tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 24002368
27.12.2017
Tư liệu sưu tầm
Khi Stalin đối mặt Hitler: Ai hơn ai? (kỳ cuối)



Thời điểm là đêm nay


Stalin nhận thức cao độ về những thực tế này, nhưng sau đó tính khí bất thường của ông đã lấn áp tất cả. “Stalin cảm thấy bồn chồn và tức giận bởi những báo cáo không ngớt (bằng miệng và văn bản) về sự xuống cấp trầm trọng trong mối quan hệ với Đức,” sĩ quan hải quân Nikolai Kuznetsov của Liên Xô hồi tưởng về giai đoạn này. “Ông ấy cảm thấy mối nguy hiểm đang cận kề,” Nikita Khrushchev nhớ lại. Thời điểm đó Khrushchev đang là bí thư thứ nhất của Đảng cộng sản ở Ukraine và đã ở Moskva trong suốt tháng 6 định mệnh đó. “Đất nước chúng ta có thể xử lý chuyện này không? Quân đội của chúng ta có thể chiến thắng không?”


Ngày 21 tháng 6 năm đó là ngày Hạ Chí, một ngày dài nhất trong năm – và dường như nó kéo dài vô tận. Vào lúc 5 giờ chiều, Stalin ra lệnh cho tất cả các bí thư Đảng ở các quận của Moskva phải ở nguyên vị trí của họ. Vào lúc 6:27 chiều, Molotov bước vào “Góc Nhỏ” – là người đến đầu tiên, như thường lệ. Lúc 7:05 chiều, lần lượt Beria, Kuznetsov, Geogry Malenko (một ủy viên cấp cao của Đảng cộng sản, đứng đầu ban tổ chức cán bộ), Grigory Safonov (một phó tổng kiểm sát trưởng trẻ đảm trách tòa án binh), Semyon Timoshenko (một viên chỉ huy quân đội cấp cao), Kliment Voroshilov (phó chủ tịch hội đồng bộ trưởng), và Nikolai Voznesensky (trưởng ban kế hoạch nhà nước) bước vào văn phòng của Stalin. Cuộc thảo luận chủ yếu xoay quanh những tiến triển hướng tới chiến tranh gần đây và sự lo sợ của Stalin về các hành động khiêu khích vốn có thể kích động chiến tranh.


Tình báo quân đội của Stalin ước tính rằng chỉ khoảng 120 đến 122 trong số 285 sư đoàn của Đức được điều đi đánh Liên Xô, so với khoảng 122 đến 126 sư đoàn dùng để đánh nước Anh (37 đến 43 sư đoàn còn lại được cho là quân dự bị). Thực tế là có khoảng 200 sư đoàn được dàn ra để chống lại Liên Xô – với tổng quân số ít nhất là 3 triệu lính Đức (Wehrmacht) và 500 ngàn quân từ các đồng minh phe Trục, cùng 3.600 cỗ xe tăng, 2.700 máy bay, 700.000 súng trường và các loại pháo khác, 600.000 phương tiện mô-tô, và 650.000 chiến mã. Lực lượng Hồng quân tập hợp được khoảng 170 sư đoàn (khoảng 2,7 triệu người) ở phía Tây, cùng với 10.400 xe tăng và 9.500 chiến đấu cơ. Hai đội quân lớn nhất trong lịch sử nhân loại đã đối đầu nhau trên một trục biên giới dài hơn 2.000 dặm.


Một điều đáng chú ý là lực lượng của Đức đã chiếm được những vị trí thuận lợi, còn Hồng quân của Liên Xô thì không. Chắc chắn là  Stalin đã cho phép việc tái bố trí lực lượng bí mật từ bên trong nội địa tới vùng biên giới phía Tây. Nhưng ông không cho chiếm các vị trí thuận lợi cho tác chiến vì sợ rằng việc này sẽ có lợi cho những kẻ diều hâu hiếu chiến của Đức vốn đang tìm cách khiến Hitler động thủ. Phi cơ của Liên Xô không được phép bay vào quá 6 dặm tính từ đường biên giới. Timoshenko và Georgy Zhukov, một chỉ huy quân đội cấp cao khác, phải đảm bảo rằng các sĩ quan ngoài chiến trường không được có những hành động gây hấn với đối phương. Beria giao nhiệm vụ cho một tay sát nhân hàng đầu việc tổ chức “một lực lượng chiến đấu dày dạn trận mạc để giải quyết bất kì sự cố biên giới nào có thể được sử dụng như cái cớ nhằm phát động chiến tranh.” Các chỉ huy Liên Xô có thể bị xử tử bởi chính phe của họ nếu lực lượng của họ bắn trả lại hỏa lực của Đức.


Tình báo Liên Xô báo cáo rằng không chỉ Đức mà cả các đồng minh phía đông của họ như Phần Lan, Hungary, Romania, và Slovakia đều đã sẵn sàng cho cuộc tổng tấn công. Nhưng Stalin vì trước đó đã không tin vào chuyện này nên giờ đây đã hoàn toàn bị tê liệt trên thực tế. Ông sợ rằng bất cứ hành động nào của mình đều bị Hitler lợi dụng như một cái cớ nhằm phát động chiến tranh.


Vào lúc 7 giờ tối, Gerhard Kegel, một gián điệp của Liên Xô tại Đại sứ quán Đức ở Moskva đã liều mạng lén ra ngoài để báo cho một quan chức Liên Xô rằng các nhân viên Đức sống bên ngoài tòa đại sứ quán đã được lệnh phải vào trong đại sứ quán ngay lập tức và “tất cả đều nghĩ rằng đêm nay cuộc chiến sẽ xảy ra.” Lúc 8:00 tối, một người đưa thư đến để đưa cho Stalin, Molotov và Timoshenko mẫu thông tin tình báo này trong một phong bì được niêm phong cẩn thận. Tại “Góc Nhỏ”, Kuznetsov, Safonov, Timoshenko, Voroshilov, và Voznesensky được cho về lúc 8:15, Malenkov cũng rời đi sau đó 5 phút. Không có điều gì quan trọng được quyết định.


Zhukov gọi điện vào văn phòng thông báo rằng một tên lính Đức nữa đã đào thoát qua biên giới và cảnh báo là cuộc xâm lược sẽ diễn ra trong vài tiếng nữa. Đây chính xác là loại “khiêu khích” mà Stalin sợ nhất. Ông đã triệu Zhukov vào điện Kremlin, cùng với Timoshenko vừa mới rời đi trước đó. Họ bước vào phòng của Stalin lúc 8:50. Trong khi Molotov và Beria lặp lại những lời phủ nhận của Stalin là Hitler không thể đang chuẩn bị tấn công, thì hai viên chỉ huy xuất thân từ gia đình nông dân này có thể thấy rằng Đức chuẩn bị xâm lược. Dù vậy, khi Stalin nhất định không tin, họ nghĩ là có lẽ ông ấy biết được những thông tin tối mật nào đấy. Trong bất kì trường hợp nào, họ hiểu cái giá phải  trả của việc làm mất lòng tin của Stalin. “Mọi người đều nhớ rõ các sự kiện xảy ra trong những năm gần đây,” Zhukov sau đó nhớ lại. “Nói thẳng ra là nếu nói to và rõ ràng rằng Stalin đã sai, rằng ông ấy đã nhầm, thì điều có nghĩa là không cần rời khỏi tòa nhà đó, bạn sẽ được mời đi uống cà phê với Beria”(tức sẽ bị xử tử – NBT).


Tuy nhiên, cả hai người này rõ ràng đã dùng những lời cảnh báo của kẻ đào ngủ để thúc dục một lệnh tổng động viên – điều sẽ tương đương với chiến tranh theo cách nghĩ của Stalin. “Không phải là các tướng tá của Đức đã phái những kẻ đào ngũ đó vượt biên để xúi giục một cuộc xung đột hay sao? Stalin hỏi. “Không phải”, Timoshenko trả lời. “Chúng tôi nghĩ những tên đào ngũ đó đang nói thật.” Stalin: “Giờ chúng ta phải làm gì?” Timoshenko im lặng một lúc. Cuối cùng, ông đề xuất, “Đặt báo động cao cho lực lượng ở biên giới phía tây.” Ông và Zhukov đến với tâm thế sẵn sàng chuẩn bị một bản thảo chỉ thị.


Stalin đã từng thử liên lạc với Hitler dù vẫn trông đợi những đòi hỏi kiểu tống tiền mà Hitler sẽ gửi đến ông. “Molotov đã xin phép được bay đến Berlin, nhưng đã bị từ chối.” Joseph Goebbels, bộ trưởng tuyên truyền của Đức Quốc xã đã viết trong cuốn nhật ký của mình vào ngày 18 tháng 6. “Một lời đề nghị ngây thơ.”


Stalin, thay vì tiếp tục chờ đợi một tối hậu thư từ Hitler, đã có thể chủ động ngăn ngừa trước. Đây chính là lựa chọn cuối cùng của ông, và đó là một lựa chọn khá cao tay. Hitler sợ rằng nhà lãnh đạo xảo quyệt của Liên Xô sẽ bằng cách nào đó giành thế chủ động bằng cách đơn phương và công khai đề xuất những nhượng bộ quy mô lớn cho Đức. Stalin có vẻ đã thảo luận về những nhượng bộ này với Molotov, nhưng nếu điều đó xảy ra thì cũng không có tài liệu nào nói về việc này. Rõ ràng là Stalin đã mong đợi Đức sẽ đòi hỏi những mỏ dầu ở Caucasia, vùng Ukraine, và việc cho quân Đức mượn đường đi qua lãnh thổ Liên Xô mà không bị cản trở nhằm chiến đấu với người Anh ở vùng Cận Đông và Ấn Độ. Stalin đã có thể công khai khẳng định thiện chí của mình trong việc tham gia vào lực lượng chống Anh, cố gắng trả thù lại cường quốc mà ông căm thù nhất, và quan trọng hơn, phủ nhận lý lẽ của Hitler rằng người Anh đang cố gắng giữ chân nước Đức nhằm trông đợi cuối cùng Liên Xô sẽ hỗ trợ Anh. Thay vào đó, hoặc song song với điều này, Stalin đã có thể bắt đầu rút hoàn toàn các lực lượng của Liên Xô khỏi vùng biên giới về sâu trong lãnh thổ. Điều này sẽ phản bác lại luận điệu chiến tranh mà các lãnh đạo của Đức Quốc xã tuyên truyền cho công chúng nước này: cần tiến hành một “cuộc tấn công ngăn chặn” chống lại “việc tăng cường vũ trang của Liên Xô.”


Thay vì thực hiện một phản ứng ranh mãnh, Stalin vẫn giữ vững niềm tin rằng Đức không thể tấn công Liên Xô khi chưa đánh bại được nước Anh, mặc dù người Anh không có lực lượng đóng trên lục địa châu Âu, không định bảo vệ lãnh thổ nào ở đây cũng như không trong trạng thái chuẩn bị đổ bộ vào nơi này. Ông giả định rằng trong trường hợp Hitler cuối cùng đưa ra đòi hỏi của mình, Stalin sẽ có thể câu giờ thông qua đàm phán: có thể sẽ nhân nhượng nếu những đòi hỏi là có thể nhượng bộ được, và do đó có thể ngăn chặn được chiến tranh xảy ra, hoặc nhiều khả năng hơn là sẽ kéo dài các cuộc đối thoại ra sau ngày mà Hitler dự định sẽ phát động cuộc xâm lược. Như vậy Stalin sẽ có thêm một năm quan trọng nữa, trong khoảng thời gian này công nghệ quân sự của Hồng quân sẽ được cải tiến hiện đại hơn nữa. Nếu điều này không xảy ra, Stalin toan tính xa hơn nữa đó là thậm chí nếu xung đột xảy ra, người Đức sẽ cần thêm ít nhất 2 tuần nữa để huy động toàn bộ lực lượng xâm lược tinh nhuệ nhất của họ, điều này giúp ông có thêm thời gian để huy động lực lượng. Khi những gián điệp của ông ở Berlin và những nơi khác báo cáo rằng quân đội Đức đã “hoàn tất mọi công tác chuẩn bị chiến tranh,” ông vẫn chưa hiểu rằng điều này có nghĩa là người Đức sẽ mang toàn bộ lực lượng tinh nhuệ của mình vào cuộc chiến ngay từ ngày đầu tiên.


Chiến dịch Barbarossa bắt đầu


Trong văn phòng của Stalin, trong khi cuộc thảo luận giữa Stalin với Timoshenko và Zhukov đang khá nóng bỏng, Molotov đã bước ra khỏi phòng. Stalin đã nhờ ông triệu tập đại sứ Đức là Friedrich Werner von der Schulenburg đến tòa nhà Thượng viện Đế chế để gặp mặt vào lúc 9:30 tối. Friedrich đến rất sớm sau khi trực tiếp giám sát việc đốt hết các tài liệu mật ở đại sứ quán. Nhà ngoại giao này rất thất vọng về việc hiệp ước Hitler-Stalin, hiệp ước mà ông là một cầu nối quan trọng giúp hình thành, đã trở thành một công cụ không phải cho việc đàm phán về vấn đề chia cắt Ba Lan để tránh chiến tranh mà lại là khởi đầu của một cuộc chiến tranh thế giới nữa. Giờ đây ông lo sợ về cuộc chiến Xô-Đức đang được đồn thổi rất nhiều khả năng sẽ xảy ra, và mới đây ông đã đích thân bay về Berlin để gặp Hitler và cố gắng thuyết phục Hitler về những biểu hiện hòa hiếu của Stalin nhưng bất thành. Trong cơn tuyệt vọng, Schulenburg đã gửi vị tham tán của ông về Berlin để thử thêm một lần nữa, nhưng mọi chuyện vẫn không khá hơn.


Molotov yêu cầu được biết tại sao Đức lại tiến hành sơ tán các nhân viên của mình, qua đó thổi bùng lên những đồn đoán về việc chiến tranh sẽ xảy ra. Ông trao tận tay Schulenburg một lá thư phản đối nêu chi tiết những vi phạm có hệ thống của Đức vào không phận Liên Xô và đã thẳng thắng nói rằng “chính phủ Liên Xô không thể hiểu được nguyên nhân bất mãn của Đức trong quan hệ với Liên Xô, nếu như một sự bất mãn như thế tồn tại.” Ông cũng phàn nàn rằng “không có bất kì lý do gì khiến cho chính phủ Đức phải bất mãn với Nga cả.” Schulenburg đáp lại “tôi đang cố gắng làm rõ những vấn đề này,” nhưng ông đã nhún vai và nói rằng “không thể trả lời những thắc mắc này, bởi vì Berlin đã thông tin rất ít cho tôi về việc này.”


Trong cuộc viếng thăm cấp nhà nước đến Đức vào tháng 11 năm 1940, Molotov đã cùng sánh vai với Hitler trong văn phòng thủ tướng mới xây vô cùng đồ sộ, và họ cùng tranh luận về mâu thuân giữa các vùng ảnh hưởng của hai bên ở Đông Âu. “Tôi chưa từng chứng kiến có vị khách ngoại quốc nào từng nói chuyện với Hitler kiểu như vậy,” người thông dịch cho Hitler sau này viết lại. Nhưng bây giờ Molotov chỉ có thể thể hiện, rất nhiều lần, sự tiếc nuối rằng Schulenburg đã “không thể trả lời những câu hỏi được nêu ra.”


Molotov vào lại văn phòng của Stalin. Bất thình lình, khoảng 10 giờ tối, trong cái nóng đầy ngột ngạt ấy, những cơn gió đột nhiên thổi mạnh vào phòng làm tung những chiếc rèm trên các ô cửa sổ đang mở. Sau đó là những tiếng sấm chớp liên tục và Moskva bắt đầu hứng những cơn mưa xối xả.


Cuối cùng, Stalin cũng xuống nước trước những tướng lĩnh của mình và chấp thuận bản thảo chỉ thị của họ. Timoshenko và Zhukov chạy vội ra khỏi văn phòng của Stalin lúc 10:20 tối, cuối cùng một chỉ thị về việc tổng động viên cho chiến tranh đã được ban hành, đó là Chỉ thị số 1. “Một cuộc tấn công bất ngờ của quân Đức có thể sẽ xảy ra vào ngày 22-23 tháng 6 năm 1941,” chỉ thị khẳng định. “Nhiệm vụ của quân đội chúng ta là hạn chế bất kì những hành động khiêu khích nào có thể làm phức tạp thêm tình hình.” Bản Chỉ thị yêu cầu rằng “trong suốt đêm 22 tháng 6 năm 1941, binh sĩ cần chiếm cứ tất cả các vị trí thuận lợi tại những khu vực trọng yếu trong vùng biên giới một cách bí mật,” và “trước rạng sáng ngày 22/06/1941, tất cả các chiến đấu cơ trong các nhà chứa máy bay đều phải được sơ tán và ngụy trang khéo léo,” và “tất cả các đơn vị phải ở trong trạng thái chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu,” “không được thực hiện bất kì hành động nào khác khi chưa có những chỉ dẫn cụ thể.” Bản chỉ thị có kèm theo chữ ký của Timoshenko và Zhukov. Hai vị sĩ quan đã cố gắng xóa bỏ thành công phần thêm vào của Stalin rằng nếu quân Đức tấn công, các chỉ huy của Liên Xô phải cố gắng gặp họ để giải quyết xung đột. Tuy nhiên, bản chỉ thị nêu rõ là các lực lượng quân đội phải sẵn sàng cho cuộc chiến đồng thời làm mọi thứ có thể để tránh chiến tranh xảy ra.


Các sĩ quan ở gần biên giới đang chuẩn bị cho những buổi biểu diễn, như họ vẫn hay làm vào các tối thứ Bảy. Ở thành phố Minsk, cách vùng biên giới 150 dặm về phía đông, những viên sĩ quan đang xem vở “Đám cưới ở Malinovka”, một vở hài kịch về một ngôi làng ở vùng thảo nguyên Ukraine trong thời kì nội chiến. Nơi biểu diễn chật kín người. Những người đến xem bao gồm vị tư lệnh của Quân khu phía Tây, Dmitry Pavlov; cùng tổng tham mưu trưởng quân khu và các cấp phó của ông. Đã có 6 phi cơ Đức bay vào khu vực biên giới thuộc quân khu của Pavlov vào một buổi tối gần đây. “Đừng bận tâm. Hãy kiềm chế. Tôi biết rồi, chuyện này đã được báo cáo! Hãy kiềm chế!” Pavlov tình cờ nghe được một cuộc nói chuyện trên điện thoại về các báo cáo liên quan đến những hành động của Đức. Khi Pavlov vừa đặt ống nghe điện thoại xuống và chuẩn bị ra đón một vị khách khác thì chuông điện thoại lại reo lên. “Tôi rõ rồi, nó đã được báo cáo,” Pavlov nói. “Tôi biết. Các chỉ huy cấp trên biết rõ tình hình hơn chúng ta. Chỉ có vậy thôi.” Ông cúp điện thoại. Trong suốt vở kịch, Pavlov bị làm phiền bởi một báo cáo mới về hoạt động bất thường của quân Đức: Họ đã tháo hàng rào dây thép gai ở khu biên giới phía của họ, và thậm chí có thể nghe âm thanh của những chiếc mô-tô ngày một to hơn ở một khoảng cách xa. Một hàng dài không dứt những đoàn quân cơ giới Đức đang di chuyển về phía trước và Pavlov vẫn tiếp tục xem kịch.


Khoảng nửa đêm, chỉ huy Quân khu Kiev đã gọi cho vị ủy viên quốc phòng báo cáo rằng một binh sĩ Đức khác đã vượt biên, khẳng định rằng binh lính Đức đã vào vị trí chiến đấu và xe tăng đã sẵn sàng xuất kích. Khoảng 12 giờ đồng hồ trước, lúc 1 giờ chiều, bộ chỉ huy cấp cao của Đức đã truyền một mật lệnh cho chiến tranh, “Dortmund.” Chiều hôm đó, Hitler đã thảo các bức thư giải thích quyết định tấn công Liên Xô gửi lãnh đạo các nước đồng minh của Đức Quốc xã.


Nicolaus von Below, một sĩ quan của Hitler, đã chú ý về việc “lãnh tụ” của ông đang “càng lúc càng lo lắng và suốt ruột. Hitler nói rất nhiều, đi tới đi lui; ông ấy không được kiên nhẫn cho lắm và có vẻ đang chờ đợi một điều gì đó.” Tại nơi ở của mình là tòa nhà văn phòng đế chế cũ, Hitler đã thức trắng 2 đêm liên tiếp. Ông dùng bữa tại phòng ăn và nghe “Les Preludes”, một bản nhạc của Franz Liszt. Ông cho gọi Goebbels, người vừa xem xong bộ phim “Cuốn theo chiều gió”. Cả hai cùng đi qua đi lại trong phòng vẽ của Hitler trong một lúc khá lâu, họ đang cố gắng hoàn tất nội dung và thời điểm của bản tuyên bố chiến tranh của Hitler vào ngày hôm sau. Bản tuyên bố này sẽ tập trung vào việc “giải cứu Châu Âu” và mối nguy không thể chấp nhận được nếu chờ lâu hơn. Goebbels rời đi lúc 2:30 sáng, và trở lại bộ tuyên truyền nơi mà các nhân viên đang đợi. “Tất cả mọi người đều hết sức ngạc nhiên,” ông viết trong nhật ký, “dù đa phần đã đoán được một nửa những gì đang diễn ra, và vài người đã biết được toàn bộ kế hoạch đó.” Người Đức đã đặt tên cho cuộc xâm lược là “Chiến dịch Barbarossa”. Và bây giờ nó đã bắt đầu.


Hầu hết lực lượng tiền tuyến của Liên Xô đã không nhận được Chỉ thị số 1. Các đơn vị tiên phong của Đức, nhiều trong số đó ngụy trang bằng cách mặc lên người đồng phục của Hồng quân, đã vượt qua biên giới và phá hủy hệ thống thông tin liên lạc của Liên Xô. “Bắt đầu một cuộc chiến tranh cũng giống như lúc mở cửa vào một căn phòng tối vậy,” Hitler nói với thư ký riêng của mình. “Chúng ta sẽ không biết điều gì ẩn sâu trong màn đêm đen tối đó.”


Stalin: Ảo tưởng sức mạnh


Chế độ của Stalin lặp lại một khuôn mẫu đã được in sâu xuyên suốt trong lịch sử của nước Nga: Giới cầm quyền Nga thường phát động những công cuộc hiện đại hóa ép buộc để vượt qua hoặc ít nhất là giải quyết được tình trạng chậm phát triển của một đất nước tự xem mình là cường quốc với một sứ mệnh đặc biệt nhưng thực chất đang bị tụt hậu quá xa so với các cường quốc khác. Nỗ lực cấp bách phải chấn hưng đất nước, một lần nữa, sản sinh ra một nền độc tài cá nhân. Chế độ của Stalin định hình tư tưởng công chúng và cả bản sắc cá nhân, và chính Stalin cũng đã cá nhân hóa những khát vọng và ước mơ về một xã hội xã hội chủ nghĩa hiện đại cũng như một nhà nước Xô-viết hùng mạnh. Chỉ với những bức điện và những cuộc gọi ngắn gọn, ông có thể thúc đẩy cả bộ máy cồng kềnh của Đảng-nhà nước Xô-viết vào các chương trình hành động với những thông điệp mang tính kỉ luật và đe dọa, cũng như làm kích động những công chức trẻ tuổi có cảm tình gần gũi với ông hay hàng triệu người khác chưa từng gặp mặt ông phải vào guồng.


Chế độ của Stalin không chỉ cam kết xây dựng một nhà nước hiện đại mà còn làm cho xã hội ưu việt hơn cả hệ thống thị trường và tư hữu, vượt lên trên sự đối đầu giai cấp và sự chia rẽ xã hội – một sự đổi mới đối với xã hội bóc lột của giai cấp tư sản, cũng như đấu tranh cho công bằng xã hội trên quy mô toàn cầu. Trong thế giới quan và hành động, đó là một chế độ bị coi như một “âm mưu” nhưng chính nó lại nhìn thấy “âm mưu” khắp mọi nơi và trong mọi thứ, thường xuyên thao túng tâm lý của chính mình. Trong quản trị, chế độ này đã thiết lập một cuộc vận động cho việc lập kế hoạch và kiểm soát vốn làm gia tăng những hoạt động trái pháp luật kiểu “tùy cơ ứng biến”, nỗ lực không ngừng thiết lập kỷ cương trật tự, và một hệ thống mà trong đó việc tuyên truyền và những huyền thoại về “bộ máy chính quyền” là phần được hệ thống hóa nhiều nhất. Giữa đỉnh điểm của sự mơ hồ và giả tạo đó, thậm chí những quan chức cao cấp nhất cũng phải vận hành theo nền chính trị của điện Kremlin. Sự tập trung hóa cao độ thường dẫn đến con đường tự sát, nhưng sự sùng bái đối với khả năng không bao giờ sai lầm của Đảng và đặc biệt là của Stalin đã chứng minh là điểm yếu nguy hiểm nhất trong phương pháp cai trị sai lầm của ông.


Xu hướng của Stalin là một người theo chủ nghĩa dân tộc Nga theo hướng đế quốc, và chống lại phương Tây là động lực cốt lõi của nền văn hóa – chính trị lai giữa Nga và Á – Âu này của người Nga. Ban đầu, chiến dịch đầy tham vọng của Liên Xô nhằm cân bằng sức mạnh với phương Tây trên thực tế đã làm gia tăng sự phụ thuộc của nước này vào công nghệ cũng như bí quyết của phương Tây. Nhưng sau khi thu thập những công nghệ từ nhiều nền kinh tế phát triển ở phương Tây, chế độ của Stalin đã tiến hành phát triển ngành công nghiệp quân sự và những ngành công nghiệp liên quan khác của riêng mình trên một quy mô chưa từng có thậm chí đối với một quốc gia coi mục tiêu quân sự là hàng đầu. Tuy nhiên, về mặt địa-chính trị, trong khi chế độ Nga Hoàng khi trước đã gia nhập các liên minh nước ngoài để đảm bảo an ninh cho đất nước, thì Liên Xô chủ yếu tìm kiếm, hoặc chỉ thiết lập những hiệp ước bất tương xâm mà thôi. Hình thức liên minh chính thức duy nhất của Liên Xô được lập ra với nước Pháp, nhưng lại thiếu yếu tố liên minh về quân sự. Vì thế, tình trạng tự cô lập của đất nước này trở nên cực đoan hơn bao giờ hết.


Stalin luôn gọi chủ nghĩa Phát-xít là “phản động,” coi đó là một phương pháp để giữ gìn trật tự thế giới cũ của tầng lớp tư sản. Nhưng Hitler dần trở thành một người mà cả Mác lẫn Lenin đều đã không giúp Stalin sẵn sàng trong việc đương đầu. Là một người sùng bái Đức lâu năm, Stalin có vẻ đã bị quyến rũ bởi sức mạnh và sự dũng cảm của chế độ độc tài toàn trị của Đức. Trong một thời gian, ông ta đã khôi phục được trạng thái cân bằng cá nhân lẫn chính trị nhờ hiệp ước phi thường của ông với Hitler, hiệp ước đã làm chệch hướng bộ máy chiến tranh của Đức, cung cấp cho Liên Xô các thiết bị công nghiệp của Đức, cho phép ông chinh phục và Xô-viết hóa các vùng biên giới cũ của chế độ Nga Hoàng, và đặt Liên Xô vào vai trò làm trọng tài cho các vấn đề thế giới. Hitler đã bị kích động, và miễn cưỡng ngả theo lòng tham của Stalin. Nhưng khả năng bòn rút lợi ích của Stalin từ tình trạng cực kì nguy hiểm mà Hitler gây ra cho châu Âu và thế giới đã hết tác dụng sớm hơn nhiều so với dự kiến của nhà độc tài này. Điều này đã tạo ra tình trạng căng thẳng không thể xoa dịu được trong cuộc đời và sự cai trị của Stalin, tuy nhiên ông vẫn kiên quyết không chịu nắm bắt tình hình mới, và không chỉ vì ông muốn có được các công nghệ của Đức. Mặc dù sở hữu khả năng nắm bắt tâm lý con người, sự khôn ngoan phi thường, và trí tuệ sắc bén, Stalin đã bị mù quáng bởi ý thức hệ và những ý tưởng cứng nhắc. Thủ tướng Anh Winston Churchill không hề kiểm soát bất kì một sư đoàn nào trên biên giới của Liên Xô, nhưng Stalin vẫn hoàn toàn bị ám ảnh bởi chủ nghĩa đế quốc của Anh, thậm chí liên tục bất bình vì Hiệp ước Versailles ngay cả sau khi Hitler đã xé bỏ nó từ lâu, cũng như không ngừng nghĩ rằng Hitler đang câu kết với người Anh ngay sau lưng mình.


Lựa chọn của Hitler


Đối với Hitler, bản hiệp ước năm 1939 là một sự khó chịu cần thiết, mà nếu may mắn, sẽ không tồn tại được lâu. Cách hiểu theo kiểu phân biệt chủng tộc và chủ nghĩa Darwin xã hội, một mất một còn về địa chính trị của ông có nghĩa là Liên Xô và Anh Quốc sẽ phải bị tiêu diệt nhằm cho phép nước Đức thực hiện được số mệnh chủng tộc thượng đẳng của mình. Chắc chắn là trong trung hạn, Hitler nghĩ về việc thống trị lục địa châu Âu, điều sẽ đòi hỏi một “không gian sinh tồn” (Lebensraum) ở phía Đông. Nhưng trong dài hạn, ông ta muốn thống trị thế giới, điều cần đến một hạm đội xa bờ với những căn cứ ở vành đai Đại Tây Dương, và một đế chế thuộc địa ở những vùng nhiệt đới nhằm cung cấp nhiên liệu thô. Điều này sẽ xung đột với sự tồn tại tiếp tục của Đế chế Anh, ít nhất là vào thời điểm đó. Vì thế Hitler buộc phải đặt mình trước lựa chọn khó khăn là hoặc tăng cường những thỏa thuận trong bản hiệp ước năm 1939 với Stalin và thách thức toàn bộ đế chế Anh, điều có nghĩa là thừa nhận ít nhất một phần ảnh hưởng của Liên Xô ở khu vực Balkan và Biển Đen bên cạnh vùng Baltic – hoặc tự giải phóng khỏi sự phụ thuộc vào Moskva và sau đó đối đấu với nước Anh. Cuối cùng, các thực tế về quân sự đã giúp định hình nên chuỗi sự kiện sau đó: Hitler không sở hữu năng lực không quân và hải quân vượt trội hay đủ nguồn lực để áp đảo về mặt quân sự trước nước Anh; nhưng ông ta có lực lượng bộ binh đủ mạnh để nghiền nát Liên Xô.


Một cam kết ganh đua uy thế kéo dài với người Anh, nước mà Hitler đoán là sẽ được nhận ngày càng nhiều hơn nguồn hỗ trợ to lớn từ Hoa Kỳ, đã khiến quyết định kết liễu Liên Xô nhanh chóng trở thành một màn dạo đầu cần thiết. Hơn nữa, tuy Hitler và bộ chỉ huy cấp cao của Đức hiểu rằng Liên Xô chưa sẵn sàng tấn công Đức, nhưng một cuộc xâm lược của Đức sẽ tương đương với một cuộc chiến tranh ngăn chặn, cả hai đều giống nhau theo logic của Hitler, bởi Liên Xô vẫn ngày càng mạnh hơn và có thể chủ động tấn công Đức vào thời điểm họ nghĩ rằng mình có nhiều lợi thế hơn. Và vì thế vào năm 1940, trong khi hối thúc Nhật Bản tấn công các vị trí của Anh ở Đông Á, Hitler đã đề nghị chính phủ Anh ký một hiệp ước giống như hiệp ước mà ông đã ký với Stalin, nhưng dường như đã bị chết lặng khi chính phủ Anh không chấp thuận đề nghị này. Nhà lãnh đạo Đức Quốc xã đã nắm bắt được suy nghĩ của đế quốc Anh, và ông đã thật lòng khi hứa rằng để đổi lấy sự tự do hành động trên lục địa Châu Âu, ông sẽ giữ nguyên trạng Đế chế Anh. Ông tiếp tục hi vọng rằng nước Anh với sự yếu kém rõ ràng về lực lượng lục quân sẽ không thể đánh bại được ông, và sẽ sớm đi đến những thỏa thuận với ông. Nhưng Hitler đã không hiểu được mong muốn lâu đời của người Anh về một sự cân bằng quyền lực trên lục địa châu Âu (an ninh của cả đế chế Anh phụ thuộc một phần vào điều này). Và ông đã nhận định quá xa về những lợi ích chung giữa London và Moskva hơn chính cách hai nước này nhìn nhận lợi ích chung giữa họ với nhau.


Trong suốt quá trình chuẩn bị cho cuộc chiến tranh chớp nhoáng với Liên Xô, Hitler vẫn tiếp tục giành nhiều nguồn lực để chuẩn bị cho một cuộc chiến dài hơi trên biển và trên không với Anh và Mỹ. Tháng 5 và tháng 6 năm 1941 vẫn chưa phải là giai đoạn đen tối nhất đối với nước Anh: Đức đánh chìm tàu chiến Anh và không kích các thành phố của nước này, và nước Anh đã để mất vị trí của họ ở vùng Balkan. Sau khi lực lượng lính dù Đức chiếm được Crete vào cuối tháng 5 năm 1941, vị trí của người Anh dường như lâm vào thế cực kì nguy hiểm. Mười một ngày trước cuộc xâm lược Liên Xô, Hitler đã cho soạn thảo Chỉ thị số 32, “Chuẩn bị cho thời kỳ hậu Chiến dịch Barbarossa.” Chỉ thị này đã phác thảo quá trình chia nhỏ và khai thác các lãnh thổ của Liên Xô, cũng như cuộc tiến công gọng kìm vào kênh đào Suez và các vị trí của Anh ở vùng Trung Đông; xâm lược Gibraltar, vùng Tây-Bắc Phi, các đảo của Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha ở Đại Tây Dương, nhằm mục đích loại bỏ người Anh ra khỏi khu vực Địa Trung Hải; và xây dựng những căn cứ vùng duyên hải ở Tây Phi và có thể là Đông Phi. Cuối cùng, sẽ cần đến một căn cứ của Đức ở Afghanistan để chiếm nốt Ấn Độ từ tay nước Anh.


Nếu Hitler dồn hết tất cả sức mạnh của mình vào “chiến lược ngoại vi” này thay vì xâm chiếm Liên Xô, thì có lẽ Anh sẽ không có cơ hội sống sót. Cuộc chiến với Liên Xô sẽ được tiến hành vào một lúc nào đó trong tương lai khi nước Anh đã bị đá văng ra khỏi cục diện cuộc chiến. Khi đó có lẽ sẽ không còn một nước Anh cứng đầu để hỗ trợ cho một lực lượng Đồng minh do Mỹ dẫn đầu đổ bộ vào Tây Âu nữa.


Sự sáng suốt của Bismarck


Không thể nắm bắt được con người Hitler nếu chỉ tìm hiểu qua nguồn gốc xã hội, cuộc đời hay những ảnh hưởng lên ông lúc còn trẻ. Đối với Stalin cũng như vậy. Yếu tố chính trong việc hình thành bản sắc của Stalin là việc xây dựng và điều hành một thể chế độc tài, qua đó ông đảm nhận trách nhiệm đối với quyền lực của Liên Xô trên thế giới. Nhân danh chủ nghĩa xã hội, Stalin rảo bước trong văn phòng của ông và dần hình thành thói quen luân chuyển hàng triệu nông dân, công nhân, thậm chí toàn bộ cả nước – trên 1/6 diện tích thế giới, dựa vào những ý tưởng của riêng mình mà không cần hỏi ý kiến ai. Nhưng thế giới của ông đã trở nên cực kì chật chội. Hitler đã khiến nhà độc tài Liên Xô kẹt trong chính “Góc Nhỏ” của mình.


Kế hoạch đối phó với Hitler của Stalin khác xa với chính sách xoa dịu của người Anh, đó là Stalin vừa cố gắng răn đe, vừa cố gắng chung sống với Hitler. Nhưng chính sách của Stalin cũng có phần tương đồng với sự xoa dịu của người Anh trong việc ông đã bị thúc đẩy bởi ao ước mù quáng là tránh chiến tranh bằng mọi giá. Ông đã thể hiện được sức mạnh của năng lực nhưng lại thiếu sức mạnh của ý chí. Cả sự kiên quyết đáng sợ lẫn sự ranh ma quỷ quyệt, những điều đã giúp ông đánh bại được các kẻ thù của mình và nghiền nát những lực lượng chống đối bên trong chính quyền của ông, đều không hiện diện vào năm 1941. Ông rút khỏi ý định cố gắng ngăn chặn Hitler về mặt quân sự cũng như thất bại trong việc ngăn ngừa ông ta trên phương diện ngoại giao.


Tuy nhiên, cuối cùng, câu hỏi ai là người đã tính toán sai không phải là điều dễ trả lời. Hitler thích nói rằng “Trong số những người có thể tuyên bố đã đặt nền móng cho Đệ Tam Đế chế, chỉ có một nhân vật vĩ đại đầy cảm hứng trở nên nổi bật, đó là Bismarck.” Nhưng Bismarck đã tạo nên thành công của nhiệm kì thủ tướng của mình bằng cách tránh xung đột với nước Nga. Khi bức tượng bán thân của Bismarck được chuyển từ Văn phòng Thủ tướng cũ sang Văn phòng Thủ tướng mới của Hitler, nó đã bị vỡ ở phần cổ. Một bản sao khác đã được làm vội vã và được làm cho cũ đi một cách nhân tạo bằng cách ngâm trong trà lạnh. Không ai đã kể với Hitler về điềm gở này cả.


Nguồn: Stephen Kotkin, “When Stalin Faced Hitler – Who Fooled Whom?”, Foreign Affairs,19/09/2017.


Nguyễn Hữu Toàn dịch/ nghiencuuquocte


bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Cô gái làm sụp đổ nền ngụy khoa học - Tao Babe 18.09.2018
Văn tế tướng sĩ trận vong - Tư liệu sưu tầm 18.09.2018
Nhìn lại mùa Xuân khói lửa 1789 - Chính Đạo 17.09.2018
Huyện Phòng Thành - Quảng Tây - nguyên là đất Việt Nam/ Tài liệu “Dân tộc Kinh ở Quảng Tây”. - Tư liệu sưu tầm 16.09.2018
Nghĩ về đất - Vũ Thư Hiên 16.09.2018
Phòng Thành: Cộng đồng người Kinh trên đất Trung Quốc: 500 năm nét Việt không phai nhòa - Tư liệu sưu tầm 16.09.2018
Biên giới Việt Nam và Trung Quốc qua các triều đại quân chủ - Tư liệu sưu tầm 14.09.2018
Khái Hưng Trần Khánh Giư - Tư liệu sưu tầm 14.09.2018
Luật sư Nguyễn Mạnh Tường: Qua những sai lầm trong Cải cách ruộng đất, Xây dựng quan điểm lãnh đạo - Nguyễn Mạnh Tường 11.09.2018
Chuyến đi (Liên Xô) bí mật năm 1950 của Hồ Chí Minh - Vũ Ngự Chiêu 10.09.2018
xem thêm »