tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 23977922
Lý luận phê bình văn học
17.03.2018
Đào Tuấn Ảnh
Văn học Nga hậu Xô Viết: Nhìn từ ngoài và cách thức tiếp nhận


Văn học thời kì cải tổ (1985-1990) và hậu Xô Viết (sau 1991) còn ít được biết tới ở Việt Nam cả ở bình diện lịch sử, lí luận văn học, lẫn thực tiễn sáng tác. Mà đây lại là một giai đoạn hết sức quan trọng mang tính cách mạng (chuyển đổi từ hệ hình Xô Viết sau hơn 70 năm, trở lại hệ hình Nga - ngót 30 năm) trong văn hóa Nga. Trong giáo trình văn học Nga ở các đại học Việt Nam, lịch sử nền văn học vĩ đại này đang tồn tại những khoảng trống lớn, nếu không mau chóng lấp đầy thì các giá trị đỉnh cao của nó sẽ không đến được với người đọc Việt, chưa nói tới việc tạo cách nhìn nhận đôi khi méo mó về bức tranh văn học không đầy đủ này.


Mặt khác, ngoài những ảnh hưởng to lớn của văn học Xô Viết đối với đời sống tinh thần người Việt, giới học thuật, sáng tác trong quá khứ chưa xa, thì văn học giai đoạn Cải tổ và hậu Xô Viết cũng sẽ cung cấp những bài học quý giá cho sự phát triển văn hóa, văn học Việt Nam cả ở những thành công, cũng như những thất bại của nó.


Thế kỉ XXI sắp bước sang thập niên thứ ba, đây là thời điểm thích hợp để nhìn lại và phân tích sự vận động cực kì phức tạp của văn học Nga giai đoạn này. Trong phạm vi một bài viết chúng tôi cũng chỉ bàn một cách khái quát nhất một số vấn đề liên quan chủ yếu.


Trước hết, thử nhìn nhận lại giai đoạn Cải tổ (1985-1991) – giai đoạn mở đầu cho nền văn học Nga hậu Xô Viết, dưới ánh sáng lịch sử, làm nổi bật ảnh hưởng của nó đối với đời sống văn hóa nước Nga và phân tích khủng khoảng mà các nhà văn Nga những năm 1990 phải đối đầu; phân tích những bình diện khác nhau của sân khấu văn học Nga thời kì hậu Xô Viết để thấy được tính liên tục và sự biến đổi của nền văn học này, bước đầu làm rõ những khuynh hướng phát triển chính, nhiều tiềm năng của nó. Trên cơ sở này cố gắng giải đáp câu hỏi khiến nhiều người từng yêu và gắn bó với văn học Xô Viết băn khoăn – tại sao văn học đương đại Nga vài thập niên gần đây hầu như vắng bóng ở Việt Nam, và nếu có tác gia, tác phẩm nào đó được giới thiệu thì cũng không mấy cuốn hút độc giả như tác phẩm của các nhà văn Xô Viết trước đây như Pautovski, Solokhov, Aitmatov? Liệu có cách lựa chọn và giới thiệu những tác phẩm, tác giả văn học hậu Xô Viết (hay còn gọi là “văn học Nga mới”) phù hợp với thị hiếu của bạn đọc Việt Nam hiện nay?


Bài viết chia làm 3 phần:


1. Ảnh hưởng của Cải tổ đối với văn học


2. Bức tranh toàn cảnh văn học hậu Xô Viết


3. Tiếp nhận văn học hậu Xô Viết ở Việt Nam


I. ẢNH HƯỞNG CỦA CẢI TỔ (PERESTROIKA) ĐỐI VỚI VĂN HỌC


Từ 1986-1988 Cải tổ được đón nhận như một giai đoạn hết sức đặc biệt đầy biến động trong lịch sử, cũng như trong đời sống văn hóa Nga. Với sự bùng nổ thông tin sách báo, những vệt trống trong lịch sử Xô Viết dần được lấp đầy và cả một làn sóng tác phẩm văn học chưa từng được biết tới trong quá khứ, cùng các tác phẩm đương thời thuộc nhiều khuynh hướng khác nhau bao trùm độc giả. Qúa khứ và hiện tại của văn học Nga cùng hiện diện trên một mặt bằng không-thời gian. Zamiatin, Akhmatova xếp cùng một chỗ trong các tạp chí cùng với Sorokin, Pelevin. Một bức tranh đa dạng và đầy màu sắc như vậy lần đầu tiên xuất hiện trong văn hóa, văn học Nga. Những năm 1987-1988 tira các tạp chí lớn có uy tín đạt tới bẩy con số. Bạn đọc ngốn từng trang sách để tìm kiếm những thông tin, những phát hiện mới, những đề tài húy kị xưa nay. Quần đảo GULAC của Solzenitsin (in trong tạp chí Thế giới mới với tira gần 2 triệu bản!), Mọi dòng sông đều chảy của Grosman cho thấy tính Công khai (glactnotch) trong văn học đã vượt xa thời kì “tan băng” Khrusov, trở thành một cuộc cách mạng văn hóa và tinh thần thực sự. Nhiều người đánh giá giai đoạn này như thời kì “Phục hưng văn hóa Nga”, báo hiệu “sự hình thành một đất nước mới, một dân tộc mới”(1). Nhận định này đã trở thành hiện thực với sự tan rã của Liên bang Xô Viết năm 1991.


 


Một trong những thành tựu lớn của phong trào Công khai, đó là sự “cởi trói” cho văn học. Sự phục hồi những tác phẩm từng bị cấm đoán, hay sự trở về của văn học Nga hải ngoại, đối với nước Nga là một phúc lợi văn hóa vô giá. Văn học Nga sau nhiều chia rẽ nay đã thống nhất trở lại, văn hóa Nga đã trở về nguồn cội của mình. Bên cạnh đó, việc công bố những tài liệu nằm trong kho lưu trữ nhiều năm về các nhà hoạt động văn hóa, các nhà văn, chẳng hạn về Babel và Mendelstam, Fadeev… giúp cho việc xây dựng lại những bộ lịch sử văn học hoàn chỉnh, khách quan và chính xác hơn.


Tuy nhiên, bên cạnh những công lao to lớn, như một nghịch lí, tính công khai và cải tổ trong văn học còn gieo những hạt mầm tự héo úa. Tới năm 1989 chính trị, văn hóa, kinh tế xã hội Nga rơi vào tình trạng hỗn loạn chưa từng thấy. Năm 1991, giới phê bình Nga đã đau khổ thừa nhận sự thiếu vắng một nền văn học mới và hay. Một nhà văn đã thất vọng thốt lên: “Đã có tự do, nhưng kiệt tác thì vẫn chưa thấy đâu”(2) . Các nhà văn và nhà phê bình lúc đó cho rằng tính công khai (biết bao thời gian, công sức, thậm chí máu và nước mắt mới đạt được) không những không giúp gì cho văn học Xô Viết, ngược lại, và điều này thật phi lí, lại thúc đẩy sự tiêu diệt nó. Vậy điều gì đã xảy ra?


 


Có một số nguyên nhân thuộc chính trị, kinh tế và tâm lí dẫn tới tình trạng này. Trước hết, một trong những yếu tố cơ bản của khủng hoảng, đó là sự đánh giá lại vai trò, vị thế của nhà văn trong xã hội Nga. Trong lịch sử thế kỉ XIX –XX, đặc biệt thời kì Xô Viết, nhà văn luôn chiếm một vị thế hết sức quan trọng, là đại diện cho bộ mặt tinh thần của xã hội, là nhà tiên tri, cố vấn về những vấn đề văn hóa, xã hội… Chính vì vậy, một câu hỏi đặt ra: Liệu văn học có phải chịu trách nhiệm về những sai lầm của mình? Năm 1991 xuất hiện bài báo “Máu của thế kỉ hai mươi: văn học liệu có lỗi?(3) (câu hỏi như thế này không bao giờ đặt ra trong văn học phương Tây). Ở đây, một lần nữa, những câu hỏi truyền thống của Nga: “Ai có lỗi”, “Làm gì?”, vang lên có phần mạnh mẽ hơn, và đề tài sám hối vì những sai lầm trong quá khứ trở thành một trong những đề tài chính trong giới văn học thời kì này. Người ta lên án những kẻ đã kí vào bức thư chung chống lại Pasternakh năm 1985, vụ vu khống hãm hại tổng biên tập tạp chí Thế giới mới Tvardovski năm 1970… Đề tài sám hối – một thứ thanh toán nợ nần với quá khứ ít nhiều lôi cuốn người đọc đang còn đói thông tin, nhưng cùng với nó, uy tín và uy quyền của văn học với tư cách “lương tâm thời đại”, “giáo huấn tinh thần” – sứ mệnh và chức năng hàng đầu của văn học Xô Viết, cũng dần mất. Văn học dường như bị đẩy sang rìa và vị thế quan trọng của các nhà văn trong xã hội, cùng với nó là vinh quang, danh vọng, cũng mất. Tâm thế hẫng hụt, bị bỏ rơi là một trong những lí do tạo nên một thứ tâm lí bi quan cho rằng văn học đã chết.


 


Theo nhận định chung trong giới sáng tác và phê bình, sự sụp đổ Liên bang Xô Viết (1991) đã kết thúc nền văn học Xô Viết và không chỉ có mảng văn học Xô Viết chính thống. V. Erofiev trong bài viết nổi tiếng năm 1989 “Ai điếu cho nền văn học Xô Viết” khẳng định rằng sự sụp đổ hệ thống Xô Viết không chỉ kết thúc “văn học Xô Viết”, mà kết thúc cả mảng văn học gắn với chính trị chống cực quyền mà đại diện là “Những đứa con Arbat”của A. Rybakov, Áo trắng của V. Dudinsev vô cùng nổi tiếng cuối những năm 1980(4). Nhận định này được nhấn mạnh hơn trong bài báo năm 1995, khi ông viết đại ý rằng văn học Xô Viết giống như cây hoa trồng trong lồng kính của hệ thống nhà nước Xô Viết. Chỉ cần ngắt điện, hoa sẽ héo và chết khô tận gốc. Cây hoa của văn học chống đối cũng bị ốm theo, như hệ quả của cùng một hệ thống gốc rễ. Và kết quả là tất cả đều rối loạn trong ngôi nhà văn chương Nga(5).


 


Còn một nguyên nhân nữa, đó là môi trường tự do báo chí và truyền thông đại chúng gây sự bão hòa thông tin nơi độc giả. Cái trước đây họ háo hức chờ đợi, hoặc cố gắng tìm ở “mạch ngầm văn bản” của các tác phẩm văn học, thì giờ đây mọi thứ đều công khai trên mặt báo và trên ti vi, có vẻ như văn học nghệ thuật chẳng còn việc gì để làm, ngoài thực hiện chức năng chủ yếu là giải trí.


Bắt đầu những năm 1990 còn chưa rõ văn học nào sẽ thế chỗ cho nền văn học Xô Viết và bài Xô Viết trước đây, nhưng nhiều nhà văn đã rơi vào trạng thái khủng hoảng, bởi thực sự rất khó thích nghi với thực tế mới. Văn học Xô Viết từng quen thuộc 70 năm đã ra đi, sự ra đời một nền văn học mới không hề dễ như người ta từng nghĩ. Thậm chí một tác giả có tài như Tachiana Tolstaia (cháu nội của cố nhầ văn A. Tolstoi) đã phải thốt lên: “Tôi biết tôi có thể viết, nhưng hình như tôi không biết viết về cái gì”(6). Những tác nhân tạo cảm hứng cho văn chương, từ sự hứng khởi lãng mạn của những điều huyễn tưởng, đến sự tức giận hiện thực giả trá, nghiệt ngã, nhất nhất đều trở nên mờ nhạt, nói như Tolstaia “café của các nhà văn đã bị hắt đổ”. (Như đã biết, Evtusenko – một trong những thủ lĩnh của văn học liberal và Tolstaia, khi đó được coi là một nhà văn nhiều tiềm năng, hầu như sống định cư ở Mỹ).


 


Một trong những nguyên nhân quan trọng nữa dẫn đến sự khủng hoảng của văn học Cải tổ, đó là kinh tế. Như đã biết, văn học nghệ thuật Xô Viết được nhà nước bao cấp toàn diện suốt hơn 70 năm. Trong không khí ngất ngây thời Công khai, khi cơn khát thông tin của đại chúng bắt đầu được thỏa mãn, sách báo tạp chí bán ra với tira khủng, bên cạnh đó, vẫn còn nguồn sữa bao cấp từ phía nhà nước – mọi chuyện thật thăng hoa. Tuy nhiên, sau năm 1991, một đế chế vĩ đại – Xô Viết bị tan rã, nhà nước Nga mới lâm vào tình trạng bế tắc mọi mặt, đặc biệt là kinh tế. Một bức tranh ảm đạm bao trùm lên mọi lĩnh vực đời sống xã hội, trong đó có văn học nghệ thuật. Không còn bao cấp, bảo trợ từ phía nhà nước, các tạp chí chuyên ngành, đặc biệt là các tạp chí lớn nổi tiếng như Thế giới mới, đất thử tài năng của các nhà văn và là bộ mặt của nền văn học, lâm vào tình trạng ngắc ngoải. Tira hàng triệu bản của các tạp chí lớn ở hai thành phố Moskva và Leningrad (năm 1991 đổi thành Sant Peterbuarg) rút xuống còn vài nghìn. Đại đa số các tạp chí địa phương đã phải đóng cửa, chỉ còn một vài tờ tồn tại được do sự bảo trợ của chính quyền địa phương. Các tạp chí chỉ còn chỗ dựa duy nhất – độc giả. Tuy nhiên, các phương tiện nghe nhìn đã lấn át tất cả, ngoài ra, thời kì khó khăn hậu Xô Viết đến tiền để mua một tờ báo còn khó, huống hồ là sách và tạp chí!


 


Hội nhà văn Liên Xô, từng là một bộ máy khổng lồ, cũng bị giải tán. Ngoài những hội nhà văn địa phương, Hội nhà văn toàn Nga gần như thay thế Hội nhà văn Xô Viết trước đây. Tuy nhiên, khác với trước, Hội nhà văn Nga, trong mọi hoạt động của mình, đều khuôn trong tính chất một hiệp hội các nhà chuyên môn, phi chính phủ, tức hoàn toàn không nhận được sự bao cấp từ phía nhà nước, có chăng chỉ là một chút trợ cấp cho một số ít các nhà văn lão thành, số còn lại mưu sinh ở các lĩnh vực khác. Điều kiện sáng tác trở nên cực kì khó khăn, nhà văn không có tiền để ra sách riêng, nếu không nhận được tài trợ từ các nhà hảo tâm.


Bãi bỏ chế độ bao cấp khiến xuất bản đương nhiên cũng lâm vào tình trạng sống dở chết dở. Ngoài các nhà xuất bản nhà nước cũ, các nhà xuất bản tư nhân mọc ra như nấm trong thời kì Cải tổ, nay để sống được đã phải in các loại sách dễ dãi phù hợp với thị hiếu đám đông, hơn là in loại văn học cao cấp: các sách trinh thám, hình sự, ngôn tình hay sách có nội dung câu khách, chẳng hạn như Những cuộc phưu lưu của cô điếm quốc tế; Các bà vợ của các ông chủ điện Cremlin; Những nhân tình của Beria…


Có thể nói, chưa bao giờ tình trạng sáng tác và xuất bản ở Nga lại rơi vào khủng hoảng trầm trọng như thời kì này. Danh hiệu một dân tộc hiếu đọc nhất thế giới đã lùi vào dĩ vãng.


ĐTA.


Nguồn: Dao Tuan Anh facebook


bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Vũ Hoàng Chương – Lạc loài trong cõi nhân sinh - Đỗ Trường Leipzig 16.09.2018
Thái độ của Nguyễn Công Trứ đối với Triều Nguyễn qua sáng tác văn học - Nguyễn Phạm Hùng 14.09.2018
Dấu ấn ngữ âm lịch sử trong thơ Nguyễn Bính trước 1945 - Đặng Thị Thu Hà 13.09.2018
Lại chuyện đánh vần - Nguyễn Văn Dân 09.09.2018
"Truyện Kiều" và biệt tài sử dụng thành ngữ của Nguyễn Du - Vương Trọng 09.09.2018
Nguyễn Bính, nhà thơ tình xuất sắc Việt Nam thế kỷ XX - Đỗ Đình Thọ 09.09.2018
Nguyễn bính và và con đường trở thành “Người của ngày mai” - Đoàn Trọng Huy 04.09.2018
Nam Bộ trong đời thơ Nguyễn Bính - Võ Văn Nhơn 04.09.2018
Những bất hợp lý trong đề xuất cải tiến chữ Quốc ngữ của PGS.TS Bùi Hiền - Nguyễn Văn Hiệp 03.09.2018
Hành trình xây dựng và bảo vệ đất nước của người Việt Nam - Vũ Thị Thanh Minh 30.08.2018
xem thêm »