng kiên định, đương đầu với tất cả khó khăn, theo cách mạng đến cùng.


 


 Qua khỏi trạm gác một đoạn, bác Sáu cầm nón xuống, vẫy nón quạt mát. Bác đánh trâu về phía điển hẹn, hai người đã nhìn thấy nhau.


 


Đến gần, bác nói nhỏ:


 


- Con Ngọc đang ở nhà, nó nói tao ra đón mày vào, cầm roi đuổi trâu đi con.


 


Thẻ căn cước ghi Thương là con bác Sáu, giờ Thương đã chính thức là dân cày cuốc trong ấp chiến lược Mỹ Phước. Mỗi ấp chiến lược có tới mười lăm ngàn dân, chúng nhận mặt sao hết được. Anh không ngán bọn lính ngụy và dân vệ này, chúng không biết mặt anh, chỉ trừ bọn chiêu hồi chỉ điểm là đáng lo.


 


Phải chờ đến trưa, Thương và bác Sáu mới đi lẫn trong dòng người vô ấp, lượt vào này chúng chỉ kiểm soát giấy tờ qua loa. Đến buổi làm chiều, anh và bác Sáu Nửa chuẩn bị đi ra, biết trước việc địch kiểm soát rất kỹ lưỡng, mỗi người chỉ còn cái xà lỏn, còn áo quần, nón dép đều được săm nắn hết lượt, không sót chỗ nào, rạch cả đế dép, gói thuốc lá…Tài liệu cô Ngọc vừa trao cho anh chỉ bằng đầu đũa, Thương đã khéo léo giắt trong vành mũ không dấu vết, nhưng vẫn thấy không yên tâm, rồi vành nón nó cũng sẽ nắn từng chút, không được rồi, hỏi lại bác Sáu, bác nói:


 


- Mày đổi mũ cho tao, với lão già này chúng không xét kỹ lắm đâu; rủi có bị phát hiện, tao đổi mạng với chúng nó.


 


- Không được đâu bác ạ! Điều quan trọng là tài liệu phải được an toàn đã, hay là bác giấu vào mỏ trâu.


 


- À, sao tao không nghĩ ra nhỉ, hay quá. Thằng này khá thật, con trâu đầu đàn của tao hung dữ lắm, ai cũng sợ nó dương sừng trợn mắt, thích húc tất cả những người lạ nào muốn đụng vào nó.


 


 Mừng đến sáng cả mắt, bác sáu bảo Thương:


 


- Mày lấy ra đưa đây tao. Thẳng hay quá ta, sao tao không nghĩ ra!


 


Tay dắt dây, tay nâng mũi trâu lên, gãi gãi mấy cái vào bờm lông cứng trên đầu nó, con trâu đực đứng im cho chủ âu yếm vuốt ve. Bác Sáu Nửa đã “sửa” xong dây thừng mũi con trâu đầu đàn. Cuộn giấy nhỏ bằng đầu đũa đã nằm gọn trong đoạn thừng ngay mũi trâu.


 


Qua cổng ấp, Thương bị chất vấn dai dẳng, rất kỹ:


 


- Giấy miễn quân dịch này cấp từ bao giờ?


 


- Anh định mang thứ gì đến tiếp tế cho bọn Việt cộng đang ngắc ngoải trong địa đạo kia?


 


- Nè, cái mũ mới sao bị rách ở chỗ này?


 


Với những câu hỏi này, Thương trả lời trôi chảy ngon lành, đứng bên ngoài, bác Sáu nóng ruột chờ, lo lắng, sao nó giữ lâu vậy, tài liệu thì ra ngoài này được rồi, bác toan quay lại thì đã thấy Thương đi ra.


 


Thương ra khỏi ấp chiến lược, lòng nhẹ lâng lâng, nhưng không dám rảo bước lao đi, ngại mọi sự bất trắc, anh lân la quanh quẩn quanh mấy thửa ruộng rồi núp vào bờ bụi, đề phòng theo dõi và các trạm gác, chờ cho tối buông xuống mới ra đi. Hồi trưa, bác Sáu cho Thương ăn một bụng, bây giờ anh đang nghĩ tới anh em trong địa đạo giữa trận càn, đã mấy ngày nay chịu đói. Lúc ở trong ấp chiến lược, Thương đã thủ thêm một cái bông xô nữa (loại áo mưa to của Mỹ) mang theo với mục đích trên đường về sẽ sử dụng. Dọc đường về, chỗ nào có quán, có nhà dân, anh đều ghé vào mua và xin khéo, nào mì ăn liền, gạo, khoai lang củ sọ, củ mì, bánh trái, thứ gì ăn được là mua tất, kể cả bánh tráng, bánh cốm bánh ngọt kẹo của trẻ nít. Tất cả cho vào áo mưa bông xô, vừa đủ hai bọc nặng trên vai, băng rừng, băng đồng, lội bưng, lội kênh, vừa đi như chạy, vừa vác nặng, vừa trinh sát tránh đụng giặc đang canh gác vây ráp, anh đang lọt vào trong vòng vây trận càn Xêđaphôn mang mật tin tình báo trở về đơn vị. Đi suốt đêm ấy, lại băng đồng vượt qua rừng, lội kênh rạch, quãng bốn năm giờ sáng, Thương đã về tới nơi.


 


            Anh em đang nóng ruột như lửa đốt, hai người đã chờ khá lâu trên lối đi đón anh Hai. Xa xa lắm, có tiếng gà gáy, có lẽ đây là con gà lạc vào rừng nên còn sống sót. Chân trời phía Đông đã xuất hiện vừng sáng lờ mờ, lòng thấp thòm lo âu, Kiển nói với Đo:


 


            - Bây giờ chưa thấy anh Hai về, không biết có làm sao không, tao lo quá!


 


            - Không sao đâu, anh Hai giỏi lắm, hay lắm, anh Hai có tài xuất quỷ nhập thần, tính toán cẩn thận đâu vào đấy, yên tâm đi đừng lo.


 


            Nói vậy để an tâm vững tin, nhưng trong lòng Đo cũng nôn nao cồn cào chờ đợi anh Hai quên cả cái bụng đang đói cồn cào.


 


Bỗng xa xa phía nền trời mờ mờ có bóng người đang mang vác vật gì to tướng.


 


            - Kia rồi, anh Hai! Đúng anh Hai về kia rồi!


 


Kiển và Đo cùng lao lên đón, miệng líu ríu hỏi, tay đón hai bọc nặng trên vai anh, giống như các con đang chờ mong mẹ ở nhà, không phải mừmg vì quà mà mừng vì được trông thấy mẹ.


 


Ba anh em cùng lao về phía địa đạo. Chưa kịp để anh em khui xem anh Hai mang về được những thứ gì mà hai bọc to tướng, nặng trình trịch như thế, Thương vừa nằm vật ra hầm thở dốc, anh mệt như muốn đứt hơi đứt ruột, nói không ra hơi ra tiếng, nhưng vừa thở dốc được mấy hơi, Thương đã ngồi bật dậy vừa lấy tài liệu ra, vừa nói:


 


- Chuẩn bị giải mã tài liệu chuyển lên chiến khu xong trước đã.


 


Thương biết rằng những tài liệu mà anh được lệnh về ngay căn cứ ấp chiến lược Mỹ Phước lấy về là tài liệu rất quan trọng, những tin tức mà điệp viên của ta nằm trong cơ quan đầu não của địch lấy ra được, có giá trị vô cùng lớn, có khi thay đổi cả một cục diện chiến tranh, cấp trên biết được âm mưu của địch mà ta có cách đối phó kịp thời. Đó là nhiệm vụ mà đã năm sáu năm nay Thương như con thoi tuần một lần anh về Sài Gòn nhận tài liệu từ cơ sở, từ hòm thư sống, hòm thư chết, rồi chuyển lên chiến khu, hoặc mật lệnh từ chiến khu chuyển về Sài Gòn. Bao nhiêu kinh nghiệm vuợt qua các trạm kiểm soát, qua những con mắt theo dõi, bao nhiêu cơ sở anh đã xây dựng để làm nhiệm vụ giao liên vận chuyển tài liệu. Cấp trên tin tưởng ở anh, khó khăn nguy hiểm biết bao nhiêu, nhưng chuyến nào cũng hoàn thành nhiệm vụ. Nguy hiểm cập kề bao lần cũng là bấy nhiêu lần trót lọt để hoàn thành nhiệm vụ.


 


Thương cùng tổ điện đài lập tức vào ngay nhiệm vụ truyền tin, tranh thủ lúc trời chưa sáng rõ, Dũng, Ba, Đo vào việc, Dũng ngồi máy, Đo khởi động máy. Ba ngoi lên mặt đất cầm cây ăngten di động và quan sát máy bay do thám. Mỗi lần sử dụng điện đài là một lần phải đối phó với những con “đầm già”, nên người điều khiển ăngten phải quan sát, căn máy bay, nó đến gần phải tắt máy ngay, nó bay xa là khởi động mở máy, phải cầm ăngten chạy chỗ này chạy lao tới chỗ khác đề phòng máy dò vị trí từ xa. Suốt thời gian trận càn, dù cho có gay go nguy hiểm đến đâu, tổ điện đài của đơn vị A36 vẫn hoạt động đều đều, cũng chính cái tổ điện đài này đã khiến quân địch phải điên đầu tức tối, bởi Việt cộng vẫn ngang nhiên tồn tại ngay trước mũi chúng, ngay trong cái nơi mà chúng tưởng như đã bị bom đạn tiêu hủy hết tất cả, sóng điện đài vẫn chập chờn uốn lượn như chọc mạnh những mũi kim nhói nhói vào tim kẻ thù. 


 


Bên cạnh tài liệu quan trọng mà tổ tình báo vừa đã giải mã chuyển lên cấp trên qua điện đài, còn có một tài liệu khẩn: Trận càn sẽ còn kéo dài, và có tính chất huỷ diệt, bằng mọi cách, nhanh chóng tìm đường đưa tất cả những người còn sống trong trận càn vượt vòng vây sang khu căn cứ khác.


 


Bức điện của cấp trên chỉ hiện lên trên trang giấy có mấy dòng như vậy, nhưng đã hình thành ngay trong đầu Thương một phương án: Vượt sông Sài Gòn sang Bắc Củ Chi. Anh xác định rõ, nhiệm vụ của mình không chỉ cùng anh em trong đơn vị đưa cơ sở máy móc điện đài vượt vòng vây, chuyện đó không khó gì, nhưng việc quan trọng ở đây là anh em đồng chí các cơ quan trong cả khu vực trận càn đang có nguy cơ sắp bị địch tiêu diệt hết, mình phải giúp họ vượt sông, phải đưa hết tất cả qua sông.


 


Bàn với anh em và như một mệnh lệnh, Thương giao nhiệm vụ cho cả đơn vị mình: chuẩn bị khẩn trương phương án đưa tất cả mọi người vượt sông Sài Gòn sang Củ Chi. Thương vạch ra trong đầu mình một bản kế hoạch vượt sông và tin tưởng kế hoạch sẽ thực hiện được, lúc này Thương mới thấy mệt, anh nằm nghỉ vì đã hai đêm nay thức trắng. Nhưng tình hình cấp bách và những kế hoạch vượt sông cứ hiện lên trong đầu khiến Thương không sao ngủ được. Kiển, Mới làm theo lời Thương dặn, mang theo một số đồ ăn Thương mới mang về, đi tới các hầm địa đạo phân phát cho anh em, đồng thời truyền ngay tin vừa nhận cho các đơn vị chuẩn bị kế hoạch vượt vòng vây.


 


 


 


TÌM ĐƯỜNG THOÁT KHỎI VÒNG VÂY


 


Trận càn đã sang đến ngày thứ 11, tưởng rằng với quy mô lớn và hiện đại như thế, sẽ dễ dàng thực hiện ý định tiêu diệt trắng cả vùng, quân Mỹ cũng không thể ngờ Việt cộng giống như phép tàng hình, dưới lòng đất chui lên lại có thể gây thiệt hại cho binh lính Mỹ nhiều như thế. Hàng trăm xe tăng máy bay bị diệt, hàng ngàn lính Mỹ bỏ mạng và bị thương. Nắm chắc phần thắng trong tay mà vẫn phải chịu thiệt hại thương vong quá lớn, quân Mỹ càng ra sức tăng cường các biện pháp mạnh mẽ và tinh vi hơn, quyết tâm thực hiện bằng được mục tiêu trận càn.


 


 Về phía lực lượng cách mạng thì những tổn thất, hy sinh không thể tránh khỏi dưới làn bom đạn dày đặc cày xới. Gần hai chục cơ quan đơn vị, hàng mấy trăm con người, cơ sở, hầm hào nằm trong vòng vây, ai còn ai mất, những người bị thương không được cứu chữa, lương thực và vũ khí đã cạn, vừa chống càn vừa chống đói, chịu đựng bom đạn thương vong đói khát hơn chục ngày nay. Trước nguy cơ trận càn còn kéo dài, có thể không còn tồn tại nếu cứ nằm mãi trong vòng vây. Quân Mỹ vẫn quyết tâm xiết chặt vòng vây, tăng cường lực lượng và trang bị, kéo dài trận càn dù cho có phải hàng tháng hay hơn nữa, chúng không bỏ cuộc, không rút quân.


 


Thương vừa nhận được điện cấp trên, đã đi thông báo cho tất cả anh em các cơ quan, đơn vị, bằng mọi cách thoát ra khỏi vòng vây, rút lên chiến khu Dương Minh Châu và sang căn cứ khác. Đi bằng mọi cách, mọi hướng. Những đơn vị nào ít người, thanh niên còn khỏe và gọn gàng, có thể trong đêm tối, tự thoát ra khỏi vòng vây, còn lại những đơn vị không thể tự đi được, nhất là có nhiều người đang bị thương, hay nhiều phụ nữ thì rất cần đến sự giúp đỡ của đơn vị khác. Cụ thể nhất là rút theo đường qua sông Sài Gòn, sang Củ Chi rồi qua Bến Dược đi lên vùng căn cứ. Cấp trên đã bố trí được một số đội du kích bên Củ Chi chuẩn bị hỗ trợ cho việc rút quân.


 


Với khả năng trinh sát, giao liên, quen thông thổ địa hình địa vật, với khả năng tàng hình thiên biến vạn hóa của tổ giao liên tình báo năm sáu năm nay trên vùng ven này, tổ Tình báo A36 của Thương dễ dàng có thể ôm toàn bộ Cụm, điện đài thoát khỏi vòng vây trận càn dễ dàng. Nhưng còn các đồng chí, các anh các chị của nhiều cơ quan khác đi ra sao, ai tổ chức bố trí cho họ thoát vòng vây!


 


 Một vấn đề mới đặt ra cho tổ giao liên tình báo! Thương tuyên bố:


 


 - Chúng ta là những người quen trinh sát thông thạo hơn cả, ta phải có nhiệm vụ tổ chức dẫn đường cho mọi người qua sông, nếu không, tôi e rằng mọi người khó có thể đi thoát ra khỏi trận càn. Với tình hình này, không bao lâu nữa, lực lượng của các cơ quan sẽ không thể chống đỡ nổi súng đạn và đói để tồn tại.


 


Kiển, Mới và Đo đều lên tiếng ngay:


 


- Đúng đấy anh Hai, mình đi thì quá dễ, nhưng mạnh ai nấy đi, thoát ra ngoài vòng vây, để lại anh em đồng chí mình chịu hy sinh thì không thể được.


 


Thương nói thêm:


 


- Nếu ta không đứng lên tập hợp, tìm đường dẫn đường cho mọi người vượt sông, thì chắc khó tránh khỏi tổn thất. Vậy ngay từ đêm nay, tôi và Kiển đi trinh sát tìm đường qua sông, Mới và Đo đi báo tin, tập hợp số người các cơ quan, xem con số có bao nhiêu người để bố trí xuồng …


 


 


 


CUỘC VẬN LỘN DƯỚI BỜ SÔNG


 


Trời tối hẳn, Thương và Kiển mình trần, mặc một xà lỏn, trét bùn đầy mình, bò ra tới bờ sông quan sát tìm đường. Mặt sông loang loáng ánh đèn ca nô. Xa xa về phía Bình Dương còn thấy ánh đèn điện. Những chiếc ca nô địch thay nhau vòng lượn soi đèn pha sáng chói cả mặt sông. Chúng tuần tiễu rất nghiêm ngặt. Trần Văn Kiển vốn là du kích xã An Tây, rất thông thuộc luồng lạch bến bãi cửa sông địa hình đoạn này, Kiển trao đồi với Thương:


 


- Anh Hai này, cái khoản ca nô tôi không ngại lắm, chúng nó đi theo quy luật nhất định, theo dõi đồng hồ thì biết liền, cứ khoảng 20 phút chúng lượn qua một lần, vậy là trong vòng hai mươi phút ấy, đủ cho xuồng ta qua được rồi. Đáng ngại nhất là trực thăng đấy.


 


Thương nói ngay:


 


- Tôi đã chú ý đến bầy quạ sắt này rồi, chúng bay thành từng đàn từ ba đến năm chiếc, thay nhau rọi đèn pha xuống sông. Phát hiện thấy mảng lục bình đang trôi, chúng xà xuống thấp, xả vào đó vài băng đạn AR15 và thải xuống vài quả lựu đạn rồi bay đi.


 


Thương nhận định:


 


- Máy bay thì thất thường lắm, có khi hàng giờ đồng hồ không chừng, có khả năng nó chỉ bay và rọi đèn hù dọa thôi. Thời gian tốt nhất để chúng ta cho xuồng vượt sông là lúc ca nô mới chạy qua. Ghe xuồng phải gài máng theo các mảng lục bình cây cối xung quanh, ngụy trang cho tốt dưới ánh đèn pha.


 


Đêm hôm sau, ba người Thương, Thôn, Mới lại tiếp tục bò ra bờ sông trinh sát và tìm xuồng. Trăng thượng tuần như lưỡi liềm nhưng cũng tỏa xuống bóng đêm một luồng sáng lờ mờ nhìn rõ bờ ruộng, mặt nước, ba người bò cách nhau chừng mươi mét.


 


 Thương dẫn đầu, anh đang nhoai người còng còng lưng đi lên, bỗng có một bóng đen cao to nhảy xổ đến vật Thương xuống, nó nằm đè lên người anh và giơ dao găm.


 


Thôn và Mới nhìn thấy rõ cảnh vật lộn, rồi mấy bóng đen nữa xuất hiện. Đụng ổ phục kích Mỹ rồi, không biết đường nào mà nổ súng hay cứu anh Hai, hai người vội quay lại băng về địa đạo, Mới thở hổn hển:


 


- Anh Hai chết rồi, đụng ổ phục kích, đêm tối, tôi nhìn rõ anh Hai bị một thằng Mỹ chụp, nó đâm chết anh Hai rồi.


 


Mới khóc to:


 


Anh Hai ơi! Em không cứu được anh. Sao em lại bỏ anh ở đấy mà chạy cề nhỉ, em hèn nhát quá!


 


Tiếng máy bay trực thăng phành phạch xuất hiện.


 


 Mới nói to:


 


- Đấy, trực thăng nó đang bay đến lấy xác anh Hai kìa!


 


            Ba người khóc to thành tiếng, so người lại vì đau đớn khi mất người anh dũng cảm mưu trí gan góc đã dìu dắt họ trưởng thành đến ngày hôm nay…


 


Bỗng có tiếng nói nhỏ:


 


- Nó lấy xác Mỹ chứ có lấy xác tao đâu!


 


Mọi người nhìn ra thấy Thương đang trườn xuống hầm. Ai cũng reo lên mừng rỡ:


 


 - Anh Hai, anh Hai không sao hả!


 


- Trời! Em thấy nó đè lên anh Hai, tưởng anh Hai bị nó đâm, em thấy rõ lưỡi dao của nó. Sao hay quá trời vậy, anh có sao không?


 


Hai người choàng lên sờ nắn khắp người Thương.


 


- Người anh trơn như đổ nhớt tanh quá, anh bị thương chỗ nào?


 


 - Đâu phải máu tao, máu thằng Mỹ đó. Nó đè tao, rút dao, tao dùng lực đẩy tay dao nó, đồng thời co đầu gối thúc mạnh vào bộ hạ nó bật té ngửa, tao giật được con dao găm, găm vào nó liền, rồi giật luôn hai quả lựu đạn bên hông nó, cắn chốt tung về phía mấy bóng đen đang lao tới, rồi tao chạy về đây! Trong bóng tối lờ mờ, mấy thằng Mỹ láo nháo không dám nổ súng vì sợ đồng bọn chết.


 


- Anh Hai lấy sức đâu mà mạnh vậy, em thấy thằng Mỹ to con đã đè lên anh rồi, vậy mà lật thế cờ, anh Hai hay quá trời!


 


Thương nói nhỏ lại:


 


- Nếu mình không có sức khỏe và có võ thì mình đã chết rồi!


 


- Anh Hai còn sống là chúng em mừng lắm rồi, thật là may quá!


 


Đo nói to:


 


- Để em nấu nước pha cà phê sữa anh Hai uống, em còn một cục  để dành đây này.


 


Thương cười:


 


- Lúc này mà còn được uống cà phê sữa, thật là sang hết biết.


 


Mấy anh em cùng cười, trong hầm tối, không nhìn rõ mặt vì mặt mũi, toàn thân đầy đất, màu đất, lẫn trong đất, chỉ có hàm răng và hai con mắt là đất chừa ra.


 


Trong những trường hợp hy hữu này nhiều khi giống như may rủi mà thôi, mảnh bom viên đạn không biết chừa ai. Vấn đề là phải luôn bình tĩnh trong bất cứ tình huống nguy kịch nào và đừng bao giờ nghĩ đến cái chết. Cái chết thường đến với người sợ chết, nhưng vượt sợ chết vốn là bản chất tự nhiên của con người. Vượt được cái ranh giới bản năng ấy phải là những người chiến sỹ vô cùng dũng cảm và gan dạ. Đối với Nguyễn Văn Thương, người chiến sỹ giao liên tình báo, người đã hàng chục năm lăn lộn trên chiến trường làm tròn nhiệm vụ vận chuyển tin tức từ Sài Gòn lên chiến khu, từ chiến khu về Sài Gòn, đã hàng chục lần chiến đấu khi đụng địch, hàng trăm lần xử lý những tình huống căng thẳng, thì anh cũng dễ dàng vượt qua tình huống nguy kịch.


(còn tiếp)


Nguồn: Bóc vỏ trái đất. Ký. Mã Thiện Đồng. NXB Văn học, 2007.


www.trieuxuan.info


 


 


bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Phùng Quán: "Có những lúc ngã lòng/ Tôi vịn câu thơ mà đứng dậy" - Trần Thanh Phương 21.09.2018
Bội Trâm – Người đàn bà bất chấp tai ương - Ngô Minh 19.09.2018
Một chuyến làm báo ở Tây Nguyên - Thanh La 19.09.2018
Gián điệp quốc tế - Vũ Thư Hiên 07.09.2018
Ba ngôi mộ không có nấm mồ - Hà Đình Nguyên 06.09.2018
Chiến tranh Việt Nam và trò chơi nguy hiểm của Phạm Xuân Ẩn - Nhiều tác giả 05.09.2018
Hồ Chí Minh - Nguyễn Đăng Mạnh 05.09.2018
Nguyễn Khải - Nguyễn Đăng Mạnh 05.09.2018
Nguyên Ngọc - Nguyễn Đăng Mạnh 05.09.2018
Syria, bóng đá & chiến tranh - Nguyễn Thu Trân 29.08.2018
xem thêm »