tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 24052896
29.07.2018
Mã Thiện Đồng
Bóc vỏ trái đất (2)

CÁI BẪY XÁC NGƯỜI 


Đêm hôm thứ ba, pháo vẫn bắn về phía rừng, chúng bắn từng đợt từng đợt, muốn tiêu diệt những người ban đêm từ dưới địa đạo chui lên. Địch đã phát hiện trong lòng đất ấy, dù có bị bom đạn xé nát tơi tả, nhưng vẫn còn người, bọn Việt cộng vẫn còn “ngắc ngoải chui luồn” dưới địa đạo.


 Đêm ấy, một quả đạn pháo nổ ngay gần miệng hầm đúng lúc bốn người đang lên, anh Bảy Y hy sinh ngay tại chỗ, pháo bứt đầu anh văng đi mất, cô Dịu bị thương nặng, mảnh pháo xẻ dọc đùi và mông rất sâu, máu tuôn xối xả lai láng. Mọi người vội cứu chữa băng bó cho Dịu, cô không kêu la một tiếng, chỉ cắn chặt hai hàm răng chịu đựng. Mọi người đặt Dịu nằm ở hầm công sự chăm sóc, vì không thể khiêng Dịu vào trong địa đạo. Hai anh ra ngoài lôi xác anh Bảy Y ra xa miệng hầm tới hai chục mét, đào hố chôn, vì vội vàng và gặp chỗ đất rắn nên đào hố chỉ nông cỡ nửa thước. Sáng hôm sau lính Mỹ càn qua, phát hiện thấy hố chôn người, chúng lật lên, đặt xác chết nằm phơi trơ vơ trên cao suốt cả ngày. Đêm ấy, mọi người lại chui lên quan sát, lấy nước, nấu cơm hối hả, tuy vội nhưng không nỡ nhìn thấy đồng đội nằm phơi xác với thi thể không còn nguyên vẹn, hai anh bò ra đào hố chôn lại. Hố đào xong, hai người lại lôi xác anh Bảy Y xuống chôn, vừa đụng vào xác anh Bảy Y, bỗng một tiếng nổ phát ra, trong hầm, các chị chờ mãi không thấy hai người trở vào.


 


Cô Dịu tỉnh lại, Dịu bị thương nặng, không chui xuống đia đạo và cũng không thể khênh xuống dưới sâu hơn nữa, biết mình không qua khỏi vì vết thương quá nặng, Dịu nói với mọi người:


 


- Các anh chị để cho em một ca nước, cứ để em nằm đây một mình cũng được, mọi người xuống địa đạo hết đi không thì nguy hiểm lắm.


 


Nhưng sao nỡ để đồng đội bị thương nặng ở lại mà đi cho đành, anh em ra sức băng bó, dồn hết băng lại, ba bốn cuộn quấn cho Dịu, vết thương do đạn pháo xé rách dọc một nửa người quá to, băng không thấu, máu ra nhiều. Dịu vẫn tỉnh táo, chị còn năn nỉ:


 


- Chị Ba ơi! Chị đừng băng cho em nữa uổng, để dành băng cho người khác, em biết em thế nào cũng chết, em không sống được đâu! 


 


            - Không cầm được nước mắt, mấy chị em òa khóc cùng ôm lấy Dịu:


 


            - Sao chị nỡ để dành băng mà không băng cho em lúc này.


 


            - Đằng nào em cũng chết rồi, các chị đừng băng nữa, em nói thật đấy!


 


            Còn mấy cuộn băng, hai người cố díu vết thương của Dịu lại cho máu đỡ ra, cứ quấn lại, quấn chặt lại vết thương, hy vọng cứu được Dịu, người em út của đơn vị, người đồng chí nhỏ nhanh nhẹn gan dạ mới tham gia cách mạng được mấy tháng nay. Dịu còn trẻ lắm, cô mới 17 tuổi.


 


Đêm hôm đó Dịu mất. Anh em gói gém cẩn thận rồi mang xác em ra ngoài, cách cỡ 20m, đào hố chôn, Pháo giặc bắn dữ quá, đào vội mới chỉ nông đến đầu gối, người đào đã phải nằm chúi xuống đó lánh pháo. Đạn pháo nổ sát bên, mảnh pháo và đất cát văng rào ráo chéo chéo như muốn hạ gục những con người đang mệt lả vì đau thương. Họ nằm phục cả xuống tránh pháo, rồi lại phải quay về hầm, mọi người quá mệt, nhưng vừa thấy ngơi ngơi tiếng pháo lại ra đào tiếp. Anh Công mệt quá, nằm lăn xuống hố mới đào, nói đùa:


 


- Thôi, hố này để chôn tôi trước đi, kẻo lúc tôi chết lại không còn ai đào hố.


 


Ngân vừa đào vừa nói nhỏ:


 


- Anh đừng nói vậy, em sợ quá. Nhìn thấy anh em mình chết mà em đau xót quá anh ba ơi!


 


- Vái trời có sao thì cho chết ngay đi, đừng để bị thương, cực cho mọi người, đau lòng cho mọi người quá.


 


Vậy mà đến chiều tối hôm sau, lên quan sát, đã thấy xác của Dịu nằm phơi bên trên mặt đất, y như xác anh Bảy Y hôm trước. Chúng moi xác người để nằm trơ vơ lên trên mặt đất, bọn này ghê sợ thật, chúng làm gì đây mà tàn ác đến cả với xác người như vậy. Ngân và Châu vừa định bò ra lấy xác Dịu chôn lại. Anh Công vội ngăn:


 


- Im nào! Hãy khoan đã để đấy tôi coi.


 


Anh kiếm sợi dây dù dài, bò tới cột chặt vào hai chân xác của Dịu, dòng dây thật dài. Anh nằm dưới một cái hố, úp mặt xuống đất, hai tay lôi. Vừa kéo mạnh, xác Dịu chuyển động, xích đi khoảng một tấc thì một tiếng nổ ầm, xác Dịu tan tành hết cùng với đất cát của một quả mìn. Anh em trong tổ còn ba người, tròn mắt hoảng sợ, bàng hoàng sửng sốt.


 


Ngân cúi gục mặt vào hai bàn tay kêu lên:


 


- Trời đất ơi! Dịu ơi!


 


Chị khóc mà không kịp chảy nước mắt vì quá choáng váng. Thật là kinh khủng, bọn ngụy đã bày đặt chỉ cách cho quân Mỹ, nên cũng có những chiến thuật cài mìn tinh vi chi tiết đến không thể ngờ. Chúng moi xác người lên, cài trái mìn, để giết chết người đồng đội của họ khi tới lấy xác chôn lại. Mọi người lặng người đau xót mím chặt môi căm giận. Chị Châu vừa khóc thương vừa vái:


 


- Em ơi, Dịu ơi! Tội nghiệp cho em, em có khôn thiêng hãy thông cảm cho các chị, không giữ được xác em nguyên vẹn, hãy phù hộ cho chúng ta thoát khỏi vòng gian nguy này…!


 


Nước mắt ai cũng khô ráo cả, chứng kiến cảnh chết chóc hy sinh của anh em, cảnh tàn phá diễn ra mấy ngày nay, ngay trước mặt, máu đồng đội thân thương của mình chết thê thảm, máu của người thân còn bê bết trên mình đây, mặt ai cũng đanh lại, vằn lên những nét oàn oại, mím chặt nét căm thù giặc trào sôi uất hận.


 


Anh Công nói cho mọi người cùng hiểu:


 


- Hôm trước quan sát việc ta lấy xác anh Bảy Y chôn lại, tôi phát hiện ra đúng là lính Mỹ đã quật moi xác chết lên, cài trái nổ xuống dưới, để hại anh em mình ra lấy xác chôn lại, cho nên hai đồng chí Thanh và Thời đã hy sinh, trúng kế địch. Tôi nghi là chúng lại làm thế với xác của Dịu, nên hôm nay ta cảnh giác, buộc dây lôi … Y như rằng! Nếu ta đụng vào xác, là nổ chết hết.


 


Ba người cùng rùng mình ớn lạnh. Một cái bẫy bằng xác người. Lính Mỹ ở chiến trường này quả là dày dạn kinh nghiệm, chúng cũng mưu tính quỷ quyệt thật bất ngờ. Ba bốn ngày nay bom đạn đã giết chóc khá nhiều, mùi khói bom, lửa xăng khét lẹt, mùi máu người, mùi của xác chết cả người và súc vật không được chôn cất, lẫn trong gió đưa lên nồng nặc hoà trộn cả vùng Nam Bến Cát.


    ĐỊCH LẦN THEO VÀO ĐỊA ĐẠO


Quân địch biết ta vẫn còn tồn tại trong lòng đất, vẫn chui lên mặt đất vào ban đêm, nên đêm nào pháo cũng bắn liên hồi, bắn dày đặc, chỉ trừ nơi quân Mỹ đóng. Ở một đơn vị khác, anh em lên đào hố, pháo bắn rầm rầm, lại chui xuống, ngưng bắn lại lên, cứ như vậy, đào đến bốn năm lần mới được một cái hố chôn tạm những thi thể của đồng đội, của dân. Trong lúc đào hố, chị Xuân bên Tuyên huấn bị thương, không thể tự chui xuống địa đạo, các anh đành khoét miệng hầm thành một cái ngách to ra, đặt chị Xuân nằm gần trong ngách ngay miệng hầm. Sáng hôm sau, chúng mò theo dấu vết, phát hiện miệng hầm. Lúc đó anh Kháng, anh Sơn và mấy người đang ngồi chỗ chị Xuân, bất chợt thấy lính mỹ bò vào hầm, vội vàng đưa chị Xuân rút sâu vào trong, tất cả rút lên nắp bổng ngồi lại đó. Một lúc sau, thấy không có động tĩnh gì, Sơn nói:


 


- Tôi để cây bá đỏ ở dưới, hồi nãy cõng chị Xuân nên không kịp mang theo người, để tôi xuống coi sao.


 


Sơn đu người, thò hai chân xuống trước, anh tụt người xuống dưới. Im lặng một lát, không thấy Sơn lên, Kháng liền tụt xuống dưới nắp hầm xem sao. Anh thấy mùi hắc hắc, liền rọi đèn pin soi tìm. Bỗng tiếng Kháng gọi:


 


- Thông ơi! Sơn nó bị sao mà máu trào đầy mặt rồi nè!


 


Vừa nói xong, Kháng cũng im lặng. Ở trên, Thông định xuống xem có chuyện gì, vừa thò chân xuống nắp hầm, vì người Thông hơi bự con nên phải lựa xoay chưa đưa được người xuống, bỗng anh thấy khó chịu, một luồng hơi rất hắc xông lên, Thông choáng váng ngất xỉu, mấy chị lôi Thông lên khỏi miệng nắp trầm, lay gọi, xoa nắn bấm huyệt, hô hấp cứu chữa. 


 


Một lúc sau Thông tỉnh lại, mọi người lúc này mới hiểu rõ. Bọn chúng lần theo dấu vào hầm, sợ vào sâu đụng bẫy, chúng bèn đánh trái ngạt trong địa đạo rồi rút, một loại hơi độc làm chết người khi hít phải, vì vậy khi Sơn tụt xuống hít phải hơi độc, chết ngay, Kháng xuống sau, thấy Sơn trào máu, vừa nói là hít phải hơi ngạt, Kháng cũng chết luôn, hơi độc làm cho người chết trào máu, quằn quại, càng dẫy giụa, càng hít phải hơi độc nhiều, càng không thể sống nổi. Một chút nữa là Thông cũng tụt xuống hít phải hơi độc, thật là cái chết cái sống diễn ra chỉ trong tích tắc. Sinh mạng người ta chết dễ như không.


 


Vết thương của chị Xuân ở lưng tuy không nguy hiểm nhưng mấy ngày sau nhiễm trùng nặng, không có băng, không có thuốc, không có điều kiện chữa trị, cứ dai dẳng như thế suốt trong những ngày càn, lở loét máu mủ lên mùi, giòi rúc lúc nhúc, không cánh nào giữ cho vết thương khỏi giòi. Ở mặt trận này, nhiều lần giặc càn và trong cuộc chiến đấu, hy sinh đã vậy, còn những vết thương, ai có vết thương lớn vết nhỏ gì có máu mủ là có giòi. Bởi ngay cả trong bóng tối cũng có ruồi hay dé, chúng đánh hơi rất tinh, bu lại là lập tức đẻ trứng để sinh sản, và giòi bọ nở ra rất nhanh chóng, sinh tồn nòi giống nhanh như tia chớp nhiệt đới. Vết thương của chị Xuân rộng và sâu, bị nhiễm trùng máu mủ loe loét quả là điều kiện hớp dẫn côn trùng sinh sản. Sau này về chiến khu, phải khoét sâu hóm và chữa trị mãi vết thương không lành. Thuốc tây đổ vào, nước vàng máu mủ thải trôi đi, anh em liền dùng sáp ong rừng, vắt mật đẫm vào vết thương, bó sáp và mật ong một thời gian, may mà giống mật ong chữa vết loét hữu hiệu của rừng cây miền Đông lại hay đến bất ngờ. Vết thương lành dần, lên da non, chị Xuân qua khỏi, chỉ để lại một hố sẹo sâu bằng nửa trái xoài to.


 


Xác những anh em đồng đội trong Ban Tuyên huấn tỉnh, nhất là các anh chị bên cơ quan Huấn học cũ hy sinh nằm lại trong địa đạo; các anh nằm lại trong lòng đất quê hương, giữa trận càn Xêđaphôn khốc liệt, không còn nguyên vẹn, hoặc nằm sâu dưới lòng địa đạo đây đó mãi mãi. Bom đạn, xe ủi cày xới, lẫn trong đất, tan trong đất, trộn hòa trong đất. Đất đỏ, đất ong chắc lắm, sau này không còn tìm lại được hài cốt của ai.


    HỦY TÀI LIỆU  


Ở một số cơ quan, hầm bị trúng bom, kể cả người và những tài liệu quan trọng đều tan tành hết. Có những tài liệu đã rơi vào tay giặc. Sau này chúng ta mới biết vì có một số những tài liệu địch thu lượm được trong trận càn Xêđaphôn liên quan đến căn cứ Dương Minh Châu nên tiếp theo đó, địch đã mơ trận càn Giônsơnxity, gây cho chúng ta không ít thiệt hại. Rồi những tài liệu có liên quan đến các cơ sở nội tuyến, binh vận, các cơ sở cất giấu vũ khí, một số tài liệu quan trọng địch đã thu lượm được.


 


Tuy nhiên, kinh nghiệm của cán bộ ta đã trải qua các trận càn cũng có khá nhiều trong việc bảo vệ tài liệu.


 


Tại cơ quan Binh vận C6, Chị Tư Khanh (Lê Thị Khanh) là người phụ trách văn thư tài liệu. Cho đến ngày thứ sáu của trận càn, hầm của đơn vị đã ba lần bị bom đánh nghiêng ngả. Một phần của nóc hầm đã tróc đất, trơ cả sườn tre, đất cát trộn lẫn cả mọi thứ còn lại trong hầm. Cả căn hầm rộng chỉ có một mình Tư Khanh với mấy đống giấy tờ tài liệu ngổn ngang xáo trộn. Thấy tình hình không ổn, khó bề tồn tại thêm, mọi tài liệu bí mật của đơn vị chị là người chứng kiến, cất giữ. Nhìn đống tài liệu bí mật đang nằm tơi tả ngay trước mặt, Tư Khanh hiểu hơn cả, những tài liệu có liên quan đến các cơ sở binh vận mà ta mới gây dựng được. Danh sách những anh em nòng cốt của công tác binh vận đang nằm trong đội ngũ địch cũng nằm trong đống tài liệu này, chỉ ngày mai thôi, nếu địch phát hiện ra hầm, tài liệu này sẽ rơi vào tay địch, rồi những cơ sở này, những anh em này sẽ ra sao?


 


Đã có hầm của một cơ quan quan trọng trúng bom, cán bộ ta hy sinh hết, tài liệu lẫn trong đất cát tơi tả, và không ít những tài liệu quan trọng đã rơi vào tay địch, thiệt hại và hậu quả khôn lường. Tư Khanh hiểu mình phải làm gì.


 


Không có cách nào bảo vệ được tài liệu, quyết không để rơi vào tay địch, chúng sẽ tiêu diệt thẳng tay, chị Tư Khanh gom tất cả tài liệu quan trọng lại, chị xếp đến đâu, cố ghi nhớ trong đầu đến đấy, mà nhớ sao hết được, nhưng thà tiêu hủy còn hơn để rơi vào tay địch. Tư Khanh cắn chặt hàm răng, bao nhiêu tài liệu quan trọng cất giữ xắp xếp bảo vệ lâu nay; chị ngồi soạn lại và xé nát từng tờ, từng tờ, chị ngồi bần thần như người dại, tay khơi khơi bơi bơi đống giấy vụn nát mà lòng đau tê dại, bao nhiêu công sức máu xương của anh em đồng chí mới có được những tài liệu này, một nỗi đau mất mát đang nhói lên giày xé trong lòng.


ĐƠN VỊ CỤM TÌNH BÁO A36


Ngay sau trận rải bom đêm mở đầu trận càn, đơn vị A36 đã nhận được điện từ tin tình báo, cấp trên thông báo về quy mô của trận càn và giao nhiệm vụ cho A36:


 


Trong tình huống nước sôi lửa bỏng, phải làm sao bảo vệ được các cơ quan. Đây là trận càn có quy mô lớn, có thể sẽ kéo dài ngày. Thông báo cho tất cả các cơ quan tìm mọi cách đối phó, không chờ ở chi viện, bảo vệ bằng được cơ quan.


 


Anh Ba Hội, Cụm trưởng đang ở Sài Gòn, Cụm phó Bảy Anh đang ở Củ Chi, tất cả nhiệm vụ giao cao Nguyễn Văn Thương (đang là mũi trưởng mũi giao liên tình báo A36) chỉ huy mặt trận trong vòng vây, phải giữ vững liên lạc, nắm tình hình trong trận càn, thường xuyên kịp thời báo cáo về cấp trên, toàn quyền phụ trách anh em trong đơn vị độc lập tác chiến.


 


 Cụm tình báo A36 của anh Thương ở cơ sở Nam Bến Cát hiện có 8 người: Kiển, Thôn, Tài, Mới, Ba, Đo, Thành và Thương. Hầm địa đạo A36 đang nằm ở cánh đồng ấp 1 xã An Thành.


 


Trước đây, đơn vị A36 này đi tới đâu là bị anh em la oai oái:


 


- Cái tụi này, đi đến đâu bom nó theo đến đấy. Y như chỉ đường cho bom tới vậy.


 


- Mày làm ơn đưa cái cục điện đài ấy ra xa đi, mang theo dính bom hoài, chết bọn tao hết!


 


Nói vậy cho vui thôi, anh em các đơn vị cũng thừa biết đơn vị Thương đang giữ nhiệm vụ liên lạc rất quan trọng không thể thiếu được.


 


Hầm địa đạo của A36 thật kiên cố bởi các anh hiểu tầm quan trọng của việc bảo vệ điện đài, người thì có thể lao như con thoi từ khúc này sang hầm khác tránh bom, nhưng điện đài thì không nhanh được như thế, mà điện đài là vật quý phải bảo vệ bằng mọi giá. Nhưng cái may mắn hơn cả vẫn là: hai ngày nay, hầm điện đài không bị trúng bom. Nhưng ngồi dưới hầm vẫn nghe rõ tiếng máy xe tăng nhích dần lại gần, thấy cả xe tăng địch đang hoạt động ngay trên đầu. Đất chuyển động, hầm rung lên bần nật. Bánh xích nghiến ken két. Có hàng chục xe ủi đất chạy qua chạy lại trên đường địa đạo. Ai cũng lo lắng, liệu đường hầm có chịu nổi không? Nơi đơn vị Thương đang ngồi, địa đạo đào rất sâu và kiên cố chắc chắn, nhưng còn những đoạn địa đạo khác, anh em biết rằng có nhiều địa đạo hầm hào không có điều kiện làm chắc chắn, hẳn không tránh khỏi tổn thất.


 


Thương phân công trong tổ: hai người trực điện đài, (đây là nhiệm vụ của hai đồng chí đài trưởng Tài và Lịnh cơ yếu), ba người bảo vệ, còn ba người lên trinh sát tình hình.


 


Nằm im một chỗ ngay trong hầm địa đạo, dưới tầm kiểm soát của trận càn, nên điện đài nhận tin phát tin không di chuyển được. Cũng vì sóng này mà quân Mỹ biết Việt cộng vẫn còn trong lòng đất. Loại điện đài 15W này sóng rất mạnh, ta mới được trang bị, có thể phát sóng đi rất xa. Loại máy định vị dò sóng của địch trên máy bay đầm già, (gọi là đầm già vì nó quần đảo kiếm ăn trinh sát dai dẳng, dai như váy bà già) nó mà phát hiện đúng điểm là có phản lực tới dội bom trúng liền. Mỗi khi tổ phát sóng nhận chuyển tin, thường là vào buổi tối, phải cử người chui lên mặt đất trinh sát lặng lẽ khẩn trương, tổ điện đài kéo ăngten ra thật xa để đồng chí đài trưởng lên máy liên lạc với cấp trên. Trinh sát phải canh chừng đầm già dò sóng. Nó đang bay tới phải tắt máy ngay, khi nào bay thật xa lại phát tiếp. Mỗi lần khởi động cho máy chạy để phát sóng, anh em phải dùng hết sức lực quay thật mạnh, quay mấy lần máy mới khởi động, phải là người thật khỏe mới đảm đương được việc này. Anh em gọi máy là “cái đầu bò”. Dù khó khăn vậy nhưng tin tình báo vẫn được nhận chuyển đều đặn từ Sài Gòn lên cấp trên và từ cấp trên về Sài Gòn.


 


 Thương cử người đi nắm tình hình các cơ quan, tình hình địch trong trận càn. Tin được chuyển lên cấp trên thường xuyên: thiệt hại khá nặng, nhiều đơn vị trúng bom hết sạch, kho hậu cần bao nhiêu lúa gạo, quân dụng vũ khí và hàng chục người trúng bom tan tành. Các đơn vị còn rải rác ở địa đạo, có nhiều nguy cơ đang đe doạ… Tình hình địch đang ra sức tăng cường càn quét, săm ủi, bắn giết… Còn bao nhiêu hầm địa đạo của các đơn vị sập xuống, trộn lẫn người ở trong ấy! Các cơ quan đơn vị vẫn tiếp tục đánh du kích, gây cho địch khá nhiều tổn thất. Tình hình vũ khí đã cạn kiệt, tình hình lương thực có nguy cơ đói nếu trận càn còn tiếp tục kéo dài…


 


Suốt thời gian trận càn, đơn vị A36 vẫn giữ mối liên lạc, đường “liên lạc mật” với nội thành vẫn thông suốt. Cũng chính vì điện đài này mà phía địch phải điên đầu vì còn sóng của Việt cộng, tức là Việt cộng chưa bị diệt hết, vẫn còn tồn tại trong lòng đất, ngay trong vòng vây, ngay trước mũi giặc. Địch vẫn tiếp tục điên cuồng bắn phá, tìm kiếm, không chịu rút quân.


 CUỘC ĐỌ SỨC TẠI NẮP BỔNG 


Bọn “chuột cống” (tên anh em mình đặt cho tụi lính được đào tạo quy mô, chuyên đánh đường hầm) vừa được trực thăng đổ quân xuống là chúng vào trận ngay. Được lệnh chui xuống hầm địa đạo vừa tìm ra, hai ba tốp nối theo nhau chui vào địa đạo. Phải nói là Mỹ dùng quân cũng khá tinh xảo, mấy tên này quả là người Mỹ đẹt, nhỏ con, chúng cũng chui vừa lọt được vào khúc địa đạo cửa ngõ, rọi đèn sáng choang tìm kiếm, gõ đập. Một tên chui ra, không biết xì xồ hỏi han gì, lại chui xuống. Phải mất hàng tiếng đồng hồ sau, chúng phát hiện ra một cái nắp nằm ở phía trên nóc địa đạo. Mỹ ở địa đạo dưới (nắp trầm) chui lên, ta ở ngay địa đạo trên đầu nó (nắp bổng). Ở trong khúc địa đạo có năm người của đơn vị Huyện đội Bến Cát, lúc bị xe ủi bật tung cửa hầm, tất cả rút vào sâu trong địa đạo, ba người trổ lên nắp bổng, hai người xuống nắp trầm. Các chiến sỹ ta thì chui luồn trong các ngõ ngách địa đạo nhanh như sóc, nhưng cho một người Mỹ dù nhỏ con cũng không thể nằm trườn theo kiểu thân sâu đo, thân con rắn như ta được. Mà dù chúng có liều tới đâu cũng không dám tiến theo kiểu trườn vào một cái hang do đối phương kiến trúc, biết hai bên hông có cái gì, biết trên đầu, dưới bụng có gì, mìn hay bàn chông đây. Những tên lính “chuột cống” dù có được huấn luyện chuyên nghiệp ở Hawai chuyên đánh trận trong lòng đất, thì chắc gì thày dạy của chúng đã nghĩ đến kiểu hầm lắt léo của du kích miền Nam này. Chúng phải dùng xẻng, xà beng vừa chui vừa đào khoét cho rộng ra. Hàng mấy tiếng đồng hồ sau, chúng cũng tìm ra nắp một đoạn hầm địa đạo tiếp theo, ăn lên phía trên đầu, ta gọi là nắp bổng.


 


Liền, Đực và Tho đang ngồi nghe ngóng động tĩnh của đất ngay trên nắp bổng thì bỗng nghe tiếng động bịch bịch rất gần, rồi tiếng gõ từ nắp bổng cạch cạch.


 


- A tụi nó đã phát hiện ra nắp, vậy là nó sắp chui lên rồi, làm sao bây giờ anh!


 


Tho khẽ hỏi Liền, giọng khẩn trương lo lắng.


 


Không trả lời, ánh đèn pin nho nhỏ của Liền rọi vào cửa nắp. Hai tay Liền ấn mạnh lên nắp bổng. Cũng vừa lúc nắp hầm xộc xệch như đang muốn bật lên. Tho tiếp sức cho Liền, bốn cách tay cùng ấn xuống. Chắc sức bật bên dưới mạnh lắm nên cái nắp bằng bê tông vẫn lay chuyển như muốn chuồi lên. Nắp trong hầm không nguỵ trang kỹ như trên mặt đất, chỉ xoa như màu đất, bằng bê tông nhỏ, tròn hơn tấm đan, có dây kẽm để xỏ tay cầm.


 


Bốn cánh tay gồng lên đè, Liền nằm lên lấy sức nặng của toàn thân ghì xuống. Có lẽ thằng này có sức mạnh của con trâu điên, nên cái nắp vẫn nâng lên, đu đưa như chao sang một bên. Chúng đang ra sức giở nắp, chúng cố giở lên, mình cố đè xuống. Bốn cánh tay và một thân mình của hai chiến sỹ cộng lại cho sức nặng đè lên chắc cũng chỉ ngót một tạ, còn sức bật của tên lực sỹ “chuột cống” này chắc cỡ trên trăm ký, nên dù cố gò toàn thân ấn giữ nắp, hầm vẫn cứ chao lên. Cuối cùng, cái nắp bật hẳn sang bên, miệng địa đạo lộ ra. Tình thế căng rồi, nó sẽ chui lên! Giáp lá cà trong địa đạo, một tình huống hy hữu hiếm có trong lòng đất độc quyền của ta. Đực đứng ngay sau Tho, dương cây bá đỏ chĩa xuống. Ánh đèn pin từ dưới rọi lên, nhấp nhoáng. Ba người né sang cạnh, quan sát miệng nắp. Tho rút chốt lựu đạn cầm tay. Trái lựu đạn xì khói. Khi trái lựu đạn được buông khỏi tay nhét xuống dưới cửa nắp và chiếc nắp vừa vặn đặt lại đúng chỗ của nó. Một tiếng ùm…  ngay dưới rồi im lặng. Chế loại lựu đạn này, ta biết thời gian nổ khi rút chốt, nên không dại gì thả ngay, chúng sẽ cầm ném khi còn xì khói, vậy nên phải căn cho gần nổ mới buông tay, hết thời gian cho chúng lượm ném lại.


ĂNGTEN  ĐỤNG MÁY BAY


Mỗi lần truyền tin trên máy phát sóng, một người quay môtơ, phải là người thật khỏe; trước đây, máy móc nhỏ, chỉ cần quay khẽ đã đủ máy chạy, nay chiếc máy này do nước ngoài thiết kế trang bị cho phát nhận tin tức, máy này có thể phát sóng từ miền Đông Nam Bộ ra tới tận Hà Nội, nên mỗi lần khởi động, người yếu không làm nổi. Trong đơn vị A36, chỉ có ba người khởi động được máy, khởi động xong có khi đứt hơi. Một lần, vì mới đi giao liên về, mệt quá, nhưng vẫn hăng công việc, Thương lấy hết sức vận hành máy, vừa xong, anh hoa mắt, ngất xỉu luôn.


 


Hôm nay, Lịnh khởi động máy phát tin, Thương, Tài, Mới lên mặt đất điều khiển ăngten. Mặt trời lặn, trời chiều đã ngả màu xám, nhưng công việc cần thiết không thể đợi tối hẳn. Phải làm sao cho ăngten di chuyển nhanh, thay đổi chỗ để đánh nhiễu máy dò định vị trên máy bay do thám. Ba chiến sỹ nhanh như sóc cầm cần ăngten chạy lao từ vị trí này sang vị trí khác, vài giây lại chạy. Y như mấy chú trẻ trâu cầm dây diều chạy, lựa ngọn gió hướng cho cánh diều bay cao.


 


Tin vừa được phát trên sóng, Thương đã nghe tiếng máy bay phản lực và chiếc OV10 lao tới, ngay phía tây đã xuất hiện tiếng hai chiếc trực thăng võ trang. Máy bay phản lực vừa ào qua, hai chiếc trực thăng dãn ra hai hướng nhường chỗ cho bọn phản lực quần đảo trên cao để nhận mục tiêu vào ném bom. Vậy là chúng đã phát hiện ra sóng, ra mục tiêu rồi, chiếc OV10 quả là lợi hại. Lập tức Thương cho tắt máy phát, chuẩn bị đối phó.


 


Thời cơ là lúc này đây, Thương hô to:


 


- Chạy…


 


Thương vọt lên, lao về khúc địa đạo, ba người lao ra hai phía, Tài chạy bám theo Thương vừa lúc chiếc trực thăng rà tới, bắn chéo chéo từng băng. Trực thăng vừa dãn ra thì tiếng rú ghê hồn của phản lực lao vút tới mục tiêu vừa nhận. Thương hô to:


 


- Nằm xuống.


 


Đo nằm sau Thương mấy mét, chúi đầu vào hai cánh tay che tai. Tài đã nhìn thấy bom từ phản lực trút xuống. Trời mờ tối nhưng nhìn lên trời còn rõ những chấm đen to như cái chén rơi xuống. Ầm…! Một quả bom loại lớn nổ bên cạnh cách chừng mươi mét. Đất cát, mảnh bom bay ào ào, rơi rào rào lộp bộp, phủ kín hai người, nhiều cục đất to tướng tung lên không rồi rơi xuống, nếu trúng người thì cứ là dập xương, may mà cả ba không ai sao cả. Khi chiếc phản lực trút bom xong, có lẽ chúng yên trí đã diệt trúng mục tiêu nên kéo tất cả đi. Chúng đâu có ngờ chỉ năm phút sau máy dò sóng của chúng đã báo hiệu có tín hiệu đang được phát sóng, cũng lại ngay tại trong khu vực vừa giội bom, giữa vòng vây trận càn, thật điên đầu. Nhưng các nhà toán học quân sự Mỹ không thể tính ra bởi khi cho máy bay phản lực giội bom tiếp, lại cách chỗ giội bom hồi nãy hơn một trăm mét, trong khi đó hầm điện đài của A36 chỉ cách hố bom nổ lần trước có 40 chục mét. Bốn lần phản lực lao xuống ném đủ bốn lượt bom đìa(loại bom lớn thả xuống nổ đào thành cái đìa to). Nào cần mặt đất mênh mông, chỉ trong vòng bốn năm chục mét mà bốn lần giội bom đều không trúng mục tiêu. Hai loạt bom giội tiếp theo đều không trúng hầm, cả ba người trinh sát cầm cần ăngten chạy trên mặt đất cũng không ai việc gì. Trong đêm hôm ấy, tin tình báo vẫn đội bom rẽ không trung, tiếp tục chuyển về chiến khu đúng hẹn, chỉ khác thường là phải mất ba lần tắt máy, khởi động máy, và bản tin phải ngưng lại tới ba lần mới chuyển nhận xong.


 


Nhiều lần nhận tin, chuyển tin trong thời gian trận càn Xêđaphôn, đơn vị A36 thật dũng cảm, đã hoàn thành nhiệm vụ trong bom đạn!


 CÁI “NÚT” HẦM


 


Quân giặc không thể ngờ khi chiến trận có quy mô quân sự và khoa học kết hợp thuỷ – lục - không quân hiện đại cùng chiến thuật chặt chẽ như thế mà bọn Việt cộng vẫn còn sống. Các tướng tá chỉ huy trận càn vẫn còn nhiều cái tính không ra, tính không bằng mấy du kích xuất quỷ nhập thần. Bom đạn dày đặc như thế, thuốc độc, bom xăng, bom cháy, bom tấn… xới tung hết cả miền đất như thế mà đối phương vẫn còn tồn tại ở trong lòng đất. Chúng lại tiếp tục dùng biện pháp khác: tiếp tục chui xuống lòng đất.


 


Tại một nắp trầm trong hầm địa đạo, cuộc chạm trán thật hy hữu đã xảy ra. Lính Mỹ ở trong hầm địa đạo, chúng ngồi ngay trên nắp trầm, ta ở dưới im lặng theo dõi từng chút. Khi nắp hầm được bật lên, ánh đèn pin rọi sáng phía dưới, thấy im lìm, một lính Mỹ thò tay xuống huơ huơ, thấy không ổn, cánh tay lại rút lên. Chừng 30 giây im lặng, rồi bỗng thấy hai chân người thò xuống.


 


- A! Bọn này cũng biết cách tụt xuống nắp trầm của ta, để đấy!


 


Thể bật lưỡi lê của cây bá đỏ lên, toan đâm liền, Tính vội chận lại, nắm tay Thể giữ im. Hai chân người thò xuống từ từ, rồi một nửa dưới tên lính vừa tụt xuống, lưỡi lê của Thể đâm xuyên qua bụng, Tính dùng sức của hai tay phụ cho Thể, lưỡi lê xuyên táo qua bên kia bụng như kiểu xâu cá nướng. Tên lính Mỹ chỉ hự lên một tiếng rồi nằm im. Lúc này, thân nó nằm bít chặt nắp trầm như một “cái nút” có cài chốt ở dưới, đố mà rút “cái nút “lên được, vì cái chốt cài cứng ấy là cây bá đỏ. Hẳn là lũ “chuột cống” bên trên còn lâu mới tháo được cái “nút” ra khỏi miệng hầm. Hai chiến sỹ trườn vượt nhẹ nhàng sang khúc địa đạo quanh co, rồi lại chui vào một cái nắp bổng khác, biến mất trong lòng đất.


 


Thể còn luyến tiếc:


 


- Còn cây bá đỏ của em, anh Tính!


 


- Cứ để đó, tụi “chuột cống” này bò không còn khó nhọc, nó không lấy mất đâu, đừng lo.


 


Trực thăng lại tiếp tục thả lũ “chuột cống” xuống, tụi này chúng còn lĩnh thêm cả nhiệm vụ đào xới rộng thêm đường hầm để lấy thây tên Mỹ rồi kéo thụt lên, lùi ra ngoài. Còn anh em ta đã lần theo đường địa đạo quen thuộc ngoằn nghèo đi tới đâu thì chỉ có đất mới biết.


 


Những trận bom giội có lần trúng hầm, lật tung tành cả nắp, cả cây que ván vách, người không trúng bom, hay bị đất vùi lấp thì chạy tìm nơi ẩn nấp. Nếu đụng địch đang vây càn gần đấy, những người bật lên từ lòng đất khó tránh khỏi họng súng đang trực sẵn chỉ chực nhả đạn.


 


Một khi bộ binh của địch ở xa khu vực bom, chúng nã đại liên, trọng liên, cả tiếng súng đại bác không giựt (DKZ). Có những khi tiếng đạn đại bác phát ra những tiếng rào rào giống như mối càng ăn lá mục ban đêm trong rừng. Đấy chính là lúc Mỹ dùng loại đại bác không giựt bắn, đạn nổ tóa ra hàng trăm hàng ngàn những mũi đinh năm phân, mỗi mũi đinh nhọn hoắt có cánh, có vây phía sau như mũi tên để lượn dễ dàng trong gió nghe rào rào trong không khí bay đến trúng mục tiêu, sát thương vô cùng hữu hiệu. Ôi vũ khí gặp vũ khí, sắt thép gặp ý chí, ở đây, đất luyện thành thép, thép luyện thành người, những con người thép bằng da bằng thịt đang chống chọi với sắt thép vũ khí.


 


Nhưng con người dù ý chí có thành thép thì vẫn bằng xương bằng thịt, bằng máu đỏ da mềm, tránh sao khỏi hy sinh mất mát!


MÌN CHỐNG TĂNG MỞ ĐẦU


Từ mấy năm nay, ở chiến trường miền Đông Nam Bộ, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh phát động phong trào: “đánh du kích cơ quan”. Phương châm: “bám thắt lưng Mỹ mà đánh”. Anh em các đơn vị lại đề ra khẩu hiệu “Một tổ cũng đánh, một người cũng đánh”, “đánh để mà sống”. Nhất là trong các trận càn, các đơn vị cơ quan tự bảo vệ mình bằng cách đánh riêng, sáng tạo, mưu trí riêng, bằng vũ khí được phát và cả vũ khí tự tạo.


 


Đến ngày thứ ba, giữa các đơn vị đứt liên lạc hết, hầm hào bị chia sẻ, sập nghẽn không còn liên hệ được với nhau. Các chiến sĩ của ta hy sinh khá nhiều, nhưng tinh thần của những người đang còn sống thì vì lòng căm thù địch đã thôi thúc cho tinh thần mạnh mẽ và sáng suốt lên gấp bội. Vậy là lúc này các đơn vị hoàn toàn độc lập tác chiến, và họ đã bắt đầu chiến đấu. Ta hãy xem một đơn vị sống trong làn bom đạn hủy diệt của Mỹ như thế, họ đã chiến đấu ra sao.


 


Đơn vị A36 của Hai Thương từ lâu đã quen với độc lập tác chiến!


 


Ngày thứ ba của trận càn, anh em bò lên quan sát. Xe tăng Mỹ nhan nhản đang gầm rú quần qua đảo lại, có xe chở bộ binh ngồi đặc kín trên mui, tự do mặc sức tung tác. Phải có tiếng nổ trả lời chúng nó mới được. Mấy ngày nay bom pháo trút xuống, đạn bắn như mưa, thuỷ bộ không quân Mỹ làm mưa làm gió tàn phá, giết chóc thả dàn, không gặp phải một trở ngại nào, một sức chống cự nào.


 


Đơn vị mình sẽ phải gì để trả lời chúng chứ, phải cho chúng biết thế nào là người của miền đất thép, là sắt của tam giác sắt này mới được! Thương nói vậy với anh em trong đơn vị, rồi anh phân công hai người trực điện đài, hai người bảo vệ, còn anh cùng Thôn, Kiển, bò lên “trạm quan sát” mặt đất, tìm cách đánh.


 


Sau khi xác định vị trí mà mình sẽ phải làm gì ngay trong đêm nay, ba người quay về địa đạo. Đêm bao phủ dày đặc, đêm tối là bạn của các chiến sỹ du kích. Ba người: Thương, Thôn, Kiển mỗi người xách theo hai trái mìn, ba người sáu trái, loại mìn chống tăng có quai, 10 kilôgam thuốc nổ, giắt xẻng gập vào người (xẻng quân dụng nhặt được của Mỹ), mình trần trét bùn đất, bò trong đêm tối ra gài trái theo vị trí đã quan sát hồi sáng.


 


Sáng sớm hôm sau, đội hình xe tăng hàng trăm chiếc đang hung hăng tràn lên, cũng tưởng như mấy hôm nay, không gặp một trở ngại nào, chưa hề có một tiếng nổ chống cự nào của đối phương. Loại vũ khí tăng hạng nặng này bất chấp tất cả súng đạn, đi đến đâu như một pháo đài thép an toàn và cán nát tất cả.


 


Bỗng một tiếng nổ vang trời, trong khối khói đen đặc, một xe tăng lật tung, lính Mỹ ngồi trên và cả xe thành một đống sắt vô dụng. Một tiếng nổ và một tiếng nổ nữa tiếp theo. Ngồi đếm dưới hầm địa đạo Thôn sung sướng, ôm lấy Thương:


 


- Trúng rồi, đánh được xe tăng rồi anh Hai ơi!


 


Thôn định nhoi lên xem, Thương kéo lại:


 


- Không được lên, chắc ăn rồi, ngồi im.


 


Và họ vui mừng ôm lấy nhau khi đếm thấy đủ cả sáu tiếng nổ. Loại mìn chống tăng này do ta tự tạo, chỉ một khối thuốc nổ đơn giản tròn, nặng 10 kilôgam, có quai xách, đào hố nhỏ, đưa xuống, vặn ngòi nổ, đậy nắp, vùi kín trong đất. Khi xe tăng cáng trúng nắp, kích ngòi là nổ ngất. Sức nổ của loại mìn chống tăng này vừa đủ để diệt gọn một xe tăng, vũ khí của ta cũng hay thật.


 


 Bỗng lại thấy một hai rồi ba, bốn… tiếng nổ lớn, đúng tiếng nổ mìn chống tăng của ta. Thương sung sương reo lên:


 


- Vậy là đêm qua các đơn vị khác cũng lên gài trái như mình rồi, vậy là anh em ta còn sống, chắc cũng như chúng ta thôi. Các đồng chí ơi, hãy chặn bàn tay của quân Mỹ lại, không để cho chúng muốn làm gì thì làm, hãy trả thù cho đồng bào ta, anh em ta đã hy sinh. Chúng ta còn sống thì quyết không để chúng yên!


 


Ngay ngày xuất trận đầu tiên, ngày thứ tư của trận càn, Mỹ đã mất trên chục xe tăng bằng những bàn tay đặt trái mìn nhẹ nhàng chắc chắn giữa đêm tối, những người con của đất, đang “đánh du kích cơ quan”. Quân Mỹ không thể ngờ du kích phản công tài tình như vậy, tưởng bom đạn dày đặc như thế, xăm moi ủi càn quét như thế, làm sao Việt cộng có thể phản công được. Vậy mà ngay trong buổi sáng xe tăng vừa xuất phát đã bất ngờ bị thiệt hại hàng chục xe, và không dưới trăm bộ binh Mỹ thiệt mạng.


 


Đêm hôm sau, tổ ba người của Thương lại lên đặt sáu trái mìn đánh tăng nữa. Các anh nguỵ trang khéo léo, để không bị lộ. Gài trái xong xuôi ba người cùng rút xuống hầm, nhưng không sao chợp mắt được. Anh em hồi hộp ngồi đến sáng chờ đếm tiếng nổ. Chờ mãi tới chiều, chỉ thấy hai tiếng, vậy là mới trúng được hai xe tăng, còn bốn trái nữa, chờ tới tận chiều vẫn không thấy nổ tiếng nào. Không hiểu xe tăng địch phát hiện hay mìn lép, thật tiếc, tiếc thật!


 


Lúc trời vừa sập tối, tổ ba người bò lên mặt đất, mò mẫm tìm kiếm. Hai trái nổ rồi, xe tăng đang nằm chổng trơ khét lẹt với mùi tanh ngòm của máu người. Lính Mỹ chết bộn, chắc là xe tăng chở đầy lính ngồi trên mui, còn trong xe tăng có lái chính, lái phụ, hai pháo thủ, hai tiếp đạn. Xác lính Mỹ không thấy đâu, chắc nó đã được máy bay chuyển đi hết, chỉ còn máu, máu đặc quánh từng mảng. Đêm tối không nhìn thấy máu, chỉ sờ phải nhớt nháp và tanh nồng ghê lợm.


 


Xác của anh em bà con mình thì không được ai mang đi đâu cả, không có người chôn. Một số anh em mình trong bóng đêm, cố gắng đào hố lôi xác người, lôi những mảnh chân tay, đầu mình không còn nguyên vẹn của đồng đội và đồng bào, trong đêm tối vùi tạm xuống hố, nhưng không thấm tháp gì. Xác người còn văng vãi, nằm rải khắp nơi. Máu thịt của đồng bào ta đang đổ, thấm đẫm xót đau cả dải đất Miền Đông, và cả máu của quân địch cũng đang góp đổ xuống nơi đây.           


 


Bốn quả mìn gài đánh tăng đêm qua không nổ, không phải mìn lép mà do xe tăng địch không cán trúng. Đêm hôm ấy tổ chiến đấu của A36 lần mò ra moi lên mang về hết, kiểm tra thấy còn nguyên. Anh em quan sát nghiên cứu thấy xe tăng địch vì sợ dính mìn nên sáng đi đường nào, chiều về lại bò theo đúng vết đường đó. Biết vậy, tổ chiến đấu Thương, Thôn, Kiểng, Đo táo tợn hơn: đánh tăng vào ban ngày.


 


Gần sáng, các anh đã lên mặt đất nguỵ trang nằm sẵn. Trời sáng hẳn, chờ cho tăng địch đi qua hết, quan sát nhớ dấu xe tăng đã qua, ba người mình mẩy trét kín bùn màu đất, đầu mình đội cây cỏ dây leo quấn kín, mỗi người chỉ mang theo được một trái mìn đánh tăng 10kilôgam và chiếc xẻng gập, bò lần lần ra. Lính Mỹ đang càn cách đó chỉ khoảng trăm mét, không để ý kỹ tới mặt đất ngổn ngang cành lá. Ba “bụi cỏ” trườn đi nhẹ nhàng, có lúc bò lúc khom khom, có lúc phải nằm im hàng chục phút để tránh xe lính Mỹ hành quân, tránh máy bay trinh sát trực thăng chuồn chuồn bay qua bay lại. Ba anh bò xa hàng trăm, hai trăm mét. Chọn đúng đường xe tăng mới qua, moi đất đặt trái, nguỵ trang. Xong xuôi, “bụi cỏ” lại nhễ nhại trườn bò quay về địa đạo. Thật là một nghệ thuật nguỵ trang hoàn hảo. Trườn bò ngang cỡ tàng hình, ngay trong hàng ngũ địch đang càn, ngay trước mắt địch mà vẫn không bị lộ. Hoàn cảnh chiến đấu ấy mới có thể sản sinh ra những con người chiến đấu ấy, có thể ngay cả những bài học tập huấn quân sự các anh cũng chưa học hết, nhưng kinh nghiệm chiến trường khi chiến đấu, những thiên biến vạn hoá đã tự tạo ra bài học cho người chiến sỹ.


 


Y như anh em đã tính toán, chiều ấy ba chiếc xe tăng theo vết đường buổi sáng chạy về bãi đậu, đã chổng đáy lên trời bỏ xác. Chắc chúng không thể ngờ, chúng đang làm chủ mặt đất, mà Việt cộng lớn gan lại có thể chui lên mặt đất vào cả ban ngày để gài mìn!


 


Ngày sau đó, những người chỉ huy trận càn Xêđaphôn bắt đầu cảnh giác đối phó với lòng đất. Những chiếc xe tăng dàn hàng ngang đi trước dọn đường, xe ủi đất nhích theo sau, ủi dũi tung đất để dọn mìn, nếu có mìn chúng thí một xe và một lái. Sau đó mới đến xe tăng chở bộ binh hành quân lên. Khi phát hiện cửa địa đạo, chúng cụm lại xem xét bàn bạc, bỗng một tiếng nổ ùm, mìn anh em du kích cài ngay cửa địa đạo, một cái bẫy đơn giản là một cách đánh đáng sợ cho lính càn. Bị bao vây, nhưng các chiến sỹ du kích cũng tìm ra nhiều kiểu đánh, gây cho địch nỗi kinh hoàng, mất dần tính hung hăng ban đầu. Anh em chiến sĩ ta thì đã luồn sâu vào trong lòng đất khi đã đặt trái xong.


TỰ TẠO VŨ KHÍ


Mỗi đơn vị ở đây chỉ được phát mấy trái DH10, mìn chống tăng, một súng B40, vài quả đạn, vài cây AK, súng ngắn. Vũ khí chỉ để tự vệ, đánh du kích cơ quan. Khu vực trong vòng vây trận càn lúc này không có quân chủ lực. Mà dù có chủ lực ở đây thì lực lượng của ta cũng không thể trực diện đương đầu với lực lượng và vũ khí Mỹ với quy mô trận càn Xêđaphôn lớn chưa từng có từ trước tới nay, hàng chục ngàn quân Mỹ. Còn lực lượng anh em các cơ quan thì đang phải đương đầu với sự hủy diệt của vũ khí Mỹ, phải chịu đựng mất mát hy sinh, đói khát.


 


Đương đầu với hàng chục ngàn lính Mỹ lúc này chỉ có du kích, du kích các cơ quan đánh ban đêm, du kích chiến đấu vô cùng mỏng về con số và thiếu thốn về vũ khí. Du kích ở đây là những chiến sỹ giao liên, những cán bộ Tuyên huấn, y sỹ, y tá, nhân viên văn thư, đánh máy. Vậy làm sao có thể chiến đấu, chiến đấu như thế nào trước lực lượng quân và vũ khí quá chênh lệch như ta đã thấy, làm thế nào để tồn tại và còn chiến đấu!


 


Trong lúc lên mặt đất về ban đêm để trinh sát và cài mìn, các anh phát hiện những quả bom không nổ, nằm ngay mặt đất. Biết loại bom này chứa rất nhiều thuốc nổ. Anh em trong đơn vị ít nhiều đã được học cách sử dụng và chế tạo vũ khí; nên khi bóng đêm xuống, họ bò ra, vặn mở kíp những quả bom, moi thuốc nổ vào xô, chuyển về địa đạo. Thế là “một công binh xưởng” chế tạo vũ khí ngay trong hầm địa đạo. Đơn vị A36 có Kiển là anh thợ biết về cơ khi, lại được huấn luyện qua lớp công binh trước khi chuyển qua A36. Mấy người cùng nhồi nặn nèn chặt thuốc nổ vào thùng thiếc, đổ thuốc đen làm mồi, cài đăt ngòi nổ, kíp nổ, thậm chí dùng cả xô đựng nước của Mỹ, cưa đôi chiếc thùng gánh nước của ta để chế tạo mìn. Mìn lớn, mìn nhỏ được chế tạo ra. Trái mìn lớn trông như trái bí đỏ, trùng trục hơi meo méo vì điều kiện chế tạo vũ khí trong hầm chật chôị tối mò mò, nhưng hiệu quả không thua kém mấy mìn chế tạo trên R là bao. Anh em trong tổ A36 chế được 18 trái nổ nữa để gài. Loại mìn này sẽ gây ra tiếng nổ rất to, khói bụi mù mịt, nhưng sức sát thương bị hạn chế vì không còn kiếm đâu ra mảnh thép nhọn, hạt bi để găm, để nhồi vào thuốc như những trái mìn tự tạo ở xưởng công binh trên chiến khu. Anh em còn nhặt được những trái bom bi quả dứa, tháo cánh và biến nó thành quả mìn đạp nổ khá nhạy.


 


Biết rõ kho Hậu cần ở gần đấy bị trúng bom từ đêm đầu tiên, Đêm ấy, Thương cùng hai chiến sỹ giữa đêm khuya mò tới khu vực kho vũ khí bị bom B52. Cả kho lương thực, quân trang thuốc men vũ khí của đoàn 83 Hậu cần cất giấu dưới hầm bị bom phá hoại. Bảy tám người bảo vệ cơ quan hy sinh hết. Thương và các chiến sỹ A36 tìm kiếm, moi móc trong đất cát được một số DH10, đạn B40, lương thực. Các anh đi liền mấy chuyến trong đêm, có lúc chạy nhanh như sóc, có lúc núp, lúc khom khom, mang được khá nhiều thứ về hầm cất giữ. Ngay sáng hôm sau, Mỹ càn tới khu vực kho Hậu cần bị trúng bom, chúng ủi tung, phụt lửa đốt cháy các vật dụng quân nhu còn vương vãi sót lại, phụt lửa vào những bao lúa gạo còn lại, cả khu vực kho hậu cần tan tành hết.


        B40 VÀ DH10 VÀO TRẬN


Tại trụ điểm quan sát của Thương, tầm nhìn xa trên ba bốn trăm mét trống trải. Ngay khu đất trống, chiều tối, thấy lính bộ binh công tử Mỹ tắm, có nước do trực thăng phun xuống, thả đồ ăn xuống, thả cả gái xuống phục vụ. Điểm tịnh quân này có khoảng một trung đội. Chúng chủ quan, xem thường coi như chúng đã làm chủ, không có đối phương chống cự, hoặc chúng cho rằng đối phương không qua khỏi những trận bom pháo rải thảm vừa qua.


 


Thương phân công: tối nay mỗi người mang theo một trái DH10, dây điện, riêng Thương còn khẩu B40 với hai trái đạn hình tên lửa cài chặt vào người, Kiển khoác theo một AK, đi đánh cụm quân Mỹ. Trời tối hẳn, bốn người mình trần, trét bùn, trét tiêu bột, trét xà bông Mỹ khắp đầu mình, trét cả vào vũ khí, đề phòng khi tới gần, có chó béc giê sẽ không bị phát hiện, bò tới sát nơi Mỹ đóng quân, cách chừng 30 mét Thôn bấm Thương:


 


- Có gần quá không anh Hai.


 


- Gần cho chắc ăn, Đại tướng đã nói “nắm thắt lưng Mỹ mà đánh”, đã tới thắt lưng Mỹ đâu, đánh rồi ta biến vô địa đạo, độn thổ, khi phát hiện, nó sẽ bắn, thì cho nó bít cửa hầm giùm mình luôn.


 


Núp dưới bờ rãnh làm công sự, đặt khẩu B40 và AK ở đó, bốn người bò vào sát trại Mỹ. Nhìn thấy rõ đốm lửa hút thuốc ở dưới gốc cây xay của lính gác, Thương đoán: chỗ có lính gác chắc là lều trại của chỉ huy. Anh bò gần vào tới trại, còn nghe vài tên trong lều xì xồ nói chuyện, chắc là chúng còn thức. Sau một ngày dàn quân càn quét bắn phá tìm diệt, sau một ngày xăm hầm tìm bới, giết người không gớm tay, nay chúng đang nghỉ ngơi lấy sức để ngày mai lại tiếp tục gây tội ác. Thương mím chặt môi, anh em bà con ơi! Các đồng chí ơi! Máu thịt của chúng ta đổ quá nhiều rồi, chúng tôi sẽ bắt chúng phải đền tội! Bốn người theo phân công trước, đặt cài xong bốn trái DH10 ở bốn vị trí đã định rồi vừa bò vừa dòng dây về phía bờ mương, Thương lệnh:


 


- Tao bắn một trái B40 xong, 10 giây sau đến Thơm và Mới cho trái DH10 thứ nhất nổ, đến phát B40 thứ hai xong, 15 giây sau đến hai trái của tao và thằng Kiển cho nổ, tiếp theo là lựu đạn và AK xuất kích, xong ta phải đi lượm vũ khí rồi băng về các cửa địa đạo kia rút xuống!


 


Tiếng nổ bùm… thật lớn, một cụm lửa vàng quánh bùng lên ngay trung tâm trại Mỹ!


 


Pháo sáng địch vội tung lên sau tiếng nổ B40, anh em còn nhìn thấy rõ chúng chạy tới chạy lui la hét nháo loạn cả khu trại, tiếng lính Mỹ kêu khóc rống lên rùm trời. Chúng làm sao kịp đối phó, và làm sao có thể xác định được hướng Việt cộng. Và những tiếng nổ của hai trái DH10 tiếp theo, tiếng… bùm… lửa màu da cam của B40, rồi hai trái DH10 bồi tiếp… Cả trại lính Mỹ lúc này cũng đang giống như ở trong cơn cuồng phong mưa bom B52, mưa pháo bão bùng của bom đìa, bom tạ, bom tấn, bom napan cuồn cuộn khói lửa của đêm đầu tiên! Nhưng đây lại là B40 và DH10 của Việt cộng.


 


- Rút chốt lựu đạn, AK đâu, xung phong lên!


 


   Thương hô to, anh lao lên như tên bắn, trái lựu đạn trong tay đã bay lên phía trước cỡ 25m ngay vào đám lính Mỹ đang bò lăn bò quàng ra ngoài trại, kên la í ối. Mấy quả lựu đạn và vài tiếng súng sau cùng của tổ bốn người bồi thêm, khiến cho cả trận địa im lìm hết, chỉ còn vài tiếng khò khè rên rỉ của lính bị thương chưa chết hẳn.


 


Chưa chịu rút vội, Thương kêu:


 


   - Đi lượm lấy ít vũ khí mang về đã tụi bay. Tụi nó có bắn tiếp ứng tới cũngchỉ hú hoạ xung quanh, chưa dám dã vào đây đâu, sợ trúng lưng Mỹ!


 


Vai khoác súng, người đeo lựu đạn Mỹ nặng trĩu, nặng hơn cả lúc vào trận, bốn anh em rút về đến “nhà” ngồi nghỉ thở mà lòng mừng đến reo lên:


 


- Ta giáng trúng đích rồi, nắm thắt lưng Mỹ mà đánh hay quá, cả trung đội Mỹ im re, láng hết. Tốn mất bốn trái DH10, hai trái B40, nhưng cũng gỡ lại thu về mấy cây cạc bin đầy đạn, lựu đạn, bù vào, anh em ta đánh tốt quá!


 


Vừa lúc ấy, có tiếng pháo nổ, đạn lửa phụt búa xua, nhưng cũng chỉ bắn ra oai thị uy thôi, chứ đêm tối biết xác định vị trí Việt cộng chỗ nào mà bắn; hơn nữa chúng còn sợ pháo lại giã vào trúng trại Mỹ đang đóng quân rải rác. Mà Việt cộng độn thổ tàng hình thì có mà theo dấu chân lạc đà trên sa mạc Sahara tìm đến chân trời rồi cũng mất hút.


 


Ngày hôm sau, một liên lạc của đơn vị khác sang báo tin:


 


- Bên Huyện đội Bến Cát nói đơn vị Hai Thương đêm qua đánh hay quá, đánh ngon quá, nguyên trung đội Mỹ hết ráo trơn trọi! Tụi em còn đếm hàng mấy chục băng ca khênh xác Mỹ lên trực thăng suốt đêm, sáng nay trực thăng còn tới dọn những xác Mỹ.


 


- Xác chúng mang đi đâu anh Hai nhỉ?


 


- Xác Mỹ được giữ gìn bảo vệ chu đáo lắm, chúng mang về căn cứ, tẩy rửa, tẩm ướp cẩn thận rồi chở về bên Mỹ hết. Cứ băng ca khiêng người là bị thương, băng ca khiêng túi nilông bó chặt là xác chết, anh em ta cứ vậy mà đếm Mỹ. Chỉ có xác người mình đang nằm rải rác khắp vùng này là không được ai chôn cất thôi! Ban đêm, chúng ta hãy cố gắng lên moi xác anh em đồng bào chôn được người nào hay người ấy, để phơi thây sình thối đau lòng lắm.


 


Đồng chí liên lạc đề nghị:


 


- Các anh ở bên ấy còn phân bì: Tại bên này được trang bị nhiều vũ khí nên còn đánh ngon, bên ấy gần hết rồi, hỏi thăm anh xem có nguồn nào không, giúp đỡ cho một ít?


 


Thương chỉ đống mìn tự tạo:


 


- Chúng tôi cũng đi kiếm về là chính, đâu có được trang bị nhiều. Đấy, cho mấy trái nhỏ, về nói cánh Hai Thương tự làm đấy.


 


- Có, cái này chúng tôi cũng có, anh em tự chế được, cũng đi lấy thuốc nổ của bom lép về làm hằng hà, nhưng chỉ cài đặt nhỏ, đánh không ngon như DH10, cần là cần DH10 và đạn B40. Nếu có đủ vũ khí, chúng tôi cũng không thua gì các anh đâu!


 


Thương chia cho người anh em đơn vị bạn hai trái DH10, 1 trái B40 mang về. Vũ khí của chúng ta ít ỏi lắm, phương tiện gần như không có gì, so với vũ khí Mỹ và lực lượng quân Mỹ ở trận càn này thì một trời một vực, một trọi một trăm, nhưng chúng ta cũng không để chúng muốn làm mưa làm gió gì thì làm, chúng ta đang đánh nó bằng tinh thần ý chí và lòng dũng cảm, ta vẫn đánh được Mỹ. Lính Mỹ trong trận càn này sẽ phải kinh hồn chùn bước.


 


Tin từ trong trận càn được chuyển lên cấp trên qua điện đài của A36. Các cơ quan đang tìm nhiều cách chống trả quyết liệt, A36 đã diệt được bao nhiêu xe tăng, được bao nhiêu Mỹ. Nhận tin này, hẳn các thủ trưởng phấn khởi lắm. Các anh nhắn gởi lời động viên anh em cố giữ lực lượng, nhiệm vụ, tìm cách liên lạc thường xuyên với trên và các cơ quan.


 


Đêm ấy, Mới nói chuyện với Thôn:


 


- Tao thấy Mỹ chết nhiều mà ớn quá, cũng như mấy bữa trước tụi mình đào hố chôn hàng chục thi thể đã bốc mùi của bà con mình bị bom đạn, thất thây người thối sình tao muốn ói, ngày hôm sau tay chân người ngợm còn hôi rình, chết chóc nhiều quá, chưa bao giờ tao chứng kiến người chết nhiều như vậy.


 


Tiếng rì rầm nói chuyện của hai chiến sỹ trẻ, Mới và Thôn mới mười chín, hai mươi tuổi, Thương nghe mà thông cảm. Hai chiến sỹ mới theo anh Hai vào đơn vị này được hơn một năm, có lẽ các cậu ấy chưa được lần nào nghe các thủ trưởng giảng giải dạy dỗ, vì lòng yêu quê hương, căm thù tội ác của giặc với bà con làng xóm ruộng đồng mà các cậu theo cách mạng. Trong buổi họp chi bộ ngày hôm đó, Thương nói về ý nghĩa của những trận đánh táo bạo mà các đồng chí mình trong đơn vị A36 vừa lập được, vừa giáng cho giặc một trận đòn đau chí mạng bởi chúng đang hung hăng, đắc thắng tuyệt đối, chúng đinh ninh Việt cộng không còn mà chống cự lại. Vậy mà bây giờ, chúng không thể ngờ sự thể lại bị Việt cộng giáng đau như thế. Mới có mấy trận đánh mìn thô sơ của du kích, mà quân số Mỹ đã thiệt hại lên đến hàng trăm. Mặt khác, chiến thắng đã làm nức lòng chiến sỹ ta, củng cố niềm tin cho những người còn đang sống, đang chiến đấu ngay trong trận càn ác liệt này.


 


Thương nói với anh em những lời giống như chính các thủ trưởng đã từng lên lớp giảng giải chính trị cho anh trước đây, bởi hôm nay anh đang được giao quyền làm bí thư chi bộ:


 


- Bác Hồ dạy: Chúng ta, đồng bào ta, không ai muốn chiến tranh. Nhưng kẻ địch tàn bạo bắt chúng ta phải chiến đấu. Ta chiến đấu vì quyền sống của dân tộc. Vũ khí của địch để giết người, để xâm lược nước ta, vũ khí của ta để bảo vệ người dân ta… chúng ta chiến đấu tiêu diệt quân xâm lược là để giải phóng quê hương đất nước ta thoát khỏi bàn tay tội ác xâm lược của quân Mỹ.


LƯƠNG THỰC ĐÃ CẠN


Mấy đêm đầu, một số địa đạo còn có người chui lên mặt đất nấu cơm ăn, mấy ngày sau, bom đạn càn rát quá, mặt đất bằng trụi hết, không còn ngọn rau, trái đắng nào có thể hái được, không còn bụi cây che chắn, không dám ngoi lên mặt đất nấu cơm, mọi người ăn đồ khô, bánh tráng gạo rang, chè kho, nhai cả gạo sống, có thứ gì mang xuống hầm mấy bữa trước dự trữ là ăn lần lần hết, hôm nay, ngày thứ tám của trận càn, những thứ gì có thể ăn được cũng đã cạn kiệt. Nước uống thì vẫn có trinh sát ra ngoài múc được ít nhiều. Gần như cả vùng không còn nhà cửa, nhà cơ sở dân cũng không còn, kho lương thực dự trữ của Hận cần cũng tan tành hết.


 


Cây cối ruộng đồng tan hoang, đến trái ổi cây chuối cũng không còn. Thuốc độc hoá học màu da cam rải xuống triệt hại màu xanh. Loại cây nào chứa nước nhiều như chuối, dừa, đu đủ, mía, các loại rau, càng mau chết trước, một ngày sau là úa vàng rồi héo hết. Cả một vùng bằng trụi cháy sém. Loại cây khô, cây gỗ già cằn, nhất là tre còn sống dai hơn, lác đác loe ngoe còn ngoi ngóp lá cành, dù xơ xác nhưng vẫn cố níu giữ lại chút màu xanh trên thân cành xác xơ. Người ta sống bằng màu xanh, đất thì nuôi cây, cây nuôi người. Đất tơi tả, cây héo khô cháy trụi, người bầm giập. Con người sẽ sống ra sao?


 


Nhưng sức sống ở nơi đây còn dai dẳng như loài cỏ, con người vẫn còn tồn tại như chính lớp vỏ trái đất. Con người giống như màu xanh cây cỏ vẫn sống dai dẳng, vẫn ngoi lên trong bom đạn, trong thuốc độc hóa học, trong lửa cháy, trong gió mưa bão tố, cỏ vẫn biếc nhuần thêm.


 


 Đồ ăn dự trữ trong các hầm địa đạo cũng đã cạn, dù ăn dè xẻn mỗi ngày chỉ một nắm gạo rang, nhưng được đến bảy tám ngày là không còn gì để ăn cả, mọi người bắt đầu đói. Mấy ngày đầu, tới giờ cơm, đói cồn cào đói khủng khiếp tưởng như có thể chết được. Mệt lả, rời rã run hết chân tay. Mấy ngày sau quen hơn, lại không thấy đói mà chỉ run chân tay, chỉ mệt lả, ngồi im một chỗ không di chuyển, uống nước cầm hơi, mà nước cũng phải uống hạn chế. Người nào người nấy mắt trũng sâu hóm, trắng trợt, cùng với hàm răng trắng hiện lên mờ ảo trong căn hầm tối, không ra hình hài người, mặt mũi đầu mình đầy đất cát trông như củ từ phơi khô.


 


 Ngân ngồi cạnh, dúi vào tay chị Măm Thu củ từ nhỏ vẫn để dành từ bữa trước:


 


- Ăn củ này đi Năm em cho chị đấy.


 


- Củ gì vậy?


 


- Củ từ, hồi chiều em nhặt được ở gần cửa hầm. Em sức thanh niên còn muốn chịu không nổi, mắt hoa tay chân run rồi, chị ốm nhom mà còn đứa nhỏ trong bụng, em lo lắng quá, tội nghiệp nhỏ, chưa ra đời đã phải chịu đói.


 


 - Không sao đâu em, chị đói và ốm vậy nhưng người khỏe, thấy nó vẫn đạp hung lắm, cầu trời cho qua khỏi cơn hoạn nạn gian khó này. Ráng chịu đựng nghe con!


 


Năm Thu nhấm miếng củ từ sống, rớt rớt nhờn nhờn đăng đắng, nhưng nuốt vào bụng thấy mát lạnh như chuyển thành sức sống lạ, miếng ăn chị em nhường nhịn cho nhau, lòng Năm Thu rưng rưng cảm động, nước mắt từ đâu ứa ra.


 


 Riêng đơn vị Thương trong vài lần đi trinh sát, ra moi chôn xác dân, gom nhặt vũ khí Mỹ, đã phát hiện việc máy bay Mỹ thả thức ăn đồ hộp xuống từng thùng, từng thùng, từng khối. Thời gian máy bay thả xuống cỡ 5 giờ chiều. Vị trí của các hầm địa đạo của ta ở rất gần và xen kẽ ngay nơi cụm quân của địch, thậm chí ở ngay phía dưới lòng đất chỗ bọn chúng đóng quân, vì vậy lúc chúng đón nhận đồ hộp xuống, ta cũng tìm cách chiếm lấy đồ ăn.


 


Thương bố trí một AK ở ngay miệng hầm, chờ cho những chiếc máy bay tới gần hạ thấp độ cao, đang thả đồ hộp xuống, lia một tràng AK, máy bay hoảng hốt, xịt khói, chao đảo bay lên rồi rớt bùm… xuống cách đó mấy trăm mét, còn chiếc kia đang thả đồ hộp xuống, vội vã bay lên cao, dù trắng máng đồ hộp vừa thả xuống, bay tá loả khắp nơi, có thùng lơ lửng khá xa vị trí địch. Nghe tiếng AK nổ bất thần, bọn địch vừa ào ra toan lấy đồ ăn, chúng hoảng hốt nằm rạp, bắn trả loạn xạ nhưng không kịp xác định được vị trí vì Việt cộng đã độn thổ nhanh như dế. Chờ một lúc không thấy gì, chúng vội vàng thu gom đồ hộp quanh đó, không dám đi ra xa, sợ dính đạn. Trong lúc trời nhá nhem tối, anh em ta từ địa đạo chui lên, nhanh như sóc thu gom những thùng đồ ăn giành giật được của Mỹ mang xuống địa đạo.


 


Chiếc chuồn chuồn nằm bẹp dí trong đống lửa khói kia cũng phải chờ đến sáng hôm sau mới được lính đến “xem xét”, bởi chúng biết chắc chắn không còn người sống trong đó.


 


Những lần lên mặt đất trinh sát và chiến đấu, nhờ tài phán đoán tốt nên anh em các đơn vị còn tìm kiếm ra nơi có đồ hộp mà thu gom được khá nhiều, thậm chí bơi móc ngay cạnh những xác chết ngay cạnh điểm tịch quân của lính Mỹ để nhặt vũ khí và không bỏ qua cả những đồ hộp bổ dưỡng như sữa bánh, cà phê. Vì vậy mà trong hầm địa đạo của đơn vị Thương khá rủng riểng đồ ăn, thậm chí còn nhặt cả cây đèn nấu nước (loại dụng cụ cá nhân cục ga như hộp quẹt, trang bị của lính Mỹ) mang về nấu được ca nước pha cà phê uống. Có đêm, gặp liên lạc của đơn vị bạn, đi trinh sát tình hình và cũng đi kiếm đồ ăn nhưng chưa kiếm được, Thương kêu lại hầm, chia cho anh em một số bánh, sữa mang về ăn đỡ. Anh còn chỉ cách giành đồ hộp với lính Mỹ. Đồ hộp của Mỹ phong phú vô cùng, không thiếu thứ gì, toàn những thứ cực kỳ bổ dưỡng.


 


Việc đi lượm đồ hộp thật nhiều gian truân và không ít tổn thất vì địch cũng lắm mưu ma chước quỷ và những kinh nghiệm chiến trường. Có người vừa lượm được hộp đồ hộp lên thì ngay lập tức tiếng nổ bùm… chết ngay tại chỗ. Lính Mỹ đã được lính ngụy “bồi dưỡng” nghiệp vụ khá tinh vi, gài trái nổ vào đồ hộp nhử đối phương, tiêu diệt đối phương cũng khá hữu hiệu.


 


Cũng trong những lần đi moi đồ hộp, Thương đã phát hiện trong một hố bom có bốn năm xác chết, không phải chết vì bom đạn, vì thi thể còn nguyên, mà là thân thể loã lồ trắng toát không mảnh vải của những cô gái, còn những móng tay móng chân sơn đỏ chót. Hoá ra đây là những cô gái được lính Mỹ chở đến đây góp vui cho lính Mỹ. Mấy cô gái này thả xuống chỉ đủ cung cấp cho sỹ quan. Sỹ quan “dùng” xong, liền cho lính. Có mấy cô gái thôi, làm sao đủ sức cung cấp cho hàng mấy chục lính Mỹ to như voi, các cô chết cùng với người dân người lính chết vì bom đạn ở mặt trận này. Hẳn rằng lúc bị chở tới đây, các cô không thể ngờ mặt trận và chiến tranh tàn khốc chết chóc là như thế đấy!


 


Moi và chôn những thi thể của đồng loại, những cô gái vô tội phải chết theo sự tàn phá của chiến tranh mà lòng đau thắt, nỗi ghê rợn của những thi thể đã bốc mùi thối rữa không ngăn nổi những xúc động trong lòng, khiến các anh cố gắng, cố sức đào moi xắp lại thi thể cho ngay ngắn, không có đủ nilông bó mà chỉ phủ lên đống thi thể ấy chung một tấm nilông, chôn lấp cũng chỉ qua loa, đánh dấu vị trí chôn để còn mong một ngày nào đó chỉ chỗ cho người thân cha mẹ các nạn nhân xấu số.


 


 


 


Thương báo cáo tình hình lương thực cạn kiệt, các đơn vị ngoài thiệt hại con số còn có nguy cơ đói lả lên cấp trên. Ngay ngày sau, tổ điện đài nhận lệnh cấp trên: liên lạc ngay với tất cả các cơ quan trong khu vực, mỗi cơ quan cử một người theo giao liên đi lấy gạo.


 


    Đơn vị A36 khẩn trương thực hiện nhiệm vụ ngay lập tức. Thương phân công anh em trong tổ lao đi tới các cơ sở, các hầm hào báo tin, tập hợp được tất cả gần hai chục người. Chập tối, Thương tổ chức cho cả đoàn chuẩn bị theo đồng chí giao liên, tất cả lên đường. Riêng đơn vị A36 đi hai người vì Thương và Kiển là hai chiến sỹ thông thạo đường đi, trinh sát có kinh nghiệm, lại mang vác khỏe mạnh, có thể hỗ trợ cho những anh chị đã đuối sức.


    Đoàn người chia nhau từng tốp từng tốp, băng qua cánh rừng đã bị bom đạn, lửa cháy, ngổn ngang cành cây hố bom, lúc bò, lúc chạy, theo dấu hiệu là những cánh tay của người giao liên và của Kiển, Thương. Qua bưng, qua đìa, qua kênh rạch, đoàn ngươì nối đuôi nhau vượt chặng đường khá dài cỡ hơn chục cây số, mò mẫm trong đêm tối, nhà cửa dân tình trong cả khu vực không còn, cây cối hoa màu không có gì có thể hái được. Đây đó xơ xác vài cây đậu bắp, cành ổi xanh, ngọn rau, gặp gì hái nấy tống đại vào miệng ăn nhai cho đỡ đói, những người đang làm nhiệm vụ đi lấy lương thực cũng đang đói lả. Tới một cơ sở có lẽ là kho dự trữ của Hậu cần, ngoài khu vực vòng vây trận càn. Số lượng có hạn, mỗi người cũng chỉ có được phân cho một bao gạo nhỏ cỡ gần chục ký vác về.


Chuyến đi lấy lương thực có kết quả, đã giúp anh em các hầm địa đạo có thêm sức chống đỡ, sức chiến đấu.


(còn tiếp)


Nguồn: Bóc vỏ trái đất. Ký. Mã Thiện Đồng. NXB Văn học, 2007.


www.trieuxuan.info


bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Phùng Quán: "Có những lúc ngã lòng/ Tôi vịn câu thơ mà đứng dậy" - Trần Thanh Phương 21.09.2018
Bội Trâm – Người đàn bà bất chấp tai ương - Ngô Minh 19.09.2018
Một chuyến làm báo ở Tây Nguyên - Thanh La 19.09.2018
Gián điệp quốc tế - Vũ Thư Hiên 07.09.2018
Ba ngôi mộ không có nấm mồ - Hà Đình Nguyên 06.09.2018
Chiến tranh Việt Nam và trò chơi nguy hiểm của Phạm Xuân Ẩn - Nhiều tác giả 05.09.2018
Hồ Chí Minh - Nguyễn Đăng Mạnh 05.09.2018
Nguyễn Khải - Nguyễn Đăng Mạnh 05.09.2018
Nguyên Ngọc - Nguyễn Đăng Mạnh 05.09.2018
Syria, bóng đá & chiến tranh - Nguyễn Thu Trân 29.08.2018
xem thêm »