tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 24718753
15.07.2018
Nam Thái Trần
Mặt trận Vị Xuyên Hà Giang ...


(Nguyên văn, chưa biên tập! )Sau chiến dịch ngày 12/7/1984 không thành công vì nhiều nguyên nhân cả khách quan lẫn chủ quan, trong vài ngày đó, cả mặt trận như bị bao trùm trong một bầu không khí đầy căng thẳng, bức bối... Cái cảm giác nuối tiếc, ân hận, đau xót, căm thù...  vì một trận đánh đáng lẽ là thắng lớn mà lại thành không thắng bao trùm lên khắp chiến trường.


Nhớ lại cảnh tối ngày 11/7, khi quân ta nườm nượp tiến vào Thanh thủy, khí thế bừng bừng, mọi nỗi âu lo như tan đi trong niềm tin, hy vọng vào chiến thắng...


Nhớ lại cảnh mờ sáng ngày 12/7, khi tất cả các trận địa pháo bên ta đồng loạt khai hỏa, sau đó chuyển làn dần về phía bên kia các mục tiêu tấn công, nhất là khi ngay cả pháo địch cũng phải phân làn bắn về hướng đó, dấu hiệu các đơn vị đặc công, bộ binh đã làm chủ trận địa...


Trên khắp chiến trường Vị xuyên, từ các sở chỉ huy tiền phương đến các điểm chốt phòng ngự;từ những đơn vị chủ công đến những đơn vị phối thuộc;từ các trận địa hỏa lực tầm xa đến các bộ phận tiền tiêu cố thủ nằm sát ngay bên các cao điểm, bình độ mà địch đang chiếm giữ... mọi con tim đều rung lên trong nhịp đập chiến thắng... Dù khắp nơi là bão táp lửa đạn.


... Thế rồi... khi pháo ta bắn ít dần... khi pháo địch lại chuyển làn và tăng dần cường độ... những người lính đã hiểu rằng có một sự thật phũ phàng đã đến, đang đến... Khi những cáng thương từ trên trận địa được chuyển xuống , khi những người lính chủ công vừa được lệnh rút về ngày càng nhiều lên... sự thật đó càng được khẳng định.


Pháo , cối, H12, DKZ, pháo bắn thẳng của địch ngày càng dày đặc. Dù sự chính xác của chúng không còn nữa, nhưng khi số lượng của chúng nhiều kinh khủng, cả một dải đất Vị xuyên từ Đông sang tây sông Lô;Từ km 6 đường quốc lộ số 2 đến các điểm chốt nơi cửa khẩu;Từ các trận địa pháo bên Phong quang (cách TX Hà giang vài km ) đến Pha hán, sườn cao điểm 1030;Từ các xã Phương độ , Phương tiến, Làng Pinh, Nà cáy đến Nà toong, Nậm Ngặt;Từ bờ bãi sông Lô lên tận Cóc nghè, đỉnh 812, 673... Tất cả như nằm trong cơn bão lửa điên cuồng, thù hận.


Cơn bão lửa ấy chỉ giảm dần rồi tập trung lại ở những tuyến vận tải, các khu vực tranh chấp... khi trời về đêm.


Tin tức về một trận đánh tấn công không thắng lan tràn khắp nơi...


Khi hoàng hôn buông xuống, dù lửa đạn quân thù vẫn hoành hành, những người lính f 356, f313, f312 ,  316 vẫn phải trở lại trận địa, nơi những đồng đội bị thương vong vẫn còn nằm đó...


Những người lính tả tơi, hốc hác len lỏi khắp mọi nơi có thể đặt chân đến trên trận địa, bới tìm những đồng đội bị thương để băng bó, gom góp những xác thân tử sĩ để chuyển về... Trong bầu không khí sặc mùi máu và thuốc đạn , dưới ánh hỏa châu lúc sáng rực như ban ngày, lúc lập lòe ma quái... họ lần mò lật tìm từng thân xác đồng đội nằm rải rác, ngổn ngang khắp các chiến hào, cửa mở...


Trên các điểm cao mà địch đã tái chiếm không nghe thấy một tiếng người, chỉ thấy ánh chớp, tiếng nổ của những quả lựu đạn, những tràng súng bộ binh mà chúng liên tục ném xuống, bắn ra, chìm nghỉm trong tiếng nổ của pháo, cối đang dựng lên một bức tường lửa ngăn không cho quân ta tiếp cận...


Đêm 12/7/1984 đã như thế. Cả chục đêm sau cũng như thế...


Có khác chăng, không khí trên chiến địa càng những ngày sau càng nặng mùi hơn. Với thời tiết ngày nắng như đổ lửa, đêm mưa như trút nước, xác tử sĩ đã bắt đầu phân hủy nặng nề... Những dòng nước từ các sườn đồi đổ xuống, len lách vào từng căn hầm chốt, đầy đọa thể xác và tinh thần những người lính.


Địch bắn truyền đơn, nội dung:"cho phép quân đội Việt nam sang lấy xác, khi đi phải theo đoàn không quá 50 người, không đem theo vũ khí, phải mang theo cờ trắng hoặc chữ thập... ".  Một sự xúc phạm vô cùng ngạo mạn. Những người lính không chấp nhận điều đó. Và địch vẫn dội đạn dựng bức tường lửa nơi chiến địa.


Những người lính vẫn lầm lũi tiến vào nơi tử địa mỗi khi đêm về.


Vì tình đồng đội.


Vì lòng căm thù lũ giặc ngoại xâm.


Vì bản lĩnh can trường, dũng cảm.


Vì lòng tự hào tự tôn dân tộc bị xúc phạm.


Vì họ biết rằng: Trong trận đánh ấy, đồng đội của họ đã chiến thắng, khi ở nơi tử địa kia, bên cạnh thân xác nhiều đồng đội của họ,  có rất nhiều xác lính Trung quốc nằm ngổn ngang , càng về phía bên địch xác chúng càng nhiều hơn.


Những người lính đăc công, trinh sát , sau những đêm luồn sang phía địch trở về kể lại:phía bên ấy có rất nhiều tử sĩ của ta, nhưng xác lính Trung quốc thì nhiều hơn gấp mấy lần. Và có một điều rất khó hiểu, mặc dù pháo ta không bắn oanh tạc, tại sao đã cả tuần rồi mà xác lính họ vẫn còn nằm ngổn ngang như vậy. Hay họ muốn che dấu, phi tang đi những bằng chứng hiển hiện của một sự thất bại to lớn mà phía họ không dễ chấp nhận .


Những xác thân của đồng đội mà những người lính chúng ta không thể đón về vì không thể tiếp cận , đồng đội đành để các anh lưu lạc, nhưng dẫu sao các anh vẫn còn được nằm trong lòng đất mẹ.


Còn những xác chết của những kẻ xâm lăng kia, tại sao họ phải nằm đó. ,  trên mảnh đất Việt nam .  Vì ai? Và vì cái gì?


Trong những đêm dài đi bới tìm đồng đội, máu những người lính chúng ta vẫn lại phải đổ xuống, nhưng họ vẫn không quản ngại, yếu lòng...


Bởi họ đã chứng kiến những tổn thất của quân địch ngay sau trận đánh.


Bởi họ tin tưởng vào kết quả chiến thắng của những chiến dịch sắp tới, mà trận đánh của ngày qua đã là tiền đề.


Bởi họ biết rằng, nếu không có kháng cự, phản công , tất sẽ có ngày phải lùi bước, đầu hàng...


Bởi họ biết rằng, nếu không có tổn thất của hôm nay, sẽ khó có thể có chiến thắng của ngày mai...


Bởi họ biết rằng, họ là những người lính đang chiến đấu hy sinh là để BẢO VỆ TỔ QUỐC trước lũ giặc xâm lăng.


Những ngày cuối tháng 7/1984. Trên mặt trận Vị xuyên. Sau những tổn thất to lớn của một trận đánh chưa thành, những người lính của các sư đoàn chủ lực, của các đơn vị phối thuộc... vẫn kiên cường bám trụ chiến đấu.


Có đơn vị đi thu dọn chiến trường, làm công tác thu gom thương binh tử sĩ...


Có đơn vị đi xây dựng hầm hào, củng cố trận địa, rải chông, chôn mìn ... thiết lập tuyến phòng ngự...


Có đơn vị vận tải vận chuyển lương thực thực phẩm, thuốc men , vũ khí đạn dược, vật liệu xây dựng, cáng chuyển thương bệnh binh, tử sĩ...


Có đơn vị thiết lập lại hệ thống thông tin, truyền tin...


Có đơn vị tiến hành trinh sát, thám sát, khảo sát... tất cả các mục tiêu để xây dựng trận đồ tác chiến...


Có những người lính như chôn mình trong các điểm chốt tiền tiêu, căng mình chiến đấu với những đợt tấn công xâm lấn của kẻ thù...


Có những người lính trần mình dưới làn pháo đạn quân thù , căng lên những mạch máu chiến trường để chuyển đi những luồng sinh khí để mang sức sống đến từng góc chiến hào...


Máu những người lính vẫn tiếp tục đổ xuống, những cuộc đời trai trẻ vẫn bị hy sinh...


Nhưng trận địa vẫn được giữ vững. Kẻ thù không thể lấn sâu vào biên cương Hà giang.


Gương mặt những người lính thêm nhiều phần hốc hác sau bao nhiêu mất mát, gian nan, như sắt lại trong một niềm căm hận vô bờ bến.


Vẫn là những bữa cơm chưa no, thức ăn chỉ là nước mắm kem pha loãng. Vẫn có những điểm chốt đến bữa không có cơm ăn, cả ngày không có nước uống vì tuyến đương tiếp tế duy nhất đã bị địch phát hiện, bắn chặn. Có những vắt cơm khi mang đến chốt đã khô cứng và vương đầy máu của người vận chuyển...


Không một mảnh báo, một tiếng đài , một lá thư từ phía quê hương... Chỉ có tiếng loa tâm lý chiến của địch.


Lại không có đường sữa, thuốc lá, thuốc lào...


Dù vậy...


Trên trận địa vẫn văng vẳng những tiếng đàn ghi ta thiếu dây, tiếng đàn bầu tự chế bằng ống bơ và dây điện... đôi khi có tiếng kèn acmonica thao thiết...


Trong hang nàng Lò, hang Dơi, vẫn có tiếng hát nghêu ngao của lính cùng tiếng xập xèng của vung nồi đít chậu hòa theo...


Bắt đầu có lính mới bổ sung về các đơn vị. Những chú lính còn mũm mĩm , thơm nức mùi lúa đồng hay mùi gió biển mặn mòi của những miền quê Hải phòng, Đồ sơn... như mang theo cả không khí của cuộc sống nơi quê hương tới từng góc chiến địa.


Gương mặt xạm ngắt trầm lắng dãi dầu của những người lính cũ như bừng sáng lên trong niềm khát khao hy vọng được đánh thức...


Gương mặt trẻ trung, hồng hào của những người lính mới xạm đi, sắt lại dần trong thử thách khốc liệt của lửa đạn gian truân. Có nhiều người trong số họ đã lại ngã xuống trong chiến trận, trên chiến trường...


Những người lính, cả cũ và mới, lại hòa lẫn vào nhau, cùng trần thân ra nơi trận địa, cùng bên nhau chiến đấu. Tình cảm đồng đội lại được ươm trồng, lớn dần qua mỗi lần thử thách gian truân.


Ngày 12/7/1984 đã qua đi, những dư âm bi tráng và anh hùng của trận đánh ngày hôm ấy vẫn còn vang vọng mãi trong lòng những người lính.


Cũng từ sau trận đánh khốc liệt ,  bi thảm nhưng kiên cường ấy, kẻ thù xâm lược đã không còn thái độ nghênh ngang , ngạo ngược khi tiến hành những hoạt động xâm lấn suốt một dải biên cương phía Bắc. Bởi chúng đã vấp phải một tinh thần chiến đấu ngoan cường, bền bỉ, ý chí dũng cảm chấp nhận hy sinh cho Tổ quốc của những người lính .


Từ những bài học thành bại của trận đánh ấy, bao nhiêu kinh nghiệm xương máu đã được rút ra, để trong suốt những năm tháng kế tiếp, những người lính của chúng ta luôn là những người chiến thắng,  biên cương vẫn được giữ vững, kẻ thù đã phải lùi bước, mảnh đất Hà giang cũng như toàn tuyến biên giới phía Bắc đã được bình yên.


Trong niềm vui chiến thắng vô cùng lớn lao, vẫn còn đó những nỗi đau day dứt, khi ở nơi núi rừng biên giới xa xanh, vẫn quạnh quẽ những xác thân đồng đội vô danh đã tan hòa vào trong đất núi, vẫn còn đó những linh hồn người lính đã khắc mình trên bao vách đá Vị xuyên .


Để mỗi buổi bình minh lãng đãng sương mờ, để mỗi buổi hoàng hôn chói chang ráng đỏ , vẫn chấp chới những linh hồn mãi mãi tuổi hai mươi soi mình trên sóng nước sông Lô, nơi địa đầu Tổ quốc.


Để mỗi buổi chiều đến đêm về, bao nỗi niềm hoài niệm vẫn trăn trở miên man trong trái tim tâm hồn những người lính giờ tóc đã pha sương, đưa họ về với miền biên ải nơi họ đã từng trao gửi trọn vẹn những năm tháng của tuổi hai mươi, nơi những linh hồn đồng đội của họ vẫn còn vất vưởng lưu lạc chưa được một lần về lại với quê hương yêu dấu .


Mấy chục năm trời đã trôi qua, đủ thời gian cho một thế hệ thanh niên con cái của những người lính ngày ấy được sinh ra, lớn lên, lập gia đình, sinh con đẻ cái. Họ đã trưởng thành.


Nhưng họ đã biết được những gì về cuộc chiến mà cha họ đã đi qua. Họ có thể nhìn thấy những vết thương thân xác hiện hữu trên cơ thể người cha, nhưng họ có cảm thấy những nỗi đau từ những vết thương trong trái tim tâm hồn của cha họ không? Có bao giờ họ đã đau cùng nỗi đau từ những vết thương không bao giờ liền sẹo đó...?


Về niềm lớn rộng sâu nặng mênh mang của tình yêu đồng đội thiêng liêng ẩn trong lòng cha họ, với những người còn sống và cả những người đã khuất...?


Về tình cảm của người cha họ với mảnh đất , con người nơi cha họ đã từng quên mình để bảo vệ gìn giữ và dù đã gần ba mươi năm chưa một lần trở lại , vẫn mãi mãi gắn bó, đau đáu mong mỏi một lần về thăm...?


Và về những mất mát, đau thương khủng khiếp mà chiến tranh đã và sẽ mang tới...?


Và một điều quan trọng , lớn lao nhất, họ đã hiểu biết,  đã thấm nhuần được bao nhiêu về TÌNH YÊU TỔ QUỐC, NIỀM TỰ HÀO DÂN TỘC, Ý CHÍ ĐỘC LẬP TỰ DO, TRUYỀN THỐNG DŨNG CẢM HY SINH TRONG SỰ NGHIỆP DỰNG NƯỚC VÀ GIỮ NƯỚC của nhân dân và quân đội Việt nam, mà những thế hệ trước họ, trong đó có cha họ , đã đóng góp một phần hy sinh, cống hiến.


Những ngày tháng 7/1984, trên chiến trường Hà giang, bao nhiêu người lính trẻ đã kiên cường bám trụ, chiến đấu với lũ giặc bành trướng xâm lăng... Để hôm nay cương thổ của Tổ quốc vẫn được vẹn nguyên ,  để bình yên đã trở lại trên sóng nước dòng Lô nơi địa đầu Tổ quốc .


Bình minh đang hé rạng... những trang viết mở ra... một ngày mới đã bắt đầu... " .


Vài dòng tâm sự ngổn ngang,  Nam Thái Trần xin được sẻ chia với những trái tim đồng cảm .


Chào các bác và anh em!


Đối với những người lính đã từng trải qua cái gian khổ khốc liệt của chiến trường ,  hình như mỗi dòng ký ức ,  mỗi manh kỷ vật gợi nhớ tới chiến trường xưa luôn làm cho họ xốn xang khắc khoải .


Em còn nhớ, khoảng tháng 1/1987, đang ở Nà cáy ,  em được phép ra TX Hà giang một hôm.  Lúc ấy đã giữa buổi sáng ,  chẳng có xe cộ gì dám chạy giữa ban ngày ban mặt ,  vậy là em cuốc bộ .


Cứ dọc QL2 ,  men theo những trận địa pháo của bên mình và những loạt pháo kích oanh tạc của địch ,  đến quá trưa thì em cũng mò được về đến km 6,  về chỗ cứ cũ của đơn vị .  Em định về đó lấy bộ quần áo dài đã cũ dành dụm mãi từ lâu để mặc , vì không thể diện cái quần đùi lính rộng thùng thình rách te tướp lại bẩn thỉu để ra phố. Và cũng mong kiếm xem có còn cái gì bán được như bánh xà phòng ,  tuýp thuốc đánh răng hay cái áo may ô thì lấy mang đi giải quyết .


Nhưng khi giở hòm ra thì quần áo đã bị mục hết, trong hòm cũng chẳng có cái gì, mấy ông ốm yếu trông cứ thì còn "yếu "hơn mình, đành phải chấp nhận đi tay không với bộ trang phuc "gợi cảm "như vậy ra TX.


Không dám đi nghênh ngang giữa ban ngày qua chỗ mấy ông vệ binh ở km 4 và dốc Mã tim,  em đành mò ra ven đường cái ,  chui vào bụi cây nằm chờ xem có cái xe nào đi qua thì nhảy lên bám càng .  Nằm mãi ,  chả thấy xe cộ gì ,  không gian yên bình quá ,  em oánh luôn một giấc .  Mãi gần tối nghe có tiếng xe ầm ì,  em mới tỉnh giấc .  Thấy một chiếc xe tải chạy từ trong ra,  em vội vọt theo ,  bám vào đít ,  trèo lên thùng, nằm ẹp xuống. Hóa ra xe chở tử sỹ,  trên xe có 5-6 cái xác tử sỹ đã trương phềnh đặt nằm trên mấy manh chiếu rách .


Lúc xe đi qua cổng sư bộ F313 ở km4,  sợ bị lính vệ binh F phát hiện tóm lại rồi tống cổ quay trở ngược ,  em chọn chỗ chiếu khô khô rồi cũng nằm bừa xuống bên cạnh mấy cái xác anh em đó .


Khi xe xuống hết dốc Mã tim,  bắt đầu vào khúc cua gần chỗ Bưu điện ,  em lom khom ngồi dậy ,  đưa mắt tạm biệt đám anh em đã hy sinh ,  chuẩn bị vọt xuống .  Thấy trên thùng xe có một đống bao cát nhỏ còn nguyên kiện,  lại đang buồn thiu vì cái ba lô lộn lép kẹp của mình ,  chẳng nghĩ ngợi gì sâu xa ,  em chôm ngay một cuộn, chưa biết để làm gì nhưng cũng cứ lấy đại .  Rồi em nhảy xuống đường,  chui vào một lùm cây ven đường ,  hé mắt quan sát xem có tổ vệ binh nào đang... đi dạo phố không để tránh.


Khi trời đã tối hẳn,  vài ngọn đèn đường vàng ệch soi nhập nhòe trên phố vắng ,  thấy đã an toàn ,  em mò vào Bưu điện TX, xin gọi điện nhờ về nhà. Ở bưu điện Hà giang ngày ấy em có quen một chị tên là Mai làm tổng đài. Biết em đi lính từ Bưu điện Hà sơn bình nên các anh chị ấy cũng thông cảm cho gọi nhờ mấy phút, vì mình không có tiền để ra quầy giao dịch gọi cho đàng hoàng, hơn nữa cũng đã muộn rồi , quầy giao dịch đã đóng cửa.


Tối hôm ấy , sau khi nói chuyện với bố mẹ ở nhà , thương các cụ nghèo quá, mình lại đã sắp 27 tuổi rồi mà chưa bao giờ có cái gì biếu bố mẹ và cho em gái còn bé tí cả... thế là em đã gửi luôn cái cuộn bao cát to bằng cái giò nạc kia về biếu bố mẹ nhân dịp Têt sắp đến, xuân sắp sang, để mọi người ở nhà cảm nhận được chút hơi hướng và tình cảm của thằng con đang ở nơi chiến trận dành cho quê nhà.


Chị nhân viên Bưu điện kia đã khóc nghẹn ngào khi thấy em lấy giấy báo cẩn thận , nâng niu bọc lại để không bị phát hiện, bị thu mất, ... và cũng như để vun vén, gói ghém tất cả những gì mình có... để gửi về quê hương .


Em cũng thấy mặt mình cứ nhòe đi vì nước mắt cứ xộc xuống sống mũi cay xè ...


Cho đến nửa năm sau, khi em đã xuất ngũ về nhà, có một hôm em đã tìm thấy bó bao cát ấy trong một cái hòm mà bố mẹ em dành để những thứ giấy tờ quan trọng và một số kỷ vật của các cụ... .


Và em đã lặng người đi khi thấy những lá thư của em và của em trai em (cũng là lính nhưng thuộc f 355 ở Lào cai ) gửi về đều bị nhòe nhoẹt đi, hình như là do nước mắt của mẹ... (chắc là của mẹ thôi , vì bố cứng rắn lắm )...


.. . Hơn 10 năm sau,  năm 1998 ,  khi Thai60 em đã trở về nhà sau bấy nhiêu năm tha hương cầu thực nơi đất khách quê người,  cuộn bao cát kia vẫn còn nằm lặng lẽ trong cái hòm kỷ vật của cha mẹ từ ngày ấy...


Cho đến tận một ngày hè của năm 2018 ,  vừa mới chiều qua thôi ,  khi Thai60 em lục tủ tìm cái quần đùi mới để thay cho bố ,  cuộn bao cát nhỏ kia vẫn nằm gọn ghẽ an nhiên trong ngăn tủ đựng huân huy chương và tài liệu giấy tờ tùy thân của bố mẹ,  dù cái hòm gỗ ngày xưa đã mục nát tự thuở nào ,  và bố thì đã bán thân bất toại nhớ nhớ quên quên suốt mấy năm nay vì tuổi đã già và căn bệnh teo não quái ác.


Thấy cuộn bao cát đã ải,  lớp vỏ bọc ngoài của nó đã mủn ra,  rơi lả tả theo kẽ ngón tay ,  Thai60 em đã chuyển nó sang một ngăn tủ khác đựng đồ linh tinh của bố.


Sáng nay ,  nghe mẹ bảo "Con đừng tự tiện dịch chuyển những gì bố mẹ đã xếp riêng ra" ,  lại vào phòng bố,  mở tủ,  ngó vào...  Cuộn bao cát đã trở về chỗ cũ lâu nay,  lại nằm an nhiên tự tại ngay bên cạnh những dấu tích cả một đời nhọc nhằn hy sinh phấn đấu của bố mẹ...


Chợt thấy đau nhói trong lòng khi nghĩ về những người mẹ, người cha trên đất nước này đã vĩnh viễn mất đi những đứa con yêu dấu nơi chiến trường xa...


Hình như ,  có nhiều lúc ,  do gánh nặng cơm áo mưu sinh ,  do dòng đời phù du phiêu dạt , dù đã sống qua quá nửa đời người ,  mình vẫn còn chưa kịp lớn khôn để thực sự biết trân trọng nâng niu những giá trị tinh thần lớn lao của kỷ vật và ký ức ngay cả của chính mình .


Chợt thấy mình còn mắc nợ nhiều lắm với mẹ ,  với cha ,  với đồng đội đã hy sinh ,  với cuộc đời này .


Lại đêm đêm trở trăn với những dòng ký ức ,  lại hỳ hục mổ cò gõ chữ ,  gom góp thành phong lương khô cũ mèm ,  mang đến với anh em...


Đã lại cuối tháng Bảy rồi...  Đêm đã khuya ,  khí trời lành lạnh ,  hình như mùa Thu đã đến...  Lại tải về đây phong lương khô cũ mốc thếch để anh em xơi tạm cho đỡ đói lòng: "...


Thai60 / DỰNG NƯỚC GIỮ NƯỚC / Máu và Hoa / Một thời máu và hoa / Re: Hà Giang Ký ức của chúng tôi và đồng đội.  Phần 18.  vào lúc: 03 Tháng Tám,  2014,  01:09:10 AM


Chào các bác và anh em.


Những ngày đầu tháng 7/1984, ở Vị xuyên, thời tiết rất xấu. Gần như ngày nào những cơn mưa dầm dề cũng giăng lên một bức màn nước trên khắp núi đồi. Thỉnh thoảng, cũng có những lúc trời hửng lên, mặt trời ló ra khỏi những đám mây xám đen trĩu nặng , soi ánh vàng rạng rỡ hiếm hoi xuống mặt đất lầy lội ướt át. Những khi ấy, chiến trường lộ ra sự ngổn ngang tơi tả ở những chỗ bị pháo bắn .  Thế nhưng, ngay bên cạnh đấy, cây cỏ vẫn lên xanh ngăn ngắt, mơn mởn. Có những cành cây bị mảnh pháo chém, ngã xệ xuống, nhưng vẫn bám vào thân . Ở những vết chém vỡ toác ấy, nhựa cây chảy đẫm đìa, có chỗ thì còn nhỏ giọt, có chỗ thì đã se lại. Thật cảm động khi trên những cành cây bị thương tích ấy, vẫn có những chồi búp non xanh e ấp mọc ra. Trên cái cành chúi xuống mặt đất, những mầm lá, nụ hoa vẫn vươn lên, hứng những giọt mưa và đón ánh mặt trời.


Trong những ngày mưa gió ấy, mỗi khi đi tải hàng hay cáng thương vào ban ngày, gặp lúc nắng hửng lên, dù rất lo những cơn gió bất ngờ nổi lên xua bạt đám sương mù lên cao, phơi đội hình ra trên sườn đồi trống trải, nhưng lính tráng bọn em vẫn cứ có cái cảm giác như mình được bung ra khỏi sự tù túng chết chóc. Nhìn những cành cây gãy gục vẫn đang kết hoa đâm nụ, cảm thấy cuộc đời này sao mà đẹp thế, đáng yêu, đáng sống vô ngần


Những ngày ấy, nếu ai đã từng đi trên con đường nối từ đỉnh dốc 673 xuống ngã Ba Thanh thủy, lại vào lúc trời hửng nắng, hẳn sẽ nhìn thấy ở đoạn đường gần ngay chỗ bắt đầu đi xuống, có một cánh rừng nhỏ toàn loại cây lá to như chiếc mũ cối , chẳng biết tên là gì.  Khu rừng ấy bị pháo bắn rất nhiều, thân cây gãy đổ ngổn ngang, nhưng từ những khúc cây gẫy gục tan nát ấy, vẫn có những cái chồi non ,  cành con xanh mướt mọc ra vươn thẳng lên ngạo nghễ. Đi tiếp xuống khoảng 2-300m nữa, khi con đường bắt đầu có những đoạn dốc ngược trơn tuồn tuột, nếu nhìn lên vách núi trên cao, cách khoảng mấy chục mét thôi, sẽ thấy những thân cây dong dỏng, trên cây phủ đầy những chùm hoa cánh nhỏ, màu vàng rực rỡ. Có những cây bị pháo cháy xém, nhưng hoa vẫn rực lên từ những cành cây sứt sẹo. Rồi trên cao nữa, hay phía dưới sườn núi, có lác đác cô đơn những cây gạo thân sứt sẹo, vỡ toác vì những vết mảnh pháo, nhưng trên thân cây hay những cành bị thương ấy vẫn có những nụ hoa cháy đỏ lung linh dưới ánh mặt trời. Những khóm cành treo vất vưởng trên thân cây, có khi chỉ một cơn gió to hay một trận mưa lớn cũng có thể bắt chúng đứt lìa, rụng xuống, vậy mà vẫn vô tư đơm hoa thắp sáng cả một triền rừng...


Có rất nhiều lần, khi đang hỳ hục cáng thương trèo ngược dốc, lính VT gặp những đoàn quân đang lao từ trên cao xuống. Nếu là ban ngày, lại gặp lúc hửng nắng, dù mệt đến đứt hơi, bao giờ bọn em cũng cố nhắc anh em phải để ý đến sương mù và gió, vì ở những cao điểm phía bên kia thung lũng, bọn địch vẫn thường xuyên dõi sang, chỉ cần một thoáng quang quẻ, nhìn thấy lính mình nhấp nhô, chúng sẽ bắn sang hàng chục, hàng trăm quả pháo bắn thẳng. Nhìn những người lính trẻ đang vào trận, quần áo còn xanh lét, tóc cắt cao, mũ mão đầy đủ, trên vành mũ còn gắn những tờ giấy cắt đuôi nheo ghi những dòng khẩu hiệu khí thế, lòng bọn em lại thấy xốn xang vui lo lẫn lộn.  Vui vì thấy mặt trận có thêm anh em chi viện, mừng vì thấy bên mình sắp mở chiến dịch lớn, sắp chấm dứt những ngày khốn khổ khốn nạn đau thương... Nhưng lo lắm. Lo vì thấy anh em mình còn non trẻ quá, hồn nhiên quá, mặt mũi còn sáng láng vô tư quá ...


Dẫu thương và lo cho anh em lắm, nhưng mỗi khi được họ đưa tay kéo đỡ lên, khi nắm chặt bàn tay đồng đội, cảm nhận thấy hơi nòng hừng hực mạnh mẽ từ họ lan tỏa sang, lính VT chúng em như được tiếp thêm luồng sinh khí mới vô cùng ấm áp.  Rồi thì quên cả mệt, râm ran chúc nhau: Các quê mạnh khỏe nhá, đánh giỏi vào nhá, cẩn thận nhá, lúc nào thắng trận quay ra nhớ ghé qua Nà cáy nhá...


Gặp nhiều nhất là vào ban đêm, nhất là những hôm trời mưa tầm tã. Những đoàn quân trùm kín áo mưa lúp xúp chạy gằn xuống dốc và những người lính VT không mũ áo che mưa, mái tóc dài xõa xượi bết nước trên những bờ vai trần, cái quần đùi rách lướp tướp, đôi giầy cao cổ sũng nước ọp ẹp gặp nhau, nhường đường cho nhau đi trong một khoảnh khắc ngắn ngủi. Vẫn có những câu chào, câu chúc nhau hào hển: Đi nhé, khỏe nhé, chiến thắng nhé... Rồi những bàn tay nắm vội lấy nhau, những bàn tay vỗ vào vai nhau, những bàn tay dúi vội cho nhau gói thuốc lào, bao thuốc lá... Rồi những câu tìm hỏi đồng hương, hẹn ngày gặp lại ... râm ran, rạo rực suốt hàng quân.


Khi những đoàn quân ấy đã đi qua, khi người cuối cùng đã khuất dần ở phía dưới, cánh VT bọn em lại hỳ hục vật vã leo lên... leo lên. Lòng vẫn thấy cả vui buồn , lo lắng, tin tưởng, hy vọng lẫn lộn. Có những đêm, khi nghe thấy tiếng pháo nổ ầm ầm, mảnh đạn réo eo éo, ánh chớp nhoáng nhoàng từ phía dưới vọng lên, lại thương và lo đến quắt ruột chẳng biết đoàn quân khi nãy có bị dính đạn không? Có những đêm , khi đưa được thương binh về tới Nà cáy, bọn em lại nhận lệnh ngược 673 để đón thương binh vừa bị thương trên đoạn đường dốc ấy, vừa mệt, vừa lo ngay ngáy cho cả chính mình khi thấy ánh chớp lửa nhằng nhịt hắt lên bầu trời.


Dạo ấy đang là mùa trăng, càng đến giữa tháng trăng càng sáng.  Vào những đêm mưa, ánh trăng hình như khuếch tán vào những vầng mây trên bầu trời, dưới thung lũng, không gian cũng như hơi sá̀ng ra. Có những đêm hay khoảnh khắc trời tạnh, gió thổi bạt sương mù lên cao hay qua triền núi bên kia, ánh trăng rọi xuống xanh ngăn ngắt, cảnh vật như lại bừng lên. Núi đồi mướt mát lấp lánh dưới ánh trăng , những vách đá xác xơ vì đạn pháo ngời lên dưới ánh trăng, ở dưới xa xa kia, thấp thoáng những vầng sáng lấp lánh, lấp lánh... Sông Lô đấy... Dòng sông mùa mưa lũ đỏ ngầu màu đất đỏ, phù sa, nước trôi ào ạt về xuôi, sóng vỗ ì oạp bãi bờ, dưới ánh trăng xanh như lại trở nên huyền ảo, êm đềm. Từ mãi trên đỉnh núi, khi thì ở bên Cóc Nghè, khi thì ở trên đỉnh 673, 812, có đôi chỗ nhìn thấy một vùng lấp lánh như phủ bạc dưới ánh trăng khuya xanh ngăn ngắt... Sông Lô đấy... sông đang chảy về phía quê mình, nơi đồng bãi, xóm làng, phố thị thân yêu phía hạ du...


Gác đòn cáng lên bờ hào, ngóng nhìn xuống phía dòng Lô, hướng mắt dõi về phương trời phía Nam, lũ lính chúng em thả hồn về phía quê nhà...


Nhưng cũng chả được lâu đâu, bọn em lại bị lôi trở về với thực tại. Ở phía bên kia cái vùng sáng lấp lánh ấy, phía trên cao, những vách đá của dãy núi đá răng cưa bên Phong quang cũng phơi ra cái màu trắng phếch xác xơ vì đạn pháo quân thù, khi chúng bắn hủy diệt những trận địa pháo tầm xa của lữ 168 và những đơn vị gì gì nữa bên ấy.


Rồi đến ngày chiến dịch mở ra, kết thúc...


Rồi những đêm dài cùng lính trinh sát mò lên trận địa kiếm tìm khuân vác anh em...


Rồi những đêm dài vác gỗ, tải mìn cùng lính Công binh mò lên các chốt điểm để xây hầm hào, lập phòng tuyến...


Những đêm dài khốn khổ gian nan ấy, chỉ mong cho vầng trăng cuối tháng đừng sáng bừng lên, chỉ mong cho trời hãy mưa thật to,  nổi bão giông sấm sét cho thật nhiều... để cho bao nhiêu máu me mồ hôi nước mắt theo những giọt nước mưa trời gom hết về suối Thanh thủy, hòa xuống dòng Lô trôi xuôi về bến bãi quê nhà...


Những ngày cuối cùng của tháng Bảy, những ngày đầu tiên của Tháng Tám năm 1984, trên Vị xuyên tiết trời đã sang thu với những ngày nắng chói chang và những đêm mưa dầm dề, day dứt.  Những đồng đội ngày nào mới vào nay đã vắng bóng...


Người thì đã rút về phía sau để củng cố, chuẩn bị cho những trận đánh mới...


Người thì thân xác vẫn còn nằm đâu đó với gió sương mưa lạnh , dưới ánh sao trời xanh ngăn ngắt bên những triền đồi vách núi khe đá trên kia...


Những người còn ở lại thì trần lưng ra với những trận chiến đấu mới...


Lại có những ngày mưa gió xập xùi, những ngày nắng bừng lên rạng rỡ.  Cảnh vật chiến trường đã xơ xác lại càng thêm xác xơ.  Đi trên con đường từ đỉnh 673 xuống, nhìn sang bên đường, nhìn qua bên kia thung lũng , tất cả như đã bị quăng quật vò xé tơi bời, đốt cháy nham nhở...


Nhưng ở trên những sườn núi cao, những triền đồi thấp, dưới những khe sâu, vẫn ngời xanh những chồi non mới nhú, vẫn thấp thoáng rực vàng, chói đỏ muôn chùm hoa trên những thân cành thương tích xác xơ...


Không phải là mùa trăng ,  sông Lô ở mãi dưới xa kia không còn có ánh trăng ngắt xanh để ngời lên lấp lánh, nhưng hình như tiếng sóng gầm thét của nó vẫn ào ạt vọng lên những đỉnh núi trên cao ...


Ở dưới cái vùng tối thẫm sâu thăm thẳm kia, vẫn là dòng Lô đấy ... những con sóng trên sông vẫn đang ào ạt vỗ bờ, những con nước đỏ bầm trên sông vẫn ì ầm bươn bải chở nặng phú sa đất núi đẫm máu, mồ hôi và nước mắt về xuôi, đắp bồi cho bờ bãi quê nhà phía hạ du.


Dưới bầu trời vàng ệch ánh hỏa châu, chẳng quản gió mưa pháo đạn quăng quật dập vùi, những tấm lưng trần với đôi giầy rách ì ọp, chiếc quần đùi xơ tướp phất phơ, manh áo rách nát bung hết hai vai và mái tóc dài cợp bết xuống gáy vẫn lầm lũi lăn lộn trên những sườn đồi, vách đá ngổn ngang xơ xác.


Rồi lại có những mùa trăng mới ngắt xanh. Rồi lại có những ngày bừng sáng với những chùm hoa ngời sắc đỏ , vàng , những chồi cây mướt mát vươn thẳng lên cao dưới ánh mặt trời rạng rỡ...


Và vẫn như vang vọng mãi khắp nơi trên mọi góc chiến trường: Chiến thắng nhé... QUÊ ƠI... "


Nam Thái Trần/ facebook 12-07-2018; 28 May 2018; 5 June 2018 và 19 July 2017


Bài chưa biên tập!


bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Nhà văn Lê Lựu đã bán linh hồn cho ai? - Trần Mạnh Hảo 12.11.2018
Trường Sa của tôi - Nguyễn Thị Hậu 24.10.2018
Gió bụi lưng đèo - Nguyễn Ngọc Tư 24.10.2018
Vùng cao - Nguyễn Thị Hậu 19.10.2018
Bỗng nhiên lại nhớ xứ hoa vàng... - Ngô Vĩnh Bình 16.10.2018
Thương dân, dân sẽ phụng thờ - Trịnh Đình Khôi 07.10.2018
Gò Nổi - Phan Tập 06.10.2018
Mùa trăng - Đỗ Trường Leipzig 04.10.2018
Đất Thủ Thiêm - Võ Đắc Danh 02.10.2018
Phùng Quán: "Có những lúc ngã lòng/ Tôi vịn câu thơ mà đứng dậy" - Trần Thanh Phương 21.09.2018
xem thêm »