tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 28204227
Tiểu thuyết
25.12.2008
Liep Nicôlaievich Tônxtoi
Chiến tranh và Hòa bình

Pie chính là ông chồng cần thiết cho người đàn bà hào hoa phong nhã đó. Chàng đúng là anh chồng gàn dở và đãng trí, vị vương công1 chẳng hề làm phiền ai và không những không làm hỏng cái ấn tượng trang nhã chung của phòng khách mà còn được dùng làm cái nền tương phản để tôn vẻ lộng lẫy và thanh lịch của vợ mình lên. Hai năm nay, Pie chỉ chú tâm vào những công việc không dính dáng đến cuộc sống vật chất và hoàn toàn coi thường tất cả những chuyện khác, cho nên trong giới giao thiệp của vợ, chàng có được cái vẻ dửng dưng, lơ đãng và hiền lành hòa nhã với mọi người một cách rất tự nhiên, không chút giả tạo, và vì vậy người ta bất giác thấy kính nể chàng. Chàng vào phòng khách của vợ như vào nhà hát, ai chàng cũng quen, đối với ai chàng cũng vồn vã như nhau, và đối với ai chàng cũng lãnh đạm như nhau. Đôi khi nếu câu chuyện làm cho chàng chú ý, chàng cũng tham gia góp chuyện vào, và những lúc ấy, chẳng cần biết các vị ở đại sứ quán có mặt ở đấy hay không, chàng lúng búng nói ra những ý kiến nhiều khi chẳng hợp một tí nào với không khí lúc bấy giờ. Nhưng cái định kiến cho rằng chàng là ông chồng gàn của người đàn bà thanh lịch nhất Pêtécbua2 đã kiên cố đến nỗi chẳng ai lấy làm điều3 những lời lẽ đường đột của chàng.


Trong số những chàng thanh niên hàng ngày đến nhà Êlen có Bôris Đrubétxkôi bây giờ đã tiến khá xa trên con đường công danh, sau khi Êlen ở Écphua về, và là người khách thân nhất của gia đình Bêdukhốp. Êlen gọi chàng là thị đồng của tôi4 và nói năng cư xử với chàng như với một đứa trẻ. Nàng cũng cười nụ với Bôris như cười nụ với mọi người, nhưng đôi khi trông thấy nụ cười này, Pie thấy khó chịu. Đối với Pie, Bôris có một thái độ kính nể đặc biệt, nghiêm trang mà lại buồn buồn. Cái sắc thái lễ độ này cũng khiến Pie lo lắng. Ba năm trước, Pie đã khổ tâm quá nhiều vì hành động sỉ nhục của vợ, cho nên bây giờ chàng cố tránh một sự sỉ nhục tương tự, trước hết là bằng cách tự xem mình không phải là chồng của Êlen nữa, và thứ đến là không cho phép mình nghi ngờ vợ.


"Không, bây giờ là nữ sĩ5 rồi thì tất nàng đã từ bỏ những thói ham mê trước kia. - Chàng tự nhủ. - Chưa bao giờ nghe nói một nữ sĩ lại có những chuyện yêu đương cả", - chẳng biết chàng rút ở đâu ra cái quy luật này, nhưng rõ ràng chàng tin nó lắm. Song, lạ thay, việc Bôris có mặt trong phòng khách của vợ (và Bôris hầu như lúc nào cũng có mặt) vẫn có tác động đối với chàng ngay cả về mặt cơ thể: nó trói chân tay chàng lại, chàng thấy cử động của mình chẳng tự nhiên và thoải mái chút nào nữa.


"Lạ thật, sao mình thấy có ác cảm với hắn quá! - Pie nghĩ thầm. - Trước kia mình còn có cảm tình với hắn nữa kia mà".


Dưới mắt giới thượng lưu, Pie là một vị vương công, là anh chồng hơi mù quáng và buồn cười của một thiếu phụ trứ danh, một anh gàn thông minh, chẳng làm gì cả, nhưng cũng chẳng làm hại ai, một anh chàng rất hiền lành và rất tốt. Còn trong tâm hồn Pie thì suốt thời gian ấy diễn ra một quá trình phát triển nội tâm phức tạp và khó nhọc, mở ra cho chàng thấy nhiều điều và đưa lại cho chàng nhiều tâm trạng, ngờ vực cũng có mà vui sướng về tinh thần cũng có.


X


Chàng tiếp tục viết nhật ký, và đây là những điều chàng viết trong khoảng thời gian này:


"24 tháng mười một.


Ngủ dậy lúc tám giờ, đọc Kinh thánh, rồi đi làm (bây giờ theo lời khuyên của vị ân nhân, Pie đã vào làm trong một ủy ban), trở về nhà ăn bữa trưa một mình (bá tước phu nhân đang tiếp nhiều người khách mà tôi không ưa), ăn uống có điều độ, và sau bữa ăn thì ngồi chép mấy văn bản cho các anh em hội viên. Đến tối, xuống nhà với bá tước phu nhân và kể một câu chuyện buồn cười về B., và mãi đến khi mọi người đã cười phá lên, mới sực nhớ ra rằng mình không nên kể như vậy.


Đi ngủ với tinh thần sảng khoái, yên tĩnh. Xin đấng Thượng đế cao cả hãy giúp con đi theo bước Người: 1. Thắng sự giận dữ bằng sự dịu dàng, kiên nhẫn, 2. Thắng sự tà dâm bằng sự kiêng kị và lòng kinh tởm, 3. Xa lánh hư danh, nhưng không rời bỏ: a) công việc phụng sự nhà nước, b) công việc gia đình, c) quan hệ bạn bè và d) công việc kinh tế".


"27 tháng mười một.


Dậy muộn và khi tỉnh dậy nằm lười trong giường rất lâu. Xin Thượng đế hãy giúp đỡ cho con thêm nghị lực để con có thể đi theo con đường của Người. Đọc Kinh thánh nhưng không có được cái cảm xúc lẽ ra phải có. Hội viên Uruxốp nói đến những biểu dụ mới của Hoàng đế. Tôi toan công kích, nhưng sực nhớ đến cái quy tắc của mình và lời ân nhân dạy rằng một hội viên Tam Điểm chân chính phải là một người hoạt động hăng hái cho nhà nước khi quốc gia cần đến, và phải là người biết bình tĩnh nhìn những việc mà mình không có bổn phận làm. Cái lưỡi là kẻ thù của tôi.


Hai đạo huynh G.V. và O. đến thăm tôi, hôm ấy có buổi nói chuyện chuẩn bị kết nạp một người anh em mới. Họ giao cho tôi làm thuyết sư. Tự cảm thấy mình yếu đuối và không xứng đáng. Sau đó nói chuyện về cách giải thích bảy cột trụ và bảy bậc cấp của đền, bảy khoa học, bảy đức tính, bảy thói xấu, bảy bẩm năng của đức Thánh linh. Hội viên O. hôm đó rất hùng biện. Đến tối làm lễ kết nạp. Cách xếp đặt mới của hội quán đã góp phần làm cho cảnh tượng của buổi lễ thêm phần tráng lệ. Bôris Đrubétxkôi là người mới được kết nạp. Tôi là người giới thiệu, đồng thời cũng là thuyết sư. Một cảm xúc kỳ dị xâm chiếm lấy tôi khi tôi cùng đứng với Bôris trong thần miếu tối om. Tôi bất chợt thấy mình có lòng căm ghét đối với Bôris, tôi cố nén đi mà không sao nén nổi. Và chính vì vậy tôi ước ao thật sự cứu Bôris ra khỏi sự xấu xa và đưa anh ta lên con đường chân lý, nhưng những ý nghĩ xấu về Bôris vẫn không rời tôi. Tôi có ý nghĩ rằng, Bôris vào Hội chẳng qua là vì muốn tìm cách gần gũi một số người, lấy lòng những kẻ có thế lực trong chi hội chúng tôi. Anh ta mấy lần hỏi xem trong chi hội chúng tôi có N. và S. không (tôi không thể trả lời cho anh ta biết điều này được), và theo những điều tôi quan sát được thì Bôris không thể có lòng tôn kính cần thiết đối với hội thánh của chúng ta, và anh ta lại quá chú tâm và hài lòng với con người bề ngoài nên không thể ước ao có một con người tinh thần tốt hơn được. Nhưng ngoài những điều này ra thì tôi không có cơ sở gì để nghi ngờ anh ta nữa. Nhưng tôi vẫn thấy hình như anh ta không thành thật, và suốt thời gian Bôris với tôi đứng sát mặt nhau trong căn phòng tối, tôi có cảm giác là anh ta mỉm cười ngạo nghễ khi nghe những lời tôi nói, và tôi muốn đâm thẳng thanh gươm mà tôi đang cầm sát ngực Bôris vào người anh ta. Hôm ấy, tôi không thể hùng biện và cũng không thể thành thật nói cho các anh em và vị đại sư biết những mối ngờ vực của tôi. Hỡi đấng Kiến trúc sư vĩ đại của thiên nhiên, hãy giúp tôi tìm ra những con đường chân chính, đưa tôi qua các ngõ ngách khúc khuỷu của sự dối trá".


Kế theo đó trong nhật ký thấy có ba tờ để trắng, rồi đến đoạn sau đây:


"Trải qua một cuộc nói chuyện riêng dài và bổ ích với hội viên B., anh ấy khuyên tôi nên gần gũi hội viên A. Tôi được biết thêm nhiều điều, mặc dù tôi không xứng đáng. Ađônai là tên của đấng đã sáng tạo ra vũ trụ. Elôim là tên đấng trị vì muôn vật. Tên thứ ba, cái tên không thể nói ra được, có nghĩa là TẤT CẢ. Những câu chuyện của B. đã thêm nghị lực, thêm chí kiên quyết và soi sáng cho tôi trên con đường đi tới đạo đức. Bên cạnh anh ấy, không thể nào hoài nghi được. Tôi đã thấy rõ sự khác nhau giữa cái khoa học thấp kém của thế gian với cái khoa học thiêng liêng của chúng ta, một học thuyết bao trùm tất cả. Khoa học của loài người gặp cái gì cũng chặt khúc ra để mà hiểu, gặp cái gì cũng làm cho chết đi để mà xem xét. Trong nền khoa học thiêng liêng của Hội thì cái gì cũng thống nhất, mọi vật đều được nhận thức một cách toàn vẹn và sinh động. Tam nguyên của vạn vật là diêm sinh, thủy ngân và muối. Diêm sinh có thuộc tính của dầu và lửa; hợp nhất với muối, nó nhờ tính chất lửa mà gây ra sức hút đối với thủy ngân, hút được thủy ngân, giữ nó lại và cả ba chất đó kết hợp lại mà sinh ra các vật thể riêng biệt. Thủy ngân là cái bản chất lỏng và bay bổng của tinh thần - là Cơ Đốc, là Thánh linh, là Người".


"Ngày 3 tháng mười hai.


Dậy muộn, đọc Thánh kinh, nhưng không có cảm xúc gì. Sau đó ra ngoài, và đi lại trong gian phòng lớn. Muốn suy nghĩ, nhưng trí tưởng tượng chỉ hình dung ra một sự biến đã xảy ra bốn năm trước đây. Ông Đôlôkhốp sau trận đấu súng có gặp tôi ở Mátxcơva. Ông ta nói với tôi là ông ta hy vọng rằng bây giờ tinh thần tôi đã yên tĩnh hoàn toàn, mặc dầu vắng mặt vợ tôi. Lúc đó tôi im lặng không đáp. Sáng nay, tôi nhớ lại mọi chi tiết của lần gặp gỡ này và thầm nói với Đôlôkhốp những lời hết sức hằn học và những câu trả lời hết sức chua chát. Mãi đến khi nhận thấy mình điên cuồng trong cơn thịnh nộ, tôi mới sực tỉnh và vứt bỏ ý nghĩ này; nhưng tôi hối hận chưa đúng mức. Sau đó, Bôris Đrubétxkôi đến và bắt đầu kể chuyện này chuyện khác; còn tôi thì ngay khi anh ta mới đến đã thấy bực mình, và nói với anh ta một câu rất khó chịu. Bôris cãi lại. Tôi đỏ bừng mặt và nói với anh ta nhiều điều khó chịu và thậm chí còn thô bỉ nữa. Bôris lặng thinh, còn tôi thì chỉ ghìm mình lại được khi đã muộn rồi. Trời ơi, tôi hoàn toàn không biết đối xử với Bôris cho phải. Nguyên nhân gây ra điều đó là lòng tự ái của tôi. Tôi tự đặt mình cao hơn anh ta, và vì thế tôi đã thành ra kém cỏi hơn anh ta, và vì anh ta khoan dung đối với những lời lẽ thô lỗ của tôi, còn tôi thì lại khinh bỉ anh ta. Xin Chúa hãy giúp cho tôi, khi có mặt Bôris, thấy rõ được sự hèn hạ của mình và hành động có lợi cho cả anh ta nữa. Sau bữa ăn chiều, tôi ngủ thiếp đi, và trong khi ngủ bỗng nghe rõ mồn một tiếng ai nói vào tai bên trái: "Mày đã đến ngày tận số".


Tôi chiêm bao thấy mình đi trong bóng tối, bỗng nhiên xung quanh chó xồ ra vây lấy tôi, nhưng tôi cứ đi không chút sợ hãi; bỗng một con chó nhỏ cắn vào bắp chân bên trái tôi và không buông ra nữa. Tôi lấy tay bóp cổ nó. Nhưng vừa ẩy được nó ra thì một con khác to hơn bắt đầu cắn vào người tôi. Tôi nhấc nó lên, và càng nâng lên cao thì nó lại càng to thêm và nặng thêm. Chợt thấy đạo huynh A. đến khoác tay tôi dẫn tôi vào một tòa nhà. Muốn vào đến nhà này phải đi qua một tấm ván hẹp. Tôi bước lên tấm ván. Tấm ván oằn và sụ xuống. Tôi khó nhọc lắm mới với tay lên bám vào một dãy hàng rào và bắt đầu leo lên. Chật vật một lúc tôi mới trườn được lên trên hàng rào, mình vắt sang một bên, chân thì buông thõng ở bên kia. Tôi nhìn trở lại thì thấy đạo huynh A. đang đứng trên hàng rào và đưa tay chỉ cho tôi xem một con đường rộng rãi dẫn vào vườn, chỉ khu vườn và tòa nhà nguy nga ở phía trong. Tôi tỉnh dậy. Lạy Chúa, đấng Kiến trúc sư vĩ đại của thiên nhiên! Hãy giúp tôi thoát khỏi lũ chó, tức là những dục vọng của tôi và cái dục vọng cuối cùng gom góp sức mạnh của tất cả các dục vọng trước, và hãy giúp tôi bước vào ngôi đền đạo đức mà tôi đã được trông thấy trong giấc chiêm bao".


"Ngày 7 tháng mười hai.


Tôi chiêm bao thấy Iôxíp Alếchxâyêvích ngồi trong nhà tôi. Tôi mừng lắm, muốn lấy thức ăn ra thết đãi Người. Tôi nói chuyện huyên thuyên với mấy người khác và chợt nhớ ra rằng điều đó có thể làm cho Người phật ý, tôi muốn lại gần Người và ôm lấy Người. Nhưng vừa đến gần thì thấy gương mặt của Người thay đổi, trẻ măng ra, và ông nói nhỏ với tôi mấy lời về giáo lý của Hội, nói khẽ đến nỗi tôi nghe không rõ. Sau đó tất cả chúng tôi đều ra khỏi phòng, và đến đây xảy ra một việc thật kỳ lạ. Chúng tôi người ngồi kẻ nằm trên nền nhà. Iôxíp Alếchxâyêvích nói với tôi một điều gì đấy. Nhưng tôi lại muốn tỏ ra cho Người thấy tôi đa cảm, và không lắng nghe lời Người nói, tôi bắt đầu tưởng tượng cái trạng thái của con người bên trong của mình và ơn Chúa đang chiếu sáng tâm hồn tôi. Tôi ứa nước mắt và lấy làm hài lòng rằng, Người đã để ý thấy thế. Nhưng Người nhìn tôi ra dáng bực tức và vụt đứng dậy, không nói chuyện nữa. Tôi đâm luống cuống và hỏi Người xem những điều vừa rồi có phải là nói về tôi không; nhưng Người không đáp, chỉ nhìn tôi một cách dịu dàng; và sau đó bỗng thấy cả hai đều ở trong phòng ngủ của tôi. Ở đấy có một chiếc giường đôi. Iôxíp Alếchxâyêvích nằm ở men giường, tôi tha thiết muốn đến vuốt ve Người và nằm bên cạnh Người. Iôxíp hỏi tôi: "Anh hãy nói cho thật, anh ham mê cái gì nhiều nhất? Anh có biết rõ không? Tôi chắc là anh đã rõ". Câu hỏi này làm cho tôi lúng túng. Tôi trả lời rằng lười biếng là dục vọng lớn nhất của tôi. Người lắc đầu ra vẻ không tin. Tôi càng thêm lúng túng và trả lời rằng tuy ở chung với vợ theo lời khuyên của Người nhưng không phải ăn ở như hai vợ chồng. Nghe nói thế, Iôxíp đáp lại rằng không được tước phần ái ân của mình đối với vợ, và cho tôi hiểu rằng đó là bổn phận của tôi. Nhưng tôi đáp lại rằng tôi lấy làm hổ thẹn về việc đó; rồi bỗng nhiên mọi vật đều biến mất. Tôi tỉnh dậy và trong đầu hiện ra một câu Thánh kinh: "Sự sống là ánh sáng của con người, và ánh sáng soi rọi trong bóng tối và bóng tối không thu nhận ánh sáng". Khuôn mặt của Iôxíp Alếchxâyêvích bây giờ trẻ trung và sáng sủa. Hôm ấy, tôi nhận được một bức thư của ân nhân, trong đó nói về bổn phận vợ chồng".


"Ngày 9 tháng mười hai.


Tôi vừa nằm chiêm bao thấy những điều mà khi sực tỉnh đã khiến tim tôi đập rất mạnh. Tôi thấy tôi đang ở Mátxcơva, ở nhà tôi, đang ngồi trong phòng lớn. Từ trong phòng khách, tôi chợt thấy Iôxíp Alếchxâyêvích bước ra. Tự dưng thấy ngay rằng Người đã trải qua quá trình tái sinh, tôi liền chạy ra đón Người. Tôi ôm hôn Người, hôn cả bàn tay Người, và Iôxíp nói: "Anh có nhận thấy rằng bây giờ tôi có một bộ mặt khác không?". Tôi nhìn Người, vẫn ôm Người trong lòng và thấy rằng mặt Người rất trẻ, nhưng trên đầu không có tóc, và nét mặt khác hẳn. Tôi nói với Iôxíp Alếchxâyêvích: "Nếu tình cờ gặp Người, tôi cũng vẫn nhận ra", và trong khi đó tôi nghĩ thầm: "Có thật như thế không?". Bỗng tôi thấy Iôxíp nằm xoài ra như một xác chết; sau đó Người dần dần tỉnh lại và cùng tôi đi vào căn phòng lớn, tay cầm một quyển sách to, khổ giấy lớn gấp đôi. Tôi nói: "Chính tôi viết đấy". Người nghiêng đầu đáp lại. Tôi giở sách ra, trong sách trang nào cũng có những hình rất đẹp. Và tôi biết rằng những bức tranh này mô tả những cuộc ái ân của linh hồn với người yêu của nó. Và trên các trang giấy, tôi trông thấy hình một trinh nữ rất đẹp mặc áo trong suốt, thân hình cũng trong suốt, đang bay lên các tầng mây. Tôi biết rằng nàng trinh nữ này chẳng phải cái gì khác hơn là hình ảnh của thiên "Thánh ca trong các Thánh ca"6. Nhìn vào những bức tranh này tôi cảm thấy mình đang làm một việc xấu xa, nhưng tôi không thể nào rời mắt ra được. Lạy Chúa! Hãy cứu giúp con! Nếu con bị ruồng bỏ là do ý chí của Người, thì con cúi xin vâng mệnh Người, nhưng nếu chính con gây nên sự đó, thì xin Người hãy chỉ bảo cho con phải làm gì. Con sẽ chết ngập trong vòng tay trụy lạc nếu Người rời bỏ con hoàn toàn".


XI


 Tình hình tiền nong của nhà Rôstốp trong vòng hai năm ở nông thôn vẫn không khả quan hơn.


Mặc dầu Nikcôlai Rôstốp giữ vững ý định của mình, vẫn tiếp tục phục vụ trong một binh đoàn dã chiến tối tăm, tiêu tiền tương đối ít, lối sinh hoạt ở Ôtrátnôiê và nhất là cách quản lý công việc của Michenca đã làm cho công nợ của nhà Rôstốp mỗi năm một tăng. Lão bá tước cho rằng chỉ còn một cách cứu vãn duy nhất nữa là đi làm việc nhà nước, cho nên ông đã lên Pêtécbua xin một chức quan; đi xin một chức quan và đồng thời, như ông nói, cũng để cho các tiểu thư tiêu khiển một lần cuối cùng nữa.


Ít lâu sau khi gia đình Rôstốp lên Pêtécbua, Béc đến dạm hỏi Vêra và được chấp thuận.


Hồi ở Mátxcơva, họ Rôstốp vốn thuộc giới xã giao thượng đẳng, tuy họ cũng không biết và không hề nghĩ xem mình thuộc vào giới nào. Nhưng khi đến ở Pêtécbua thì môi trường giao thiệp của họ đâm ra phức tạp và không rõ ràng. Ở Pêtécbua, họ được coi là người "các tỉnh" và ngay cả những người trước đây đến ăn uống trong nhà Rôstốp ở Mátxcơva, mà gia đình Rôstốp không hề hỏi xem thuộc giới nào, bây giờ cũng không thèm hạ mình giao du với họ.


Ở Pêtécbua, gia đình Rôstốp vẫn giống như ở Mátxcơva, nghĩa là họ rất sẵn lòng đãi khách, và khách khứa đến ăn tối ở nhà họ thuộc đủ các hạng người: những người láng giềng của họ ở Ôtrátnôiê, những lão trang chủ nghèo cùng các cô con gái của họ và ngự tiền phu nhân Pêrônskaia, Pie Bêdukhốp và con trai ông trưởng trạm bưu vụ huyện bây giờ lên làm việc ở Pêtécbua. Trong các tân khách nam giới chẳng bao lâu có một số trở thành người nhà của họ Rôstốp: Bôris, Pie (một hôm lão bá tước gặp anh ta ở giữa phố liền kéo về nhà) và Béc. Béc suốt ngày ngồi chơi ở nhà Rôstốp và có những cử chỉ săn sóc ân cần đối với bá tước tiểu thư Vêra đúng như một chàng thanh niên có ý định cầu hôn.


Béc đã không uổng công khi cho mọi người xem cánh tay phải bị thương trong trận Aostéclích và cầm gươm bằng tay trái, tuy chẳng để làm gì cả. Chàng đã kể lại cho mọi người nghe chuyện chàng bị thương bằng một giọng kiên trì, đến nỗi mọi người đều tin rằng hành động của chàng là hợp lý và đáng khen, - và cuối cùng Béc đã được thưởng hai huân chương về trận Aostéclích.


Trong cuộc chiến Phần Lan, Béc cũng đã tìm được cách tỏ ra xuất sắc. Chàng nhặt một mảnh tạc đạn đã giết chết một viên sĩ quan hành dinh đứng cạnh quan tổng tư lệnh và đem về cho thủ trưởng. Cũng như sau trận Aostéclích, chàng kể cho mọi người nghe việc này một cách kiên trì và dai dẳng đến nỗi mọi người đều tin rằng làm như thế là rất phải; và nhân chiến dịch Phần Lan, Béc lại được thưởng hai huân chương nữa. Năm 1808, chàng đã là đại úy cận vệ, có nhiều huân chương và được giữ những chức vụ rất thuận lợi ở Pêtécbua.


Mặc dầu một số người có tính hoài nghi thường cười mỉm khi nghe nói đến những đức tính của Béc, nhưng họ cũng không thể không thừa nhận rằng Béc là một sĩ quan cần mẫn, can đảm, được cấp trên rất tín nhiệm và là một thanh niên có tư cách, có một tương lai tốt đẹp và thậm chí cũng đã có một địa vị vững vàng trong xã hội.


Bốn năm về trước, gặp một anh bạn người Đức trong một kịch viện ở Mátxcơva, Béc đã chỉ Vêra Rôstôva với người ấy và nói bằng tiếng Đức: "Das soll mein Weib werden"7 và từ phút đó, Béc đã quyết định là sẽ lấy nàng. Bây giờ, ở Pêtécbua, sau khi đã suy xét gia cảnh của họ Rôstốp và địa vị của mình, chàng cho rằng đã đến lúc ngỏ lời nên đã đến dạm hỏi Vêra.


Lời dạm hỏi của Béc lúc đầu được tiếp nhận với một vẻ ngạc nhiên không lấy gì làm đáng mừng cho Béc. Lúc đầu người ta còn lấy làm lạ rằng con của một anh quý tộc vô danh nào đó ở Liphơlan8 lại dám đi hỏi bá tước tiểu thư Rôstôva; nhưng Béc vốn có một nét đặc biệt là vị kỷ một cách ngây thơ và thật thà đến nỗi cuối cùng ông bà Rôstốp cũng nghĩ rằng anh ta đã tin chắc rằng như thế là tốt, thậm chí rất tốt nữa là khác, thì chắc sẽ tốt thật. Hơn nữa, gia cảnh họ Rôstốp bây giờ đã sa sút quá đỗi, và đều đó chú rể không không biết được, nhưng cái chính là Vêra đã hai mươi bốn tuổi đầu rồi, đi đã khắp nơi, thế mà mặc dầu chắc chắn là nàng đẹp, lại khôn ngoan, song cho đến nay vẫn chưa có ai đến hỏi nàng. Gia đình Rôstốp bèn ưng thuận.


- Đấy, anh thấy không, - Béc nói với một sĩ quan cùng đơn vị mà chàng gọi là bạn, chẳng qua cũng chỉ vì chàng biết rằng phàm là người thì ai ai cũng có bạn, - tôi đã cân nhắc, đã suy tính cặn kẽ mọi điều, và giả sử tôi chưa nghĩ hết mọi lẽ hoặc thấy có chỗ chưa có lợi thì tôi chưa lấy vợ đâu. Nhưng bây giờ thì ổn cả rồi, cha mẹ tôi thế là từ nay yên trí, tôi đã thu xếp cho ông cụ bà cụ một cái ấp ở vùng Ôstờdai9, còn tôi thì có thể sống ở Pêtécbua với số lương của tôi. Với của hồi môn của cô ấy và với cái tính ngăn nắp của tôi, có thể sống khá giả. Tôi lấy vợ không phải vì tiền, tôi cho rằng như thế là cao thượng, nhưng vợ cũng đóng góp phần mình, chồng cũng đóng góp phần mình, như thế mới phải. Tôi có công việc nhà nước, cô ấy thì có những người quen có thế lực và một ít của cải. Thời buổi này cái đó phần nào cũng đáng kể đấy chứ, phải không nào? Và cái chính là cô ta xinh đẹp, đứng đắn, lại yêu tôi...-Béc đỏ mặt và mỉm cười- Tôi cũng yêu cô ấy bởi vì cô ấy đứng đắn và rất tốt. Còn như em gái cô ấy thì khác hẳn - cũng cùng một nhà, sao lại khác tính đến thế... tính nết thật khó chịu, chẳng khôn ngoan tí nào, không thể bì với cô chị được, lại thế này thế khác... Anh biết đấy chứ?... Thật khó chịu... Còn như vị hôn thê của tôi thì... Anh đến chúng tôi... - Chàng định nói: đến chúng tôi ăn bữa trưa, nhưng liền nghĩ lại và nói tiếp: "Uống nước chè" rồi uốn lưỡi rất nhanh phun ra một đám khói thuốc lá hình vòng tròn thể hiện một cách trọn vẹn những ước mơ hạnh phúc của chàng.


Sau cảm giác ngạc nhiên lúc ban đầu khi Béc mới ngỏ lời dạm hỏi, trong gia đình bấy giờ đã có cái không khí vui vẻ tưng bừng thường thấy trong những trường hợp như thế, nhưng đó chỉ là không khí vui vẻ bề ngoài, không thật. Đối với cuộc hôn nhân này, những người trong nhà không khỏi cảm thấy ngượng ngùng và hổ thẹn. Dường như bây giờ họ thấy xấu hổ vì họ không quý Vêra lắm nên mới sẵn lòng tống khứ nàng đi như vậy. Người cảm thấy bối rối nhất là lão bá tước. Có lẽ nếu hỏi vì sao ông bối rối thì ông không biết trả lời sao, nhưng sự thật thì chính vì tình cảnh tiền nong của ông hiện nay. Lão bá tước tuyệt nhiên không biết mình còn được bao nhiêu, nợ bao nhiêu và có thể cho Vêra những gì làm của hồi môn. Mỗi lần sinh con gái, bá tước đều cắt ra một thôn ba trăm nông nô làm của hồi môn; nhưng một thôn đã bán đi rồi, còn một thôn nữa thì đã đem cầm cố, đến nay đã quá hạn chuộc nên cũng phải bán nốt, vì vậy không thể cho con gái một điền trang nào được. Mà tiền thì cũng không có.


Béc đã đính hôn được hơn một tháng, và chỉ còn một tuần nữa là đến ngày cưới, thế mà bá tước vẫn chưa giải quyết xong vấn đề của hồi môn và chưa có lần nào tự mình bàn việc này với vợ. Khi thì bá tước định cắt cho Vêra điền trang Riadan, khi thì muốn bán rừng, khi thì lại muốn vay tiền bằng ngân phiếu.


Vài ngày trước lễ cưới, một buổi sáng sớm Béc vào phòng làm việc của bá tước và mỉm cười rất nhã nhặn kính cẩn xin ông nhạc tương lai cho biết bá tước tiểu thư Vêra sẽ được nhận những gì làm của hồi môn. Nghe câu hỏi này, một câu hỏi mà ông đã đoán trước từ lâu, bá tước luống cuống đến nỗi không kịp suy nghĩ gì nữa, nói bâng quơ:


- Tôi rất thích, cậu biết lo như thế là tôi thích lắm… Cậu sẽ được hài lòng...


 Rồi bá tước vỗ vai Béc và đứng dậy, định chấm dứt câu chuyện. Nhưng Béc nở một nụ cười rất dễ ưa và phân trần rằng nếu chàng không được biết chắc chắn số hồi môn của Vêra và không được nhận trước, dù chỉ là một phần thôi, trong số của cải dành cho nàng, chàng sẽ buộc lòng phải từ bỏ cuộc hôn nhân này.


 - Vì rằng, xin bá tước xét cho, nếu bây giờ tôi dám cưới vợ mà không có những phương tiện chắc chắn để chu cấp cho vợ mình, thì như vậy là tôi đã xử sự một cách đê hèn.


Cuối cùng bá tước muốn tỏ ra mình hào phóng và để khỏi nghe những lời đòi hỏi khác, bèn nói rằng ông sẽ trao cho chàng một ngân phiếu tám vạn rúp. Béc dịu dàng mỉm cười, cúi xuống hôn vào vai bá tước và nói rằng chàng rất biết ơn, nhưng hiện nay chàng không thể nào xếp đặt cuộc sống gia đình cho ổn thỏa nếu chưa nhận được ba vạn tiền mặt.


- Ít ra là hai vạn, thưa bá tước. - Béc nói thêm, - và nếu thế thì chỉ cần một ngân phiếu sáu vạn nữa.


- Ừ, ừ, được rồi, - bá tước nói thật nhanh, - chỉ xin anh bỏ qua, anh bạn nhé, tôi sẽ đưa hai vạn tiền mặt, nhưng ngoài ra sẽ thêm một ngân phiếu tám vạn nữa. Thế đấy, thôi anh hôn ông nhạc đi nào.


XII


Natasa đã mười sáu tuổi; bấy giờ là vào năm 1809, đúng cái thời gian mà bốn năm về trước nàng bấm đốt ngón tay ước hẹn với Bôris sau khi hôn chàng. Từ dạo ấy nàng không lần nào gặp lại Bôris. Trước mặt Xônhia và mẹ nàng, mỗi khi câu chuyện đả động đến Bôris, Natasa nói một cách rất ung dung như nói về một việc đã xong xuôi, rằng tất cả những việc trước kia đều là những chuyện trẻ con, đã quên từ lâu, không việc gì phải nói đến nữa. Nhưng trong thâm tâm, Natasa vẫn băn khoăn tự hỏi không biết lời ước hẹn của nàng với Bôris chỉ là một trò đùa hay là một lời hứa quan trọng có thể ràng buộc đời nàng.


Từ năm 1805, kể từ ngày Bôris rời khỏi Mátxcơva lên đường đến đơn vị, chàng không có lần nào gặp lại gia đình Rôstốp nữa. Chàng có trở lại Mátxcơva mấy lần, có đi qua vùng Ôtrátnôiê, nhưng chưa có lần nào ghé lại nhà Rôstốp.


Natasa đôi khi có ý nghĩ rằng chàng không muốn gặp nàng, và cái giọng buồn buồn của người lớn trong nhà mỗi khi nói đến Bôris càng xác nhận thêm những điều phỏng đoán này.


- Thời bây giờ người ta không mấy khi nhớ đến bạn cũ - Bá tước phu nhân nói khi có người nhắc đến Bôris.


Anna Mikhailốpna gần đây ít đến nhà Rôstốp và cũng có một thái độ đặc biệt đạo mạo, và hễ nhắc đến Bôris, bà lại nói một cách hân hoan và cảm kích về những đức tính của con trai và về con đường sự nghiệp vẻ vang mà chàng đang đi. Khi gia đình Rôstốp lên Pêtécbua, Bôris đã có lần đến thăm.


Chàng đến nhà Rôstốp, lòng không khỏi bồi hồi xúc động. Natasa là kỷ niệm nên thơ nhất của Bôris. Nhưng đồng thời chàng cũng đến với một ý định quả quyết là sẽ cho nàng cũng như cho cha mẹ nàng hiểu rõ rằng, những quan hệ ấu thời giữa chàng và Natasa không có gì có thể ràng buộc nàng cũng như ràng buộc mình. Nay chàng đã có một địa vị xuất sắc trong xã hội, nhờ có quan hệ thân mật với bá tước phu nhân Bêdukhốp, một địa vị xuất sắc trong chức nghiệp, nhờ sự nâng đỡ của một nhân vật quan trọng hoàn toàn tin cậy chàng, cho nên chàng đã bắt đầu thoáng có ý định là sẽ kết hôn với một trong những đám giàu có nhất ở Pêtécbua, một ý định rất dễ thực hiện đối với chàng. Khi Bôris bước vào phòng khách nhà Rôstốp, Natasa đang ở phòng mình. Nghe nói có Bôris đến, nàng đỏ mặt lên và bước vội vã gần như chạy vào phòng khách, gương mặt sáng bừng lên một nụ cười trong đó có một cái gì còn hơn là sự trìu mến.


Bôris vẫn còn nhớ rõ cô bé Natasa mặc váy ngắn, có đôi mắt đen long lanh dưới mớ tóc quăn và tiếng cười giòn giã, ngây thơ và liều lĩnh mà bốn năm trước đây chàng đã từng quen thuộc, cho nên khi thấy một cô Natasa khác hẳn bước vào, chàng luống cuống và gương mặt chàng lộ vẻ ngạc nhiên và ngưỡng mộ. Vẻ mặt ấy của Bôris làm cho Natasa vui mừng.


- Thế nào, anh có nhận ra cô bạn nhỏ nghịch ngợm của anh ngày trước không? - Bá tước phu nhân nói.


Bôris hôn tay Natasa và nói rằng chàng rất ngạc nhiên thấy Natasa đã thay đổi nhiều như vậy.


- Cô xinh lên nhiều quá!


"Còn phải nói" - đôi mắt tươi cười của Natasa đáp.


- Thế ba tôi có già đi nhiều không? - Nàng hỏi.


Natasa ngồi xuống và im lặng, không chen vào câu chuyện giữa Bôris với bá tước phu nhân, chỉ ngồi ngắm nhìn vị hôn phu thời thơ ấu của mình đến từng chi tiết một. Chàng cảm thấy sức nặng của khóe nhìn chăm chú và âu yếm phủ lên người mình, và thỉnh thoảng chàng lại đưa mắt nhìn nàng.


Quân phục, cựa giày, khăn quấn cổ và kiểu chải tóc của Bôris - tất cả đều hợp thời trang và rất chững chạc10. Natasa nhận thấy điều đó ngay. Chàng ngồi hơi nghiêng người trên chiếc ghế bành cạnh bá tước phu nhân, dùng tay phải sửa lại cho ngay ngắn chiếc găng tay trắng muốt bó sát bàn tay trái, môi mím lại đặc biệt tế nhị trong khi nói chuyện về những cuộc vui chơi của giới thượng lưu Pêtécbua, và bằng giọng bỡn cợt nhẹ nhàng, chàng nhắc lại thời cũ và những người quen cũ ở Mátxcơva. Natasa cảm thấy rằng, không phải tình cờ mà trong câu chuyện về giới quý tộc thượng lưu, chàng thuật lại buổi vũ hội của đại sứ quán mà chàng có dự và nhắc đến NN và SS đã có nhã ý mời chàng.


Suốt buổi, Natasa ngồi im lặng đưa mắt nhìn trộm chàng. Cái nhìn đó mỗi lúc một làm cho Bôris bối rối và lo lắng. Chàng quay sang nhìn Natasa nhiều hơn và đôi khi đang kể chuyện chàng bỗng ngừng bặt. Ngồi chưa được mười phút, chàng đã đứng dậy cáo từ ra về. Vẫn đôi mắt tò mò, có vẻ thách thức và hơi chế giễu ấy nhìn chàng.


Sau buổi đến thăm đầu tiên này, Bôris tự nhủ rằng, Natasa vẫn có sức quyến rũ mình như xưa, nhưng chàng không được chiều theo cảm xúc này, vì nếu lấy Natasa - một cô gái hầu như chẳng có tí của cải gì - thì sự nghiệp của chàng ắt sẽ tiêu ma, còn nếu đi lại như cũ mà không có ý định cầu hôn thì đó là một hành vi không cao thượng. Bôris quyết định là tự mình sẽ tránh gặp Natasa, nhưng mặc dầu đã quyết định như thế, ít hôm sau chàng lại đến và từ đó bắt đầu đi lại luôn, có khi ở chơi cả ngày ở nhà Rôstốp. Chàng thấy mình nhất thiết phải giãi bày với Natasa, nói cho nàng biết rằng tất cả những chuyện cũ ấy nay phải quên đi, rằng dù sao... nàng cũng không thể trở thành vợ chàng được, rằng chàng chẳng có tài sản gì và không đời nào cha mẹ nàng lại gả nàng cho một người như chàng. Nhưng Bôris vẫn thấy ngại ngùng không sao nói được. Càng ngày chàng lại càng cảm thấy khó xử. Mẹ Natasa và Xônhia nhận thấy nàng vẫn có vẻ yêu Bôris như xưa. Nàng hát cho chàng nghe những bài hát chàng ưa thích, cho chàng xem tập tranh của mình, bắt chàng viết vào đấy, không cho chàng nhắc đến quá khứ, ngụ ý là hiện tại cũng đẹp lắm rồi; và mỗi khi ra về, chàng cứ như đi trong mây mù, chưa nói được những điều đã định nói, bản thân chàng cũng chẳng biết mình đang làm gì, mình đến làm gì và sự tình sẽ kết thúc ra sao. Bôris thôi đến nhà Êlen. Ngày nào chàng cũng nhận được những dòng chữ trách móc của Êlen, nhưng ngày nào chàng cũng ngồi suốt buổi ở gia đình Rôstốp.


XIII


Một buổi tối, khi lão bá tước phu nhân, mình mặc áo ngủ, đầu đã tháo hết các mớ tóc giả chỉ còn lại một chùm tóc lơ thơ thòi ra ngoài chiếc mũ chụp bằng vải trúc bâu trắng, đang thở dài và thì thụp trên tấm thảm lầm rầm đọc bài kinh buổi tối, thì cánh cửa xịch mở và Natasa, mình cũng mặc áo ngủ, tóc đầy những kẹp, chạy vào phòng.


Bá tước phu nhân quay lại và cau mày. Bà đang đọc nốt bài kinh cuối cùng: "Phải chăng chăn nệm đêm nay sẽ là ván liệm của con?". Tâm trạng sùng đạo của phu nhân trong khi cầu nguyện bị phá tan. Natasa, mặt đỏ ửng, lòng hồi hộp, vừa chạy vào thấy mẹ đang cầu kinh, liền dừng phắt lại, hơi nhún người xuống và bất giác thè lưỡi ra như tự hăm dọa mình. Thấy mẹ vẫn tiếp tục cầu kinh, nàng rón rén chạy đến giường, nhanh nhẹn lấy hai bàn chân thon nhỏ gạt vào nhau cho giày vải tụt ra rồi nhảy tót lên chiếc nệm mà bá tước phu nhân đang lo là sẽ trở thành cỗ ván liệm mình. Chiếc nệm rất cao và êm, trên đầu có đặt một chồng gối năm chiếc to nhỏ suýt soát nhau, chiếc nhỏ đặt lên chiếc to. Natasa nhảy tót lên giường, cho người lún sâu xuống nệm, lăn đến sát vách và bắt đầu trăn trở lục xục ở dưới chăn để tìm cách nằm lại cho thoải mái, co hai gối lên tận cằm rồi vẫy chân lia lịa và cười rúc rích, khi thì trùm chăn kín đầu, khi thì ló mặt ra nhìn mẹ. Bá tước phu nhân đọc kinh đã xong liền đi lại phía giường, vẻ mặt nghiêm nghị, nhưng thấy Natasa trùm chăn kín mít, phu nhân mỉm cười, nụ cười hiền lành yếu ớt mà phu nhân thường có.


- Kìa, kìa, cái gì thế con? - Phu nhân nói.


- Mẹ ơi, nói chuyện một chút được chứ mẹ? - Natasa nói. - Nào cho con hôn ở cổ một cái, một cái nữa rồi thôi nhé.


Và nàng ôm choàng lấy cổ mẹ, hôn vào phía dưới cằm. Đối với mẹ, Natasa có những cử chỉ bên ngoài rất thô, nhưng nàng tế nhị và khéo léo đến nỗi dù có ôm, có quàng tay thế nào đi nữa nàng cũng biết làm sao cho mẹ không thấy đau, không thấy khó chịu hay vướng víu chút nào.


- Nào, hôm nay nói chuyện gì? - Mẹ nàng nói sau khi đã kê đầu cho ngay ngắn và thoải mái trên mấy chiếc gối và đợi Natasa lăn hai vòng từ cạnh giường vào nằm sát người bà dưới cùng một tấm chăn. Natasa đặt hai cánh tay lên trên chăn và làm ra vẻ nghiêm trang.


 Những cuộc đến thăm ban đêm của Natasa như thế này trước khi bá tước ở câu lạc bộ về là một trong những cái thú ưa thích nhất của hai mẹ con.


- Hôm nay nói chuyện gì nào? Mẹ cũng đang cần nói với con..


Natasa đưa tay lên bịt miệng mẹ lại.


- Chuyện Bôris... Con biết rồi. - Natasa nghiêm nghị - Con đến cũng vì chuyện ấy. Mẹ đừng nói, con biết rồi. Không, mẹ nói đi cơ! - Nàng cất tay. - Mẹ ơi, mẹ nói đi, anh ấy dễ thương đấy chứ?


- Natasa ạ, con đã mười sáu tuổi đầu rồi, hồi trước bằng tuổi con, mẹ đã đi lấy chồng rồi. Con bảo Bôris dễ thương. Nó dễ thương lắm, mẹ quý nó như con mẹ, nhưng con muốn gì nào?... Con nghĩ sao? Con làm cho nó ngẩn cả người ra rồi đấy, mẹ thấy rõ như thế...


Trong khi nói mấy câu này, bá tước phu nhân đưa mắt nhìn sang con gái. Natasa nằm im, mắt nhìn trân trân vào một trong mấy con sư tử đầu người bằng gỗ hồng tâm chạm ở góc giường, phu nhân nhìn sang chỉ thấy chiều nghiêng mặt nàng. Gương mặt của Natasa làm cho phu nhân kinh ngạc vì vẻ nghiêm nghị và đăm chiêu khác thường.


Natasa lắng nghe và suy nghĩ.-Vâng, rồi sao hở mẹ?


- Con làm cho nó ngẩn ngơ ra như vậy để làm gì? Con muốn gì ở Bôris? Con cũng thừa biết con không thể lấy nó được kia mà.


- Tại sao? - Natasa hỏi, vẫn nằm im như cũ.


- Tại vì nó còn trẻ, tại vì nó nghèo, tại vì nó có họ với con, tại vì chính con cũng chẳng yêu gì nó.


- Sao mẹ biết?


- Mẹ biết. Như thế không tốt đâu, cô bạn nhỏ của mẹ ạ.


- Nhưng nếu con muốn... - Natasa nói.


- Thôi, con đừng nói những chuyện vớ vẩn nữa. - Phu nhân nói.


- Nhưng nếu con muốn...


- Natasa, mẹ nói chuyện đứng đắn...


Natasa không để cho mẹ nói hết, cầm lấy bàn tay to xương của phu nhân và hôn lên phía trên, rồi hôn vào lòng bàn tay, rồi lại lật bàn tay lại và hôn lên khớp xương lồi lên ở chỗ giáp ngón, rồi hôn vào chỗ lõm giữa hai khớp xương, rồi lại hôn lên khớp xương, vừa hôn vừa thì thầm: "Tháng giêng, tháng hai, tháng ba, tháng tư, tháng năm".


- Mẹ nói đi mẹ, sao mẹ lại làm thinh? Mẹ nói đi. - Natasa nói, mắt ngước nhìn mẹ. Bấy giờ bá tước đang âu yếm nhìn con, và hình như mải nhìn như vậy nên quên cả những điều định nói.


- Như thế không được đâu, con ạ. Không phải ai rồi cũng hiểu được tình bạn ấu thời giữa con và Bôris đâu; thấy Bôris gần gũi con nhiều quá như thế, những người thanh niên thường đến nhà ta sẽ có ý nghĩ không hay về con, nhưng cái chính là làm như vậy chỉ gây khổ nó, vô ích. Có lẽ nó đã tìm được đám khác hợp ý hơn, giàu có hơn; bây giờ nó như điên như dại lên rồi đấy.


- Điên rồi hở mẹ? - Natasa lặp lại.


- Để mẹ kể chuyện của mẹ cho mà nghe. Mẹ có một người anh họ11.


- Con biết rồi, - bác Kirila Mátvâyích chứ gì, nhưng bác ấy già rồi còn gì?


- Không phải bao giờ cũng già như thế đâu. Nhưng bây giờ thế này Natasa ạ, mẹ sẽ nói chuyện với Bôris. Nó không nên đến đây nhiều như thế nữa...


- Tại sao lại không nên, nếu anh ấy thích?


- Tại vì mẹ biết rằng rồi chẳng đi đến đâu hết.


- Sao mẹ biết? Không, mẹ ạ, mẹ đừng nói với anh ấy. Thật vớ vẩn! - Natasa nói với cái giọng của một người đang sắp bị người ta tước đoạt mất tài sản. - Thôi, con sẽ không lấy anh ấy nữa, nhưng cứ để cho anh ấy đến, nếu anh ấy thấy vui và con cũng vui - Natasa mỉm cười nhìn mẹ.


- Con sẽ không lấy anh ấy, nhưng sẽ như thế. - Nàng nhắc lại.


- Sao lại thế, cô bạn nhỏ?


- Thì như thế mà lại. Thôi, không lấy anh ấy thì đã làm sao... nhưng phải như thế.


- Như thế, như thế, - bá tước phu nhân nhắc lại và rung cả người lên cười, tiếng cười hồn hậu và bất ngờ của những người già cả.


- Thôi mẹ đừng cười nữa, cười mãi, - Natasa kêu lên, - cười mãi rung cả giường lên. Mẹ giống con đến khiếp. Cũng chúa hay cười... Khoan... - Nàng nắm lấy cả hai bàn tay của bá tước phu nhân, hôn vào khớp xương ngón tay út - tháng sáu - rồi tiếp tục tháng bảy, tháng tám ở bàn tay kia. - Mẹ ơi, thế anh ấy có yêu con lắm không? Mẹ thấy thế nào? Trước kia người ta có yêu mẹ đến thế không? Mà anh ấy lại dễ thương, dễ thương lắm cơ! Chỉ có điều là không hợp khẩu vị của con lắm... Anh ta hẹp như cái đồng hồ quả lắc ở ngoài phòng ăn ấy... Mẹ không hiểu à?... Hẹp thế này này, lại xám, nhạt...


- Mày nói lảm nhảm gì thế! - Bá tước phu nhân nói.


Natasa tiếp tục:


- Mẹ không hiểu thật à? Giá có anh Nicôlai thì anh ấy hiểu ngay... Còn Bêdukhốp thì xanh, xanh thẫm thêm cả màu đỏ, và anh ta hình chữ nhật.


- Mày làm dáng cả với anh chàng này nữa đấy! - Bá tước phu nhân vừa cười vừa nói.


- Không, anh ta vào hội Tam Điểm, người ta bảo con thế. Anh ta tốt lắm, xanh thẫm và đỏ, không biết làm thế nào cho mẹ hiểu bây giờ.


- Bá tước tiểu thư - có tiếng nói của lão bá tước ở ngoài cửa phòng, - con chưa ngủ à? - Natasa chân không nhảy xuống đất, cầm giày vải trên tay bỏ chạy về phòng mình.


Nàng nằm hồi lâu không ngủ được. Nàng cứ nghĩ mãi không biết làm sao mà không ai hiểu được những điều nàng hiểu và những điều đang ở trong óc nàng.


"Xônhia? - Nàng vừa nghĩ thầm vừa nhìn Xônhia trông như con mèo cái đang ngủ say, mình cuộn tròn, bím tóc to dày buông thõng một bên. - Không, chị ấy không hiểu được đâu! Chị ấy đức hạnh lắm. Chị ấy yêu Nicôlai và ngoài ra không còn biết gì khác nữa. Còn mẹ, cả mẹ nữa cũng chẳng hiểu mình. Lạ thật, mình thông minh thế, mà lại... cô ấy dễ thương...'', - nàng nghĩ tiếp, nói về mình như về một người thứ ba và tưởng tượng rằng người đang nói về nàng là một người đàn ông nào đó rất thông minh, thông minh nhất, và tốt hơn hết thảy mọi người... “Ở con người cô ấy có đủ mọi cái hay cái tốt, - người đàn ông nói tiếp, - cô ấy thông minh đặc biệt, dễ thương, có duyên mà lại xinh, xinh lạ lùng, lại nhanh nhẹn - bơi khá, cưỡi ngựa rất cừ, lại còn giọng hát nữa! Có thể nói là một giọng hát phi thường!". Natasa hát câu nhạc ưa thích của nàng rút trong vở ca kịch của Kêrubini12, gieo mình trên giường, cười khanh khách với một ý nghĩ tươi vui là bây giờ nằm xuống nàng sẽ ngủ ngay lập tức cho mà xem. Nàng gọi Đunhasa tắt nến, Đunhasa chưa ra khỏi phòng thì nàng đã đi vào một thế giới khác, một thế giới hạnh phúc hơn, thế giới của những giấc mộng; nơi ấy cái gì cũng nhẹ nhõm và tốt đẹp như trong thực tế, nhưng lại còn tốt đẹp hơn nữa, bởi vì cái gì cũng khác hẳn.


Ngày hôm sau, bá tước phu nhân mời Bôris đến gặp mình nói chuyện, và từ hôm ấy trở đi, chàng không đến nhà Rôstốp nữa.


 




(còn tiếp)


Nguồn: Chiến tranh và Hòa bình. L. Tônxtoi. Tập 2. Bộ mới ba tập. NXB Văn học, 6 - 2007. In theo lần xuất bản đầu tiên năm 1961.


 



 



 









1 Grand seigneur.




2 De la femme la plus distinguée de Pétersbourg.




3 au sérieux.




4 Mon page. 




5 Bas bleu. 




6 Một thiên hay trong Cựu Ước gồm những lời dân ca trữ tình miêu tả và ca ngợi tình yêu nam nữ, nhưng lại được Giáo hội giải thích thành những hình ảnh tượng trưng cho khát vọng của linh hồn mãnh liệt vươn tới Thượng đế. 




7 “Đấy sẽ là vợ tôi”.




8 Tức Lettôni và Estôni ngày nay. 




9 Vùng duyên hải Bantích (theo cách gọi cũ của người Đức). 




10 Comme il faut.




11 Cousin. 




12 Luigi Cherubini (1760 - 1842), nhà soạn nhạc người Ý, tác giả nhiều ca kịch có tinh thần cách mạng.


 



Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
23.
24.
25.
26.
27.
28.
29.
30.
31.
32.
33.
34.
35.
36.
37.
38.
39.
40.
41.
42.
43.
44.
45.
46.
47.
48.
49.
50.
51.
52.
53.
54.
55.
56.
57.
58.Phần Thứ Mười một
59.
60.
61.
62.
63.
64.
65.
66.
67.
68.
69.
70.
71.
72.
73.
74.
75.
76.
77.
78.Phần Thứ tám
79.
80.
81.Phần Thứ sáu
82.Lời Người biên tập và Lời Giới thiệu của Cao Xuân Hạo
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Đi tìm hiện thực của những ước mơ - Hạ Bá Đoàn 16.07.2019
Seo Mỉ - Đỗ Quang Tiến 12.07.2019
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 08.07.2019
Thế giới những ngày qua - Stefan Zweig 06.07.2019
Đất thức - Trương Thị Thương Huyền 01.07.2019
Ông cố vấn - Hữu Mai 29.06.2019
Ma rừng - Phùng Phương Quý 28.06.2019
Kim Vân Kiều Truyện - Thanh Tâm Tài Nhân 19.06.2019
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 01.06.2019
Cõi mê - Triệu Xuân 21.05.2019
xem thêm »