tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 24010507
25.02.2018
Nguyễn Thế Thanh
Cha tôi



1. Tôi không có may mắn như nhiều đứa trẻ khác được nằm trong vòng tay rắn chắc của cha ngay khi cất tiếng khóc chào đời... Lúc tôi còn trong bụng mẹ, cha tôi vì nhiệm vụ phải chia tay người vợ trẻ khi ấy mới hai mươi tuổi. Mẹ tôi kể, trong đêm chia tay, cha tôi đặt tay lên bụng mẹ dặn. "Con đầu lòng của chúng mình dù trai hay gái cũng lấy chữ lót tên anh và chữ lót tên em đặt tên cho con, nha em". Gửi lại phương nam người vợ trẻ và đứa con đầu lòng sắp chào đời, đầu năm 1953, cha tôi ôm súng đi về hướng Bắc, ở đó, ông đã được gửi đi học quân sự ở nước ngoài một thời gian ngắn, rồi năm 1958 được Nhà nước phong quân hàm thiếu tá trong đợt phong quân hàm đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Cùng đợt phong hàm ấy có các bác, các chú: Trần Văn Trà, Lê Trọng Tấn, Trần Độ, Tô Ký (Đại tá), Trần Đình Xu - trung tá, Hoàng Cầm, Trương Văn Ban (thiếu tá), Nguyễn Thới Bưng – đại úy...Những năm tháng ấy, cha tôi và nhiều đồng đội từng sát cánh bên nhau trên chiến trường chống Pháp ở miền Đông Nam Bộ nay lại cùng nhau chia sẻ cái cảnh "ngày bắc đêm nam", thế nên mùa xuân năm 1958 với cha tôi là mùa xuân thật đặc biệt. Giữa những ngày Hà Nội giá rét tê người, trái tim ông được sưởi ấm vì gặp lại vợ và đứa con gái đầu lòng khi đó chưa đầy 5 tuổi.


2. Lúc sinh thời, các ông Trần Văn Trà, Tô Ký, Lê Trọng Tấn, Lưu Quang Tuyến thường kể về cha cho tôi nghe. Trong mắt của các vị ấy, những người đồng đội vừa là cấp trên trong công việc vừa là người anh trong cuộc sống của cha tôi, Nguyễn Thế Truyện là một con người có nhân cách đẹp và là một chỉ huy quân sự tài năng. Trong đám tang Thượng tướng Trần Văn Trà, Thiếu tướng Tô Ký đã nói với những người quen biết khi họ nhắc đến tình cảm của tướng Trà dành cho liệt sĩ Nguyễn Thế Truyện: "Truyện là một tướng trận. Thông minh và rất dũng cảm. Người như Truyện ngồi ở miền Bắc yên bình trong khi miền Nam chiến đấu thì sao chịu được. Thế nên cậu ấy cứ nằng nặc đòi tôi cho đăng ký trở lại chiến trường miền Nam. Truyện gửi gắm tôi và chị Năm Bi (Đại tá Anh hùng Quân đội Hồ Thị Bi): "Em giao Cầm và các cháu ở lại miền bắc, nhờ anh Ba và chị Năm quan tâm chăm sóc dùm. Em phải trở lại chiến trường mới được, anh Ba à". Tôi hiểu Truyện và đồng ý để cậu ấy đi. Đúng là chiến trường miền Nam rất cần những người như Truyện. Tôi tháo cái đồng hồ đang đeo trao cho Truyện như một cử chỉ chấp thuận, như một sự tin tưởng. Khi đó là cuối năm 1961".


Trong giai đoạn chiến tranh vệ quốc trước 1975, những trận đánh lớn trở thành mốc son trong lịch sử quân sự nước nhà như Ba Gia, Bình Giã, Đồng Xoài, Bàu Bàng, Nhà Đỏ - Bông Trang, Dầu Tiếng, Bàu Cỏ, Bến Cầu...đều có những đóng góp mang tính chất dấu ấn của Nguyễn Thế Truyện trong cương vị trung đoàn trưởng và sau này là Sư đòan trưởng...Sâu sát, cụ thể, quyết đoán và quả cảm - những cán bộ cùng công tác với cha tôi thường có chung nhận xét như vậy về ông. Khi chuẩn bị chiến dịch Xuân Mậu Thân 1968, chính cha tôi đã đề xuất ý kiến xin được đích thân vào nội thành Sài Gòn để trực tiếp điều nghiên trước về hướng tấn công xung yếu mà đơn vị và phân khu do ông làm Tư lệnh phụ trách trong chiến dịch. Một đề nghị táo bạo nhưng hợp lý và khả năng cho phép nên đã được cấp trên chuẩn y và phòng tình báo quân giải phóng miền Nam triển khai thực hiện. Chuyến đi đặc biệt nguy hiểm nhưng có ý nghĩa lớn đó của cha tôi đã được cụm trưởng tình báo H67 đại tá Lê Văn Vĩnh phối hợp với cụm tình báo A20 bố trí và tình báo viên H3 đảm trách trực tiếp (H3 khi đó là Nghị sĩ quốc hội Sài Gòn, sau năm 1975 là đại tá QĐNDVN Ba Lễ (ba Nghĩa) – nhân vật trong bài viết của Thiếu tướng Phùng Đình Cung, sách “Sài Gòn dưới những tầng khói”, NXB Văn Nghệ TP.HCM năm 1998). Chuyến đi ấy của cha tôi đặc biệt là vì lần đầu tiên quân ủy và bộ tư lệnh Miền cử một cán bộ từng là sư đoàn trưởng và khi ấy đang là tư lệnh phân khu Bắc Sài Gòn – Gia Định vào sào huyệt của đối phương ở nội đô Sài Gòn, vào tận sân bay Tân Sơn Nhất thị sát, điều nghiên tình hình. Sự lựa chọn nhân sự ấy trong công tác chuẩn bị cũng là nhắm tới mục tiêu giảm thiểu tối đa những hy sinh không thể tránh khỏi về nhân lực trong một chiến dịch lớn lần đầu tiên nổ ra đồng loạt tại các đô thị trọng yếu ở miền Nam. Trong chiến cuộc Mậu Thân 1968, sau những ngày chiến đấu ác liệt đợt đầu tiên, cha tôi được lệnh rời bộ chỉ huy tiền phương để đi họp ở Bộ Tư lệnh Miền. Cùng đi với ông còn có ông Năm Xuân (Mai Chí Thọ - sau này là Ủy viên Bộ Chính Trị, Bộ trưởng Công an). Ông Năm kể: “Ba tôi hẹn với ông "Anh đi trước, tôi sẽ đi sau nửa buổi và sẽ gặp nhau ở cuộc họp". Nhưng rồi, trận pháo kích ngay sau đó của đối phương vào đúng vị trí căn hầm của bộ chỉ huy đã ngăn bước di chuyển của ông. Nhớ về cha tôi, trong cuốn "Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm" (NXB Văn Nghệ TP.HCM, 1983), Thượng tướng Trần Văn Trà đã viết " Đồng chí Nguyễn Thế Truyện, một Tư lệnh Sư đoàn dũng cảm vô song đã vào tận thủ đô ngụy trong Tết Mậu Thân 1968 và đã hi sinh anh dũng trên vùng ven ác liệt ngày nào...". Là một trong số những người còn được sống sau cuộc chiến tranh, thiếu tướng Lê Trọng Tấn (sau này là Đại tướng) kể, ngày 30 tháng 4 năm 1975, ông đã dẫn đầu một cánh quân tiến vào bộ Tổng tham mưu quân đội Sài Gòn. Tại đây, ông lấy nhanh một tấm ảnh nằm trong đống tài liệu bề bộn mà đối phương để lại khi tháo chạy, lật phía sau ảnh ghi rất nhanh và trao cho sĩ quan thư ký: " Chuyển ảnh này ngay cho chị Cầm vợ anh Nguyễn Thế Truyện". Tấm ảnh ấy đã đến tay mẹ con chúng tôi ở Hà Nội, chỉ vài ngày sau khi Sài Gòn giải phóng, với dòng chữ "Gởi chị Cầm, niềm vinh dự của chị và các cháu" - Ba Long, 11h, ngày 30 tháng 4 năm 1975" (Ba Long là bí danh của ông Lê Trọng Tấn). Tấm ảnh ghi lại một phiên họp ở mặt trận vùng giáp ranh Sài Gòn có các vị Lê Trọng Tấn, Trần Độ, Hoàng Cầm…và ba tôi – người đeo kính đang đứng trình bày với bản đồ tác chiến. Với gia đình tôi, tấm ảnh đó là một kỷ vật vô giá, được giữ gìn cẩn thận từ bấy đến nay.


3. Năm 2010, bốn mươi hai năm sau cuộc chiến Mùa xuân Mậu Thân 1968, khi ba tôi có trong danh sách được Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang, không ít người quen biết gia đình tôi đặt câu hỏi “Vì sao đến bây giờ ông Truyện mới được phong danh hiệu anh hùng?”. Má tôi đã thưa lại với họ những lời tự đáy lòng bà: “Chậm vậy chứ chậm nữa hoặc không được cũng chẳng sao. Nhiều người có đóng góp lớn và nhiều người đã không trở về cũng chưa nhận được danh hiệu gì. Hỏi thăm việc thực hiện chính sách không sai, nhưng cũng e có chút gì xúc phạm đến người đã tự nguyện ra tiền tuyến và ngã xuống trong cuộc chiến đấu giải phóng đất nước”. Đúng là vậy, Đại tá Nguyễn Thế Truyện - cha tôi khi cầm súng ra chiến trường, để lại phía sau người vợ trẻ và ba đứa con nhỏ chưa đứa nào đủ 10 tuổi, ông có đời nào nghĩ đến việc sẽ được phong tặng những huân chương hoặc danh hiệu nào đó nếu may mắn sống sót trở về. Điều mà ông có thể đã lan man nghĩ, lan man nhớ khi nằm tòn ten trên chiếc võng vải dù màu xanh cỏ úa, ở khoảng lặng ngắn ngủi giữa hai cuộc hành quân, là hình ảnh ông - trong phút ngẫu hứng bế bổng vợ lên cầu thang căn hộ tập thể ở 18 bis Nguyễn Biểu Hà Nội năm 1961 sau khi đi xem vở kịch Luba về. Hành động lãng mạn ấy của một sĩ quan chỉ huy của quân đội đã bị ông Hai Đốc - một vị lãnh đạo của Ban Thống nhất trung ương và là hàng xóm lớn tuổi của ông Truyện - bắt gặp. Ông Truyện đã xấu hổ đỏ mặt nhưng ông Hai Đốc thì lại khuyến khích: “Được, được đó, làm tới đi đồng chí chỉ huy!”. Và có lẽ ông lại nhớ, hồi ông chia tay vợ năm một chín sáu hai, Hà Nội đang vào mùa cuối xuân, hoa sữa thơm suốt cả con đường Nguyễn Du nơi có căn nhà cơ quan bố trí cho người sắp đi B tiếp khách (để giữ bí mật), ông đã nắm tay vợ và hẹn ngày gặp lại. Gặp ở đâu cũng được, ở vùng ven Sài Gòn nơi ông bà gặp nhau lần đầu tiên vào năm 1950, hay ở Hà Nội – nơi ông lần đầu tiên chia sẻ cùng bà cuộc sống gia đình đầm ấm nhưng vô cùng ngắn ngủi. Mùi hoa sữa và hơi ấm bàn tay người vợ trẻ đã đi theo ông suốt sáu năm cuối cùng cuộc đời chinh chiến kéo dài hơn hai mươi năm. Khi Đại tá Nguyễn Thế Truyện nằm xuống vĩnh viễn ở khu vực Bộ chỉ huy tiền phương Bắc Sài Gòn Gia Định mùa xuân năm 1968, ông tròn bốn mươi tuổi. Đứa con gái út của ông khi ấy mới đứng cao hơn cái mặt bàn chút xíu, chưa biết điều gì đang xảy ra với người đàn ông đeo quân hàm trong tấm ảnh đóng khung trên bàn. Khi ông đi vào chiến trường, nó mới hơn mười tháng tuổi….  


Nguyễn Thế Thanh


Bài đã đăng báo Công an Thành phố HCM số Xuân Mậu Tuất 2018, có cắt ngắn và chỉnh sửa so với bản đã in trong sách Cha và con, NXB Trẻ, 2016.


Năm 2012, Chủ tịch UBNDTP đã ký ban hành quyết định do Hội đồng Đặt tên đường đề xuất chọn một con đường mang tên Anh hùng LLVT Nguyễn Thế Truyện. Đường này nằm ở phường Tân Sơn Nhì, quận Tân Phú, TPHCM.


Ảnh:


1. Chân dung ông Nguyễn Thế Truyện chụp tại Hà Nội năm 1958. đợt phong quân hàm đầu tiên của QĐNDVN. (ảnh TL gia đình)


2. Một cuộc họp tại Bộ chỉ huy Quân Giải phóng Miền Nam năm 1967.Trong ảnh là các ông Lê Trọng Tấn (sau này là Đại tướng, Tổng Tham mưu trưởng QĐNDVN), Hoàng Cầm (sau này là Thượng tướng QĐNDVN), Trần Độ (sau này là Trung tướng, Phó chủ tịch Quốc Hội). Ông Nguyễn Thế Truyện trong ảnh là người đứng mặc áo đen, đeo kính trắng. (anh TL gia đình).


bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Phùng Quán: "Có những lúc ngã lòng/ Tôi vịn câu thơ mà đứng dậy" - Trần Thanh Phương 21.09.2018
Bội Trâm – Người đàn bà bất chấp tai ương - Ngô Minh 19.09.2018
Một chuyến làm báo ở Tây Nguyên - Thanh La 19.09.2018
Gián điệp quốc tế - Vũ Thư Hiên 07.09.2018
Ba ngôi mộ không có nấm mồ - Hà Đình Nguyên 06.09.2018
Chiến tranh Việt Nam và trò chơi nguy hiểm của Phạm Xuân Ẩn - Nhiều tác giả 05.09.2018
Hồ Chí Minh - Nguyễn Đăng Mạnh 05.09.2018
Nguyễn Khải - Nguyễn Đăng Mạnh 05.09.2018
Nguyên Ngọc - Nguyễn Đăng Mạnh 05.09.2018
Syria, bóng đá & chiến tranh - Nguyễn Thu Trân 29.08.2018
xem thêm »