tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 30482703
Tiểu thuyết
20.02.2009
Liep Nicôlaievich Tônxtoi
Chiến tranh và Hòa bình

XIII


Pie bị giam trong lán bốn tuần lễ. Cùng ở đây có cả thảy hai mươi ba người lính, ba người sĩ quan và hai viên chức.


Về sau, khi Pie hồi tưởng lại những ngày ấy, hình ảnh của tất cả những người đó hiện lên lờ mờ như trong đám sương mù, nhưng riêng Platôn Carataiép thì vẫn mãi mãi còn lại trong lòng Pie. Đối với chàng, đó là kỷ niệm sâu sắc nhất và thân yêu nhất và là hiện thân của tất cả cái bản tính Nga, tốt đẹp, tròn trĩnh. Sáng hôm sau lúc tờ mờ đất, khi Pie trông thấy người bạn mới, cái ấn tượng đầu tiên của chàng hôm qua về một cái gì tròn trĩnh lại càng được củng cố thêm: tất cả là cái bóng dáng của Platôn, trong chiếc áo khoác của Pháp thắt lưng bằng sợi dây thừng, với chiếc mũ lưỡi trai và đôi giày tết bằng thớ vỏ cây, cả cái bóng dáng ấy có một vẻ gì tròn trĩnh khác thường; đầu Platôn cũng tròn vo, lưng, ngực, vai và ngay cả đôi tay nữa - đôi cánh tay bao giờ cũng sắp sửa ôm một cái gì - đều tròn trĩnh; nụ cười dễ chịu và đôi mắt to màu nâu dịu dàng của Platôn cũng tròn.


Platôn Carataiép chắc phải quá năm mươi tuổi, theo những câu chuyện bác ta kể về những chiến dịch đã từng tham gia từ hồi còn trẻ, có thể đoán chắc như vậy. Tự bản thân bác ta thì không biết và không sao có thể nói rõ mình bao nhiêu tuổi, nhưng răng bác ta, trắng bóng và rất chắc, luôn luôn vẽ thành hai hình bán nguyệt mỗi khi bật cười (Platôn rất hay cười) đều còn nguyên và cái nào cũng rất tốt, râu tóc bác chưa có sợi nào bạc; toàn thân bác lộ rõ vẻ dẻo dai và nhất là sự rắn rỏi, sức chịu đựng.


Mặt Platôn tuy có những nếp nhăn nhỏ tròn tròn, vẫn có vẻ ngây thơ và trẻ trung, giọng nói bác ngân nga, nghe rất dễ chịu. Nhưng đặc biệt hơn cả là bác ta nói năng rất hồn nhiên, nhanh nhảu, lời lẽ bao giờ cũng tự nhiên và đúng lúc. Hình như bác ta không bao giờ nghĩ gì đến những điều mình đã nói và sẽ nói, và chính vì thế mà giọng nói nhanh nhẩu và chắc chắn của bác ta có một sức thuyết phục không sao cưỡng nổi.


Trong thời gian đầu bị giam cầm, Platôn tỏ ra khỏe mạnh và nhanh nhẹn đến nỗi có thể tưởng chừng bác không hề biết thế nào là mệt nhọc, ốm đau. Cứ mỗi tối, đến khi ngủ bác ta lại nói: "Lạy Chúa cho con ngủ thật đẫy, dậy thật dòn"; sáng sáng ngủ dậy bao giờ cũng so vai nói: "Cuộn tròn mà ngủ, rũ mình mà dậy". Và quả nhiên hễ bác ta nằm xuống một cái là ngủ ngay, ngủ say “ như một hòn đá” và hễ bác ta dậy, rũ mình một cái là lập tức bắt tay vào làm một việc gì, không hề chần chừ lấy một giây, như trẻ con hễ thức dậy là vớ ngay lấy đồ chơi vậy. Việc gì bác ta cũng làm được, làm không khéo lắm, nhưng cũng không vụng. Bác ta nướng, luộc, khâu, bào, vá giày, lúc nào cũng luôn tay và chỉ đến đêm mới tự cho phép mình chuyện trò (bác ta rất thích nói chuyện) và ca hát. Bác ta hát không phải như những ca sĩ vốn biết người ta đang nghe mình hát, mà như loài chim, rõ ràng là hát vì thấy cần phải phát ra những nhạc thanh, cũng như cần nằm hay cần đi vậy; và những âm thanh ấy bao giờ cũng thanh thanh dịu dịu, buồn man mác, gần như tiếng hát của đàn bà, và những khi hát nét mặt bác rất nghiêm trang.


Bị bắt làm tù binh, bác để râu mọc xồm xoàm, hình như đã cởi bỏ những gì xa lạ mà cuộc đời lính đã khoác lên người bác và trở về với nếp sống cũ của người dân cày, của nhân gian.


- Lính giải ngũ rồi thì áo bỏ ngay ra ngoài quần[1] - Platôn thường nói. Bác ta không thích nhắc đến thời đi lính, tuy cũng không khi nào than phiền về quãng đời đó và thường nói rằng suốt thời gian tại ngũ bác ta chưa bị đánh roi nào. Những khi kể chuyện, bác thường thích kể hơn cả là những kỷ niệm xưa mà chắc là bác trân trọng đặc biệt, những kỷ niệm cuộc đời nông dân, cuộc đời "Cơ Đốc"[2] như bác vẫn nói. Những câu tục ngữ nhan nhản trong lời nói của bác ta không phải là những tục ngữ phần lớn thô tục và bạo miệng mà lính tráng hay dùng; đó là những câu ngạn ngữ dân gian, những câu tách riêng ra thì có vẻ vô nghĩa nhưng khi nói đúng lúc thì bỗng bao hàm những ý nghĩa khôn ngoan một cách thâm thúy.


Nhiều khi bác ta nói trái hẳn lại với điều đã nói trước, nhưng cả hai điều đó cũng đều đúng như nhau. Bác thích nói và nói rất hay, luôn tô điểm lời nói của mình bằng những danh từ âu yếm[3] và những câu tục ngữ mà Pie có cảm tưởng là chính bác ta đặt ta; nhưng điều thú vị hơn cả là qua cửa miệng Platôn, những sự việc hết sức tầm thường, đôi khi chính là những sự việc mà Pie vẫn thường thấy nhưng không để ý, bỗng dưng có một vẻ đẹp gì trang trọng lạ thường. Platôn thích nghe những câu chuyện cổ tích mà cứ tối tối một người lính lại kể (tối nào cũng vẫn chuyện ấy) nhưng bác thích nghe hơn cả là những mẩu chuyện về cuộc sống thật. Bác mỉm cười vui sướng trong khi nghe chuyện, thỉnh thoảng lại đệm một lời hay hỏi một câu nhằm tìm cho ra cái gì tốt đẹp trong những điều nghe kể. Carataiép không hề có những tình quyến luyến, tình bạn hay tình yêu như Pie quan niệm. Nhưng bác ta yêu mến và gần gũi tất cả những gì cuộc sống run rủi cho bác tiếp xúc và nhất là con người - không phải một con người nào nhất định, mà tất cả những con người đang ở trước mặt bác ta. Bác ta yêu mến con chó của bác, yêu mến các bạn cùng lán, yêu mến những người lính Pháp, yêu mến Pie là người nằm cạnh bác. Nhưng Pie cảm thấy rằng tuy bác ta đối với chàng ân cần và thân mật như vậy (một phần cũng vì bác ta bất giác trân trọng cuộc sống tinh thần của Pie), nhưng nếu phải từ giã chàng thì bác ta cũng sẽ không buồn phiền lấy một phút. Và Pie cũng bắt đầu có một tình cảm như vậy đối với Carataiép.


Đối với tất cả các tù binh khác, Platôn Carataiép là người lính hết sức bình thường, họ gọi bác là "con diều hâu" hay là Platôsa, họ chế giễu bác một cách hồn hậu và nhờ bác đi việc này việc nọ. Nhưng đối với Pie, Platôn, vẫn như khi chàng gặp bác ta lần đầu là cái hiện thân bí ẩn, tròn trĩnh, vĩnh cửu của tinh thần giản dị và chân thật, mãi mãi về sau vẫn như thế.


Platôn Carataiép không thuộc lòng một cái gì hết ngoài lời cầu nguyện của bác. Những khi bắt đầu nói, hình như bác ta chẳng biết mình sẽ kết thúc ra sao.


Đôi khi Pie kinh ngạc vì ý nghĩa sâu sắc của câu bác ta vừa nói, yêu cầu bác nhắc lại một lần nữa. Nhưng Platôn không sao nhớ được điều mình vừa nói cách đây một phút - cũng như không sao đọc lại lời bài hát ưa thích của mình cho Pie nghe. Trong bài hát có những câu: "Mẹ yêu dấu", "cây bạch dương nhỏ" và "ta buồn lắm" nhưng nghe cả bài thì những câu ấy chẳng có mạch lạc gì cả. Bác ta không hiểu và không sao hiểu được nghĩa của những từ tách ra khỏi câu nói. Mỗi lần nói, mỗi hành động của bác đều là sự thể hiện của một hoạt động mà bác không hề ý thức: cuộc sống của bác. Nhưng cuộc sống của Platôn thì, theo như bác quan niệm, không hề có ý nghĩa nếu tách riêng ra một mình. Nó chỉ có ý nghĩa khi là một bộ phận nhỏ của một cái tổng thể mà bác luôn luôn cảm biết. Lời lẽ và hành động của bác toát ra từ bản thân bác cũng đều đặn, tất yếu và trực tiếp như mùi hương toát ra từ cánh hoa. Bác không thể hiểu giá trị hay ý nghĩa của một hành động hay một lời nói tách rời.


XIV


Được Nicôlai cho biết tin anh nàng đang ở với gia đình Rôstốp ở Yarôsláp, công tước tiểu thư Maria, bất chấp những lời can ngăn của bà dì, lập tức sửa soạn ra đi, không những thế, nàng lại còn đem cả đứa cháu trai cùng đi nữa. Đi như vậy có khó khăn gì không, liệu có đi được không, nàng không hề hỏi và không muốn biết; bổn phận của nàng không những là phải ở bên cạnh anh nàng, có lẽ bây giờ đang hấp hối cũng nên, mà còn phải làm đủ cách để đưa con trai đến cho anh nàng gặp mặt. Và nàng đã nhất quyết ra đi. Nàng tự nhủ rằng sở dĩ công tước Anđrây không cho nàng biết tin này là vì hoặc chàng yếu quá không viết thư được, hoặc chàng cho rằng nàng và đứa con trai của chàng đi một quãng đường xa xôi như vậy thì quá gian nan và nguy hiểm.


Chỉ vài ngày tiểu thư Maria đã sửa soạn xong để lên đường. Xe cộ của nàng gồm có cỗ xe kiệu to tướng của lão công tước - chiếc xe mà nàng đã dùng để đến Vôrônegiơ, mấy chiếc xe bichka và mấy chiếc xe chở đồ. Cùng đi với nàng có cô Buariên, Nicôluska với ông gia sư, bà u già, ba người nữ tỳ, Tikhôn, một người nội bộc trẻ tuổi và một người hành bộc của bà dì phải đi theo nàng.


Không thể nghĩ đến chuyện đi theo con đường Mátxcơva như thường lệ được, công tước tiểu thư Maria phải đi theo một con đường vòng qua Lípétscơ, Riadan, Vlađimia. Con đường này rất dài, rất khó đi vì nhiều nơi không có trạm đổi ngựa và qua vùng Riadan lại còn nguy hiểm nữa là khác, vì nghe đâu quân Pháp đã xuất hiện ở vùng này.


Trong cuộc hành trình vất vả, cô Buariên, Đêxan và những người tôi tớ của công tước tiểu thư Maria đều phải lấy làm lạ vì sự cương nghị và sức hoạt động của nàng. Nàng bao giờ cũng đi ngủ sau cùng, dậy trước mọi người và không có khó khăn trở ngại nào có thể ngăn cản nàng được. Nhờ sức hoạt động và nghị lực của nàng cổ vũ các bạn đồng hành, cuối tuần lễ thứ hai họ đã gần đến Yarôsláp.


Trong thời gian vừa qua ở Vôrônegiơ, tiểu thư Maria đã được hưởng cái hạnh phúc êm đẹp nhất trong đời nàng. Tình yêu của nàng đối với Rôstốp không còn làm cho nàng bứt rứt và khích động nữa. Tình yêu đó đã tràn ngập lòng nàng, đã trở thành một bộ phận khăng khít của bản thân nàng và nàng không còn đấu tranh với tình cảm nữa. Trong thời gian gần đây, công tước tiểu thư Maria đã thấy rõ - tuy nàng chưa bao giờ tự nói với mình điều đó bằng những từ ngữ rõ ràng minh xác - rằng mình yêu và được yêu. Nàng đã thấy rõ như vậy trong lần gặp gỡ sau cùng với Nicôlai khi chàng đến báo cho nàng biết rằng anh nàng hiện ở với gia đình Rôstốp. Nicôlai không hề có một lời nào ám chỉ rằng bây giờ những quan hệ trước kia giữa công tước Anđrây và Natasa (nếu công tước Anđrây qua khỏi) sẽ được nối lại, nhưng cứ nhìn gương mặt chàng, tiểu thư Maria cũng thấy rằng chàng biết và có nghĩ đến điều đó. Ấy thế mà không những thái độ của chàng đối với nàng - một thái độ trân trọng, dịu dàng và chan chứa tình yêu - vẫn không thay đổi, mà chàng còn có vẻ như lấy làm mừng rằng quan hệ thân thuộc giữa chàng đối với tiểu thư Maria cho phép chàng tỏ bày một cách tự do hơn mối tình bạn và tình yêu của chàng, tiểu thư Maria có đôi khi nghĩ như vậy. Tiểu thư Maria biết rằng nàng yêu lần này là lần đầu tiên và là lần cuối cùng trong đời và cảm thấy mình được yêu, nàng thấy vui sướng và điềm tĩnh về phương diện này.


Nhưng niềm vui này không những không làm mờ nhạt bớt tình thương xót của nàng đối với người anh, mà ngược lại, trạng thái yên tâm về mặt này lại khiến nàng có thể hoàn toàn buông mình theo tình thương ấy. Khi mới lên được ở Vôrônegiơ, cảm xúc ấy mạnh đến nỗi khi nhìn gương mặt bơ phờ, tuyệt vọng của nàng, những người cùng đi yên trí rằng nàng nhất định sẽ ốm dọc đường; nhưng chính những nỗi khó khăn và những nỗi lo lắng trong cuộc hành trình mà nàng đã dốc toàn lực vào để giải quyết, đã giúp nàng tạm thời khuây khỏa và cho nàng có thêm sức mạnh.


Cũng như thường lệ những khi người ta đi đường trường, công tước tiểu thư Maria chỉ nghĩ đến cuộc hành trình mà quên bẵng cả mục đích của nó. Nhưng khi đến gần Yarôsláp, khi lại sực nhớ đến những sự việc có thể đang chờ đón mình, không phải sau mấy ngày nữa, mà chỉ ngay tối nay thôi, nỗi xúc động của tiểu thư Maria dâng lên đến cực điểm.


Khi người hành bộc, được phái đến Yarôsláp trước để hỏi xem gia đình Rôstốp ở đâu và hiện tình công tước Anđrây ra sao, quay trở về và gặp chiếc xe kiệu lớn đang tiến vào thành phố ở gần trạm kiểm soát, anh ta hoảng sợ vì thấy khuôn mặt xanh xao một cách khủng khiếp của công tước tiểu thư Maria ló ra ngoài cửa xe.


- Thưa tiểu thư, con đã hỏi đủ cả. Gia đình Rôstốp hiện ở cạnh quảng trường, ở nhà một người lái buôn tên là Brônnicốp. Gần đây thôi ạ, ngay sát bờ sông Vônga - người hành bộc nói.


Công tước tiểu thư Maria đưa đôi mắt hoảng sợ và băn khoăn nhìn vào mắt người hành bộc, không hiểu tại sao anh ta lại không trả lời câu hỏi quan trọng nhất: Anh nàng hiện ra sao? Cô Buariên hỏi hộ nàng:


- Công tước thế nào?


- Công tước đại nhân cùng ở với gia đình Rôstốp trong ngôi nhà ấy.


- "Thế nghĩa là anh ấy còn sống" - công tước tiểu thư nghĩ thầm và hỏi khẽ: - Anh tôi ra sao?


- Nghe người ta nói là vẫn thế ạ.


 "Vẫn thế" nghĩa là thế nào thì công tước tiểu thư Maria không hỏi. Nàng liếc mắt nhanh sang nhìn thằng Nicôluska lên bảy đang ngồi trước mặt nàng, vui mừng ngắm cảnh phố phường, rồi nàng cúi đầu xuống và không ngẩng lên nữa mãi cho đến khi chiếc xe nặng nề đang vừa lắc lư vừa lăn ầm ầm bỗng dừng lại. Cái bậc xe bỏ xuống đất nghe đánh xịch một tiếng loảng xoảng.


Cửa xe mở ra. Bên trái là sông Vônga bát ngát, bên phải là một cái thềm nhà trên thềm có nhiều người gia nô và một người con gái nào da dẻ hồng hào, làn tóc đen tết thành một chiếc bím dày, đang mỉm một nụ cười vờ vĩnh trông đến khó chịu - công tước tiểu thư Maria có cảm tưởng như vậy (người đó là Xônhia). Công tước tiểu thư chạy lên mấy bậc thềm, người con gái có nụ cười vờ vĩnh nói: "Đây ạ, đây ạ!" - và công tước tiểu thư thấy mình đứng trong một gian tiền phòng, trước mặt một người đàn bà đã có tuổi, kiểu mặt như người phương Đông, đi ra đón nàng, vẻ cảm động. Đó là bá tước phu nhân. Bà ôm lấy tiểu thư Maria và hôn nàng.


- Con ơi! - bà nói. - Ta yêu con và đã biết con từ lâu[4].


Tuy đang bồi hồi xúc động, công tước tiểu thư Maria cũng hiểu rằng đó là bá tước phu nhân và cần phải nói với phu nhân một câu gì mới được. Nàng ấp úng nói mấy câu tiếng Pháp đáp lễ (nàng cũng chẳng biết mình làm thế nào mà nói được như vậy) với cái giọng mà người ta đã dùng để nói với nàng, rồi hỏi: "Anh ấy thế nào rồi ạ?".


- Bác sĩ bảo là không có gì nguy hiểm - bá tước phu nhân nói, nhưng trong khi nói như vậy, bà lại thở dài ngước mắt nhìn lên trời, và trong cử chỉ đó có một cái gì trái hẳn với câu của bà vừa nói.


- Anh ấy ở đâu? Có thể gặp anh ấy được không ạ? - Công tước tiểu thư hỏi.


- Được chứ, được chứ, cô bạn ạ, cô sẽ gặp ngay. Con anh ấy đây à? - Bá tước phu nhân quay về phía Nicôluska bấy giờ đang đi với Đêxan vào phòng. - Sẽ có đủ chỗ, nhà này rộng lắm. Ồ, cậu bé xinh quá!


Bá tước phu nhân đưa công tước tiểu thư vào phòng khách. Xônhia nói chuyện với Buariên. Bá tước phu nhân vuốt ve cậu bé. Lão bá tước bước vào phòng chào công tước tiểu thư. Lão bá tước đã thay đổi nhiều từ dạo ông gặp công tước tiểu thư lần cuối cùng. Dạo ấy ông hãy còn là một ông già linh hoạt, vui vẻ đầy lòng tự tin, bây giờ ông là một con người lạc lõng, thảm hại. Trong khi nói chuyện với công tước tiểu thư, ông luôn luôn đưa mắt nhìn quanh như thể muốn hỏi mọi người xem mình làm như thế có được không. Sau khi Mátxcơva bị thiêu hủy, tài sản bị thất tán, còn mình thì bị tách ra khỏi nếp sống quen thuộc, bá tước hình như đã mất ý thức về lẽ sống của mình và cảm thấy mình bây giờ không còn chỗ đứng trong cuộc đời nữa.


Tuy chỉ mong sao được gặp anh ngay và bực bội trong khi chỉ mong được thấy mặt anh mà người ta lại cứ ám lấy nàng và vờ vĩnh khen ngợi đứa cháu của nàng, công tước tiểu thư như Maria cũng để ý thấy tất cả những việc đang diễn ra quanh nàng, và thấy cần phải tạm khuất phục cái trật tự mới của nơi nàng vừa đến. Nàng biết rằng tất cả những cái đó đều không thể tránh được và không lấy làm bực mình vì họ.


- Đây là cháu gái tôi - Bá tước giới thiệu Xônhia - công tước tiểu thư chưa biết nó à?


 Công tước tiểu thư quay về phía Xônhia, và cố nén cái cảm giác thù địch đang nổi dậy trong lòng, nàng hôn Xônhia. Nhưng nàng thấy khổ tâm vì tâm trạng của tất cả những người ở chung quanh sao khác xa những điều đang xôn xao trong lòng nàng quá.


- Anh ấy ở đâu? - Nàng lại hỏi lại tất cả mọi người một lần nữa.


- Anh ấy ở dưới nhà ạ! Natasa đang ngồi với anh ấy - Xônhia đỏ mặt nói. - Đã cho người đi hỏi rồi ạ. Chắc tiểu thư mệt lắm, phải không ạ?


Công tước tiểu thư ứa nước mắt vì tức bực. Nàng quay mặt đi và toan hỏi lại bá tước phu nhân một lần nữa xem phải đi lối nào để đến phòng công tước Anđrây thì ngoài cửa có tiếng bước chân nhẹ nhàng, rất nhanh, nghe như vui vẻ. Công tước tiểu thư quay lại nhìn và thấy Natasa đi như chạy vào phòng. Natasa - người mà hồi nào gặp ở Mátxcơva đã gây cho nàng nhiều ác cảm như vậy.


Nhưng công tước tiểu thư vừa thoáng nhìn lên gương mặt Natasa thì đã hiểu rằng đây là một người thật sự cùng chung nỗi buồn với nàng và do đó là bạn của nàng. Nàng lao người ra đón Natasa, ôm lấy nàng và úp mặt lên vai Natasa mà khóc.


Đang ngồi trên đầu giường công tước Anđrây, Natasa được tin công tước tiểu thư đến, nàng lặng lẽ đi ra khỏi phòng với những bước chân nhanh nhẹn mà công tước tiểu thư Maria nghe như vui vẻ đón, để chạy tới gặp nàng. Khi nàng chạy vào phòng, trên gương mặt kích động của nàng chỉ biểu lộ tình cảm - tình yêu thương đối với chàng, đối với tiểu thư Maria, đối với tất cả những gì gần gũi với người mà nàng yêu, niềm trắc ẩn, nỗi đau xót vì những người khác và lòng mong muốn thiết tha quên tất cả đời mình để giúp họ. - Có thể thấy rõ rằng giây phút ấy trong tâm trí Natasa không hề có một ý nghĩ nào về mình, về những mối quan hệ của mình với công tước Anđrây.


Vốn có một trực giác nhạy bén, công tước tiểu thư Maria thoạt nhìn gương mặt Natasa đã hiểu ngay tất cả điều đó. Nàng khóc trên vai Natasa với một nỗi buồn pha lẫn một cảm giác vui sướng.


- Đi đi, ta vào với anh ấy đi, Maria! - Natasa nói, đoạn dẫn nàng sang phòng bên.


Công tước tiểu thư Maria ngẩng đầu lên, lau nước mắt và quay mặt về phía Natasa. Nàng cảm thấy rằng nhờ Natasa nàng sẽ biết hết sự tình.


- Anh ấy... - nàng bắt đầu hỏi, nhưng lại ngừng bặt. Nàng thấy không thể nào dùng ngôn ngữ để hỏi han hay để trả lời được. Gương mặt và đôi mắt của Natasa tất phải nói hết với nàng, rõ hơn và sâu hơn.


Natasa nhìn nàng, nhưng hình như Natasa đang lo sợ và phân vân - có nên nói tất cả những điều mà nàng biết với công tước tiểu thư hay không. Nàng dường như cảm thấy rằng trước đôi mắt trong sáng này, đang rọi suốt vào đáy lòng nàng, không thể không nói hết, nói hết sự thật đúng như nàng đã thấy. Môi Natasa bỗng run lên, miệng chúm lại thành những nếp nhăn xấu xí, rồi nàng bật lên tiếng khóc thổn thức và lấy tay bưng mặt.


Công tước tiểu thư Maria đã hiểu hết. Nhưng nàng vẫn hy vọng và hỏi bằng những lời lẽ mà nàng không mấy tin tưởng:


- Nhưng vết thương của anh ấy ra sao? - Nói chung tình trạng anh ấy thế nào?


- Tiểu thư... tiểu thư sẽ thấy - Natasa chỉ nói được như vậy.


Họ ngồi một lát ở nhà dưới, cạnh phòng chàng, để đủ thì giờ nín khóc mà vào phòng chàng với vẻ mặt điềm tĩnh.


- Bệnh trạng diễn biến từ đầu ra sao? Bệnh tăng đã lâu chưa? Cái đó xảy ra từ bao giờ? - Công tước tiểu thư Maria hỏi.


Natasa kể rằng thời gian đầu, bệnh tình có nguy kịch vì trạng thái sốt nóng và những cơn đau, nhưng đến Trôitxa thì đỡ và bác sĩ chỉ còn lo một điều là chứng hoại thư, nhưng rồi nguy cơ này cũng qua khỏi. Khi đến Yarôsláp, vết thương bắt đầu mưng mủ (Natasa biết tất cả những điều gì có dính dáng đến hiện tượng mưng mủ v.v...) và bác sĩ nói rằng quá trình mưng mủ có thể diễn biến tốt. Rồi công tước Anđrây lại sốt. Bác sĩ nói rằng cơn sốt này không lấy gì làm nguy hiểm.


- Nhưng cách đây hai ngày - Natasa bắt đầu nói - bỗng dưng cái đó xảy ra... nàng nén những tiếng thổn thức. - Tôi không hiểu tại sao, nhưng tiểu thư sẽ thấy rõ anh ấy như thế nào.


- Yếu đi! Gầy đi à?... - Công tước tiểu thư hỏi.


- Không, không phải thế, còn tệ hơn nữa. Chị sẽ biết. Ôi Maria, anh ấy tốt quá, anh ấy không thể...anh ấy không thể sống, bởi vì…


(còn tiếp)


Nguồn: Chiến tranh và Hòa bình, tập 3. Bộ mới, NXB Văn học, 1-2007. Triệu Xuân biên tập. In theo lần xuất bản đầu tiên tại Việt Nam năm 1961 và 1962 của Nhà xuất bản Văn hóa, tiền thân của NXB Văn học. Những người dịch: Cao Xuân Hạo, Nhữ Thành, Trường Xuyên (tức Cao Xuân Huy) và Hoàng Thiếu Sơn.


 







[1] Nông dân Nga mặc áo rubaska rộng bỏ ra ngoài quần có thắt một sợi dây ngang lưng.




[2] Trong tiếng Nga từ nông dân (krestyanski) và chữ Cơ Đốc (khristjanski) gần giống nhau về ngữ âm.




[3] Trong tiếng Nga tất cả các danh từ (hay tính từ, trạng từ cũng thế) có thể cấu tạo thành những từ có nghĩa “âu yếm” bằng cách thêm những vị tố đặc biệt.




[4] Je vous aime et vous connais depuis longtemps.



Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
23.
24.
25.
26.
27.
28.
29.
30.
31.
32.
33.
34.
35.
36.
37.
38.
39.
40.
41.
42.
43.
44.
45.
46.
47.
48.
49.
50.
51.
52.
53.
54.
55.
56.
57.
58.
59.
60.
61.Phần Thứ Mười một
62.
63.
64.
65.
66.
67.
68.
69.
70.
71.
72.
73.
74.
75.
76.
77.
78.
79.
80.
81.Phần Thứ tám
82.
83.
84.Phần Thứ sáu
85.Lời Người biên tập và Lời Giới thiệu của Cao Xuân Hạo
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Cơ may thứ hai - Constant Virgil Gheorghiu 07.12.2019
Nhân mạng cuối cùng và đồng loại - Vlastimil Podracký 07.12.2019
Hiểm họa sắc vàng - Vlastimil Podracký 07.12.2019
Sodoma & Gomora - Vlastimil Podracký 07.12.2019
Trăm năm cô đơn - Gabriel Garcia Marquez 06.12.2019
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 06.12.2019
Ông cố vấn - Hữu Mai 05.12.2019
Trên sa mạc và trong rừng thẳm - Henryk Sienkiewicz 05.12.2019
Chiến tranh và Hòa bình - Liep Nicôlaievich Tônxtoi 05.12.2019
Đường công danh của Nikodema Dyzmy - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 02.12.2019
xem thêm »