tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 24039921
18.03.2018
Nhiều tác giả
30 năm sau thảm sát Gạc Ma: Người Việt Nam đời đời không quên Hoàng Sa, Trường sa là của Việt Nam!


Máy bay chiến thuật bay ra Gạc Ma sau ngày 14-3-1988


Khi quân Trung Quốc dùng vũ lực chiếm Gạc Ma ngày 14-3-1988, trong đất liền tại Tân Sơn Nhất - căn cứ của trung đoàn không quân vận tải 918 - chuyển sang trạng thái báo động chiến đấu cấp 1.


Thượng tá Trần Xuân Đô - người chụp ảnh khu vực Cô Lin, Len Đao, Gạc Ma sau ngày 14-3-1988 - kể lại nhiệm vụ căng thẳng 29 năm trước - Ảnh: MY LĂNG


Cựu phi công Đoàn Hồng Quân đã từng lái máy bay AN-26 bay chuyến đầu tiên ra Gạc Ma để chụp ảnh, giám sát tình hình - Ảnh: MY LĂNG


Trung đoàn 918 lập tức nhận lệnh điều hai máy bay vận tải chiến thuật An-26 cất cánh đi Phan Rang trực để sẵn sàng bay ra Trường Sa. Còn ở Tân Sơn Nhất, hai máy bay An-26 cũng trực sẵn sàng cất cánh.


10 chuyến bay khẩn


Ngày 16-3-1988, máy bay An-26 do phi đội trưởng phi đội 1 Đoàn Hồng Quân lái chính đã cất cánh từ căn cứ Tân Sơn Nhất ra Trường Sa trinh sát, chụp ảnh các tàu Trung Quốc, nắm tình hình đối phương tại khu vực đảo Cô Lin, Len Đao và Gạc Ma.


Ngay từ sáng 14-3, tàu HQ604 và 605 đã bị bắn chìm. Ngoài đảo lúc này chỉ còn tàu HQ505 đã kịp ủi lên Cô Lin và trở thành công sự thép khẳng định chủ quyền. Nhiệm vụ của tổ bay không chỉ chụp các tàu Trung Quốc tại khu vực vừa xảy ra chiến sự mà còn chụp cả HQ505.


Chuyến bay đầu tiên của An-26 cất cánh ra Trường Sa sau ngày 14-3 do phi công Đoàn Hồng Quân thực hiện. Thượng tá Đoàn Hồng Quân (hiện đang ở huyện Bình Chánh, TP.HCM, nguyên tham mưu phó trung đoàn 918) khi đó là một trong những phi công giỏi của trung đoàn 918.


Thượng tá Quân cho biết từ Tân Sơn Nhất ra đảo hơn 400km, vì đảo Cô Lin, Len Đao và Gạc Ma quá xa đất liền nên lúc đó một máy bay An-26 khác cũng cất cánh để làm nhiệm vụ bay chuyển tiếp trên không.


Máy bay này bay đến đoạn giữa quãng đường từ Tân Sơn Nhất ra đảo, làm cầu nối liên lạc giữa chiếc An-26 bay ra đảo làm nhiệm vụ với Sở chỉ huy ở đất liền.


Thượng tá Trần Xuân Đô, một trong những thành viên của tổ bay An-26 cất cánh ra khu vực Cô Lin, Len Đao và Gạc Ma sau ngày 14-3-1988, kể:


“Lúc đi chúng tôi đã biết Trung Quốc vừa cướp đảo của mình. Bộ đội mình ngoài đảo báo về có nhiều tàu chiến Trung Quốc xung quanh đảo. An-26 ra trinh sát để xem có bao nhiêu tàu Trung Quốc, tàu ở vị trí nào so với đảo của mình... để cấp trên có phương án ứng phó. Trên yêu cầu phải quay được rõ số hiệu các tàu Trung Quốc”.


Những ngày khẩn cấp đó, máy bay An-26 của trung đoàn không quân 918 đã thực hiện 10 chuyến bay ra Trường Sa quan sát chụp ảnh, thông báo tình hình đối phương trên biển về sở chỉ huy, thả dù hàng...


Tàu HQ505 lao lên ủi bãi, bảo vệ được Cô Lin. Ảnh chụp từ máy bay tháng 3-1988 - Ảnh: tư liệu


Quay rõ số hiệu tàu Trung Quốc


Thượng tá Nguyễn Văn Dương - nguyên chủ nhiệm bay trung đoàn 918 - cũng là một trong những phi công tham gia chuyến bay ra Trường Sa trong những ngày nóng bỏng đó, ông là một trong các phi công dày dạn kinh nghiệm của trung đoàn 918.


“Khi bay ra đó tôi là lái chính, còn anh Thao lái phụ. Khi giao nhiệm vụ, cấp trên yêu cầu bay qua các đảo trong đó có Cô Lin, Len Đao và Gạc Ma đang có tàu, nhiệm vụ là vừa chụp ảnh vừa quan sát kỹ Gạc Ma.


Khoảng 9h sáng chúng tôi đã có mặt ở khu vực đảo Gạc Ma. Khi hạ thấp độ cao xuống 2.000m, thấy có tàu Trung Quốc cách đảo 1-2 hải lý.


Có mấy tàu đậu quanh đảo nhưng thấy rõ nhất một tàu Trung Quốc với cờ hiệu và 2-3 chiếc khác ở phía nam đảo Gạc Ma. Sau này về anh em phòng ảnh rửa hình nói rằng ảnh rất rõ nét, nhìn thấy hình tàu và cờ hiệu Trung Quốc”.


Từ đề nghị của Quân chủng hải quân, trong những chuyến bay đó mỗi tổ bay còn có thêm sĩ quan tác chiến hải quân đi cùng. Để đảm bảo an toàn, bay từ Tân Sơn Nhất ra Phan Rang nạp dầu rồi bay ra đảo. Khác với những chuyến bay ra Trường Sa chụp ảnh trước đó, trong chuyến bay này còn có thêm người quay phim.


Nhiệm vụ đó được giao cho phi công lái phụ đảm nhiệm. Thượng tá Trần Xuân Đô kể:


“Bay ở Cô Lin và Len Đao thì không có vấn đề gì. Nhưng lúc đó Gạc Ma đã bị quân Trung Quốc cướp rồi nên không thể bay gần và tổ bay phải tránh bay đè lên đảo. Dưới biển quân Trung Quốc tưởng mình uy hiếp sẽ bắn tên lửa lên ngay.


Chúng tôi bay chếch chếch bên hông đảo Gạc Ma. Khi cách Gạc Ma khoảng 2km, phi công hạ thấp độ cao xuống 1.000m. Khi bay vào vị trí gần đảo, tổ bay thông báo chuẩn bị chụp ảnh thì mới chụp được. Lái phụ Hiền chĩa máy quay qua cửa sổ quay ở góc 45 độ.


Tôi phụ trách chụp ảnh. Ở độ cao 1.000m, quan sát bằng mắt thường và ống nhòm, tôi nhìn thấy rõ mấy chiếc tàu cờ hiệu Trung Quốc ở xung quanh Gạc Ma. Những hình ảnh này sư đoàn đưa cho quân chủng để chuyển lên cho Bộ Tổng tham mưu”.


Thượng tá Trần Xuân Đô cho biết hằng ngày mỗi tổ bay một chuyến ra khu vực vừa xảy ra chiến sự để quay phim, chụp ảnh, trinh sát tình hình. Ông Đô tham gia ít nhất ba chuyến.


Sau đó, An-26 còn bay ra đảo thả quân tư trang cho bộ đội đang bám trụ giữ đảo Cô Lin trên con tàu HQ505 đã bị bắn cháy. Cựu chiến binh Võ Tá Du (thuyền phó chính trị, bí thư chi bộ tàu HQ505) kể:


“Sau 14-3 mấy ngày, máy bay An-26 của không quân bay ra đảo Sinh Tồn thả những gói hàng quân tư trang cho chúng tôi. Không có dù, máy bay phải thả hàng rơi xuống cách mép đảo 400 - 500m.


Chúng tôi bơi ra kéo vào. Quân nhu của đảo Sinh Tồn quản lý số quân tư trang này rồi phát lại cho anh em tàu. Lúc tàu bị Trung Quốc bắn, cháy hết, quần áo cũng không còn.


Trên người chỉ còn cái quần đùi. Chúng tôi trực giữ đảo Cô Lin không có chỗ ở, quần áo không có mặc nên trong bờ phải chuyển quân tư trang ra”.


Chụp ảnh quần đảo Trường Sa từ năm 1982


Cựu phi công Nguyễn Văn Dương cho biết:


“Không phải sau sự kiện 14-3-1988 chúng tôi mới bay ra Trường Sa. Từ năm 1982, An-26 đã bay ra quần đảo Trường Sa chụp ảnh các đảo và động viên bộ đội mình ngoài đó. Các đảo nổi khi đó hoang sơ lắm.


Thuyền chài thủy triều lên chỉ thấy một dải nước rộng xanh mướt, khi thủy triều xuống mới thấy bãi cạn nhô lên. Đảo Chữ Thập phần ngầm rất rộng. Hồi đó chỉ có Trường Sa và An Bang có cây cối, toàn cây tự nhiên chứ không do bộ đội trồng như sau này. Khi đến đảo nào, qua tần số anh em ở đảo nghe giọng của không quân vui lắm, cứ bảo các anh nói thêm với chúng em nữa đi.


Khi bay ngang qua các đảo, chúng tôi đều hạ thấp độ cao từ 4.200-4.500m xuống 100m, 200m tùy địa hình, để anh em được nhìn máy bay gần hơn. Thấy cờ đỏ sao vàng trên máy bay anh em rất mừng. Anh em từ trong lán chạy ra đứng vẫy tay, hò reo. Đối không ở đảo nói qua tần số:


"Các anh ơi, bay thêm một vòng nữa cho chúng em xem với. Lúc đó chúng tôi đã bay thường xuyên ra Trường Sa, có lúc tuần nào cũng bay, chỉ bay trên không cổ vũ tinh thần bộ đội chứ không có sân bay để hạ cánh xuống”.


Khi Len Đao bị bao vây, có một chiến đấu cơ từ sân bay Phan Rang cất cánh. Diễn biến cực kỳ căng thẳng.


Kỳ tới: “Đôi cánh ma thuật” xuất kích


My Lăng


Chuyến tác nghiệp nhớ đời sau thảm sát Gạc Ma


Sau sự kiện 14-3-1988, một đoàn phóng viên đã ra tác nghiệp ở quần đảo Trường Sa và đặc biệt là trên tàu HQ505.


 Sau 30 năm, cảm xúc của những nhà báo đầu tiên tới hiện trường thảm sát ở Gạc Ma do Trung Quốc gây ra vẫn vẹn nguyên sự xúc động trước sự hy sinh anh dũng của các chiến sĩ hải quân - Video: V.V.TUÂN - CHÍ TUỆ


30 năm trước, thiếu tướng Hồ Anh Thắng còn là một phóng viên trẻ hàm đại úy của báo Quân Đội Nhân Dân.


Chuẩn bị tâm thế hi sinh


Ông là một trong gần 20 phóng viên Việt Nam từ báo Quân Đội Nhân Dân, Thông tấn xã Việt Nam, Nhân Dân, Tiền Phong, Đài Truyền hình Việt Nam và Truyền hình TP.HCM... có mặt ở chuyến đi tác nghiệp có một không hai trong đời ấy.


16h30 ngày 15-4-1988, tàu Mỹ Á xuất phát chở đoàn phóng viên ra Trường Sa. Để tránh bị tàu chiến Trung Quốc ngăn cản, tàu Mỹ Á phải treo cờ hồng thập tự.


Các nhà báo gặp gỡ làm việc với những chiến sĩ trên con tàu HQ505, cột mốc chủ quyền trên đảo Cô Lin- Ảnh: Vinh Quang


Khi chuẩn bị đến đảo Cô Lin thì tàu được thông báo đang có ba tàu chiến của Trung Quốc neo đậu gần Cô Lin. Một cuộc hội ý chớp nhoáng nhưng cực kỳ căng thẳng giữa các nhà báo đã diễn ra trên tàu Mỹ Á.


Trưởng đoàn báo chí Hoàng Như Thính gọi tất cả phóng viên lên boong tàu, hạ quyết tâm: "Nếu phải chiến đấu, chúng ta sẽ chiến đấu đến giọt máu cuối cùng, quyết không để Trung Quốc bắt. Chúng ta không để những tài liệu mình ghi chép, quay phim... rơi vào tay kẻ thù".


Đây chính là Tổ quốc


16h30 ngày 19-4, đoàn nhà báo rời tàu Mỹ Á để bước lên tàu HQ505.


Thiếu tướng Hồ Anh Thắng kể: "Cô Lin là đảo chìm. Khi chúng tôi đến thủy triều đang còn cao, chỉ thấy một chiếc tàu đang nằm ghếch mũi lên bãi Cô Lin. Đó chính là HQ505.


Phim tài liệu Trường Sa tháng 4 năm 1988 được thực hiện trong chuyến đi lịch sử


Tàu cháy trơ trụi, loang lổ, đen đúa, nhìn xa như con cá voi đen khổng lồ lao người trườn lên bãi đá. Đó là dáng đứng của tàu trong phút giây cuối cùng dùng hết tốc lực lao lên đảo làm cột mốc.


1/3 tàu nằm dưới nước. 2/3 thân tàu trên đảo.


Sau ngày 14-3-1988, thuyền trưởng Vũ Huy Lễ và chín chiến sĩ tình nguyện ở lại trên con tàu đã bị cháy, trụ lại để bảo vệ Cô Lin, lúc nào cũng sẵn sàng chiến đấu trước sự uy hiếp, đe dọa hằng ngày của các tàu chiến Trung Quốc.


Anh nào cũng râu tóc lởm chởm, đen trũi, trên người chỉ có độc chiếc quần đùi. Họ trần trụi như con tàu của họ sau khi bị bắn cháy.


Gần một tháng sau sự kiện 14-3, quân tư trang của họ hầu như không còn gì. Có chiến sĩ chỉ còn lại mỗi chiếc quần lót.


Chuyến tác nghiệp nhớ đời sau thảm sát Gạc Ma - Ảnh 4.


Đoàn nhà báo trong chuyến tác nghiệp nhớ đời sau thảm sát Gạc Ma


Tàu chúng tôi mang ra rất nhiều thức ăn nhưng không ai lấy mà chỉ đòi thư, tạp chí. Anh em toàn lính trẻ, cứ tranh nhau giành thư của đồng bào gởi cho họ.


Tôi còn nhớ có lá thư của em học sinh Nguyễn Thị Mai Trâm, học sinh lớp 8 ở TP.HCM, viết rằng từ khi biết xảy ra chiến tranh, mỗi sáng mẹ cho tiền ăn sáng, Mai Trâm nhịn ăn góp được 3.000 đồng tặng các chú bộ đội.


3.000 đồng năm 1988 rất lớn. Chiến sĩ mình đọc thư xong khóc rưng rức như đứa trẻ".


Cả đoàn phóng viên chỉ có hai tiếng tác nghiệp trên tàu HQ505. Khi họ đang tác nghiệp thì một trong ba tàu chiến Trung Quốc chở quân đến sát.


Tất cả lính Trung Quốc lên boong tàu. Trên boong có mấy khẩu đại bác. Lính đội mũ sắt, mắt gườm gườm quay nòng pháo, chĩa đại bác về phía đoàn công tác sẵn sàng khai hỏa.


Trong đoàn có nhiều người chưa từng ra chiến trường, chưa bao giờ nhìn thấy cảnh tượng đó nên lo lắng.


Thuyền trưởng Vũ Huy Lễ nói với các nhà báo: "Các anh cứ bình tĩnh. Chúng ta cứ hiên ngang vì chúng ta đang đứng trên đảo của mình, tàu của mình. Và đây chính là Tổ quốc của chúng ta. Nên các anh cứ bình tĩnh mà tác nghiệp với chiến sĩ của chúng tôi".


Nhành san hô và vỏ ốc trên nấm mộ


30 năm đã trôi qua, ông Thắng nói rằng các nhà báo không thể nào quên được buổi chiều tang thương ở đảo Sinh Tồn.


Khi hoàng hôn buông xuống, những người lính vừa khóc vừa vun những đụn cát lên ba nấm mộ mới chôn.


Đảo Sinh Tồn nhỏ, toàn đá san hô, đào mộ không sâu được, bộ đội phải vun cát lên, lấy ốc biển và san hô xếp xung quanh mộ để giữ không cho gió thổi cát trồi xuống.


Bia mộ được làm đơn sơ. Lính dùng gỗ cây bàng vuông chẻ đôi, có cái thì viết bằng mực Cửu Long, có cái dùng dao rạch, khắc tên tuổi liệt sĩ. Bát hương làm bằng ống bơ hoen gỉ.


"Mấy anh rất có ý khi chôn đồng đội quay ra biển - hướng đông để khi thắp hương người còn sống quay mặt về phía tây - đất liền. Khi thắp hương đồng đội, lính khóc như mưa. Cảnh tượng đó bóp nghẹn lồng ngực của chúng tôi" - ông Thắng nói.


Bình thản và lạc quan


Lưng trần chiến sĩ - tác phẩm của nhà báo Vinh Quang chụp lính đảo vận chuyển vật liệu xây dựng đảo Trường Sa Lớn trong chuyến đi tháng 4-1988


Đường đến Cô Lin trời đã yên và biển đã lặng nhưng trong lòng mỗi thành viên của đoàn báo chí chúng tôi tâm trạng khác thường.


Trên hành trình đến Cô Lin, qua khoang cửa sổ mạn tàu có thể thấy tàu Trung Quốc tiến rất gần rồi chạy song song với tàu Mỹ Á. Lính Trung Quốc đội mũ sắt lố nhố trên boong, ụ pháo trên tàu rê hướng về tàu Mỹ Á dọa dẫm, uy hiếp.


Không khí chiến sự lan tỏa trên tàu.


Lúc đó chúng tôi chỉ có một lo lắng rằng nếu có hi sinh, chúng tôi sẽ tiếc nuối vì mình không hoàn thành được ước nguyện đưa những thông tin chân thực, sống động nhất về một vùng biển đảo thân yêu của Tổ quốc trong những ngày tháng lịch sử cam go này đến tay người hậu phương.


Khi đứng trên tàu HQ505, mọi người vào việc ngay, các cuộc phỏng vấn, chụp ảnh, quay phim diễn ra liên tục vì không ai muốn để thời gian chết trong cái nắng rát Trường Sa ngay trên con tàu còn khét mùi khói súng của quân bành trướng Trung Quốc.


Sau những câu chuyện đã diễn ra vào ngày 14-3 ấy, chúng tôi thăm hỏi nhau về cuộc sống thường nhật của anh em chiến sĩ, cảm nhận tinh thần chiến đấu kiên cường của họ.


Dù khó khăn gian khổ và có thể hi sinh bất cứ lúc nào trước họng súng kẻ thù, nhưng chúng tôi thấy họ thật bình thản và lạc quan. - Vinh Quang (cựu phóng viên báo Ảnh Việt Nam)


My lăng


30 năm ngày 14-3: Đưa xe tăng lên đảo Sinh Tồn


Ngay sau khi Trung Quốc tấn công thảm sát những người lính hải quân Việt Nam ở Gạc Ma ngày 14-3-1988, các tàu vận tải đổ bộ của lữ đoàn 125 đã thực hiện một nhiệm vụ đặc biệt: chở xe tăng và pháo ra để bảo vệ Trường Sa.


Thượng tá Nguyễn Đình Giai - cựu thuyền trưởng tàu vận tải đổ bộ HQ 513, tàu đầu tiên chở xe tăng ra chi viện cho Trường Sa ngay sau cuộc thảm sát Gạc Ma ngày 14-3-1988 - Ảnh: MY LĂNG


“Khi chúng ta mang xe tăng, súng pháo ra đảo, bộ đội ta trên đảo an tâm hơn và các tàu chiến của Trung Quốc cũng biết dè chừng


Đó là việc phải làm để phòng thủ Trường Sa.


Lệnh "chuyển hàng"


Thượng tá Nguyễn Đình Giai, cựu thuyền trưởng tàu vận tải đổ bộ 513 (lữ đoàn 125), kể: "Hôm đó tôi đang nghỉ phép tết ở Vĩnh Phúc thì nhận được điện khẩn của ban cán bộ lữ đoàn gọi vào Vùng 4 Hải quân.


Đó là mệnh lệnh chiến đấu, chậm nhất hai ngày phải có mặt ở Cam Ranh. Riêng tàu HQ 513 đã được điều từ Tân Cảng (TP.HCM) về Cam Ranh nhận "hàng".


Khi tôi xuống tàu thì tất cả xe tăng đã được chuyển xuống hết. Khoảng 23h30, phó tư lệnh kiêm tham mưu trưởng Quân chủng hải quân - chuẩn đô đốc Mai Xuân Vĩnh xuống giao nhiệm vụ và kế hoạch đi biển".


"Gần 1h sáng HQ 513 xuất phát. Con tàu hành quân trên biển hai ngày đêm. Chúng tôi phải tính toán sao cho khi đến đảo là vừa tối. Chúng tôi hành quân hết đêm đó và một ngày hôm sau là đến Trường Sa.


HQ 513 là tàu chiến đấu đổ bộ đầu tiên đi ra khu vực đó. Chúng tôi đợi đến 4h sáng mới vào đảo trả "hàng". Trả "hàng" xong thì trời vừa sáng" - thượng tá Nguyễn Đình Giai nói.


Các chuyến đi chở hàng đặc biệt đó không chỉ có HQ 513 mà còn có HQ 511. Đây là những tàu vận tải đổ bộ thế hệ mới do Liên Xô tặng cho hải quân Việt Nam, có độ giãn nước 2.000 tấn.


Khi đó tàu 511 đang bảo dưỡng, sửa chữa ở Ba Son thì lữ đoàn trưởng 125 Phạm Quang Nho xuống giao nhiệm vụ: trong 24 giờ phải chuẩn bị để rời được bến, xuất phát ra biển nhằm thẳng về hướng đảo Đá Lớn rồi đến Sinh Tồn!


Xưởng Ba Son cử hai thợ máy giỏi nhất đi theo để xử lý nếu máy tàu có trục trặc trên đường đi" - đại tá Trần Đình Hưng, cựu thuyền trưởng tàu HQ 511, người tham gia chở pháo và xe tăng ra Trường Sa, cho biết.


Đại tá Trần Đình Hưng nhớ lại: "Tối 14-3-1988 chúng tôi nhận lệnh thì sáng hôm sau đi. Toàn bộ xe tăng lấy ở Tân Cảng. Anh em phải tính toán để làm sao khi ra đảo đúng lúc thủy triều đang lên.


Nhằm đánh lạc hướng đối phương, chúng tôi phải đi vòng. Tàu chạy với tốc độ cao, vận tốc tối đa 17 hải lý/giờ, khoảng 30km/h. Ngày đó đảo chưa có nhà kiên cố như bây giờ. Anh em thấy dải cát trắng mờ mờ thì biết đúng là đảo rồi.


Trao đổi bằng tín hiệu với đảo thì biết chính xác là Sinh Tồn. Chúng tôi liên lạc với đảo để biết chỗ nào có đá ngầm, bãi cát rộng bao nhiêu. Phải tính để thả neo đúng chỗ có đá san hô, đầu mũi tàu ủi vào đảo".


Đưa "hàng" lên đảo


Đại tá Trần Đình Hưng nói: "Chở xe tăng thì đơn giản. Nhưng đưa được xe lên đảo mới là vấn đề. Với dạng tàu vận tải đổ bộ như HQ 511 phải có bãi đổ bộ. Không có bãi, không thể vào được. Chúng tôi phải tìm bãi nào có doi cát, tàu cách 300-400m ủi vào.


Ở đảo dòng chảy, gió, ảnh hưởng đến độ an toàn và khả năng đổ bộ. Gió rất lớn và dòng chảy rất mạnh. Ở Trường Sa rất nhiều đá ngầm. Tàu vào gần quá, đá ngầm sẽ đâm thủng tàu. Nếu tàu ở xa quá, xe tăng không lên đảo được.


Đây cũng là lần đầu tiên mình sử dụng tàu đổ bộ làm nhiệm vụ này. Căng thẳng lắm. Chúng tôi chọn đổ bộ phía đông đảo Sinh Tồn vì ở đó có doi cát và độ sâu tương đối".


Việc đổ bộ xe tăng khá thuận lợi. Chỉ 30 phút là xong. Nhưng tàu HQ 511 không chỉ chở xe tăng mà còn có pháo. Nguy hiểm nhất, căng thẳng nhất là vận chuyển pháo từ tàu vào đảo. Làm sao đưa được pháo lên đảo?


Đại tá Trần Đình Hưng khẳng định: "Đưa pháo lên đảo gian nan vô cùng. Pháo cồng kềnh, xuồng không chở nổi. Đảo lại không có cẩu. Nếu có cũng không sao cẩu được vì sóng lắc mạnh, cẩu văng qua văng lại rất nguy hiểm.


Anh em bộ đội liền đưa ra sáng kiến làm bè. Bộ đội dùng dây và gỗ kết thật nhiều vỏ thùng phuy vốn dùng để đựng nước, xăng, dầu. Một khẩu pháo nặng 1.200-1.500kg phải kết 15-20 phuy. Trên phuy rải một lớp vải, buộc thật chặt để kết các phuy lại.


Dùng xuồng máy và huy động cả bộ đội giữ bè, kéo sao cho cái bè đó ép vuông góc vào miệng tàu đang há ra, rồi bộ đội dùng tời và cả sức người nhấc pháo đưa lên bè cố định chặt lại, cho xuồng máy kéo vào bãi cát rồi dùng xe tăng kéo lên đảo".


Trường Sa khi ấy đang có gió to. "Sóng cấp 4, cấp 5 trở lên là không chuyển pháo được. Sóng đánh bè dập vào tàu. Tàu nhấc lên, dập xuống là tan bè ngay! Vũ khí mà rơi xuống biển là nhiệm vụ thất bại!


Chúng tôi phải xem con nước, xem sóng gió. Con nước đến đâu, bè lên đến đó.


Khi đưa pháo xuống bè, mỗi bên 15 người vừa đẩy vừa giữ. Anh em còn dùng xe tăng buộc dây dài kéo pháo vào đảo. Bộ đội mình mấy chục người vừa kéo vừa đẩy vừa chèn, gian nan và vô cùng nguy hiểm".


Đại tá Trần Đình Hưng cho biết: "Khi các đảo của ta chưa có vũ khí tầm xa thì gặp bộ đội ta, pháo Trung Quốc cứ chĩa nòng thẳng vào, cỡ nòng 64mm, 100mm. Lúc ấy lính mình chỉ có súng AK.


Khi chúng ta mang xe tăng, súng pháo ra đảo, bộ đội trên đảo an tâm hơn. Trong tình hình khẩn cấp, có khả năng Trung Quốc sẽ chiếm tiếp các đảo ở Trường Sa nên mình phải đưa vũ khí hạng nặng ra để tăng cường sức mạnh bảo vệ đảo cũng như trấn an bộ đội mình.


Khi thấy pháo và xe tăng của chúng ta có mặt trên đảo, tàu Trung Quốc đã biết dè chừng".


Tàu HQ 511 chở pháo và xe tăng ra chi viện cho Trường Sa - Ảnh tư liệu


Tàu vận tải đổ bộ chiến đấu HQ 511 dài 74m, ngang 11,9m. Tàu được trang bị hai bệ súng 18 nòng và một khẩu AK230 tốc độ cực nhanh, bắn tự động, diệt tên lửa, máy bay, kể cả bắn đối hải, đối không.


Dưới hầm chiến xa, xe tăng được chằng buộc rất cẩn thận tránh va đập khi tàu cơ động gặp sóng gió và tránh không để các xe tăng bị trôi dạt sang hai bên gây lật tàu.


My lăng


30 năm ngày 14-3: Bài học giữ vững chủ quyền


Đúng 30 năm trước, 14-3-1988, Trung Quốc đưa quân tấn công các bãi đá Gạc Ma, Cô Lin, Len Đao thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam. 64 chiến sĩ đã hi sinh anh dũng. Bài học gì cho hôm nay và mai sau?


Tuổi Trẻ có cuộc đối thoại với tiến sĩ Trần Công Trục, cựu trưởng Ban biên giới Chính phủ, về biến cố này. Ông Trục nói đầy cảm xúc:


- Cũng như hàng triệu người dân Việt Nam, những ngày này, trong tôi đang dâng trào nhiều cảm xúc đặc biệt khi ôn lại những diễn biến trong trận chiến bi hùng của những chiến sĩ công binh hải quân Việt Nam chống trả quân Trung Quốc xâm lược Gạc Ma, Cô Lin, Len Đao, những thực thể địa lý nằm về phía tây quần đảo Trường Sa của Việt Nam.


"Chúng ta cần tăng cường nghiên cứu, phổ biến thông tin rộng rãi cho mọi người hiểu rõ lịch sử chủ quyền và luật pháp quốc tế về biển đảo, công khai lập trường của chúng ta, tạo được sự thống nhất trong nhân dân, thống nhất trong khu vực và quốc tế, để có tiếng nói đồng tình, sức mạnh của sự thống nhất, đoàn kết dân tộc và quốc tế"


Bài học giá trị


* Cuộc chiến bảo vệ Gạc Ma, Cô Lin, Len Đao trước nòng súng quân xâm lược Trung Quốc để lại những bài học ra sao trong công cuộc bảo vệ chủ quyền Tổ quốc thiêng liêng?


- Bài học đầu tiên có giá trị đối với sự nghiệp bảo vệ và xây dựng đất nước là kẻ thù xâm lược, dù đến từ đâu, cũng luôn luôn chọn thời điểm Việt Nam ở thế khó khăn, ngặt nghèo nhất cả về đối nội lẫn đối ngoại để ra tay.


Việc Trung Quốc đánh chiếm Hoàng Sa tháng 1-1974 và Gạc Ma tháng 3-1988 là những minh chứng điển hình.


Với tương quan lực lượng, tiềm lực và thế lực chênh lệch, việc chúng ta giữ được quần đảo Trường Sa, dù bị Trung Quốc chiếm mất một phần, cũng đã là một nỗ lực to lớn và bền bỉ vô cùng.


Về mặt ngoại giao, chúng ta vẫn giữ nguyên ý chí khi đấu tranh với Trung Quốc, khi công bố một cách công khai hành động này của Trung Quốc với công luận quốc tế.


Nhắc lại chuyện này để nói rằng về mặt pháp lý, chúng ta đã từng đấu tranh rất nhiều lần với Trung Quốc, chúng ta đã lường trước và biết được những âm mưu, thủ đoạn của Trung Quốc, khi họ đào san hô lên rồi đắp thành đảo.


Bình tĩnh phân tích âm mưu của Trung Quốc mới thấy nguy hiểm thế nào. Vì thế, chúng ta phải tiếp tục cuộc đấu tranh trên các mặt trận ngoại giao và pháp lý.


* Không chỉ cuộc chiến bảo vệ Trường Sa 1988 mà đến nay cuộc chiến tranh vệ quốc bảo vệ biên giới phía Bắc 1979, sự kiện hải chiến Hoàng Sa 1974... được nhắc đến rất ít trong chính sử và sách giáo khoa. Quan điểm của ông ra sao?


- Theo tôi, tôn trọng sự thật, dù sự thật đau lòng và sòng phẳng với lịch sử sẽ vừa góp phần bảo vệ hòa bình, ổn định khu vực, đoàn kết dân tộc, củng cố quan hệ hữu nghị giữa hai dân tộc Việt Nam - Trung Quốc.


Trong lịch sử đấu tranh dựng và giữ nước, dân tộc Việt Nam đã chứng kiến và kiên cường đập tan âm mưu và chống trả quyết liệt hành động xâm lược hay bành trướng lãnh thổ xuống phía nam của các nhà cầm quyền Trung Quốc. Sử sách Việt Nam đã ghi nhận những sự thật lịch sử bi hùng đó.


Nhưng những sự kiện gần đây, như hải chiến Hoàng Sa năm 1974, trận chiến bảo vệ Trường Sa năm 1988, cuộc chiến tranh vệ quốc bảo vệ biên giới phía Bắc 1979, nhiều người cho rằng ít được nhắc đến trong chính sử.


Tôi nghĩ rằng khi hai nước xung đột, đối đầu, việc nói xấu, lên án chỉ trích nhau cũng là điều có thể hiểu được.


Nhưng khi bình thường hóa quan hệ, cả hai phía cần chủ động cùng đánh giá lại bài học lịch sử để rút ra kinh nghiệm cho mình, tránh lặp lại chiến tranh, xung đột; nhìn thẳng vào quá khứ với thái độ khách quan, cầu thị, khoa học.


Đến lúc chúng ta cần sòng phẳng với lịch sử, có những bước đi thích hợp đánh giá công khai các sự kiện này dưới ánh sáng công pháp quốc tế, rút ra bài học cho mình để trả lại cho lịch sử sự chân thực vốn có của nó.


Chỉ có như vậy chúng ta mới làm nguôi ngoai vết thương chiến tranh, củng cố đại đoàn kết dân tộc, phát triển đất nước cường thịnh.


Cụ Lê Thị Lan bật khóc bên bàn thờ con - liệt sĩ Nguyễn Hữu Lộc cùng các đồng đội tại lễ cầu siêu 64 chiến sĩ hi sinh trên đảo Gạc Ma ở Đà Nẵng ngày 13-3 - Ảnh: ĐOÀN CƯỜNG


Những cách đi


* Trung Quốc vẫn đang ngang nhiên tuyên bố về đường lưỡi bò 9 đoạn vô lý ở Biển Đông. Chúng ta nên lựa chọn cách ứng xử ra sao để bảo vệ vững chắc chủ quyền biển đảo cũng như giáo dục lòng yêu nước cho thế hệ hôm nay và tương lai?


- Người Việt Nam chúng ta đã trải qua rất nhiều thời điểm cam go trong các cuộc đấu tranh chống ngoại xâm, cho nên từ những bài học nói trên, chúng ta không dễ dàng bị mất cảnh giác. Chỉ có điều trong các bước đi, chúng ta luôn tính toán làm sao hài hòa giữa lợi ích dân tộc, khu vực và quốc tế.


Mục đích cao nhất của Trung Quốc chính là chứng minh đường lưỡi bò mà họ tự kẻ vẽ ra là có cơ sở về mặt pháp lý.


Mục tiêu của Trung Quốc chính là toàn bộ Biển Đông. Vì thế, cảnh giác - đó chính là điều chúng ta phải luôn tự nhắc mình trong phép ứng xử với Trung Quốc.


Bối cảnh quốc tế hiện tại cũng đã khác nhiều ngày trước. Nhưng lần này Trung Quốc sử dụng nhiều thủ đoạn hơn, đó là tổng hợp các biện pháp pháp lý, hành chính, dân sự, kinh tế nhằm vơ vét tài nguyên biến nơi không tranh chấp thành tranh chấp, nhảy vào khai thác, nếu không hợp tác thì họ tự làm, gây khó khăn rất lớn cho các bên.


Đây mới là cái hiện nay Trung Quốc đang làm và thực hiện mạnh mẽ hơn trong thời gian sắp tới.


Rõ ràng họ đã chiếm chỗ đứng ở Hoàng Sa và một số vị trí ở Trường Sa, dù muốn hay không họ đã cắm chân được ở Trường Sa để tạo ra sự mặc cả trong chủ trương "gác tranh chấp cùng khai thác", củng cố yêu sách đường lưỡi bò, tìm kiếm các lợi ích khác.


Vì vậy chúng ta phải có những cách đi để ngăn cản các hoạt động nguy hiểm của Trung Quốc.


* Theo ông, những cách đi đó cụ thể là gì?


- Pháp lý là một kênh chúng ta nên áp dụng song song với hoạt động đàm phán với các bên liên quan, cần lưu ý kênh tài phán quốc tế.


Mặt khác, chúng ta phải lưu ý đến những phương diện kinh tế, cảnh giác với những âm mưu và hoạt động của Trung Quốc như đấu thầu dầu khí, chủ trương "gác tranh chấp cùng khai thác" trong khu vực họ yêu sách mà không dựa trên Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật biển năm 1982 (UNCLOS), tức khu vực không tranh chấp mà họ nhảy vào tranh chấp.


Với những bài học lịch sử để lại và xét đến bối cảnh hiện tại, nguy cơ Trung Quốc tiếp tục gây hấn, xâm lấn, tiếp tục bất chấp luật pháp quốc tế còn rất lớn.


Vấn đề là chúng ta cần tăng cường dành công sức để nghiên cứu, phổ biến thông tin rộng rãi cho mọi người hiểu rõ lịch sử chủ quyền và luật pháp quốc tế về biển đảo, công khai lập trường của chúng ta, tạo được sự thống nhất trong nhân dân, thống nhất trong khu vực và quốc tế, để có tiếng nói đồng tình, khi có sự cố xảy ra vi phạm lợi ích của đất nước, chúng ta mới có được sức mạnh của sự thống nhất, đoàn kết dân tộc và quốc tế.


* Nhà sử học Dương Trung Quốc: Nhắc lại Gạc Ma để có bài học hòa bình


Cuộc chiến bảo vệ Gạc Ma xảy ra cách đây 30 năm, đúng là có một thời kỳ chúng ta ít nhắc đến do tình hình chính trị Việt Nam - Trung Quốc.


Nhưng gần đây, vấn đề đó trở nên hết sức rõ ràng. Ngay ở bờ biển miền Trung đã có đài tưởng niệm các chiến sĩ Gạc Ma do Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam chủ trì xây dựng.


Báo chí cũng nhắc đến sự kiện này nhiều. Nhưng riêng đối với sách giáo khoa, sự kiện này chưa được nhắc đến. Chúng tôi đã nhiều lần kiến nghị cần đưa những sự kiện lịch sử ấy vào chương trình giảng dạy.


Không nên e ngại rằng nhắc đến chuyện xưa thì ảnh hưởng đến ngày nay. Bao nhiêu năm chúng ta đấu tranh với người Pháp, người Mỹ nhưng chúng ta vẫn viết rõ trong sách sử để giảng dạy.


Nhưng chúng ta vẫn xây dựng những mối quan hệ tốt đẹp với các nước đó. Vậy nên không có lý do gì để e ngại khi nhắc lại các cuộc chiến tranh vệ quốc chống Trung Quốc xâm lược.


Nhắc lại chiến tranh là để có những bài học hòa bình. Cuộc chiến Gạc Ma 1988 là bài học lớn cho chúng ta về tinh thần cảnh giác. Chúng ta luôn mong muốn hòa bình, hữu nghị nhưng phải cảnh giác.


* GS.TS Phạm Hồng Tung (chủ biên chương trình và sách giáo khoa lịch sử mới):


Sẽ đưa Gạc Ma vào sách giáo khoa phổ thông mới


Chắc chắn sự kiện Gạc Ma 1988 sẽ được đưa vào chương trình môn lịch sử và sách giáo khoa phổ thông mới, được nhắc lại nhiều lần trong chương trình giảng dạy lịch sử ở cấp THCS và THPT.


Khi đưa sự kiện Gạc Ma vào sách giáo khoa dựa trên những nguyên tắc cơ bản của lịch sử là tôn trọng sự thật, khách quan, trung thực.


Sự thật lịch sử ra sao thì phải trình bày đúng như vậy, đặt trong bối cảnh khu vực và thế giới mà sự kiện đã xảy ra để xem xét, trình bày.


Giáo dục lịch sử để hiểu đúng, hiểu đầy đủ về sự kiện Gạc Ma trong quá khứ, nhưng không phải thông qua đó để khơi sâu thêm hận thù của quá khứ.


Quan trọng hơn, phải hướng học sinh Việt Nam và học sinh Trung Quốc đến tinh thần hòa bình, hợp tác, hữu nghị. Tính nhân văn, nhân bản và khoa học trong giáo dục lịch sử phải được tôn trọng.


Bạn đọc Tuổi Trẻ hướng về Trường Sa


Đất thiêng gửi Trường Sa


Trồng cây trên đảo Phan Vinh bằng đất thiêng từ chương trình “Đất thiêng gửi Trường Sa” do báo Tuổi Trẻ tổ chức - Ảnh: HỮU KHOA


Từ năm 2009 - 2018, Tuổi Trẻ đã nhận được hơn 121 tỉ đồng từ bạn đọc trong và ngoài nước đóng góp cho các chương trình Tuổi Trẻ phát động vì Trường Sa thân yêu.


* Ngày 26-6-2009, Tuổi Trẻ phát động chương trình "Chung tay thắp sáng nhà giàn DK1", hỗ trợ lắp đặt tấm pin năng lượng mặt trời, máy lọc nước biển, trang thiết bị cho nhà giàn... với hơn 7 tỉ đồng.


* Chương trình "Góp đá xây Trường Sa": phát động tháng 5-2011, đã nhận được sự đóng góp của bạn đọc trong và ngoài nước với tổng số tiền hơn 54 tỉ đồng, thực hiện 2 công trình tại đảo Đá Tây A và Đá Tây C; trao tủ thuốc cho ngư dân, cán bộ chiến sĩ hải quân; hỗ trợ trang thiết bị y tế cho Trường Sa; trao xuồng CQ; trao tặng trang thiết bị y tế cho bệnh xá Trường Sa...


* Chương trình "Chung sức bảo vệ chủ quyền Biển Đông": phát động từ tháng 5-2014, đã tiếp nhận được gần 60 tỉ đồng, hỗ trợ lực lượng cảnh sát biển, kiểm ngư, hải quân và ngư dân để tiếp tục ra khơi bám biển, giữ chủ quyền...


* Khánh thành công trình Trung tâm y tế thị trấn Trường Sa: tháng 5-2017, Tuổi Trẻ khánh thành công trình Trung tâm y tế thị trấn Trường Sa, với tổng vốn đầu tư gần 30 tỉ đồng, trong đó bạn đọc báo Tuổi Trẻ đóng góp 22 tỉ đồng thông qua chương trình "Chung sức bảo vệ chủ quyền Biển Đông".


* Chương trình "Đất thiêng gửi Trường Sa": tháng 5-2017, báo Tuổi Trẻ phối hợp với các cơ quan, đơn vị tổ chức lễ tiếp nhận đất thiêng tại ba miền của đất nước mang đến huyện đảo Trường Sa, mang ý nghĩa khẳng định chủ quyền non sông liền một dải từ đất liền ra biển đảo.


Vũ Viết Tuân thực hiện


Nguồn: tuoitre.vn


Đọc thêm cùng chủ đề:





 


 


bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Campuchia ngả theo Trung Quốc có ý nghĩa gì cho chiến lược Ấn Độ-Thái Bình Dương của Hoa Kỳ? - Charles Edel 24.09.2018
“Vành đai con đường” (BR): Tương lai của bẫy nợ và phụ thuộc - Nhuận Quảng Trí 24.09.2018
Cô gái làm sụp đổ nền ngụy khoa học - Tao Babe 18.09.2018
Văn tế tướng sĩ trận vong - Tư liệu sưu tầm 18.09.2018
Nhìn lại mùa Xuân khói lửa 1789 - Chính Đạo 17.09.2018
Huyện Phòng Thành - Quảng Tây - nguyên là đất Việt Nam/ Tài liệu “Dân tộc Kinh ở Quảng Tây”. - Tư liệu sưu tầm 16.09.2018
Nghĩ về đất - Vũ Thư Hiên 16.09.2018
Phòng Thành: Cộng đồng người Kinh trên đất Trung Quốc: 500 năm nét Việt không phai nhòa - Tư liệu sưu tầm 16.09.2018
Biên giới Việt Nam và Trung Quốc qua các triều đại quân chủ - Tư liệu sưu tầm 14.09.2018
Khái Hưng Trần Khánh Giư - Tư liệu sưu tầm 14.09.2018
xem thêm »