tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 24052407
29.07.2018
Mã Thiện Đồng
Bóc vỏ trái đất (1)

Lời người viết             


Đề tài về chiến tranh viết bao nhiêu cũng chưa thể hết, nhân dân ta rất cần, thế giới rất cần, người Mỹ cũng rất cần để nghiên cứu khoa học, đây là một tài sản tinh thần vô cùng quý giá của dân tộc ta trong cuộc chiến tranh chính nghĩa.


            Tôi đã gặp những con người sống trong trận càn Xêđaphôn (Cédar Falls) năm 1967, họ chứng kiến cảnh bom đạn rải xuống huỷ diệt vùng căn cứ cách mạng này như thế nào. Chiến tranh đã gây nên căng thẳng, đau thương, cảnh bắn phá ác liệt, cảnh chết chóc cùng với sức chịu đựng gian khổ hy sinh, sức chiến đấu dũng cảm dẻo dai của con người, mà đến bây giờ ta khó có thể hình dung nổi đó là sự thật.


 Trên chiến trường ấy, người gây chiến tranh xâm lược và người kháng chiến bảo vệ đất nước đều đổ máu. Có cuộc chiến tranh nào mà không phải trả giá, nhưng dù lâu hay chóng thì cuộc kháng chiến giành độc lập hòa bình cho dân tộc, tất sẽ thắng lợi. Người đọc có thể thấy được sự tàn khốc của chiến tranh và thấy được phần nào nguyên nhân vì sao chúng ta, dân tộc Việt Nam ta đã chiến thắng quân xâm lược, qua lời kể của những nhân chứng lịch sử trong trận càn Xêđaphôn.  


Đến nay đã vừa tròn 40 năm, những người có mặt trong trận càn ngày ấy chỉ còn có thể đếm trên đầu ngón tay. Họ cũng chỉ kể được một phần những gì đã xảy ra và tôi cũng không thể viết hết được toàn bộ diễn biến trận càn Xêđaphôn, nhưng tôi mong rằng cuốn sách sẽ góp một phần nhỏ bé trong việc tìm hiểu sự thật lịch sử cho thế hệ mai sau. – Mã Thiện Đồng.


TRẬN MƯA BOM MỞ ĐẦU NGÀY 8 - 1 - 1967 


Màn đêm bao phủ, cả miền rừng cây tĩnh mịch giữa miền Đông Nam Bộ đang chìm trong yên lặng. Tiếng côn trùng du dương như tiếng vọng, đưa từng nhịp thở đang sinh sôi vào trong giấc ngủ. Bỗng tiếng rít xé trời của phản lực cơ và những tiếng nổ ầm ầm của bom từ trên trời rơi xuống làm rung chuyển cả mặt đất, bàng hoàng sửng sốt cho cả vùng trời đất. Tiếng máy bay B52 xuất hiện trên bầu trời đêm. Rồi tiếng bom nổ ầm ầm, ùng ùng rền vang, từng đợt, từng đợt nối tiếp nhau như sấm rền. Bão lửa sáng loáng, bùng lên dày đặc mặt đất trong đêm tối. Bom thả liên tục không dứt. Mỗi đợt ba pháo đài bay B52 dàn hàng ngang, mỗi chiếc tuôn xuống hàng chục tấn bom, hết đợt này đến đợt khác.


Thứ vũ khí quân sự hiện đại nhất của Mỹ đã được sử dụng trên chiến trường Miền Nam. Loại máy bay khổng lồ này có sải cánh dài đến gần 60 mét, thân dài khoảng 50 mét. Trọng lượng mỗi chiếc trên dưới 200 tấn, trong đó chứa đến 25 tấn bom. Chúng có thể tàn phá trên diện tích 200 mét bề ngang và 1000 mét bề dài. Trên không, cao hàng chục kilômét, chúng rải bom xuống theo đúng toạ độ và ngang nhiên tung hoành bởi không một vũ khí nào của ta có thể đụng tới chúng được. 


Liên tiếp kéo dài hàng mấy tiếng đồng hồ, B52 gầm thét, điên cuồng giội bom. Chín, mười đợt B52 liền, mỗi đợt ba chiếc nối đuôi liên hồi rải thảm bom xuống mặt đất. Hàng ngàn, hàng vạn quả bom thả xuống. Mặt đất như nổ tung lên, rên xiết tơi tả. Cả mặt đất, rừng cây, cánh đồng, nhà cửa, làng xóm, dòng kênh, cả con người và súc vật dưới làn mưa bom đang bung lên sôi sùng sục, đang bong lên quằn quại. Ngồi dưới địa đạo, mọi người có cảm giác như đang ngồi trong cái trống to, bị người khác cầm dùi nện cật lực liên tục trên mặt da. Sao mà Mỹ lắm bom đến thế. Giữa đêm tối, chỉ có tiếng nổ ầm ầm và những vệt sáng nhập nhoàng, những vệt lửa tóe sáng trên bầu trời, những vệt bom đen ngòm trút xuống, những cụm lửa của bom nổ dưới mặt đất dày đặc, mặc sức tha hồ tự do tung tác rải bom tàn phá “mục tiêu”. 


 B52 bay ở tầng cao rải bom như mưa rào xuống mặt đất, tầm thấp và ngoài vệt bom thì phản lực cơ gầm rít chằng chéo với các loại các cỡ “thần sấm”, “con ma” từng tốp một, bay dọn đường, yểm trợ, gầm rú ghê rợn, xé rách cả vùng trời đất, uy hiếp đối phương. Chúng thi nhau nhào xuống thả bom lớn, hỗ trợ B52 đang nổ liên hoàn hàng mấy tiếng đồng hồ liền. Bom nhẹ nhất cũng 250 kilôgam, bom nặng nhất 500 kilôgam. Địa đạo của ta ở căn cứ cách mạng này chỗ sâu nhất cũng chỉ năm ba mét mà hố bom có khi khoét sâu tới năm bảy mét. Với số lượng nhiều như thế, bom đạn Mỹ đang xới tung một dải đất Miền Đông, tơi tả cả màu xanh cây trái, và máu đỏ của con người đang đổ.


Lúc này đây dưới mặt đất, con người và sự sống, cây cối nhà cửa ruộng đồng! Chắc chắn không tránh khỏi những hy sinh tổn thất nặng nề. 


Ở chiến trường này, đồng bào và chiến sỹ ta không có cách nào để đánh lại và trừng trị B52, chỉ còn mỗi việc là lo phòng tránh cho tốt, chèo chống, luồn lách hầm hào, tuy thụ động nhưng có còn hơn không. Nếu bom trúng thì chết, không trúng thì sống. Bom đạn đã từng giội xuống nhiều lần, người dân từng chịu đựng nhiều phen. Hồi tháng 8-1965 đã có B52 của Mỹ đến rải bom ở đây, cũng khủng khiếp như vậy nhưng chúng thả bom diện rộng hơn xuống rừng cây mênh mông nên ít trúng mục tiêu, đỡ thiệt hại cho các căn cứ cách mạng hơn. Nhưng lần này, diện rải bom hẹp, dày đặc, có trọng điểm, tập trung vào ba xã vùng Nam Bến Cát gồm: An Điền, Phú An, An Tây, trên cánh rừng 139 (rừng rộng 139 mẫu) lực lương pháo đài bay được huy động tới 30 chiếc rải bom, quét qua quét lại nhiều lần cày xới tung tành mặt đất giống như người ta lột vỏ cam vỏ quýt. Vậy sức tàn phá kinh khủng như thế nào? Đúng vậy, người Mỹ đã gọi trận càn này là cuộc càn “bóc vỏ trái đất”. Có lẽ chưa có nơi đâu trên trái đất này B52 Mỹ lại giải bom dày và nhiều trong một thời gian như ở đây.


                                    MÀN HAI: PHÁO GIỘI LIÊN HỒI


B52 giội bom hàng mấy tiếng đồng hồ liền. Bóng đêm vẫn bao phủ dày đặc, tiếng bom chờ nổ (bom nổ chậm) vẫn ùng ùng chưa dứt. Khi tiếng động cơ máy bay B52 và bom tấn của phản lực cơ vừa ngơi, đã thấy một loạt tiếng nổ ầm ầm… ầm… nối tiếp. Lần này không phải tiếng bom mà là tiếng pháo. Pháo đủ loại, đủ cỡ, tầm xa tầm gần. Đặc biệt loại pháo 175 mm “vua chiến trường” đang phát huy hết khả năng. Pháo các ngả trút tới tấp vào cả vùng Nam Bến Cát. Vệt sáng vằn ngang, vằn dọc đan chéo như lưới, xé rách cả bầu trời đêm. Tiếng rít của đạn pháo trong không khí ghê rợn chói tai. Những tiếng nổ ầm ầm lại tiếp tục tàn phá cào xới mặt đất, mảnh đạn pháo xé nát tất cả những gì chúng gặp phải. 


Pháo ở căn cứ Đồng Dù bắn qua, pháo từ Phú Lợi, Dĩ An, từ sân bay Lai Khê bắn xuống. Cụm pháo từ ngã ba Bađăngsi nã tới, pháo dập tới tấp, tới tấp. Bom B52 vừa rải thảm xong, còn pháo cũng không khác gì vãi trấu dày đặc khiến cho mặt đất bị bung lên xới lên, xé nát nhừ, đất rung chuyển quằn quại rên xiết liên hồi hàng sáu bảy tiếng đồng hồ liền.


Đất Miền Đông thân yêu ơi! Chúng ta đang quằn quại hứng chịu bom đạn Mỹ. Những quả bom nổ, những quả pháo, những pháo đài bay bụng chứa đầy bom, đang làm đau chúng ta. Mỹ có bao nhiêu quả bom nhỉ, có lẽ bom rải xuống đây còn nhiều hơn cả những đầu người, đầu gia súc, đầu ngọn cây. Lúc này đây, con người và tất cả những gì nằm dưới làm mưa bom đạn này đang phải hứng chịu. 


Đã bao lần bom đạn huỷ diệt nơi đây, đất và cây vẫn đang che chắn cho người miền Đông kiên cường anh dũng. Người vẫn bám chặt đất để sống, cây vẫn bám chặt đất để lên. Lần này đất miền Đông lại bị bom đạn cào xới tróc lở tơi bời, nhưng đất vẫn giữ chặt lấy người đây thôi. Như trong căn hầm các anh đang ngồi đây, hàng bao nhiêu giờ đồng hồ liền bom và pháo giội không ngớt, bốn người vẫn bám chặt đất, xiết chặt nhau cùng rung chuyển với đất, bốn người vẫn còn sống. Nhưng nếu bom rơi trúng hầm thì sao, cả pháo nữa, bom pháo mà trúng ngay nắp hầm thì hầm có kiên cố cũng bị phá tung. Liệu có bao nhiêu hầm, bao nhiêu khúc địa đạo con có người ở dưới đã trúng bom, trúng đạn pháo. Các đơn vị, cơ quan đang đóng ở đây nhiều lắm, tổn thất ra sao, anh em đồng đội ai đã trúng bom, ai đã phải vùi sâu dưới hầm địa đạo mà không kịp đào moi cứu giúp. Các đồng chí ơi! Bom đạn tàn khốc quá. Chúng ta lại phải đương đầu với một trận càn lớn rồi đây!


 Trong cuốn “Cuộc chiến triền miên” của tác giả người Mỹ: J. P Harison, xuất bản năm 1982, mô tả về cuộc càn Xêđaphôn đã viết: “có một số vùng bị đánh phá bình quân 27 trái bom trên một mét vuông”. Những trận mưa bom B52, mưa pháo trên đây đã có rất nhiều sách và tài liệu đã viết, cùng với lời kể của những nhân chứng lịch sử, những con người đang có mặt tại Nam Bến Cát ngày trận càn xảy ra.


 MÀN THỨ BA: XE ỦI CÀY XỚI


           Trời mờ mờ sáng, tiếng nổ của pháo đã ngớt dần, ngớt dần, trong vài phút tạm yên, hầm nào còn tồn tại, anh em cũng vội vã bò lên mặt đất trinh sát tình hình. Hỡi ơi! Thật là kinh khủng chưa từng thấy, cả một miền cây xanh ngút ngàn che chắn tầm mắt người ta mới hôm qua là như thế, mà nay cây cối ngã hết, nằm ngả bằng địa, mặt đất xáo trộn, cây ngổn ngang bật gốc rễ chổng lên trời. Đất đỏ trộn lẫn lá xanh loang lổ. Một vùng trời bằng địa tan tành tơi tả rộng bao la, nhìn xa tắp không còn gì che tầm mắt. Mấy xóm ấp, nhà cửa của dân tan hoang không còn một mảnh, loáng thoáng còn những cây đứng nghiêng ngả, cành lá lả tả xơ xác bầm giập. Cánh đồng An Điền mướt xanh chạy dài thẳng tắp từ bìa rừng ra tới tận sông Sài Gòn bát ngát xanh là thế, bây giờ trông như tổ ong đỏ bỏ không, toàn lỗ hố bom dày đặc, đất cát vùi lấp không còn màu xanh. Trước kia khó có dịp phóng được tầm mắt tới một trăm mét, mà bây giờ cây cối ngả rạp bằng địa, nhìn xa tắp tới ngút mắt, thật là tàn khốc. Sức tàn phá và huỷ diệt của bom đạn Mỹ đến thế là cùng. Liệu con người đang ở trong đấy sẽ ra sao! Thiệt hại hẳn lớn lao lắm.  


            Bỗng có tiếng động cơ ầm ì từ xa vọng lại, rồi phía nào cũng tiếng động rần rần, rồi những chiếc “nồi đồng” dàn hàng ngang xuất hiện. Xe ủi đất đã xếp từng hàng từng hàng. Xe ủi đất to lừng lững trông hung dữ như con ác quỷ chở thần chết đang từ từ bò lên, bò lên, bắt đầu ủi. Như con bọ hung hăng tiết, chúng cứ thi nhau dũi đất, xới tung cả gốc cây, mỏm đá mô đất, quần ngang, quần dọc, quần xéo như đan lưới. Trừ những chỗ hố bom đìa đã khoét sâu, còn lại là xe ủi xới tới xới lui tung tành hết. Chúng ủi đất lên tìm hầm, tìm địa đạo, xúc qua xới lại, ủi không chừa một chỗ nào. Có những vị trí anh em luồn chui lên “đài quan sát trong lòng đất” nhìn qua ống quan sát thấy gần ngay hàng xe ủi, sém đụng, lại phải lập tức chui xuống thông báo tình hình và rút sâu nữa xuống địa đạo. Có lúc người dưới địa đạo, nghe rõ cả tiếng rít của xích xe tăng lăn trên đầu. Cũng có đoạn hầm địa đạo đêm qua không trúng bom, nhưng bị trấn động đã nghiêng ngả, sáng nay xe ủi tràn lên cán trúng, sập lép, sập hẳn. 


Nơi đây, miền Tây và Nam huyện Bến Cát tỉnh Bình Dương, vùng căn cứ cách mạng đang có rất nhiều cơ quan đóng. Từ mấy ngày hôm trước, ở đây ta đã có những tin tức được báo động và những dấu hiệu sắp sửa xảy ra trận càn lớn. Và bây giờ ngay giữa đêm tối, chuyện đó đã tới!


Các cơ quan đóng tại căn cứ địa đạo thì mọi người rút hết xuống hầm, nhưng những người mới từ nơi khác chạy sang, hoặc đi công tác qua thì thật là gay go vì không có đủ hầm hố trú ẩn. Họ chạy tán loạn khắp nơi trong đêm tối, nương trong rừng, trên cánh đồng. Bom pháo giội suốt đêm qua, cùng với đất và cây nhào xới, hẳn số người này làm sao tránh khỏi thương vong! Người chết nhiều lắm.


            Tin tức nhận được lúc này là địch càn có quy mô lớn, hết vùng Tây và Nam Bến Cát, bao vây toàn bộ vùng Nam Bến Cát, gồm ba xã: An Điền, Phú An, An Tây. Lính Mỹ trực tiếp càn, với quyết tâm “tìm diệt”, “hủy diệt” xiết chặt vòng vây, tiêu diệt tất cả, không để một ai sống sót. Quân nguỵ chỉ hỗ trợ vòng ngoài cho lính Mỹ trực tiếp càn. Quả đúng như chiến thuật trận càn Xêđaphôn mà người Mỹ đã đặt tên là trận càn “bóc vỏ trái đất” với phương pháp “tát nước bắt cá” và kiên quyết triệt để thực hiện đến cùng “một con chuột cũng không chạy thoát”!


 Quy mô trận càn vô cùng lớn với 25 ngàn quân Mỹ, gồm những sư đoàn khét tiếng càn quét hiện đại như: Red Big One , Bộ binh số 25… Red Big One ở Bến Cát, Lai Khê tấn công xuống từ hướng Bắc, Đông Bắc xuống. Sư đoàn bộ binh số 25 là “đơn vị có khả năng giải quyết nhanh chóng chiến trường vùng nhiệt đới” được tôn là “Tia chớp nhiệt đới” ở Củ Chi Đồng Dù tấn công qua, kết hợp không quân, pháo binh, xe ủi xe tăng, bộ binh, thuỷ quân lục chiến, chặn đứng ba hướng đường bộ và hướng đường sông từ Sài Gòn lên. Lữ đoàn dù 173 của Nguỵ thì hỗ trợ đánh kết hợp ở vòng ngoài. Trận càn sẽ kéo dài. Với mục đích “tát nước bắt cá”, “tìm diệt” ủi sạch, xúc hết, bao vây tiêu diệt, nhổ hết cỏ cả vùng căn cứ cách mạng này, bảo đảm vành đai an toàn cho Sài Gòn, khi nào đạt bằng được mục đích mới rút quân. 


Các cơ quan đóng trong địa bàn thì đã sẵn có hầm hào, dân trong vùng cũng chuẩn bị nơi ẩn nấp khá kiên cố. Riêng một số đoàn cán bộ đi công tác qua, những đơn vị và số đông dân từ Củ Chi vì lánh bom đạn mà chạy qua bên này sông thì gặp gay go to bởi không bố trí được hầm hào trú ẩn, họ tạm thời vào một số hầm nhà dân, và lánh tạm vào hầm các cơ quan nhưng không đủ, một số trú ẩn vào các công sự, trên khắp cánh đồng, trên bờ kênh bờ đìa. Số người này bị thiệt hại khá nặng ngay trong ngày đầu tiên bom đạn rải xuống Nam Bến Cát. Sang đêm hôm sau, một số nhận được tin trận càn bên Bến Cát này còn khốc liệt hơn bên Củ Chi và sẽ kéo dài, nên những người này lại vội vàng vượt sông quay trở lại bên Củ Chi. Người nào ngay đêm thứ hai quay trở về Củ Chi thì thoát, còn người nào sang đêm thứ ba định vượt sông đều bị từng tốp lính phục kích bên bờ sông bắn chết hết. Xác người chết nằm la liệt trên khắp cánh đồng, trên bờ sông và dưới dòng sông. Bom đã không chừa ai, đạn của lính phục kích trong đêm nhằm bắn những người vượt sông cũng không chừa một ai.


TAM GIÁC SẮT


            Cái tên không có liên quan gì đến những Tam giác Quỷ, Tam giác Vàng trên thế giới, ở miền Nam Việt Nam lại có một cái tên: Tam giác sắt. Vùng Tam giác sắt này do người Mỹ đặt tên, bởi đây là nơi toàn dùng đến sắt thép của vũ khí và vũ khí, ngay cả đến mảnh đất ngọn cây và con người ở đây cũng biến thành thép! Vùng tam giác này nằm ở vùng Bến Cát – Củ Chi – Trảng Bàng, ngay gần nách Sài Gòn về phía Tây Bắc. Cụ thể hơn ba đỉnh của nó là: Phú Hòa Đông (Củ Chi), Nam Bến Cát (Bình Dương) gồm ba xã: An Điền, Phú An, An Tây, phía tây là các căn cứ: An Nhơn, Hố Bò, Long Nguyên, An Thành và kéo sang đất Lộc Thuận (Trảng Bàng, Tây Ninh).


 Người Mỹ gọi là vùng Tam giác sắt, vì nơi mà quân Mỹ vô là tóe lửa, tóe khói, đụng đâu là bị đánh te tua tơi tả ở đó, vô là chết la liệt, chết bằng đủ mọi cách vô cùng đơn giản thô sơ và tân kỳ. Có thể nói đây là nơi thử nghiêm của tất cả các loại của vũ khí từ thô sơ đến hiện đại, từ máy bay B52, phản lực F105, do thám (đầm già), trực thăng, bom đạn đủ cỡ, xe bọc thép, xe tăng xe ủi, lội nước, tàu chiến, pháo tầm xa, tầm gần, đại liên, cạcbin, napan, thuốc hóa học các loại vũ khí hiện đại, tối tân của Mỹ. Có cả vũ khí hiện đại, thô sơ của ta: AK, CKC, ĐH10, ĐH5, mìn, lựu đan, súng ngắn, súng dài, súng trường, bá đỏ, súng ngựa trời, mìn tự tạo, bàn chông, bẫy ná và ngay cả đàn ong con kiến cũng vào trận cùng với con người. Dọc đường lộ 13 (Nguỵ gọi đó là con đường máu và nước mắt) vũ khí của Mỹ và cả của quân cách mạng thường xuyên đối chọi thử sức nhau… Nơi đây, mỗi lần Mỹ - Nguỵ hành quân, càn quét là mỗi lần người Mỹ phải kinh hoàng khiếp vía.


 Hậu quả của các loại sắt thép vũ khí ấy là khói lửa bom đạn của cuộc chiến tranh xâm lược và cuộc chiến tranh giành độc lập cho tổ quốc, là mặt đất bị cày xới rên xiết, màu xanh bị huỷ diệt, là xương thịt, máu hồng của con người đã đổ xuống thấm đỏ cả đất trời! 


Vùng Tam giác sắt cách trung tâm đô thành Sài Gòn và các căn cứ quân sự lớn nhất của Mỹ, Nguỵ không bao xa. Nơi đây bị càn quét bắn phá thường xuyên, gom dân vào ấp chiến lược lập vùng vàng đai trắng, nhưng lực lượng cách mạng vẫn hoạt động mạnh mẽ ở ngay dưới lòng đất với hàng chục hàng trăm km địa đạo, lập căn cứ, trung chuyển lực lượng giữa chiến khu trên R  (Trung ương Cục) với Sài Gòn, giữa Sài Gòn với chiến khu. Vùng trắng nhưng vẫn mênh mông một mầu xanh bao phủ, rừng cây xanh ngút ngàn và cánh đồng lúa bát ngát xanh. Bom đạn và chất độc hóa học có nhiều cỡ nào cũng không thể hủy diệt hết màu xanh cây cỏ. Bởi trong lịch sử nhân loại có lẽ chưa một thế lực nào tách được người nông dân ra khỏi đồng ruộng, tách được màu xanh ra khỏi mặt đất. Trong gió mưa bão tố, cỏ vẫn biếc nhuần thêm.


Thật kỳ diệu thay những con người cách mạng của một dân tộc anh hùng, trên mảnh đất miền Nam thành đồng tổ quốc, họ không bỏ quê hương đầy bom đạn chạy đi nơi khác, nhiều khi họ chỉ có tay không trước họng súng liên thanh của kẻ thù tàn bạo. Họ không lập chiến khu chỉ để bảo mạng, để phòng thủ, mà để tấn công và tiêu diệt quân thù, họ là những con người gan dạ dũng cảm, những con người bằng thép.


Cuộc kháng chiến của chúng ta cho tới thời kỳ1966 đã lớn mạnh, nhưng ở vùng căn cứ này, mang lại hiệu quả tốt nhất trong các cuộc chống càn, chủ yếu vẫn là lối đánh du kích. Du kích là những chiến sỹ không quân phục, là dân, là những người gối đất nằm sương, gian khổ thường xuyên đói cơm khát nước, ngủ hầm ăn cơm nắm muối quẹt, khoét địa đạo, tự chế tạo vũ khí, sáng tạo cách đánh, kiên cường bám trụ, bám đất đương đầu với địch, là lực lượng vũ trang có tổ chức được chỉ đạo chặt chẽ quy mô, không ngừng phát triển lực lượng, giống như mầu xanh cây cỏ cứ sinh sôi nẩy nở từ đất, trường tồn, lớn mạnh, du kích vẫn song song với quân đội viễn chinh hiện đại của Mỹ, vẫn dai dẳng bất diệt như chính sự sống trên trái đất này vậy.


            Với vũ khí được trang bị hiện đại và dư thừa, người Mỹ không muốn để căn cứ cách mạng của ta mọc lên ngay cạnh, uy hiếp Sài Gòn, như những tổ mối âm ỷ đang tan công vào gần khu nhà gỗ, thật là đáng sợ! Thám báo, gián điệp, chỉ điểm không thiếu gì, chúng đã biết căn cứ cách mạng của ta nằm ở đây, xuất phát từ đây, bí mật chuyển vũ khí vào Sài Gòn đánh những trận kinh thiên động địa của Biệt động ngay tại sào huyệt Sài Gòn. Muốn bình Sài Gòn, phải bình khu này trước, vùng mà chúng chỉ có thể kiểm soát được bằng máy bay và những cuộc hành quân càn quét vào ban ngày. Lực lương du kích của ta lại chính là nông dân cày cuốc chăn nuôi, lúc làm đồng khi đánh giặc. Cán bộ cách mạng, ngày thì ở dưới lòng đất, trong lòng dân, đêm lên hoạt động, gây cơ sở, móc nối, trung chuyển tin tức tiếp tế lực lượng quân nhu lương thực thuốc men từ Sài Gòn lên R, từ R xuống Sài Gòn. Chuyện tách dân ra khỏi đồng đất quê hương, tách dân ra khỏi cán bộ du kích không phải chuyện địch muốn là làm được.


                                    MỤC ĐÍCH CỦA “BÓC VỎ”


            Mùa khô năm 1966 – 1967 quân Mỹ mở một trận càn có quy mô lớn nhất từ trước tới nay vào khu vực Tam giác sắt lấy tên là cuộc càn Xêđaphôn.


 Theo tin của địch, lúc đó chúng nhằm tiêu diệt vùng căn cứ cách mạng, những mầm mống kháng chiến, những cơ quan lãnh đạo Bộ chỉ huy, các đơn vị quân sự của ta để không còn nơi xuất phát các trận đánh thốn óc vào bọn chỉ huy quân đội ngụy và chính giới Mỹ ở ngay tại Sài Gòn. Từ mấy năm nay, biệt động đã đánh những trận lớn làm thiệt hại nặng nề vào ngay các cơ quan đầu não Mỹ Ngụy như: Khách sạn Caravella, đánh chìm tàu chiến hạm Mỹ ở cảng Sài Gòn, nổ Cư xá Brilk, Tòa Đại sứ Mỹ. Khách sạn Metropol, Tổng Nha cảnh sát, nhà hàng Mỹ Cảnh, khách sạn Vicstoria… Chúng bàng hoàng kinh sợ trước tổn thất nặng nề của người Mỹ ở ngay giữa Sài Gòn. Chính những căn cứ vùng ven này là nơi chứa tiềm lực vũ khí là bàn đạp của quân cách mạng cho các trận đánh. Chúng muốn hủy diệt tất cả, tất cả các vật che khuất tầm mắt nhìn, tất cả các sinh vật, ngọn cây trên mặt đất ở vùng này đều là cái gai trong mắt chúng.


 Đây là trận càn mở đầu thực hiện chiến lược “tìm diệt” của địch. Nhằm dùng không quân, những pháo đài bay hiện đại nhất, xe ủi đất hạng nặng, bộ binh, thuỷ quân, san bằng tất cả mọi địa hình. Lực lượng cơ động đông gấp ba lần cuộc càn Crimp . Đây là cuộc càn lớn nhất, ác liệt nhất từ trước tới nay, bắt đầu từ 8-1 đến 26-1 năm 1967. Nhưng người Mỹ chưa hiểu hết về con người Việt Nam vốn có lòng yêu nước, căm thù giặc, mang trong lòng truyền thống bất khuất từ ngàn xưa. Chúng không biết rằng những người bình thường chúng gặp đang làm công, ngay trong căn cứ cho chúng, những người thợ người dân trong thành phố, những người nông dân cày cuốc lam lũ hiền lành đang ở ngay sát nách chúng chính là người yêu nước, muốn đánh đuổi quân xâm lược, họ đi theo cách mạng, sẵn sàng hy sinh để bảo vệ tổ quốc. 


Còn ở vùng Tam giác sắt này, không chỉ con người mà cả ngọn cỏ lá cây, từ con ong, con kiến, tất cả đều là tai mắt, là những người nuôi dưỡng che giấu giúp đỡ cho quân cách mạng, và chính họ là những chiến sỹ du kích. Người dân ở đây theo cách mạng triệt để, hoạt động bằng mọi hình thức thích hợp, là địa bàn chiến lược của miền Đông Nam Bộ, chính là nơi mở đầu cuộc chiến đấu trường kỳ và cũng là nơi kết thúc thắng lợi của cuộc chiến tranh cách mạng giải phóng dân tộc vẻ vang của Việt Nam ta.         


Trọng tâm cuộc càn Xêđaphôn là Nam Bến Cát (Bình Dương) Củ Chi, Bến Súc với quyết tâm kiên quyết và triệt để thực hiện chiến thuật mà người Mỹ đã đắt ra: “ba gọng kìm” - “bóc vỏ trái đất” - “tát nước bắt cá”– thực hiện chiến lược “tìm diệt”, dùng không quân, bộ binh, xe tăng xe ủi đất hạng nặng, san bằng tất cả mọi địa hình, đạt bằng được mục đích giữ vành đai an toàn cho thành phố Sài Gòn. 


            Củ Chi là vùng chúng thực hiện càn trắng mở đầu, chỉ chừa các ấp chiến lược Mỹ ngụy gom dân vào ở tập trung để dễ kiểm soát, còn lại đều đã bị bom đạn cày xới xăm moi nhiều lần. Trước khi tấn công sang vùng Nam Bến - Cát Bình Dương, hàng tuần lễ nay, Mỹ đã giội bom nã pháo rất ác liệt xuống vùng đất Củ Chi: Gót Tràng, Trung An, Bàu Cạp, Bàu Chứa và một số vùng ven Nhuận Đức, Phú Hòa Đông… Máy bay, xe tăng, xe ủi, bộ binh càn quét, giống như tát nước bắt cá. Một số cơ sở căn cứ của ta đã chịu thiệt hại khá nặng. Hàng ngàn mét địa đạo ở Củ Chi đã bị hư hỏng. Tuy nhiên du kích Củ Chi cũng đã giáng lại cho địch những đòn chí mạng. Số đông dân và cả những cán bộ trong vùng đã vượt qua sông Sài Gòn, sang vùng Nam Bến Cát tạm lánh khỏi bom đạn cuộc càn, tưởng rằng bên ấy yên hơn. Hẳn bọn thám báo mặt đất không lạ gì việc người vượt sông sang Bến Cát, nhưng hình như nó nằm trong kế hoạch “tát nước bắt cá” của giặc: “tát nước” vùng Củ Chi trước, “dồn cá” sang Bến Cát, rồi tiếp tục “vét nước” bên Bến Cát “bắt hết cá”. 


  NAM BẾN CÁT, NGÀY HÔM TRƯỚC TRẬN CÀN 


Mấy hôm nay máy bay do thám quần đảo trong vùng rất khác thường, chắc lại có gì sắp xảy ra rồi đây!


 Chị Năm Thu và mấy người nữa đang cắt lúa, đứng nhìn những chiếc “đầm già” lượn qua lượn lại mà lo lắng. Lúa đã tới ngày thu hoạch, anh chị em thuộc đơn vị 83 - cơ quan Hậu Cần - đang ra sức cắt đập, vô bao, chuyển về nơi cất giấu.


 Mấy năm nay, các cơ quan trên R, căn cứ Dương Minh Châu, các cơ quan Quân khu Sài Gòn có lương thực ăn phần lớn cũng nhờ đơn vị Hậu Cần này, không phải đi lĩnh gạo ở đâu về mà là tự cày cấy sản xuất lấy. Vùng Nam Bến Cát đồng ruộng khá nhiều nhưng dân không được tự do làm ruộng. Địch vây ráp càn quét, gom dân vào ấp chiến lược kiểm soát chặt chẽ, không để dân ở chung với Việt cộng dễ bề tiếp tế. Nhưng làm sao có thể tách dân ra khỏi ruộng đồng! Vẫn còn nhiều gia đình và những người dân khỏe mạnh gan lỳ quyết không đi, ở lại trồng trỉa, làm ruộng, nuôi vịt thả đồng (đây cũng chính là lực lượng ngày là nông dân cày cuốc, tối hoạt động công tác cách mạng, đào hầm địa đạo, là lực lượng du kích). Ta còn vận động dân từ ấp chiến luợc về đồng ấp treo cờ nguỵ làm ruộng. Các cơ quan của ta cũng cử người tới đây cấy lúa. Người bám đất, đất nuôi dưỡng người, cho nên trên cánh đồng Bến Cát vụ nào cũng có lúa chín. 


            Ngay từ sáng sớm, mấy con “đầm già” đã nối đuôi nhau bay tới, không chỉ do thám như mọi khi mà lần này chúng xả đạn bắn “chóc chóc” ngay trên cánh đồng lúa chín có người đang cắt. Ai cũng lo sợ nó bắn trúng, chị Năm Thu tổ trưởng kêu to: 


- Không được chạy, cắm cờ nguỵ lên, cắt lúa tiếp, nếu chạy, chúng phát hiện ra không phải dân, nó quay lại bắn chết hết. 


            Mọi người vội vàng lo thu gom lúa, chỉ lát sau, một tốp ba chiếc máy bay chuồn chuồn quay lại coi người cắt lúa còn đó hay chạy, nó xả đạn bắn “chéo chéo” rát sạt quanh mình. Nhưng có lẽ chúng mới dọa là chính nên không ai bị thương. Thấy tình hình căng thẳng, mọi người bàn nhau vác lúa men theo bờ cây chạy về nơi ẩn nấp, sợ lần này quần lại, chắc chắn đạn chúng không tha. Đợi khi nào êm, lại tranh thủ ra cắt lúa tiếp, có thể đêm tối sẽ ra thu hoạch lúa về.


Năm Thu mang bụng bầu mà vẫn vác bao lúa không kém ai. Anh Tư chồng chị, ở bên quân chủ lực, nay đây mai đó, lấy nhau đã mấy năm nay, giờ mới có tin vui, đơn vị có ý muốn để chị ở bộ phận giữ kho hậu cần, nhưng chị cười vô tư:


- Tôi làm ruộng quen rồi, ở giữ kho mệt lắm, lăn lộn dưới đồng cho nó khỏe, bầu thì bầu vẫn làm tuốt, có hề gì! 


Chị là người lớn tuổi và lâu năm hơn cả trong đơn vị, các chị em khác người mới tham gia, người đã công tác một hai năm, tuổi mười tám hai mươi nên chị Năm Thu dù mang bụng bầu đã lớn, vẫn là người đội trưởng kinh nghiệm, xông xáo hơn cả. 


Ta phán đoán địch sẽ càn lớn, có lẽ khá lâu, nên anh em lo chuẩn bị lương thực, nước uống, vũ khí xuống hầm địa đạo. Ta tin ở địa đạo. Địa đạo như rễ cây, như mạch nước ngầm trong đất. Địa đạo xuất quỷ nhập thần, đã làm cho quân Mỹ nguỵ thất điên bát đảo. Vùng Tam giác sắt Củ Chi Bến Cát vùng đất thép sở dĩ nổi tiếng và tồn tại nhờ có hệ thống hàng chục ngàn mét địa đạo lợi hại, liên hoàn xã này xã kia. 


Một số đơn vị quan trọng và có thể dời đi được, mới nhận được lệnh cấp trên ngày hôm qua, đã khẩn trương di chuyển lên căn cứ Dương Minh Châu, nhất là cơ quan Quân y, khá nhiều thương binh của Quân y Quân khu Sài Gòn - Gia Định kịp chuyển đi ngay trong đêm hôm qua.


Tại một quán cà phê ở Bến Cát, một người lạ nhảy từ trên xe xuống, nói vội:


            - Mỹ sẽ càn lớn vào vùng này nay mai! Mọi người hãy chuẩn bị chống càn ngay từ bây giờ đi.


            Anh đưa cho chủ quán một mảnh giấy và nói:


- Tôi nhờ anh chuyển ngay tận tay cho Huyện đội Bến Cát.


Nói rồi người ấy đi ngay. Chắc là người của Quân báo ta, nắm được tin quan trọng nên tự xuống tận nơi liên lạc.


Trong vùng Nam Bến Cát hiện có khá đông các cơ quan, phần lớn là cơ quan Quân khu Sài Sòn – Chợ Lớn – Gia Định, I 4 - Quân y của Quân khu Sài Gòn, các cơ quan tỉnh Bình Dương: Tỉnh uỷ, Tuyên huấn… Các cơ quan thuộc huyện Bến Cát. Các đơn vị Quân báo, Tình báo, Thông tin, đoàn Hậu cần 83, Tuyên huấn, Phụ nữ, Công an huyện, Binh vận…


 Tin tình báo của ta cũng đã biết trước về trận càn, nhưng chạy đến đâu! Trước nay chỉ quen chống càn chứ bỏ chạy đi nơi khác là điều chưa xảy ra. Chỉ một số bộ phận quan trọng có thể đi được, một số cơ quan được lệnh chuyển gấp lên chiến khu Dương Minh Châu, nhất là Quân y. Còn lại là bám trụ bám căn cứ, chiến đấu chống càn. Việc địch càn và chống càn là chuyện thường xảy ra, hai ba ngày ẩn núp, chiến đấu dưới hầm địa đạo, khi chúng rút thì lại đâu vào đấy, cũng không mới lạ gì, nên anh em các cơ quan vẫn bình tĩnh, chuẩn bị vũ khí lương thực và tinh thần chống càn.


Cơ quan Huyện đội Bến Cát do anh Út Ý chỉ huy (Huyện đội lúc đó chỉ có mười mấy người, chủ yếu là lực lượng các đội du kích các xã) vừa nhận được tin báo, vội họp bàn nhận định tình hình chuẩn bị chống càn. Đợt này chắc chắn chúng sẽ càn vùng Nam Bến Cát, ba xã An Điền, Phú An, An Tây, ven lộ 13, đánh vào cơ quan Quân khu Sài Gòn - Gia Định, I4, một số cơ quan Trung ương, Hậu cần 83, cơ quan Huyện uỷ Bến Cát, cơ quan tỉnh Bình Dương, Tuyên huấn Thủ Dầu Một… Thông báo tin cho lực lượng các cơ quan chuẩn bị tinh thần, Huyện đội còn cử liên lạc sang sông báo cho Huyện đội bên Củ Chi hỗ trợ kết hợp chống càn, nhất là việc tiếp ứng hỗ trợ bảo vệ cho các cơ quan đang đóng trong địa bàn Nam Bến Cát. 


Và trận càn được mở đầu ngay trong đêm đó, đêm 8-1-1967 bom pháo Mỹ đã dập liên hồi xuống đây. 


                        MÀN THỨ TƯ: XE ỦI, BỘ BINH TRÀN VÀO


Sau khi bom và pháo dập nát mặt đất, sau khi xe ủi tiến hành dàn hàng thi nhau ủi, cạp xới tung tành ngang dọc, cào tơi tả tìm diệt hầm địa đạo, đến lượt thuốc độc hoá học rải huỷ diệt cả khu rừng hàng trăm hécta, bom xăng, bom phốt pho đốt cháy… dọn bãi đổ quân bằng địa, lúc này mới đến lượt bộ binh xuất hiện. 


Xe tăng chở bộ binh Mỹ lớp lớp đông kín tràn vào rầm rập từng hàng từng hàng. Dưới sông Sài Gòn, nhánh sông Thị Tính, tàu chiến Mỹ đặc sông. Những chiếc bo bo chở chỉ huy Mỹ xé nước lao qua lao lại. Tàu chiến lượn sôi sục mặt nước, dàn hàng đặc mặt sông đang cặp bờ, đổ quân ào ạt lên bờ đen ngòm như kiến gió, kín cả bờ sông. Những chiếc xe tăng bọc thép bịt bùng, lội xuống sông mà nước không vô, xe lội qua sông qua sình, cái chìm cái nổi đi băng băng như chạy trên mặt đất, ào ào đổ quân lên Bến Cát. Không quân Mỹ từ trực thăng tải, từ trực thăng chuồn chuồn nhảy xuống ào ạt. 


Bộ binh toàn lính Mỹ dàn quân hàng ngang đen đặc cả mặt đất. Bộ binh tấn công dà sát lên cánh rừng đã nghiêng ngả xới đào vì bom pháo cả đêm qua, chúng kiếm tìm vạch vòi, xăm bới khắp mặt đất. Lính Mỹ rải dàn cả mấy cánh rừng hàng trăm hécta, tràn vào các xóm ấp, tìm săm moi móc phát hiện hầm trú ẩn địa đạo, san ủi bằng các nơi nghi là công sự chiến đấu. 


Trận càn này toàn thấy lính Mỹ, Mỹ trực tiếp càn, thủy bộ không quân liên hoàn kết hợp. Lính ngụy chỉ ở ngoài vòng vây, hỗ trợ bắn giết khi có người nào chạy ra là hàng tràng liên thanh đạn nhả không chừa ai sống sót. Với phương châm: “giết nhầm còn hơn bỏ sót”. Chúng đã tuyên bố: Dân ở vùng này toàn theo cách mạng hết, nên bắn giết không chừa ai.


Khi một tốp lính Mỹ phát hiện thấy hầm, chúng khoái chí cười hô hố, liền dừng quân, khui Côcacôla giải khát ồng ộc. Chúng kêu xe ủi xới tung lên, xăm đào sâu vào đường hầm. Rồi cho các “đội chuột cống” (bọn lính chuyên nghiệp toàn người Mỹ nhỏ con, được huấn luyện đặc biệt tại Hawai về môn đánh trong đường hầm). Bọn này vừa đổ quân từ trực thăng xuống là chui vào địa đạo. Tuy nhiên, đâu có ngon lành như chúng nghĩ, chui được vào một đoạn hầm địa đạo chừng dăm mét, chúng phải gõ tìm xem trong hầm hào có những gì, đối với đoạn này, Việt cộng đào ngách lên hay ngách xuống, hay ngang hông có cạm bẫy mìn hay hố chông gì không. Cho nên qua được mấy mét địa đạo, chúng cũng phải lần mò hết mất hàng tiếng đồng hồ, trong khi đó quân du kích đã hoà vào mạng địa đạo như thiên la địa võng luồn sâu và ra xa hàng mấy chục mét hầm. Cũng có khi chúng lùng sục tìm ra cửa hầm, liền bơm hơi ngạt, thải lựu đạn để giết chết hết người ở trong. Còn người nào bị thương hay sống sót chạy ra, chúng xả súng từng băng, bất kể là người già con nít. Một trận càn gần như không cần bắt sống, không có tù binh, một trận càn đẫm máu, huỷ diệt tất cả sự sống.


Trong một đêm một ngày, cả cánh rừng, xóm ấp, ruộng vườn cả một vùng trên ba chục cây số bị xáo trộn bằng địa hết, cây xanh bật rễ, bầm giập, ứa nhựa nằm phơi dưới nắng khô đang ngả màu héo úa. Sức mạnh của vũ khí hạng nặng Mỹ thật là kinh khủng. 


Quân Mỹ thảnh hơi sảng khoái vì bom đạn đã dọn đường êm ru. Đất và cây tơi tả trộn lẫn máu và những mảnh thi thể người. Lúc lính Mỹ mới đổ quân, không thấy còn bóng người, chúng la hét: Việt cộng đâu hết, hay chết sạch rồi, dân cũng không thấy là sao?


 Những hầm nào, người nào không bị trúng bom, lúc này bị xe ủi xới tung lên, người còn sống chạy tán loạn, lính Mỹ thấy người ra là bắn, bắn chết hết. Dưới con mắt lính Mỹ, tất cả người ở đây đều là Việt cộng tiêu diệt không chừa ai. 


Lính Mỹ đổ quân, mấy ngày đầu không gặp một sự chống cự, không một sức chống đỡ nào, cả một tiếng súng bắn trả cũng không. Thật là trận càn đúng ý định. Người Mỹ đã tưởng lúc này, khi bộ binh đổ xuống chỉ việc xắp xếp đếm xác Việt cộng, vậy mà đến xác Việt cộng cũng tan hết, còn nói gì đến chống cự. Thật đúng là trận càn lý tưởng, ngon lành theo đúng kế hoạch: “đến một con chuột cũng không chạy thoát”, người Mỹ hả hê tuyên bố như vậy. Chiều tối, lính Mỹ cụm về từng nơi từng chỗ căng lều bạt đóng quân ăn uống tắm rửa nghỉ ngơi để ngày mai càn tiếp.


 BÓC VỎ - PHƠI KHÔ -  ĐỐT CHÁY


Chiều ngày thứ hai của trận càn, khi mà cành lá, thân cây tơi tả ngả rạp đã khô héo, nhựa ứa ra đặc quánh lại, mặt đất như bị bong lên, bị bóc vỏ phơi khô, cả cánh rừng hàng trăm hécta, cánh đồng làng xóm bị cày xới cây cỏ phơi nắng đã khô héo, quân Mỹ bắt đầu thực hiện theo kế hoạch đã được tính toán. Từng loạt, từng loạt bom cháy, bom lửa, bom xăng từ trên máy bay phụt xuống, đạn phun lửa từ xe tăng bắn vào, lửa xối cuồn cuộn, bom napan bom phốt pho đốt cháy tới cả đất đá, lá cây khô, nhựa cây cuốn vào lửa ào ào cuồn cuộn như hoả diệm sơn, cháy rừng rực bốn bề, một vùng trời lửa khói bao phủ rộng lớn cả một miền Nam Bến Cát. Chúng đốt, đốt cháy hết vừa hủy diệt màu xanh, tiêu diệt con người đang ở trong đó, vừa hủy diệt sự sống còn sót lại ở nơi đây.  


Ngồi dưới địa đạo, ai cũng cảm thấy nghẹt thở, mồ hôi ướt đẫm cả, anh em cởi hết áo, quần dài, người nóng như ngồi trên chảo rang. Lỗ thông hơi đưa khói khét lẹt luồn xuống hầm, không khí nóng khói ấy vào phổi làm con người choáng váng, sặc sụa, nước mắt nước mũi trào ra. Anh em du kích ở dưới hầm địa đạo thật khổ sở, có lúc tưởng như chết ngạt, rang khô người, chết vì nóng. Lần theo đường hầm, mọi người đã tụt xuống những chỗ sâu nhất nhưng vẫn còn nóng như đang ngồi trong cái lò bị nung đỏ bốn bề, anh em phải nằm áp mặt xuống đất, tránh nóng, nhưng vẫn nóng, nóng quá. 


Có hầm nằm ngay dưới đống lửa cháy, khói lửa lùa xuống ngạt thở, cháy lâu quá, các lỗ thông hơi cũng nằm ngay dưới lửa, bít đường đưa không khí vào, người ở trong ngạt rồi lịm đi, chìm trong khói và nóng rồi không còn tỉnh lại được nữa. Cũng có một số người ngạt đến phút cuối cùng, đành phải tông nóc hầm lên, và không mấy ai sống sót trước họng súng của quân thù đang chờ sẵn trên mặt đất. Hẳn rằng khói lửa, sức nóng cũng đã cùng hợp đồng với vũ khí giết hại khá nhiều người. Lúc này đây, những con người của đất đang giành giật sự sống từng giây phút, từng gang tấc với bom đạn, với khói lửa, đang cố níu giữ lấy chút không khí đặc quánh khói lửa để được sống, được sống ở trong lòng đất quê hương này.


 HUỶ DIỆT SỰ SỐNG 


 Lính Mỹ nghênh ngang, tự đắc vì quy mô kế hoạch hiện đại tối tân của trận càn, hàng chục ngàn trái bom lớn nhỏ, bom nổ ngay, bom chờ nổ, bom mẹ bom con, bom xuyên, xới tung đất đá, đúng như các tướng Mỹ đã tuyên bố chắc chắn:


 “Bóc vỏ trái đất”, “một con chuột cũng không sống sót!” 


Bóng đêm bao phủ, một vùng im lặng như tờ hình như không một loại âm thanh nào còn tồn tại, có lẽ cả đến loài ve, loài dế cũng bị sức ép của bom làm rách màng âm thanh. Im lặng chìm trong đêm, đến tiếng gà gáy, tiếng chó sủa cũng không còn, chỉ có mùi khói bom két lẹt trộn lẫn trong đất cây ngổn ngang, trong khói than đang nặng quánh mùi chết chóc, tanh lợm mùi máu người. Đến gốc cây lớn còn bật rễ thì hầm hào trúng bom thật khó tránh khỏi thương vong. Nếu chỉ là một hai lượt bom rồi dứt như mọi lần, anh em bà con nhanh chóng đi moi hầm sập, cứu những người còn đang bị vùi dưới hầm. Trong trận bom mở đầu trận càn Xêđaphôn, bom và pháo dập liên hồi hàng sáu bảy giờ không ngớt, mặt đất rung động xáo trộn, hẳn không biết bao nhiêu hầm trúng bom tan tành, bao nhiêu hầm sập, bao nhiêu hầm bị vít lỗ thông hơi mà người ở dưới chết ngạt, bao nhiêu hầm bị chúng khui ra. Một số người dân thoát ra được khi hầm sập, nhưng lại không tránh khỏi mảnh bom mảnh pháo và súng đạn của giặc.


Đang ngồi dưới hầm, anh em nghe rõ tiếng xe tăng địch đang hoạt động ngay trên đầu. Đất chuyển động, hầm rung lên bần bật, bánh xích nghiến ken két, mọi người ngồi ngửa mặt lên quan sát lo lắng. Hầm vẫn tiếp tục rung lên bần bật, méo xẹp từng góc từng phía. Sau trận bom giội và trận mưa pháo, hầm bị trấn động đã rệu rã, cái nào không trúng bom và chưa bị xe ủi xới lên giờ này bị xe tăng hạng nặng đè lên, chèn qua nghiến lại, rất có thể sập.


 Mọi người đang ngồi lo lắng thì bỗng đánh “hập” một cái, mạnh đến nỗi có chị bị bật tung cả tà áo, lồng ngực như bị dồn ép lại, khó thở. Ngọn đèn tắt phụt, có tiếng bật hộp quẹt của ai đó nhưng không bắt lửa. Đúng là hiện tượng thiếu dưỡng khí. Anh Long mò đến bấm ngọn đèn sáu vôn, ánh sáng lờ mờ đã trở lại. Tiếng anh Thế nói to: 


- Hình như hầm ta bị pháo dập trúng, sập vít mất lỗ thông hơi rồi. 


Tiếng một đồng chí nói nhỏ:


- Vậy thì gay go rồi, chết ngạt mất!


- Không sao cả, ta cứ bình tĩnh đã.


Nhìn anh em trong hầm, năm sáu khuôn mặt đã phủ kín cả đất cát, chỉ hở hai con mắt, đang khốn khổ vì thiếu dưỡng khí, những con người dũng cảm đã từng trải qua nhiều cuộc càn của địch mà trận nào cũng chiến đấu quyết liệt và thoát hiểm trong gang tấc, cho tới giờ phút này, nỗi nguy hiểm đang vây quanh, đang đe dọa lấy đi sự sống, lòng người chỉ huy đau thắt lại. Anh Út động viên, anh biết rằng trong lúc này, một lời nói, một cử chỉ của anh có tác động đến anh em như thế nào, cũng như bao lần nguy hiểm khác, anh em đều hướng vào anh trông chờ một sự giải quyết khôn khéo và chính xác của người chỉ huy. Lúc này, ngay chính bản thân anh cũng đang phải chịu đựng kiềm chế những cơn tức ngực, hoa mắt, mạch máu hai bên màng tai đập mạnh, thiếu dưỡng khí trầm trọng lắm rồi.


Anh nói nhỏ: 


- Các đồng chí hãy hình dung giặc Mỹ đang làm gì trên đầu chúng ta, ráng vượt qua lúc này, lúc sau ta sẽ tính sổ với chúng.


Bỗng tiếng Thế nói to: 


- Ta bật nắp lên, đánh một trận ngay tại nóc hầm, rồi có chết, thì chết trên mặt đất vẫn sướng hơn. 


- Em bình tĩnh nghe này, bật nắp lên chiến đấu rồi hy sinh thì quá dễ nhưng giữ vững ý chí ngồi đây chịu đựng qua lúc này mới là khó. Chúng ta sẽ tìm cách thoát hiểm! Các đồng chí ngồi im đây, ít cử động cho đỡ mệt.


Anh bình tĩnh bò lên phía cửa hầm lặng lẽ quan sát và tìm cách đưa dưỡng khí xuống hầm. Phía cửa hầm đã bị vỡ từng mảng, cản cả lối đi, anh lách mình bơi đất nhoai lên, trồi lên, tay đã chạm miệng hầm. Anh dùng hết sức đẩy nắp mà không lên. Bách xe ủi đất đã chạy qua chèn chặt miệng hầm. Anh ngồi xuống, dùng cả hai tay và đầu đội nắp, kích lên. Sức một con người đang thiếu dưỡng khí quá yếu ớt so với sức nặng phía trên. Hai lần phải nằm vật ra vì tưởng như đứt hơi, anh lại ngồi dậy cố sức xê dịch nắp hầm. Quả là chuyện bất ngờ khi lần này chiếc nắp hầm chịu chuyển động. Hé được nắp hầm, anh xê nhẹ cho không khí vào trong, có dưỡng khí là sống rồi. Anh quan sát thấy quanh đây, rất gần, lính Mỹ đang la hét săm moi, bắn phá hung hãn như điên cuồng. Lòng căm thù của anh cuộn lên, nhưng bây giờ chưa phải lúc giáp mặt chiến đấu. Anh bò trở lại, gọi từng người thay nhau về phía miệng hầm hít thở. Vì lỗ thông hơi bị vít nên không khí không luồn vào phía trong hầm được, trong ấy vẫn thiếu dưỡng khí. 


Mọi người vẫn ngồi im chịu đựng, dưới sự điều khiển tài tình của người chỉ huy, cố gắng tìm một chút hơi thở và chờ màn đêm buông xuống.


Mỗi ngày đi qua, lính Mỹ vẫn cày xới, xăm hầm tìm kiếm địa đạo tìm người và bắn giết không gớm tay. Bao nhiêu dân lành nhà tan cửa nát, xác người chết la liệt không kịp chôn, và cũng không có người chôn. Trong đó có khá nhiều cán bộ đi công tác qua, nhiều đơn vị bị bom trúng hầm, bị xe tăng ủi, cán sập hầm, máu xương của đồng bào và chiến sỹ ta đang đổ xuống, trộn lẫn với đất đỏ và lá xanh. Trên mặt đất, xác người và gia súc nằm không còn nguyên vẹn. Có chỗ hàng đống xác người, chỗ mà người dân hay những đoàn cán bộ trong một căn hầm trúng bom, hay đám người tụ lại khi bom đạn tơi bời đêm đầu tiên, người chết nhiều lắm.


 Mỗi lúc chúng phát hiện được hầm là kêu xe ủi tới xới lên, là phụt hơi phốt pho, phụt lửa xuống cho chết hết. Thấy người chạy ra là bắn chết liền, không thấy có người ra thì liệng lựu đạn, liệng trái ngạt xuống miệng địa đạo. Một trận càn hủy diệt. Đêm tối, có nhiều người chạy băng qua đồng bưng, ra tới bìa sông thì đụng bọn phục kích bắn, đa số không thoát chết vì đạn súng quá nhiều, hình như là bọn phục kích không muốn mang trong người nhiều đạn nặng và lâu làm gì, nên được dịp là chúng xả hàng tràng hàng băng, bắn mỏi tay, bắn hết đạn mới nghỉ. 


 Một đơn vị khá đông người đi công tác do Lâm Văn Diệp là liên lạc dẫn đường. Tối hôm ấy Thương ở đơn vị A36 đã báo cho đoàn biết sẽ có trận càn lớn, anh nói:


- Diệp trú lại trong hầm mình đi, để tôi tìm nơi cho anh em trú ẩn tạm kẻo đụng càn tức thời bây giờ, không kịp đi qua khỏi đâu.


Nhưng Diệp từ chối: 


- Thôi anh Hai, tụi em còn đi làm nhiệm vụ (Thương đoán đây là đoàn trên R xuống vận chuyển quân nhu với kho hậu cần 83), chúng em chuẩn bị ngay bây giờ vượt đường 13, lên chiến khu, đơn vị của anh quan trọng lắm, hầm hào có hạn, chúng em đông, trú ở đây làm phiền cho các anh. Thôi, chúng em đi đây.


Nói vội vàng rồi người chiến sỹ ấy lao vào bóng đêm cùng với những người trong đoàn đang mang vác khá nặng. Đoàn của Diệp vừa đi tới cánh đồng Phú An thì đụng B52, đúng trong vòng vây trận càn, chưa kịp đi thoát ra ngoài, không đủ hầm và tìm đường xuống được địa đạo, vì đoàn quá đông, đến gần 30 người giữa đêm tối, nhiều người chạy toán loạn giữa mưa bom. Anh Diệp hô cho tất cả rải quân ẩn nấp trên cánh đồng Phú An. Trên bờ kênh, ven ruộng, nông dân thường bắc gác các cây tre gỗ rồi rải đất lên, làm chỗ trú tạm thời để phòng khi tránh mảnh đạn pháo. Hầm hố sơ sài không chắc chắn. Người không kịp chạy, tụ bám vào nhau tránh bom, cả đoàn cán bộ này trong đêm bom pháo đầu tiên, hy sinh hết (Trong chiến tranh, nhiều đơn vị trên đường đi công tác gặp trường hợp không may như vậy). 


Mỹ đã tuyên bố trước khi mở trận càn: đến cả loài côn trùng cũng bị tiêu diệt, không lọt khỏi vòng vây. Một cuộc càn đang huỷ diệt, đến lúc này tình hình ở Nam Bến Cát đã gần đúng như vậy.


Đêm thứ ba của trận càn Xêđaphôn, Khi giặc đã phát hiện có nhiều người vượt vòng vây qua sông sang Củ Chi, chúng cho trực thăng và tàu tuần tiễu chạy dọc sông, rọi đèn pha sáng loáng, bắn từng tràng từng băng vào tất cả những bụi cây bên bờ, những khóm lục bình trôi trên sông cũng chĩa hàng băng đạn hoặc thải lựu đạn xuống. Hẳn những người nương bám các khóm lục bình bơi sang sông, không tránh khỏi mất mát hy sinh. Trên bờ, chúng rải lính phục kích ngày đêm, bắn giết không chừa một ai khi phát hiện ra. Máy bay trực thăng rà sát, thấy điểm nào nghi ngờ, xả đạn xuống như mưa. Đêm thứ ba, người chết ở cánh đồng, trong lòng sông và ven sông nhiều lắm, xác chết nổi trên sông, nằm la liệt trên cánh đồng, không có người chôn. Từng đàn vịt của dân nuôi tan tác, con chết, con chạy tán loạn tan nát bầy.


  TRONG LÒNG ĐẤT


           “Đến một con chuột cũng không chạy thoát” Mỹ đã tuyên bố như vậy khi mở trận càn này. Vậy thì còn con người sẽ ra sao, ta hãy xem những con người đang ở trong ấy đang sống như thế nào!


Đất Miền Đông rộng lớn và chắc lắm, đất nuôi dưỡng cây, cây ôm chặt đất, đất và cây bám chặt lấy nhau trường tồn. Liệu bom đạn và chất độc hoá học có diệt được sự sống ở đây không! Ngay dưới làn bom đạn này, đất và cây đang gang tay và ghì chặt che chở cho con người, như một điều kỳ diệu. Con người ở đây giống như những con kiến lửa, đập dập nát tổ cỡ nào, kiến vẫn cứ thấy nhoi lên, nhoi lên.


Đất rẽ đường cho người đi xuống đất mà ôm mà che chở. Đường hầm địa đạo là phương tiện duy nhất cho sự sống còn ở đây. Đường hầm địa đạo ở vùng này mấy chục ngàn mét như “thiên la địa võng” từ xã này tới xã khác, như những mạch nước ngầm trên thượng nguồn có khi nào ngừng chảy. Địa đạo do bàn tay con người ở đây tạo ra, nhiều như rễ cây ăn sâu vào lòng đất. Địa đạo đơn vị nào đơn vị ấy có cách đào riêng bí mật riêng, nắp trầm nắp bổng, nhiều nút chặn, nhiều cạm bẫy… do đơn vị tự quản lý và sử dụng. Ngay người của đơn vị khác cũng không dám bước vào. Với kỹ thuật đào địa đạo và kết cấu thiết kế địa đạo, bàn tay khối óc và sự dũng cảm gan góc của những người du kích ở đây thì chắc không một nền khoa học quân sự nào trên thế giới có thể lường hết được. 


Chỉ một đoạn đường hầm khoảng mười mét trông như kín hai đầu, tối như mực, nhưng nó còn nắp còn ngăn ở nhiều vị trí, lật nắp lên, là có đường hầm khi thì trồi lên đi hướng trên, khi thì tụt xuống đi sâu xuống phía dưới. Nắp hầm trổ lên trên hướng đầu gọi là nắp bổng, khoét chìm xuống dưới thì gọi là nắp trầm. Có đoạn gặp đất đá ong cứng, rất khó đào, hầm địa đạo phải khoét vòng vèo cong queo rất hẹp. Muốn chui qua được đoạn đó phải đưa hai tay nhoài về phía trước rồi dùng sức toàn thân nhích lên trườn lên ít một, tý một di chuyển bằng thân, như con sâu, con rắn, rất khó nhọc, mà có quen thì mới qua được. Có khi chỉ vừa cho người nhỏ con, anh nào hơi to con một chút, không lọt qua, phải quay lại sang hướng khác, có khi phải sửa lại hầm mới chui lọt. Trong xã và liên xã có đường địa đạo chung gọi là “đường xương sống”, hầm địa đạo của các đơn vị có được phép mới được nối thông sang đường này, để giữ bí mật. 


Có đoạn hầm địa đạo bị trúng bom hai đầu, người kẹt ở giữa, cửa hầm bị lấp. Những người còn sống bên trong hối hả dùng cào cuốc xẻng, thay nhau dũi đào vội vàng, giành giật sự sống, giành giật từng chút không khí với khói bom dưới lòng đất để thở.


 Khúc hầm địa đạo của đơn vị tình báo A36 khá kiên cố, vì còn phải bảo vệ điện đài vô cùng quan trọng nên ngay từ thời kỳ đầu mấy anh em thiết kế đặc biệt cho ngăn hầm chứa điện đài, khuân những thân dừa già, những cây gỗ lim ngâm lâu năm của nhà người dân họ cho mang về chèn lấp gác ngang dựng dọ thật chắc, phủ đất thật dày. Loại bom nhỏ hay pháo rơi trúng hầm không nhằm nhò gì, chỉ trừ loại bom tấn bom đìa thì không thể tránh kkỏi thiệt hại. Ngay đêm giội bom đầu tiên, hầm A36 bị một quả bom thả gần trúng, bom khoét sâu thành một hố lớn, cách nắp hầm chừng mươi mét mà hầm chỉ rung chứ không sập. Mấy ngày sau, xe tăng chạy qua chạy lại ngay trên nóc hầm mà vẫn không sao. Bên cạnh đó đường hầm rẽ ngang rẽ tắt, lối thoát, lỗ thông hơi, “trạm quan sát”, được Hai Thương và mấy anh em trong tổ thiết kế chắc chắn bí mật có thể lường trước cho mọi tình huống xảy ra, thật tuyệt vời. Nhưng hầm hào kiên cố như loại này có được mấy cái, hầu hết là đào trong đất, chỉ có đất, mà đất khi trúng bom thì đất không thể né, chuyện cày xới của bom đạn, đất chỉ biết lăn qua lật lại rùng mình chuyển động, lấy cái mênh mông để che chở cho con người mà thôi.


Cho đến ngày thứ ba, mối liên lạc giữa các cơ quan đơn vị trong cả khu vực đã đứt hết, hầm hào địa đạo trúng bom pháo, sập hoặc bị xăm moi khá nhiều. Có khúc hầm địa đạo của cơ quan, trong đó có khá đông người, bom đìa thả trúng tan tành hết, hy sinh là điều không thể tránh khỏi. 


 Xóm làng yêu dấu của ta, cả dải đất Miền Đông bao la biếc xanh trù phú như thế mà dưới làn bom đạn của giặc Mỹ đã biến thành cảnh hoang tàn đổ nát như thế này đây. Biết đến ngày nào màu xanh tươi bóng mát xum xuê mới trở lại ở nơi đây. 


            Ôi đất mẹ hiền từ yêu quý! 


            Có nơi đâu trên trái đất này 


            Như miền Nam đáng cay chung thủy 


            Như miền Nam gan góc dạn dày … (Tố Hữu)


Nhưng nếu bom đạn giết hết được màu xanh và con người ở đây dễ dàng như thế thì quân Mỹ sẽ phải trả giá cho tội ác trong trận càn này, cũng như việc gây chiến tranh ở Miền Nam Việt Nam.


NHỮNG CON NGƯỜI KHÔNG VŨ KHÍ


Thời kỳ này vùng Nam Bến Cát có tới hàng hai chục cơ quan của ta đang hoạt động.


Các đơn vị đóng trong vùng được gọi tên theo những ký hiệu, như: C7 làĐoàn Hậu Cần 83 (của Trung ương Cục), Quân y của Quân khu, I4 là Đặc khu Sài Gòn – Gia Định. Các cơ quan tỉnh Bình Dương gồm: C8 là cơ quan Tuyên huấn, C6 là Binh vận, C9 là Phụ nữ, C4 là Công an… Trước ngày xảy ra trận càn, thương binh của Quân y huyện Gò Môn (hai huyện Gò Vấp, Hóc Môn nhập lại) còn đổ về đây nằm la liệt rồi sau đó lại được lệnh nhanh chóng chuyển đi, chỉ còn mười mấy người ở lại giữ cơ quan. 


Thời kỳ đầu còn có tên gọi cơ quan Tuyên – Văn – Giáo, ký hiệu là C7, còn cơ quan Huấn học, ký hiệu là C8 ở riêng. Sau này sát nhập lại thành cơ quan Tuyên huấn.


Ở tại hầm cơ quan Tuyên huấn lúc này chỉ có năm người.


Sau đêm đầu tiên bom giội, hầm của chị Ngân (đơn vị C8 Tuyên huấn tỉnh Bình Dương) khá kiên cố, bom nổ gần, nhưng hầm chỉ bị chấn động không sập, không ai việc gì. Sáng sớm anh em đã vội lên mặt đất quan sát. Các anh  thấy rõ tiếng xe tăng nổ rất gần, xe ủi từng hàng đang ra sức ủi sục tìm hầm. Tuy nhiên, hầm địa đạo cơ quan chồi thụt ẩn hiện thì khó lòng ủi tới. Đêm hôm thứ hai, mọi người lại lên trên mặt đất để quan sát tình hình. Ngân và Châu tranh thủ moi hố ổ chuột ở gần cửa hầm, hối hả kiếm nước, kiếm củi nấu được nồi cơm to, chờ cho cơm chín, hai người nắm được gần chục vắt cơm chuyển xuống hầm, sau đó còn dọn dẹp xoá hết vết tích nấu cơm kẻo địch phát hiện rồi rút xuống địa đạo. Nắm được những vắt cơm, hai chị em như thấy ấm lòng hẳn lên, vậy là hai ngày nữa có cơm ăn và một số đồ dự trữ, đủ sức cho mọi người chống chọi với tình hình căng thẳng trong ngày mai. 


Cô Dịu đi lấy nước ở giếng gần đấy để chuyển xuống hầm, thấy yên lặng, cô còn kịp múc nước tắm. Con gái xứ nóng có thói quen tắm rửa, dù trong tình hình bom đạn căng thẳng như vậy, nhưng giữa đêm tối, người đầy bụi đất nóng nực, gặp nước mát, cô không thể cưỡng nổi cảm giác được tắm, được dội nước mát lên người, đầu tóc khi đất cát còn đang bám đầy mình. Dòng nước mát gội lên người khiến lòng thanh thản như đang không có chuyện bom đạn xảy ra. Dịu khoe với chị em mình được tắm, chị em thèm đến ngoai ngóc, bởi người ai cũng đúng là đang bị vùi trong đất. Xuân ganh tỵ với Dịu:


- Mày thật may hết biết, đến nước này mà còn được tắm, đã quá ta!


Chị nói nhỏ vào tai Dịu: 


Tao đang “bị” thấy mày tắm được, mà thèm, người bứt rứt khó chịu quá.


 Có lẽ quá quen với bom đạn và càn quét, thiếu thốn gian khổ nên những con người ở đây có cách sống, cách hoạt động, tự nhiên linh hoạt dày dạn và những kinh nghiệm riêng. 


(còn tiếp)


Nguồn: Bóc vỏ trái đất. Ký. Mã Thiện Đồng. NXB Văn học, 2007.


www.trieuxuan.info


bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Phùng Quán: "Có những lúc ngã lòng/ Tôi vịn câu thơ mà đứng dậy" - Trần Thanh Phương 21.09.2018
Bội Trâm – Người đàn bà bất chấp tai ương - Ngô Minh 19.09.2018
Một chuyến làm báo ở Tây Nguyên - Thanh La 19.09.2018
Gián điệp quốc tế - Vũ Thư Hiên 07.09.2018
Ba ngôi mộ không có nấm mồ - Hà Đình Nguyên 06.09.2018
Chiến tranh Việt Nam và trò chơi nguy hiểm của Phạm Xuân Ẩn - Nhiều tác giả 05.09.2018
Hồ Chí Minh - Nguyễn Đăng Mạnh 05.09.2018
Nguyễn Khải - Nguyễn Đăng Mạnh 05.09.2018
Nguyên Ngọc - Nguyễn Đăng Mạnh 05.09.2018
Syria, bóng đá & chiến tranh - Nguyễn Thu Trân 29.08.2018
xem thêm »