tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 24342153
Thơ
28.01.2018
Hoàng Hưng
Thơ Pháp cuối thế kỷ XX (5) - tiếp & hết



13. Jacques Roubaud sinh năm 1932. Đối với triết gia và nhà toán học (thành


viên nhóm Oulipo), nhà sử học và địa lý học của thơ này, thi sĩ phải coi trọng


tất cả các nguồn tri thức, dù chúng nằm trong tác phẩm của con người hay của


tự nhiên. Việc thăm dò mọi phương vị của các hình thức truyền thống, kết nối


với một tính sáng tạo mạnh mẽ, khiến ông là một trong những tác giả có ảnh


hưởng nhất của thế hệ mình.


14. Henri Meschonnic sinh năm 1932. Là tác giả của một trong những tác phẩm


lý luận được chào đón cả về chất lượng cũng như những đảo lộn mà nó đưa vào


bản thân khái niệm thi pháp, ông cũng là một trong những nhà thơ biết cách đưa


hữu thể-tổng thể tới độ ý nghĩa cao nhất, hợp lưu với Lịch sử và với cá nhân


đang đi tìm bản thể của nó. Mỗi bài thơ của ông, ngắn gọn và sáng láng, khiến


ta chạm đến cái thiết yếu chảy dồn trong ta, vào thời điểm ta tồn tại trong điều


hợp nhất chúng ta lại.


15. Jean Pérol sinh năm 1932. Tình nguyện phiêu lưu từ nền văn minh này sang


nền văn minh khác, đặc biệt bị văn hóa Nhật Bản chinh phục, ông là nhà thơ


trong số những người mà sự dấn thân về đạo đức đối mặt với những bóng tối đi


qua thời đại chúng ta, những vực sâu mà thế giới đương đại chờn vờn không


làm giảm bớt băn khoăn thẩm mỹ của bài thơ. Sự tinh tế về âm nhạc, về tiết tấu,


tùy theo những hình thức khác nhau nhất, lần lượt được thử nghiệm, đã chứng


tỏ điều đó.


16. Marie-claire Bancquart sinh năm 1932. Tách khỏi mọi hệ thống - nhưng sự


tự do tiến triển này không hề loại trừ tính nhất quán cũng như nghiêm ngặt của


bước đi - bà xây dựng một sự nghiệp thơ trong sự căng thẳng vĩnh hằng giữa


vắng mặt và phát triển bồn chồn của hữu thể. Dù chúng phiêu lưu trong những


vùng của giấc mơ hay ký ức, trong những vùng của thể xác hay trí tuệ, các bài


thơ của bà, ngày càng cô đặc theo thời gian, chỉ có một thiên hướng là dứt ra từ


chất liệu của thế giới cái chất liệu của một số mệnh độc đáo.


17. Pierre Oster-Soussouev sinh năm 1933. Được Jean Paulhan xuất bản từ lúc


rất trẻ, người thừa kế của Claudel và Saint-John Perse, ông đánh số những bài


thơ dài của mình giống như nhạc sĩ đánh số các bản giao hưởng. Là nhà thơ


tụng ca - dù là cúi chào những đức tính của thiên nhiên hay của đồng loại - ông


kiến tạo một tác phẩm đầy khoáng đạt và tâm linh, trong đó nổi rõ một ham


muốn không thoả: phối ngẫu với những nhịp điệu, hơi thở của vũ trụ.


18. Marcelin Pleynet sinh năm 1933. Ông lần lượt làm thư ký của các tạp chí


Tel Quel và l'Infini. Từ các tác phẩm đầu tiên đến những tác phẩm gần đây, ông


vẫn bận tâm với những câu hỏi về ý nghĩa của thơ trong bối cảnh xã hội lịch sử


nhất định. Coi mọi tính chất tôn giáo cũng như tâm lý của thơ đều đã lỗi thời,


ông tìm kiếm trong những chiều sâu mang tính vật chất, xác thịt của ngôn ngữ


sự tự do khởi đầu mà các tác phẩm có vai trò quyết định của mọi thời đại đều


chứa đụng.


19. Josée Lapeyrère


20. Jean-Jacques Viton sinh năm 1933. Người hoạt náo của các tạp chí, những


cuộc gặp gỡ hay liên hoan, thống nhất với nhà thơ mà nguyên lý thiết yếu chủ


trương ngôn ngữ và hiện tại biến đổi thành cùng một động thái. Những nguồn


kỹ thuật mà không ai có đặc quyền chiếm giữ, trở thành những phương tiện


khiêm nhường để sáng chế cái mà nhà thơ gọi là ý nghĩa, cái ấy không bị tra hỏi


mà lại không ngừng chất vấn. Tất cả nỗ lực của nhà thơ hướng tới việc làm sao


để cảm xúc mà ông biết và muốn rằng không nắm bắt được, cảm xúc lướt qua


mình, là sân khấu cho một sự nổ vỡ mà các mảnh sẽ có khả năng tái hợp một


cách luôn luôn khác biệt.


21. Paul Louis Rossi sinh năm 1934. Từ lúc khởi đầu mang dấu hiệu một sự


nhạy cảm bình dân nhất định, ngay cả khi mau chóng phát triển một sự tìm tòi


mang tính cách tân hơn qua tiếp xúc với tạp chí Action Poétique, rồi nhóm


Change, P.L.Rossi vẫn giữ một mối quan hệ tha thiết với ký ức. Các tác phẩm


gần đây của ông - phần lớn thơ hay truyện kể vụt hiện, là kết quả của một lao


động có tính trữ tình kiềm chế, nhắm làm nứt nẻ, ăn mòn cái chất liệu trơ ì đó


mà thời gian sử dụng để làm ta đau khổ, cho đến khi ta làm nó sống lại.


22. Bernard Vargaftig (sinh 1934)


23. Ludovic Janvier sinh năm 1934. Hai cuốn thơ xuất bản muộn, sau khi ông


đã được biết đến như người viết tiểu thuyết, cũng đủ để ông được định vị như


một trong những nhà thơ quan trọng của thời đại. Được nuôi dưỡng bởi một


kinh nghiệm kể chuyện lâu năm, bút pháp của ông nằm trong những bút pháp


hôm nay, tách khỏi các trò chơi hình thức chủ nghĩa, cho ta vị của "những điều


mắt thấy" và những khoảnh khắc sống thực. Nó định vị ông ở một trong những


dòng vững bền nhất và luôn luôn bắt người ta khám phá lại của thơ Pháp, bên


cạnh Fargue, Follain.


24. Claude Esteban sinh năm 1935. Nhà thơ chấp nhận một mê cung trong đó


thời gian chỉ tự cảm nghiệm một cách trần trụi, tức khắc, trong tất cả sự tàn bạo


của nó; ở mỗi khoảnh khắc mà ông vượt qua ngưỡng, trên mỗi con đường mà


ông mượn ,ông truyền vào cùng một sự sững sờ si tình. Luôn luôn hướng về


một nơi trú ngụ, mà ý tưởng về nó đem lại ý nghĩa cho mỗi từ, nơi đồng qui bí


ẩn của dục vọng và bí ẩn của nỗi đau, tự do của ngôn ngữ và nỗi bồn chồn sâu


xa của nó.


25. Jacqueline Risset


26. Lionel Ray. Sinh năm 1936, Robert Lhoro đã xuất bản nhiều tác phẩm, cho


đến năm 1971 ông lấy tên Lionel Ray, từ đó được công chúng rộng rãi biết đến.


Chính nguyên tắc biến hóa, việc không ngừng đặt lại vấn đề về ngôn ngữ và bản


thân là đặc trưng bước đi của ông, từ những năm ông hiến mình cho một thứ thơ


mà ông tìm cách chia nhỏ, ngắt đoạn, cho đến lối trữ tình được thống nhất lại


trong những cuốn sách mới nhất.


27. Pierre Dnaihaut sinh năm 1935. Từ những tác phẩm đầu tay ngắt thành từng


đoạn đến những bài thơ dài vừa ra mắt, đi qua lối thơ châm ngôn, thơ ông


dường như tự định nghĩa lại xuất phát từ chủ nghĩa siêu thực, sát gần hơi thở,


giữa ngột ngạt và khoáng đạt. ở đây, xứ Flandres, phương Bắc có một gương


mặt, mỗi gương mặt đến lượt nó lại chứa đựng những đức tính của một phong


cảnh, một ánh sáng thầm kín chưng cất những bóng tối và những phát lộ với


cùng một sự kiên nhẫn, cất giữ không gian để gặp gỡ gương mặt kia.


28. Yves Martin (1936-1999). Chẳng có gì của các đường phố Paris mà ông


không biết cách làm thay hình đổi dạng với một hứng khởi, một sự táo bạo


không ai bì. Ông là thầy phù thủy của kẽm và nhựa đường, liến thoắng và trìu


mến cùng lúc. Một số người nhận ra ở ông sự thân thuộc rõ rệt với kẻ say mê


Paris khác là Léon Paul Fargue, ông dường như lục lọi thời đại của mình nhờ


một camera có khả năng xuyên qua các sinh linh để nhìn thẳng vào nỗi cô đơn


của họ.


29. Franck Venaille sinh năm 1936. Neo chặt vào thực tại chóng mặt của thời


đại mình, đặc biệt là trong sự tràn ngập thông tin, các bài thơ của ông làm thay


đổi nhiều vật liệu trong lối nhìn của một biên bản ghi nhận vừa sáng suốt vừa


đau đớn. Mãnh liệt trong sự sỗ sàng cũng như trong sự trang nghiêm, và không


ngừng tìm cách định nghĩa lại tầm hình ảnh và âm nhạc của mình, nghệ thuật


thơ này xuất phát từ một chất thanh lịch lớn lao và một sự tự do căn bản, dường


như chỉ hé thấy giải thoát trong cơn say tuyệt đối của ngôn ngữ.


30. Gil Jouanard (sinh 1937)


31. Anne -Marie Albiach sinh năm 1937. Bài thơ của bà, bị tháo tung, xé nát, bị


tàn phá, và dường như đó chính là sức mạnh của nó, chỉ dung tha các từ ngữ bị


cạo đến tận xương. Trên con đường phân tích ấy, khoảng trắng có vị trí thiết


yếu; không phải là chỗ dừng hơi của câu, trái lại, nó là nơi chứa đựng sự căng


thẳng lạ thường, sức hấp dẫn đớn đau và nổ vỡ ở giữa ngôn ngữ và thân xác.


32. Denis Roche sinh năm 1937. Sau khi tranh cãi với những tín điều phổ biến


nhất, vạch ra mọi thói tật một cách hài hước, ông đã dứt khoát cắt đứt với thơ,


vứt bỏ một tổng thể các giá trị được coi như không thể chấp nhận vào thời kỳ ấy


của lịch sử. Nhưng, như chứng tỏ trong các tác phẩm viết gần đây của ông, cũng


như ở thị hiếu của ông khi chỉ đạo bộ sách "Fiction & Cie" (Hư cấu &Cty),


không bao giờ việc khước từ hình thức của bài thơ cũng như việc chú tâm đến


nhiếp ảnh làm tổn thương vận động sáng tạo văn chương trong ông.


33. Paul de Roux sinh năm 1937. Những lối mòn được phát hiện một cách kiên


nhẫn giữa khía cạnh thông thường nhất của đời sống và chiều kích phổ quát của


nó, những bài thơ của Paul de Roux độc đáo ở sự khiêm nhường, ở ham muốn


tiếp nhận hơn là chinh phục, nhưng cũng ở sự vững chắc về đạo đức ngay sau


khi ta thưởng thức vẻ dịu dàng và thoải mái của dòng thơ, câu thơ. ở con người


thường rình rập những hoàng hôn này, với ánh mắt sắc bén khác thường khi


nhìn những phong cảnh hàng ngày diễu qua hay những phong cảnh khám phá


qua các bức tranh, có một nhiệt tình được cân nhắc một cách rất tinh tế.


34. Marie étienne sinh năm 1938 tại Việt Nam. Ta không thể hình dung nữ thi sĩ


này mà không nhớ rằng bà đã nhiều năm làm thư ký Nhà hát Quốc gia Chaillot


và cộng tác đều đặn với hai tờ Action Poétique và Quinzaine Littéraire (Bán


nguyệt san Văn), và hiện là một nhân vật nòng cốt của tờ Aujourd'hui Poésie


(Hôm nay Thơ). Cách thức của bà - căng lên để chịu đựng sự dữ dội của thế


giới, chịu đựng thời gian hay sự cô độc, và trong một ngôn ngữ nhân gấp bội


các khoảng âm, các giọng, đòi hỏi chăm sóc đặc biệt những chỗ ngắt - không


bao giờ dẫn chúng ta vào lòng bài thơ mà không chuẩn bị cho ta với một ý


nghĩa nghi thức chắc là ảnh hưởng nhiều của kinh nhiệm sân khấu.


35. Jean-François Bory (sinh 1938)


36. Dominique Fourcade sinh năm 1938. Hoạt động phê bình mỹ thuật của ông


(một trong những chuyên gia quốc tế về Henri Matisse) không phải là không


liên quan tới mối bận tâm tạo ra trong thơ một cơ thể với chất liệu ngôn ngữ có


thể cảm nhận trực tiếp. Nhưng nhà tạo hình "tàn bạo" của ngôn từ không do dự


cắt bỏ cả những nguyên âm hay vay mượn từ tiếng nước ngoài này đồng thời là


một nhạc sĩ không kém sáng tạo và cũng không kém đau đớn.


37. Gérard Arseguel sinh năm 1938. Một chú tâm cực kỳ tiết chế, một căng


thẳng đau đớn bao giờ cũng được kìm nén xác định cái nhìn của ông trước


những biến cố nhỏ nhoi của đời sống có vẻ như không có tính mục đích. Chỉ


cần vài từ, vài câu thơ ngắn gọn, cắt ngay từ một vết thương đang chảy máu hay


một sự thuận tình hạnh phúc để kết tinh cái mong manh của các sự vật, vẻ gày


guộc chứa đựng sự thầm kín hơn là quí giá ấy đã thống nhất nhà thơ với thế giới


xung quanh.


38. Alain Lance sinh năm 1939. Là một nhà thơ có nhiều hoạt động văn hóa ở


nước ngoài hội cùng những hoạt động dịch thuật. Việc sử dụng ngôn ngữ của


ông bộc lộ với chúng ta tính ưa chuộng - dù với ý đồ châm biếm - những sáng


chế làm hoang mang và những đổi hướng bất kính khác. Nhưng những quậy


phá về hình thức ấy và rộng hơn, sự buông tuồng mà ông làm ra vẻ, nếu cho ta


vui tai một lúc thì ngay sau đó khiến ta đứt hơi, lại càng khiến ta sững sờ khi đối


diện nguy cơ gây ra từ xúc cảm của bài thơ.


39. Jacques Darras sinh năm 1939. Được thiên phú một hơi thở, một sự quả


quyết trữ tình vượt ra ngoài cái quen thuộc - như những bài thơ mới nhất của


ông xác nhận - ông đã xây dựng một anh hùng ca mà tầm cỡ cũng như sự đa bội


về hình thức đặt nó trong số những công trình thơ giàu tham vọng nhất những


năm gần đây. Và người ta không ngạc nhiên vì người ca tụng phương Bắc, nối


kết những bão tố của Lịch sử và bão tố của tự nhiên, những độ sâu của đất và


các chòm sao, lại là dịch giả đáng ngưỡng mộ của một nhà thơ như


W.Whitman.


40. James Sacré sinh năm 1939. Ông chú trọng giữ gìn ngôn từ và sự vật trong


thứ bậc thơ của chúng. Chăm chú đến những khía cạnh thân thuộc nhất cũng


như hiếm hoi nhất của đời sống, ông cũng giữ một thái độ như thế đối với ngôn


ngữ, điểm vào thứ thơ rộng lượng, sáng sủa của mình những vụng về giả tạo


mượn một cách tinh vi từ một thổ ngữ nào đó, những cái đó góp phần khiến


nghệ thuật của ông, cách thức của ông trở nên không thể bắt chước.


41. Daniel Biga sinh năm 1940. Trong những bài viết đầu tiên của ông có một


tốc độ viết, một sự mãnh liệt thị thành, một ham muốn vẫn còn thêm một lần vô


vọng: thay đổi thế giới, không phải là không gợi nhớ đến những nhà văn xuất


phát từ "thế hệ Beat". Nếu những bài thơ tiếp sau đó chứng tỏ một thái độ rút


lui, trầm ngâm hơn, thì đó vẫn là thơ của một nhà thơ bị ám ảnh bởi thực tại của


thời đại mình.


42. Danielle Collobert (1940 - 1978)


Có tác phẩm xuất bản từ 1964 cho đến cả sau khi qua đời.


43. Emmanuel Hocquart sinh năm 1940. Từ những nhà thơ Hy La tiết độ nhất


tới các nhà thơ theo chủ nghĩa khách quan Mỹ, những sự gần gụi về văn chương


của ông đi theo hướng một văn bản tước bỏ các hiệu quả tức thời, ẩn dụ hay âm


nhạc; theo hướng một ngôn ngữ cực kỳ lưu loát, dường như chỉ muốn ghi lại sự


kiện, câu chuyện một cách hoàn toàn trung lập. Tuy nhiên một khoảng cách rất


nhỏ theo dòng những cuộc điều tra mà ông theo đuổi trong thực tế của thế giới


cũng đủ làm sản sinh từ mỗi tác phẩm văn xuôi hay thơ của ông sự bàng hoàng


của những câu hỏi vẫn hằng ám ảnh ta tự bao giờ.


44. Jean-Luc Steinmetz sinh năm 1940. Sáng lập tạp chí tiên phong TXT trong


khi được biết tên nhờ tập thơ đầu tay chịu ảnh hưởng Rilke, ông là một trong


những nhà thơ đương thời có bút pháp nhiều biến dạng xa nhau nhất. Giờ đây,


trở lại một lối trữ tình truyền thống hơn, ông vẫn được củng cố bởi những bài


tập kiểu Tel Quel mà có thời ông đã theo. Những cuốn sách mới nhất của ông


nằm trong phong trào sâu sa cách tân thơ trữ tình Pháp, trong đó khẳng định sự


vững chắc của bút pháp ông. Ông còn là nhà viết tiểu luận nổi tiếng.


45. Jean Daive sinh năm 1941. Chính bằng cách tổ chức tiết tấu không bao giờ


cạn, thậm chí cả những cách tổ chức số, mà từ cuốn sách đầu tiên ông đã theo


đuổi một nỗi lo sợ tuyệt đối cái không-hiện hữu, các câu, các từ chìm đắm vào


đó một cách xảo diệu, đến mức chúng có thể làm ông thất bại. Nhà thơ này, mà


sự vắng mặt, khoảng trống, đã mở cho ông cả một trường ý nghĩa, cũng là


người hoạt náo của nhóm Fragments trước khi lập ra tạp chí Fig vào năm 1990.


46. Claude Royer-Journoud sinh năm 1941. Không phải không có bà con nhất


định với những người theo chủ nghĩa khách quan Mỹ, nếu xét qua thái độ từ


chối mọi sự biểu lộ tràn trề, qua ý muốn tiết giảm về âm nhạc, ưa thích độ đục


của âm thanh, thơ ông đồng thời cũng ham muốn thể hiện kinh nghiệm của


ngôn ngữ và cái nhìn. Vừa cô đặc vừa hiếm, trên bình diện của trang giấy cũng


như tác phẩm mà sự im lặng chiếm phần quan trọng, lời nói như thể ẩn sau hình


ảnh và động tác, để làm nơi chứa đựng một sự chú tâm lạnh lùng gần như có


tính cách giải phẫu đối với thực tại.


47. Michelle Grangaud (sinh 1941) luôn nhạy bén với các vấn đề hình thức của


bài thơ, kể từ hai tập thơ đầu tay từ đầu đến cuối viết theo cách đảo chữ


(anagramme), hay sau đó nối lại với một truyền thống rất xưa đồng thời khai


thác một cách độc đáo những thành tựu của tính hiện đại.


48. Dominique Grandmont sinh năm 1941. Xét lộ trình của ông, nhất là việc


ông bỏ ngang binh nghiệp, người ta ngạc nhiên bởi sự nắm bắt ý thức xã hội ở


ông trùng hợp với việc ông chuyển qua thơ. Cũng ngạc nhiên không kém khi


đọc văn xuôi cũng như thơ ông, bởi hơi thở và cái nhìn mau lẹ mà ông đã chọn


để cung hiến cho đời sống phong phú của các thành phố.


49. Jean-Pierre Colombi sinh năm 1941. Cực kỳ chú tâm đến những hình thái


sống của thú vật và cây cỏ - cho đến những biểu hiện nhỏ nhất trước mắt ta -


thơ của ông chỉ giữ lại của con người những cử chỉ hàng ngày chính xác nhất và


ít dữ dội nhất, ít có thể can thiệp nhất vào tiến trình của môi trường. Tuy nhiên


người ta không thể gọi đúng tên một bước đi thụ động như thế, cho dù sự bén


nhọn của ánh mắt và sự suy ngẫm tuôn ra từng bước một có thể làm nổi lên từ


chuyển động nhỏ nhất của tự nhiên cái trật tự đóng bài thơ lại mà vẫn mở nó ra


vô tận.


50. Jean-Paul Guibbert sinh năm 1942. Được những bậc đàn anh như Yves


Bonnefoy chào đón ngay từ những bài thơ đầu tiên vào năm 1964, đến nay là


tác giả của hàng tá tập sách mà sự thống nhất của chúng vẫn làm ta ngạc nhiên,


và những đặc thù chắc chắn không xa lạ với nghề điêu khắc mà ông thực hiện


song song với thơ. Được nắm bắt cùng một lúc trong sự hiện diện mang tính xác


thịt mạnh mẽ và trong những gương mặt chiêm bao còn hơn cả ở hội họa và


huyền thoại, Người Đàn bà ngự trị tuyệt đối trong lòng tác phẩm của ông, sự


kiến tạo tinh tế của nó càng đưa ta tới cái đẹp không bao giờ bị thuần hóa chứa


đựng trong dục vọng lẫn lộn với cái chết.


51. Alain Veinstein sinh năm 1942. Bằng hành động trước công chúng, với tư


cách người của ngành phát thanh, ông trở thành một nhân vật chủ chốt của thơ


Pháp. Tác phẩm của ông nằm trong những tác phẩm quan trọng nhất của phong


trào những năm 70 đặt trong hoàn cảnh cuộc hòa trộn các khuynh hướng mở,


một bên là Yves Bonnefoy, bên kia là André du Bouchet và Edmond Jabès.


Trong tác phẩm này tất cả diễn ra như thể một khắc khoải bùng nổ, hướng một


cách tự nhiên về khuynh hưóng trữ tình, chỉ trao gửi cái ngọn của địa chấn vĩnh


cửu bên trong. Sự dè dặt này, sự khó tính, và những thành công tuyệt vời của lối


viết này đặt Alain Veinstein trong số những nhà thơ hàng đầu của thời đại.


52. Jean-Pierre Balpe (sinh 1942)


53. Jean-Pierre Verheggen (sinh 1942)


54. Julien Blaine (sinh năm 1942) là một trong những nhân vật độc đáo nhất của


thơ Pháp. Kế thừa vừa trường phái Dada vừa trường phái "Chữ cái" (Lettrisme),


ông là khởi đầu của một số lớn những thể nghiệm nhắm đập vỡ những nguồn


ngữ nghĩa truyền thống và việc sử dụng ngôn ngữ một cách máy móc. Thơ ký


hiệu, thơ âm vang, kêu gọi mãnh liệt sự hiện diện của thân xác, sự ngân nga của


giọng nói, có lúc gần gụi với những bước đi của âm nhạc đương đại. Blaise


cũng là một trong những cổ động viên chính cho nghệ thuật "performance"


(trình diễn). Ông còn là một trong những nhà tổ chức đáng chú ý của các cuộc


biểu tình quần chúng cũng như linh hồn của tờ tạp chí tiên phong Doc


55. Jean Ristat sinh năm 1943. Nếu ông trụ ở gần truyền thống nhất - không chỉ


truyền thống thơ mà cả sân khấu - thì chính bằng con đường "nhại" rất kiến tạo


mà ông khai thác chất liệu cho tính hiện đại của mình. Dẫn dắt với một tinh thần


diễu cợt sắc nhọn một tác phẩm mà ta có thể coi là baroque, ông cũng điều


khiển tạp chí Digraphe rất tiêu biểu cho một trào lưu "tân cổ điển".


56. Serge Sautreau sinh năm 1943. Tham gia nhóm "Manifeste froid" (Tuyên


ngôn lạnh) đã một thời đánh dấu sự trở lại của một thái độ lãng mạn nhuốm


màu siêu thực trong thơ Pháp. Là người lãng du, ông thăm thú các chốn và các


hoàn cảnh cho phép đi từ một thực tế này sang một thực tế khác, từ một nền văn


hóa thân thuộc sang một nền văn hóa xa lạ. Lộ trình của ông, thay vì khiến ông


trở thành một "thi sĩ háo xung trận", ngược lại, đưa ông tới một trạng thái khổ


hạnh, từ đó thơ ông không ngừng trở nên hướng nội hơn, cô đặc hơn.


57. Jean-Luc Sarré sinh năm 1944. ít chữ, từng chữ một đồng thuận trong ngay


cái động tác từ chối mọi nắm bắt thế giới, ít chữ, những chữ được soi sáng bởi


sự mong manh cực điểm của chúng, cũng đủ cho ông phát lộ sự bất động ngây


ngất của một phong cảnh. Đối mặt với ẩn cư, sự câm lặng của các sự vật, mỗi


bài thơ của ông như báo hiệu một sự rơi bất động, như dẫn dắựt chúng ta, trong


vẻ dịu dàng tỉnh ngộ, trong nỗi lo sợ kín đáo của nó, về sự tựu thành cái chân


không.


58. Claude Adelen sinh năm 1944. Với ông, mỗi bài thơ phải là một thử


nghiệm, một cuộc phiêu du trong đó người ta phải liều tất cả và tất cả là liều:


bản thân cái đẹp, thế giới, hiện hữu. Vậy thì ngôn ngữ sẽ là chốn mà, qua cái


nguy hiểm và cái có thể chết, ngay cả cái tăm tối nhất trong con người cũng trở


nên nhiệt hứng, sự bộc phát, niềm tin, sự e lệ, sự bắt đầu không ngừng. Nhà thơ


sẽ là kẻ biến đổi ngôn ngữ và sự im lặng của mình, những phương thức, thi


pháp, những gì được rèn thành qua các thế kỷ thực hành, trở nên ý nghĩa luôn


luôn mới, sự chuyển động, ánh sáng thấu tận xương, tận sự điên rồ hay cái chết.


59. Robert Davreu sinh năm 1944. Nhậy cảm âm nhạc dữ dội và tinh tế, khai


thác sự chói tai hơn là dãi bày tình cảm, là thành viên ban biên tập tạp chí


Po&sie, ông chuyên tâm giữ gìn địa dư bên trong của mình, không chấp nhận


mọi biên giới được thỏa thuận chung. Những mặt gồ ghề điểm dốc thẳng đứng,


là đối tượng của bài thơ cũng như câu thơ, trong căng thẳng vĩnh viễn, chứng tỏ


ở đây một sự hoàn thành mà để đạt được nó tác giả cần đến lần lượt cái rìu và


con dao mổ.


60. Henri Droguet sinh năm 1944. Chính ở những bến bờ sôi động nhất, những


phong cảnh không ngừng biến dạng mà ông thích đo những ký ức của mình,


thông qua một thứ thơ mạnh mẽ và tự do về bản chất, bản thân nó có những


luồng vừa dữ dội vừa sâu. Nhà thơ này, cái nhìn mãnh liệt, ăn to nói lớn, nếu


ông xuất bản ít, thì bù lại ông chỉ hiến cho ta những quyển sách có độ đậm đặc


cảm xúc hiếm có, chứa đựng đầy những bất ngờ, vén mở một thế giới trong đó


sự kiên trì và những vết đau, tế nhị và hung tợn, xui xẻo và dịu dàng xen kẽ


nhau - nói cách khác ông truy lùng cùng một cái đẹp trong sự đen tối của mọi


vật và trong sự hiển nhiên giữa ban ngày của chúng.


61. Paol Keineg sinh năm 1944. Mặc dù sống mười lăm năm ở Mỹ, với ý thức


bi kịch về sự thuộc về, với nguyện vọng đem sự kiêu ngạo và giận dữ của mình


thống nhất vào giọng của bộ lạc, rất sớm trở thành nhà thơ soi đường cho một


thứ văn xuôi cục cằn, nhà thơ đau đớn này chỉ sáng tạo trong ngọn lửa đối mặt


với những phản bội của thế kỷ mình - và những ngọn lửa ấy xác định tầm cao


của một con người tự do.


62. Jean-Luc Parant sinh năm 1944. Sự ám ảnh của đôi mắt một người đàn bà


gặp gỡ từ ba mươi năm trước - năm nào ông cũng kỷ niệm cuộc gặp gỡ ấy bằng


cách xuất bản một tờ báo mang tên "Bout des Bordes", tên địa phương họ ở, tập


họp các tác phẩm của mình và nhiều bạn bè - sự ám ảnh ấy khiến ông tận hiến


cho đề tài không cạn về những con mắt một tính sáng tạo tạo hình và văn


chương độc nhất trong loại của nó. Sử dụng câu vần hay câu văn xuôi, thơ ông


là thơ chỉ có một câu duy nhất nối thế giới của những con mắt với sự vô tận của


các thế giới.


63. André Velter sinh năm 1945. Sau khi tham dự "Tuyên ngôn lạnh "năm 1953


và ký tên chung với Serge Sautreau trong nhiều cuốn sách, ông hướng hẳn sang


phương Đông mà hành trình không mệt mỏi của nó sẽ đáp ứng không thể nào


tốt hơn cho sự say mê tự do vốn đã là linh hồn những bài thơ đầu tay của ông.


Thêm nữa, ông đã điều khiển kế tiếp nhau Tạp chí Tây Tạng Mới, Vô -trụ xứ,


và Caravannes, ngày nay là tạp chí mang tính toàn thế giới hơn cứ tạp chí nào


khác.


64. Hédi Kaddour sinh năm 1945. Đủ khả năng hạ bệ những sáo mòn dai dẳng


nhất, nếm náp sự cãi cọ và bất kính, thơ ông có mọi thủ thuật của một con cá


bơi trong dòng nước đau đớn và chảy siết của cái thường ngày. Mau lẹ, cay độc


liên minh với một giác quan tránh né bẩm sinh, những bước nhảy chồm nhân


lên trong nỗi bất an phập phồng của ngôn ngữ, những hợp âm bất ngờ nhất, bảo


đảm với ta rằng trong mọi tình huống của một cuộc đời - dù là thông thường


nhất - thơ cũng lộ ra như một tình yêu sốt ruột.


65. Marc Guyon sinh năm 1946. Không giả tạo cũng không chiều đời, thường


dưới hình thức một lời thỉnh nguyện, thậm chí một lời nhắn nhủ nội tâm , ông


đưa ra những bài thơ mà sự ngắn gọn là qui tắc - tất nhiên không loại trừ ngoại


lệ - và cái kết thúc hiển nhiên một cách không nắm bắt được tất yếu làm ta bàng


hoàng. ở đây, tư tưởng chỉ lộ ra một cách rụt rè, chỉ một ánh sáng bên trong


chống chọi với sự phi lý của đời sống, những từ giản dị của nỗi đau dường như


được đặt trên trang giấy với cùng sự chậm rãi của bông tuyết.


66. Matthieu Benezet sinh năm 1946. Như Narcisse được phú cho một sự sáng


suốt bi thảm, là tác giả của một sự nghiệp đặc biệt phong phú, đa dạng về hình


thức, ám ảnh trong sự tra vấn, ông lao vào đấu trường của việc xác định căn


tính, trong cuộc đấu gây xúc động sâu sắc không có lối thoát ngoài bản thân nó.


Không tin vào mọi thứ văn chương không xuất phát từ một nhu cầu thiết yếu


tuyệt đối, ông dẫn dắt hành trình thơ của chính mình bằng cách nhân gấp bội


các nguy cơ, tuân theo một nguyên lý về sự lột da để trần thịt khiến cho thân


xác ông biến thành một trường ý nghĩa phản ánh thế giới hơn là một đối tượng


chiêm ngắm.


67. Liliane Giraudon sinh năm 1946. Trong tờ tạp chí Banana Split (Bánh


Chuối) của mình, bà muốn rình rập một điều gì có thể đóng góp vào việc phá vỡ


những qui ước và sự già cỗi văn chương hay là những thứ vớ vẩn mang danh


mô-đéc. Khai thác mọi chất liệu của ngôn ngữ nhằm biến chúng thành một khối


trong đó ý nghĩa, cú pháp, nhịp điệu và âm thanh tan chảy trong một chuyển


động duy nhất sát với thân xác và thế giới, nhà thơ muốn cắt đứt với những


phân biệt theo thói quen "thơ - văn xuôi - câu thơ - kể chuyện" và đề nghị


những văn bản trong đó các giấc mơ, những điều nhìn thấy, kinh nghiệm nội


tâm và các sự kiện trở thành một hiện tại rất ngắn gọn, gần gụi và chất chứa


cảm xúc mà vẫn giữ được khoảng cách thiết yếu tạo ra vực thẳm.


68. Jean Frémon sinh năm 1946. Ông có thể là một cổ mẫu của cả một loại nhà


văn Pháp xa lánh những giả tạo của lối viết quá cố tình mang tính thơ lẫn sự


tầm thường hay đi với văn xuôi kể lể. Gắn bó sâu với những dòng khác nhau


của hội họa đương đại, ông đã xác lập được thứ văn xuôi trầm tư thậm chí sầu


bi của mình, với một giọng điệu thật sự đương đại, lưu truyền một nỗi âu lo mà


ta có thể dám khẳng định là rất gần gụi những chuyện thần bí cổ xưa.


69. Philippe Denis sinh năm 1947. Là thi sĩ kín đáo hiếm có, thậm chí tuyệt đối


xa lạ với đời sống văn chương Paris, mặc dù từ nhiều năm sống ở Thổ Nhĩ Kỳ,


ông cũng không vì thế mà để mình bị mắc vào bả chuộng lạ. Trái lại, kinh


nghiệm thể xác và tinh thần của nỗi đơn độc, sự khổ hạnh thực sự mà những bài


thơ trong các tập liên tiếp của ông chứng tỏ với sự kiệm lời rất chắc chắn, đến


hôm nay đã đạt tới độ cao nhất của sự thiếu thốn, của cái nghèo chua chát.


70. Franck-André Jamme sinh năm 1947. Không ồn ào - đáp ứng hoàn hảo bản


chất của chúng - nhưng gợi một lắng nghe chọn lọc, những cuốn sách xuất bản


từ mười hai năm nay của ông đã dần dà bộc lộ một thế giới mà những nguồn lực


mê hoặc làm người ta ngạc nhiên không phải vì chúng liên quan trực diện với


nhu cầu dữ dội phải viết, mà bởi sự phiêu lưu của cách đi vòng, qua những con


đường bí mật của phù chú, những bài thơ hay văn xuôi mà tác giả như thể lánh


mặt, nhắc chúng ta rằng đêm cũng có thể phát sáng.


71. Jean -Pierre Lemaire sinh năm 1948. Được đón tiếp trong sự thầm kín của


nó, đặc biệt gắn bó với những giá trị thiết yếu của Ki tô giáo, thơ ông vài năm


nay tự khẳng định như một trong những tác phẩm tiêu biểu nhất của một trào


lưu đang được cảm nhận trở lại mà hồn của nó là một sự giản dị giàu sức sinh


sản. Nơi nhà thơ mà người ta thường coi là gần gụi với Jean Follain, nghệ thuật


thơ và vận động trí tuệ dường như thống nhất một cách tự nhiên nhất đời, chỉ


tiếp cận sự bí mật một cách nhún nhường nhất, và bao giờ cũng cách sự im lặng


hai ngón tay.


72. Anne Portugal sinh năm 1949. Tấn công vào một thứ trữ tình làm sẵn như


thể bị bẫy dính chặt vào ngôn ngữ, tấn công những qui ước và sự kiện lớn nhỏ,


bà muốn đặt lại vấn đề cái ngưòi ta gọi là "thơ" và cái mà chính chúng ta hình


dung là thơ. Bà cố gắng làm bật ra từ mỗi ký hiệu một sự trộn lẫn giữa trong


trẻo và hỗn mang. Ngôn ngữ trở thành một tiếng cười quất vào người ta trong


đó những tiết tấu, từ, những im lặng bao giờ cũng như thể, giống như khi trượt,


tạo ra một sự ngây ngất đầy nước mắt đồng thời tạo ra cử chỉ che giấu nước


mắt.


73. Jean - Louis Giovannoni sinh năm 1950. Không chỉ đơn giản là một đặc


trưng, tính hướng nội là điều xác định theo sát nghĩa cách thức của nhà thơ này.


Bút pháp gay gắt đi sát với tư tưởng, không chút cường điệu hay trang trí. ở ông


có sức trơ lì công hiệu qua đó thể hiện, với một nỗi đau khô khốc không bao giờ


tự chiêm ngắm, nhu cầu đồng thời lại là sự từ chối phá vỡ tình trạng cô đơn làm


nên tất cả sức nặng của việc hiện hữu trên đời.


74. Francois de Cornière sinh năm 1950. Từ những năm 1980 ông là linh hồn


của những buổi đọc thơ ở Nhà hát Thành phố Caen nơi ông ra đời. F. de


Cornière chắc chắn là nhà thơ "hiện thực" tinh tế nhất xuất hiện trong hai thập


kỷ 1970 - 1980. Dù thế nào đi nữa, rất hiện thực là sự kiên trì chăm chú, sự


hăng hái kín đáo mà nhờ đó ông đạt được việc kết tinh thời gian, mà ông chạm


tới được, giữa những mắt lưới của cái thường ngày, sự hiển nhiên sâu kín của


mọi vật, trái tim nóng bỏng và lo âu của đời sống.


75. Geneviève Huttin sinh năm 1951. Xem hai quyển sách xuất bản của Huttin,


người ta chỉ có thể ngạc nhiên vì sự tự do của bà trong việc khai thác cú pháp ở


mọi thời đại mà không hề chút nào xa rời một quan điểm gắn hết mức với sự


thích hợp thời đại. Giọng của bà, sử dụng vừa những sự trượt về căn tính vừa


những sự vắt qua các giới hạn hình thức của thơ, đạt được độ chất chứa xúc cảm


thô tháp trong ngay bối cảnh của một tình yêu, tâm tình thực của nó nằm cô đặc


giữa các chữ, trong không gian luôn được đổi mới của sự chia cách.


76. Alain Sued sinh năm 1951. Trong một ngôn ngữ trần trụi gần với những bí


ký, mỗi cuốn sách của ông tra hỏi người sống trong sự có mặt thường trực và


những biến thái của anh ta. Nếu tác phẩm của ông - người cũng là dịch giả của


vài nhà thơ lớn tiếng Anh - thể hiện sự khăng khăng phát triển siêu hình thực


sự, nó cũng không thiếu hơi thở, như chứng tỏ trong những bài thơ dài liên tiếp


triển khai câu hỏi về nguồn gốc và tương lai con người.


77. Jean - Pierre Maulpoix sinh năm 1952. Khi tập thơ đầu tay của ông được


Maurice Nadeau xuất bản năm 1978, Maulpoix lập tức được coi như một trong


những nhà thơ triển vọng nhất của thế hệ mình. Ông cũng đồng thời là một cây


bút viết tiểu luận tinh tế. Nhiều người nêu ra những tín hiệu dự báo một "sự


cách tân khuynh hướng trữ tình", vượt qua một thói quen độc đáo của sự u


buồn, trong lối văn xuôi tỷ mỉ mà ông chuộng nhưng không vì thế mà ông tự


ngăn mình có vài bài thơ vần.


78. Jean-pierre Chambon sinh năm 1953, mới xuất hiện gần đây trên hàng đầu


thơ Pháp. Ông đã tham gia một phong trào hình thành chủ yếu xung quanh tạp


chí NRF làm thành một kiểu trường phái trữ tình mới. Ưu tư quay lại với những


tiết tấu gần đây bị đập vỡ bởi các thử nghiệm hình thức chủ nghĩa và sự khích


động của phong trào Tel Quel, ông trông cậy vào hình ảnh thơ truyền thống. Rất


hướng nội, thơ ông nói về một mối liên hệ vừa thanh tịnh vừa căng thẳng với


triền dốc bị che khuất của thế giới cảm nhận được.


79. Olivier Cadiot sinh năm 1956. Với chất hài hước nặng màu diễu cợt, ông


tìm cách ngăn chặn mọi loại phát triển có tính trữ tình, nhằm giữ những thành tố


cơ bản nhất của cú pháp trong thân phận khởi thủy của chúng, văn xuôi một


cách triệt để, và nhằm phơi bày sự nhập nhằng bằng cách sử dụng những


phương cách đóng vai trò những chỗ mở đa bội, những sự lặp lại, những đảo


ngữ, mà vẫn tự giấu mình đàng sau sự kiến tạo ngôn ngữ. Như thế là ra đời một


sự tương thích chưa từng thấy giữa nhịp nhàng của văn bản và nhịp nhàng của


tư duy, cái sau muốn được vô danh, như thể tuân phục cái trước.


LỜI CUỐI SÁCH


TÔI MUỐN CHƠI THƠ PHÁP "SỐNG"...


Với tôi dịch thơ cũng là sáng tác. Có những câu thơ của bạn đi vào mình thật


nhẹ và lúc đi ra thì thành thơ của mình rồi, êm như không. Sướng gì bằng! Hay


cũng có thể đó là những giây phút bắt gặp chính mình trong một văn tự khác?


"Gió sập chân trời về phía chúng ta" là thơ Hoàng Hưng hay thơ Henri Deluy?


Có lẽ nói cho đúng là thơ Deluy theo giọng Hoàng Hưng. Ngược lại, có những


bài thơ hấp dẫn tôi vì sự khác lạ. Dịch, khi ấy là cuộc khám phá đầy kích thích.


Còn khi phải đánh vật hàng chục thậm chí hàng trăm lần với một chữ, một câu,


cũng có cái sướng của sự đương đầu.


Với thơ Pháp tôi duyên nợ ngay từ thuở ngồi trong lớp nhất trường Hàng Than.


Giờ Pháp văn nào cũng lén dịch nhũng bài thơ nho nhỏ trong quyển Livre


Unique, có cả thơ Hugo. Bẵng đến hồi 30 tuổi mới nối duyên bằng Apollinaire,


Eluard, Prévert... Nhưng cũng toàn là chơi với các hương hồn. Phải đợi gần đây,


nhờ sự giao lưu cởi mở của ta với bên ngoài, tôi mới có cơ hội chơi với thơ


Pháp "sống".


Thơ Pháp hiện nay có bao nhiêu trường phái? Không có trường phái nào và có


một trăm trường phái. Sau những cuộc cách mạng, sau những thứ chủ nghĩa,


mấy chục năm nay thơ Pháp là sự chung sống của mọi quan niệm thơ có thể có


trên đời, của mọi kiểu cách tân có thể nghĩ ra được. Có lẽ đó là điều khó nhất


khi phải chọn số tác giả cho một tuyển tập thơ Pháp hôm nay. Mặc dù chỉ cố ý


tập trung giới thiệu những nhà thơ xuất hiện từ cuối những năm 60, nghĩa là


đồng thời với thế hệ mình, tôi cũng không thể dừng dưới con số 79.


Báo chí Pháp không in thơ, truyền hình Pháp không đọc thơ, người Pháp bình


thường không biết tên các nhà thơ đương thời (họ chỉ biết từ Prévert – nhà thơ


của những năm 40-50 - về trước). Tuy nhiên, nhà thơ Henri Deluy cho tôi biết:


hiện nay có 50.000 người Pháp thường xuyên làm thơ, và mỗi ngày có 10 tập


thơ ra đời, tất nhiên đại bộ phận là tự bỏ tiền túi ra in. Vậy có nghĩa là thơ trở


thành một hoạt động giải trí có tính cá nhân thuần túy, ai làm nấy đọc, chẳng


cần biết đến thơ người khác? Thế nhưng, mặt khác, hoạt động thơ chuyên


nghiệp lại được duy trì ở mức độ rất cao. Vài chục tạp chí chuyên về thơ, bàn


chuyện triết học mỹ học, bếp núc nghề thơ, trong đó có những tạp chí như


"Action Poétique" (Hành động Thơ) đã có năm mươi năm lịch sử. Có cả một tờ


"báo thơ" thông tin thời sự thơ hàng tháng (tờ "Aujourd'hui Poème", tức "Hôm


nay Thơ", khuôn khổ như tờ báo Văn Nghệ của ta). Những tạp chí "kiêu" như


thế, cũng như những tập thơ của các nhà thơ đã định danh, bất kể làm thơ kiểu


gì, đều được tài trợ in ấn của Bộ Văn hoá Pháp thông qua Trung tâm Sách Quốc


gia. Một ấn tượng khá mạnh đối với tôi là sự hăng say bền bỉ của các nhà thơ


chuyên nghiệp Pháp đối với thơ mặc cho xã hội ngoảnh mặt. Có trên dưới 100


nhà thơ trên 60 tuổi đang hoạt động trong nền thơ Pháp, và có thể nói họ vẫn là


lực lượng chủ lực. Mấy nhà thơ mà tôi có quan hệ nhiều trong công việc đều ở


lứa tuổi này. Người nào cũng còn nhanh nhẹn, năng nổ. Ai cũng có hàng chục


tập thơ, hàng chục đầu sách khác: dịch, tiểu luận, làm tuyển tập. Ai cũng "xê


dịch" thường xuyên trong và ngoài nước. Và ai cũng có những công việc hàng


ngày liên quan đến thơ, văn. Ông Deguy là Hiệu trưởng trường Triết, giám đốc


tạp chí thơ "Po&sie", ngoài 70 tuổi, chuyên di chuyển bằng xe đạp, vẫn tính


toán từng giờ phút làm việc. Còn ông Deluy là người sáng lập tạp chí "Action


Poétique" cùng nhóm thơ trẻ khuynh tả ở Marseille 50 năm trước, rồi tiến về thủ


đô, là người tham dự và thúc đẩy hầu hết những nỗ lực cách tân hiện đại của thơ


Pháp nửa thế kỷ qua. Tôi có dịp chứng kiến cuộc tranh luận sôi nổi giữa người


Cộng Sản 70 tuổi này với một trí thức Việt kiều về lý tưởng sống trong thời đại


hiện nay, sôi nổi không kém khi ông nói về cuộc đấu tranh chống lại "cái cũ"


trong thơ, từ lối tình cảm tràn trề tàn dư của chủ nghĩa lãng mạn cho đến sự lạm


dụng hình ảnh phi lý ảnh hưởng của chủ nghĩa siêu thực. Và cũng như sự say


mê của ông khi bàn về ẩm thực. Ông đi rất nhiều nước, giới thiệu thơ của nhiều


dân tộc, cũng như món ăn của họ (mỗi số tạp chí của ông đều có bài ông viết về


cách chế biến một món ăn lạ; có điều không hiểu tại sao riêng thơ VN và món


ăn VN thì ông chưa biết, mặc dù thời trẻ ông và các đồng chí của mình đã tham


gia đấu tranh rất hăng chống chiến tranh thực dân, ủng hộ VN!) Hơn mười năm


nay, Henri Deluy còn vận động được chính quyền do phái tả lãnh đạo ở tỉnh


Val-de-Marne (ngoại vi Paris) bảo trợ một Liên hoan Thơ Quốc tế hai năm một


lần.


Tờ báo "Aujourd'hui Poème" số gần đây công bố một dự án phát động trong


năm 2002 cuộc cách mạng về nhận thức vai trò xã hội của thơ trong thế kỷ 21,


"với tinh thần của sự kiện đã sinh ra cuộc Cách mạng 1789" (!). Họ tuyên bố:


"Vai trò chất men tượng trưng của thơ cuối cùng phải có chỗ trong lòng cơ cấu


xã hội. Cái giá trị lừng danh của tự do, cái đã làm nên nền dân chủ, có thể đạt


được tầm văn hóa đích thực của nó với thế kỷ 21... Thuộc về các nhà thơ sứ


mệnh gióng lên tiếng nói của Lý tưởng và Hy vọng."


Thực hiện hoài vọng của mình, các nhà thơ Pháp trông cậy nhiều vào nhà


trường. Trong khi chương trình giáo khoa văn học của Pháp không có chỗ cho


thơ đương đại, các nhà thơ phải tự tìm mọi cơ hội "xông" vào trường học.


"Maison des Ecrivains" (Nhà của các Nhà văn), một hội đoàn có uy tín nhất của


các nhà văn Pháp, hàng năm tổ chức hàng trăm buổi giao lưu trong các trường.


Liên hoan Thơ Quốc tế Val-de-Marne lần thứ sáu vừa qua (năm 2001) có sáng


kiến gặp gỡ 500 học sinh trung học, trong đó các em nghe các nhà thơ và đọc


những bài thơ do chính các em sáng tác, dịch.


Chẳng cứ ở Pháp, bây giờ ở đâu người ta cũng bảo thơ chết rồi hoặc sắp chết.


Thì đây là tuyên ngôn của Julien Blaine, một nhà thơ lớn tuổi nhưng nổi tiếng


"quậy", chuyên làm trò "performance" (trình diễn) thơ:


Thơ vĩnh viễn


chết...


và mỗi kẻ đến lại thu hồi


cái xác,


lắc,


vuốt ve hay bạt tai,


ôm chặt và xuyên vào ả


Vậy là kẻ đến


làm thơ sống lại


Hoàng Hưng


Danh sách tác giả xếp theo chữ cái


Liste alphabétique des auteurs


ADELEN Claude (số 58) ALBIACH Anne -Marie (số 31)


ARSEGUEL Gérard (số 37) BALPE Jean-Pierre (số 52)


BANCQUART Marie-Claire (số 16) BENEZET Mathieu (số 66)


BIGA Daniel (số 41) BLAINE Julien (số 54)


BORY Jean-François (số 35) CADIOT Olivier (số 79)


CHAMBON Jean-Pierre (số 78) CHAMPROUX Huguette (số 12)


CLUNY Claude-Michel (số 8 ) COLOMBI Jean-Pierre (số 49)


COLLOBERT Danielle (số 42) CORNIèRE Francoid de (số 74)


DAIVE Jean (số 45) DARRAS Jacques (số 39)


DAVREU Robert (số 59) DEGUY Michel (số 5)


DELUY Henri (số 11) DELVAILLE Bernard (số 9)


DENIS Philippe (số 69) DHAINAUT Pierre (số 27)


DROGUET Henri (số 60) ESTEBAN Claude (số 24)


èTIENNE Marie (số 34) FOURCADE Dominique (số 36)


FRéMON Jean (số 66) GARELLI Jacques (số 10)


GIOVANNONI Jean-Louis (số 73) GIRAUDON Lilane (số 67)


GRANGAUD Michelle (số 47) GRANDMONT Dominique (số 48)


GUGLIelMI Joseph Julien (số 3 ) GUIBBERT Jean-Paul (số 50)


GUYON Marc (số 65) HEIDSIECK Bernard (số 1)


HOCQUART Emmanuel (số 43) HUTTIN Genevieve (số 75)


JAMME Franck-André (số 70) JANVIER Ludovic (số 23)


JoUANARD Gil (30) KADDOUR Hédi (số 64)


KEINEG Paol (số 61) LANCE Alain (số 38)


LAPEYRèRE Josée (số 19) LEMAIRE Jean-Pierre (số 71)


MARTIN Yves (số 28) MAULPOIX Jean-Michel (số 77)


MESCHONNIC Henri (số 14) NOậL Bernard (số 7)


OSTER-SOUSSOUEV Pierre (số17) PARANT Jean-Luc (số 62)


PéROL Jean (số 15) PLEYNET Marcelin (số 18)


PORTUGAL Anne (số 72) RAY Lionel (số 26)


RéDA Jacques (số 4) REGNAUT Maurice (số 2)


RISTAT Jean (số 55) RISSET Jacqueline (số 25)


ROCHE Denis (số 32) ROSSI Paul-Louis (21)


ROUBAUD Jacques (số 13) ROUX Paul de (số 33)


ROYER-JOURNOUD Claude (số 46) SACRé James (số 40)


SARRé Jean-Luc (số 57) SAUTREAU Serge (số 56)


STéFAN Jude (số 6) STEINMETZ Jean-Luc (số 44)


SUIED Alain (số 76) VARGAFTIG Bernard (số 22)


VEINSTEIN Alain (số 51) VELTER André (số 63)


VENAILLE Franck (số 29) VERHEGGEN Jean-Pierre (số 53)


VITON Jean-Jacques (số 20)


CÙNG MỘT NGƯỜI DỊCH


- 100 bài thơ tình thế giới (chủ biên) - Vũng Tàu - Côn Đào, 1987


- Thơ Fédérico Garcia Lorca - Lâm Đồng, 1988


- Thơ Boris Pasternak (cùng Nguyễn Đức Dương) - Nxb TPHCM, 1988


- Thơ Apollinaire - Nxb Hội Nhà Văn, 1997 (Tặng thưởng của Nxb Hội Nhà


Văn 1997, Tặng thưởng của Hội Nhà Văn 1998)


- 15 nhà thơ Mỹ TK XX (chủ biên), 2004


- Thơ André Velter, 2008


- Thơ Allen Ginsberg (chủ biên) 2012


- Aniara (trường ca của Harry Martinson) 2012


- Bài hát chính tôi (Walt Whitman) 2015


- Bảy nhà thơ Thụy Điển TK XX, 2017


- Một số tiểu thuyết của Rudyard Kipling, Françoise Sagan, Georges Péréc


- Nhiều thơ và truyện ngắn in trên các báo và tạp chí


Nguồn: Thơ Pháp cuối thế kỷ XX. Hoàng Hưng chọn và chuyển ngữ. NXB Hội Nhà văn, 2002. Cám ơn Dịch giả gửi www.trieuxuan.info


bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Đêm viết Kiều - Trần Mạnh Hảo 20.10.2018
Hến Nghĩa Hưng - Trần Mạnh Hảo 20.10.2018
Hỡi mưa phùn quê mẹ bạc đầu con - Trần Mạnh Hảo 20.10.2018
Với đứa con ngoài giá thú - Vương Trọng 19.10.2018
Một mình - Trần Sỹ Tuấn 19.10.2018
Chùm thơ "tuổi lính" - Nguyễn Thành Nhân 18.10.2018
Đến tận cùng ngôn ngữ của trái tim - Nguyễn Ngọc Thu 18.10.2018
Tôi là ai? - Như Mai 17.10.2018
Em và rượu - Bích Liên 16.10.2018
Bốn bài Tưởng nhớ Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Nguyễn Hưng Hải 13.10.2018
xem thêm »