tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 28278483
Tiểu thuyết
25.12.2008
Liep Nicôlaievich Tônxtoi
Chiến tranh và Hòa bình
Phần Thứ sáu

I


Năm 1808, Hoàng đế Alếchxanđơ đến Écphua để hội kiến với Hoàng đế Napôlêông một lần nữa, và trong giới thượng lưu tai mắt ở Pêtécbua người ta bàn tán rất nhiều về cuộc gặp gỡ long trọng và vĩ đại này.


Năm 1809, hai vị chúa tể của thế giới - như hồi ấy người ta thường gọi Napôlêông và Alếchxanđơ - đã thân thiết với nhau đến nỗi vào năm ấy, khi Napôlêông tuyên chiến với Áo, thì một quân đoàn Nga liền được điều qua biên giới để phối hợp tác chiến với kẻ thù cũ là Bônapáctơ nhằm chống lại kẻ đồng minh cũ là Hoàng đế nước Áo; đến nỗi trong giới thượng lưu người ta bàn tán rằng có lẽ Napôlêông sẽ kết hôn với một người em gái của Hoàng đế Alếchxanđơ. Nhưng ngoài các vấn đề đối ngoại ra thì hồi ấy công chúng Nga đặc biệt tha thiết quan tâm đến những cuộc cải cách nội chính bấy giờ đang được tiến hành trong khắp các lĩnh vực của bộ máy cai trị trong nước.


Trong khi đó, cuộc sống, cuộc sống thật của con người với những điều thiết thân về sức khỏe, bệnh tật, công việc, nghỉ ngơi, với những vấn đề tư tưởng, khoa học, thi ca, âm nhạc, tình yêu, tình bạn, thù hằn, dục vọng, vẫn trôi qua như thường lệ, bất chấp và vượt ra ngoài mọi sự thân thiện hay hiềm khích về chính trị với Napôlêông Bônapáctơ, vượt ra ngoài mọi cuộc cải cách ở trên đời.


Công tước Anđrây đã hai năm nay không rời khỏi chốn thôn quê. Tất cả những biện pháp mà Pie đã nghĩ ra để cải cách điền trang đều không thu được một kết quả gì, vì chàng cứ luôn luôn nhảy từ việc này sang việc khác dù tất cả những biện pháp đó đều đã được công tước Anđrây thực hiện, tuy không cho ai biết và cũng không phải hao hơi tốn sức cho lắm. Chàng là người có được tính kiên trì thực tiễn ở mức rất cao mà Pie vốn thiếu, cho nên tuy chẳng phải ra sức gì mấy, chàng vẫn làm cho công việc tiến hành có kết quả.


Ba trăm nông nô thuộc một điền trang của chàng được chuyển thành nông dân tự do (đó là một trong những tấm gương đầu tiên ở Nga), còn ở các điền trang khác thì lực dịch được thay thế bằng địa tô. Ở Bôgútsarôvô, công tước Anđrây xuất tiền thuê một bà đỡ để trông nom các sản phụ và trả lương cho một vị linh mục để dạy cho con cái nông dân và gia nô biết đọc biết viết.


Công tước Anđrây dành một nửa thời giờ để về Lưxy Grư sống bên cạnh cha già và đứa con trai nhỏ bây giờ đang giao cho các bà vú em coi sóc, còn một nửa thời giờ thì chàng ở "tu viện Bôgútsarôvô" - như cha chàng vẫn gọi điền trang của chàng. Tuy có nói với Pie rằng mình rất hờ hững đối với các biến cố bên ngoài trên thế giới nhưng chàng vẫn kiên tâm theo dõi các biến cố đó, chàng gửi mua rất nhiều sách và khi có những người mới ở Pêtécbua về thăm chàng hay cha chàng, chính chàng cũng lấy làm ngạc nhiên rằng những con người sống ngay giữa luồng nước xoáy của cuộc đời ấy về mặt hiểu biết những sự kiện ngoại giao và nội trị đang diễn ra lại kém xa một người nằm lì ở thôn quê như chàng.


Ngoài những công việc điền trang, ngoài việc đọc đủ các loại sách ra, công tước Anđrây bây giờ còn chủ tâm phân tích và phê phán hai chiến dịch thất bại vừa rồi của quân ta và soạn ra một dự án cải cách quy chế và luật lệ của quân đội.


Mùa xuân năm 1809, công tước Anđrây đi đến các điền trang của con trai ở Riadan do chàng đảm đương việc giám hộ.


Dưới ánh nắng ấm áp của mùa xuân, chàng ngồi trên xe ngựa, đưa mắt ngắm những ngọn cỏ mới mọc, những nhánh lộc bạch dương mới nhú và những làn mây trắng đầu tiên của mùa xuân lơ lửng trên nền trời xanh trong sáng. Chàng không nghĩ gì hết, chỉ vui vẻ và vô tư lự ngắm cảnh bên đường.


Cỗ xe kiệu đi qua bến phà, nơi mà cách đây một năm chàng đã nói chuyện với Pie, rồi đi qua một cái làng lầy lội, những khoảng sân đập lúa, những cánh đồng lúa mì mùa đông đang lên. Xe lăn theo con đường thoai thoải đi xuống một chiếc cầu còn đọng lại ít tuyết, rồi lại leo lên một cái dốc đất sét trơn lầy, đi qua những dải ruộng đầy những gốc rạ và những bụi cây lác đác đâm chồi xanh, rồi tiến vào một khu rừng bạch dương chạy dài hai bên đường. Trong rừng rất ấm, phần nào nóng bức nữa là khác, không có lấy một hơi gió thoảng qua. Những cây bạch dương lốm đốm những khóm lá xanh mọng đứng im lìm không lay động, và những ngọn cỏ non, những bông hoa màu tím nhạt đã nhú lên trên lớp lá vàng rụng từ năm ngoái. Mấy cây thông nhỏ mọc lác đác trong khóm bạch dương, màu lá ngàn đời xanh thắm của nó khiến người ta nhớ lại mùa đông mà bực mình. Chạy vào đến rừng, mấy con ngựa kéo xe thở phì phò, mình càng toát mồ hôi nhiều hơn trước.


Anh hành bộc Piốt nói với người xà ích một câu gì đó không rõ, và người xà ích khen phải. Nhưng hình như Piốt chưa thỏa mãn với sự đồng tình của người xà ích: anh ta xoay người trên ghế đánh xe, ngoảnh về phía chủ, mỉm cười lễ phép nói:


- Thưa đại nhân, thật là khoan khoái.


- Cái gì?


- Bẩm, thật là khoan khoái ạ.


"Anh ta nói gì thế nhỉ? - Công tước Anđrây nghĩ thầm. Phải chắc là nói về mùa xuân. - Chàng nghĩ, mắt nhìn sang hai bên đường. - Ừ, cảnh vật mới đó mà đã xanh rờn... chóng quá! Bạch dương, điêu lê và cả xích dương nữa, đều đã bắt đầu... Còn cây sồi thì vẫn chưa thấy gì. Phải, đây đúng là một cây sồi rồi".


Bên vệ đường sừng sững một cây sồi. Có lẽ nó già gấp mười lần những cây bạch dương mọc thành khóm rừng này, nó to gấp mười và cao gấp đôi mấy cây bạch dương ấy. Đó là một cây sồi rất lớn, hai người ôm không xuể, có những cành gãy có lẽ đã từ lâu, vỏ cây nứt nẻ đầy những vết sứt sẹo. Với những cánh tay to xù xì không cân đối, với những ngón tay quều quào xòe rộng, nó như một quái vật già nua cau có và khinh khỉnh đứng giữa đám bạch dương tươi cười. Chỉ có cây sồi là không chịu khuất phục cái phép nhiệm màu của mùa xuân, không chịu đón lấy mùa xuân và ánh nắng.


"Mùa xuân, tình yêu, hạnh phúc ư! - Cây sồi già như muốn nói thế. Làm sao một điều dối trá khờ khạo và điên rồ như thế mà mãi các người không chán! Quanh đi quẩn lại chỉ có thế, và vẫn chỉ là một sự dối trá mà thôi! Làm gì có mùa xuân, có ánh nắng, có hạnh phúc? Kìa, các ngươi nhìn mà xem, những cây thông chết cằn chết rụi, bao giờ cũng vẫn thế, và ta nữa, đang dang những ngón tay rạn gãy, sây sát từ lưng ta, từ sườn ta mọc lên; xưa kia nó mọc như thế nào thì ta bây giờ cũng vẫn như thế, và ta không tin vào những niềm hy vọng và những sự dối trá của các ngươi".


Công tước Anđrây ngoái cổ nhìn lại cây sồi mấy lần trong khi xe đi qua khóm rừng, dường như chờ đợi ở nó một cái gì. Dưới gốc cây sồi cũng có hoa, có cỏ, nhưng nó vẫn thế, cau có, lầm lì, què quặt và kiên gan đứng im lìm giữa đám hoa cỏ ấy.


"Phải, cây sồi nó nói phải, một ngàn lần phải, - công tước Anđrây nghĩ, - để cho người khác, những người còn trẻ, họ lao vào sự dối trá ấy, còn chúng mình thì đã biết đời rồi, - cuộc đời của chúng mình hết rồi". Và một loạt ý tưởng mới mẻ, vô hy vọng nhưng buồn buồn dìu dịu do cây sồi gợi lên nảy sinh trong tâm hồn công tước Anđrây. Trong chuyến hành trình này, chàng như đã suy nghĩ lại cả cuộc đời của mình và một lần nữa chàng lại đi đến cái kết luận trước kia, một cái kết luận đượm màu bi quan nhưng cũng làm cho lòng chàng dịu lại, là bây giờ chàng không nên mưu đồ một cái gì nữa hết, rằng chàng phải sống nốt cho hết cuộc đời mình, không làm điều xấu, không ưu tư, không ước muốn gì nữa.


II


Vì những công việc giám hộ điền trang Riadan, công tước Anđrây phải tiếp xúc với viên đô thống quý tộc1 là bá tước Ilya Anđrâyêvích Rôstốp, và vào trung tuần tháng năm, công tước Anđrây đến nhà ông ta.


Mùa xuân bấy giờ đã chuyển sang tiết oi bức. Rừng đã khoác bộ áo xanh um tùm, không khí đầy bụi và khí trời nóng nực đến nỗi hễ đi ngang chỗ có nước là thấy thèm tắm.


Công tước Anđrây lòng không vui và tư lự vì nghĩ tới việc phải đến thỉnh cầu viên đô thống quý tộc về công việc. Xe chàng tiến vào khu vườn lớn của gia đình Rôstốp ở Ôtrátnôiê. Về bên phải, sau mấy khóm cây, chàng bỗng nghe một giọng con gái vui vẻ reo lên, rồi thấy một tốp thiếu nữ chạy ùa về phía lối xe đi. Người chạy trước đến gần xe nhất là một thiếu nữ mắt đen, tóc đen, vóc người mảnh dẻ lạ lùng, mặc chiếc áo dài bằng vải hoa vàng, đầu chít một tấm khăn mùi soa trắng để tuột ra ngoài mấy món tóc rối. Cô thiếu nữ vừa chạy vừa cất tiếng reo to, nhưng chợt nhận ra người lạ, cô nhìn lảng đi nơi khác rồi phì cười bỏ chạy trở lại.


Công tước Anđrây chợt thấy lòng se lại, chẳng hiểu vì sao. Ngày hôm nay trời đẹp quá, ánh nắng rực rỡ quá, chung quanh tươi vui quá; và cô gái mảnh dẻ, xinh xắn kia không hề biết và không muốn biết rằng có chàng tồn tại trên đời này, cô bằng lòng và vui sướng với cuộc sống riêng của mình - chắc là một cuộc sống vô nghĩa nhưng vui tươi và hạnh phúc.


"Cô ta có chuyện gì mà vui thế? Cô nghĩ đến cái gì? Hẳn không phải đến quy chế quân sự hay việc tổ chức nông dân ở điền trang Riadan. Cô ta nghĩ gì thế? Cái gì làm cho cô ta sung sướng?" - Công tước Anđrây bất giác băn khoăn tự hỏi.


Bá tước Ilya Anđrâyêvích năm 1809 cũng sống ở Ôtrátnôiê như mọi năm trước, nghĩa là tiếp đãi hầu hết cả tỉnh, suốt ngày săn bắn, tiệc tùng, diễn kịch, đàn sáo. Cũng như đối với bất cứ người khách nào mới đến, bá tước Rôstốp mừng rỡ tiếp đãi công tước Anđrây và khăng khăng nài ép chàng nghỉ lại nhà.


Suốt một ngày dài dằng dặc, công tước Anđrây phải trò chuyện với hai ông bà Rôstốp và các vị thượng khách đến chật cả nhà để dự mấy ngày lễ thánh sắp đến. Bôncônski mấy lần nhìn Natasa vui đùa giữa đám thanh niên, trong lòng cứ băn khoăn tự hỏi: "Không biết cô ấy nghĩ gì? Cái gì làm cô ta sung sướng thế?".


Đến tối, nằm một mình trong phòng lạ, chàng nhà không sao ngủ được. Chàng lấy sách đọc, rồi tắt nến đi, rồi lại thắp lên. Căn phòng đóng cửa sổ kín mít, rất nóng bức. Chàng thấy bực cái lão già ngốc nghếch kia (chàng gọi bá tước Rôstốp như vậy) đã giữ chàng lại, bảo là các giấy tờ cần thiết đang ở trên tỉnh, còn phải cho người lên lấy. Chàng nghĩ bực mình sao mình lại ở lại đây làm gì.


Công tước Anđrây đứng dậy, ra mở cửa sổ. Chàng vừa mở cánh cửa chớp ra thì ánh trăng lùa vào phòng, tựa hồ nãy giờ đã chực sẵn từ lâu ngoài cửa sổ. Chàng mở rộng cửa. Đêm hôm ấy mát mẻ, trong sáng và yên tĩnh. Ngay trước cửa sổ có một hàng cây xén phẳng, một phía thì tối đen, phía kia thì óng ánh như bạc. Ở phía dưới hàng cây cao có những khóm cây gì ướt mọng, cánh lá lăn tăn phản chiếu ánh trăng bạc. Xa hơn, ở phía sau hàng cây đen có một cái nhà sương đọng lấp lánh, về phía bên phải có một cây to um tùm, thân và cành đều trắng muốt, và ở phía trên là vầng trăng gần tròn, trên nền trời xuân trong sáng chỉ lác đác mấy vì sao. Công tước Anđrây chống khuỷu tay lên khung cửa sổ, mắt chàng đăm đăm nhìn lên bầu trời.


Phòng của công tước Anđrây ở tầng giữa; các phòng tầng trên cũng có người, họ cũng chưa ngủ. Chàng nghe có tiếng nói của một người con gái ở phía trên vẳng xuống:


- Một lần nữa thôi mà. - Công tước Anđrây nhận ngay ra giọng người con gái vừa nói câu này.


- Thế thì bao giờ cô mới chịu đi ngủ? - Một giọng khác đáp lại.


- Em không ngủ, em không thể ngủ được đâu, biết làm thế nào được! Nào, lần cuối cùng thôi mà...


Hai giọng phụ nữ hòa nhau hát một câu, có lẽ là câu cuối của một bài nhạc nào đấy.


- Chà tuyệt quá! Thôi, bây giờ thì ngủ nhé.


- Chị đi ngủ đi, còn em thì chịu. - Giọng người ban nãy đáp, nghe như đang đi ra phía cửa sổ. Có lẽ cô thiếu nữ nhô hẳn người ra ngoài cửa sổ, vì có thể nghe rõ cả tiếng áo sột soạt và tiếng thở. Mọi vật đều im bặt và lắng lại như vầng trăng, như ánh trăng và bóng tối trong vườn. Công tước Anđrây cũng không dám cử động, sợ mấy cô gái ở tầng trên biết mình đang thức. Giọng nói ban đầu lại vẳng xuống:


- Xônhia! Xônhia! Ngủ làm sao được kia chứ! Xem này, tuyệt quá! Ôi! Đẹp quá đi mất! Kìa dậy đi, chị Xônhia. - Giọng nói nghe gần như muốn khóc. - Thật chưa bao giờ, chưa bao giờ có một đêm huyền diệu như thế này.


Xônhia cằn nhằn đáp lại một câu gì không rõ.


- Không, chị phải ra đây mà xem cơ, trăng đẹp quá... Ôi! Tuyệt quá! Chị ra đây. Xônhia ơi, Xônhia yêu quý của em, chị ra đây. Đấy, chị thấy không? Đây này, cứ ngồi xổm như thế này nhé, vòng tay xuống dưới hai đầu gối thế này ôm thật chặt, thật chặt vào, phải cố lấy sức thì thế nào cũng bay bổng lên cho mà xem. Đây này!


- Thôi thôi, lại ngã bây giờ.


Có tiếng hai người giằng co nhau, rồi giọng trách móc của Xônhia:


- Hơn một giờ sáng rồi còn gì.


- Ồ, chị thì chỉ làm hỏng hết cái thú của em thôi. Chị đi đi, đi đi...


 Mọi vật lại im lặng, nhưng công tước Anđrây biết rằng nàng vẫn ngồi đấy; thỉnh thoảng chàng lại nghe tiếng cử động khe khẽ, thỉnh thoảng lại có tiếng thở dài.


- Ồ, trời ơi! Trời ơi! Làm sao thế này! - Nàng bỗng kêu lên. – Thôi, đi ngủ thì đi ngủ vậy! - Rồi nàng đóng cửa lại.


 "Vẫn không hay biết gì đến ta!" - Công tước Anđrây nghĩ trong khi lắng tai nghe tiếng nói của nàng, và không hiểu tại sao, chàng cứ chờ đợi và sợ rằng nàng sẽ nói một điều gì về mình. "Lại cô ấy, cứ như là cố tình vậy" - Chàng nghĩ. Trong tâm hồn chàng bỗng trào lên một mớ ý nghĩ rối ren bất ngờ cùng với bao nhiêu hy vọng trẻ trung không ăn nhập gì với cuộc đời chàng. Cảm thấy mình không đủ sức hiểu nổi tâm trạng mới mẻ của mình, công tước Anđrây vào giường ngủ thiếp đi.


III


Sáng hôm sau, công tước Anđrây từ biệt mỗi một mình lão bá tước và ra về trước khi các tiểu thư xuống phòng khách.


Bấy giờ đã là đầu tháng sáu. Trên đường về nhà, công tước Anđrây lại đi ngang khóm rừng bạch dương có cây sồi già đã từng gợi cho chàng những ấn tượng kỳ lạ khó quên. Tiếng lục lạc trong rừng nghe còn mơ hồ xa xăm hơn một tháng rưỡi trước đây. Cánh rừng đã rậm rạp và um tùm thông non rải rác trong rừng không còn tương phản với cảnh đẹp chung quanh, bây giờ chúng đã hòa mình vào khung cảnh chung, đã đâm những búp chồi non xanh mịn.


Suốt ngày hôm ấy, trời oi bức. Đâu đây một trận giông đang sửa soạn kéo đến, nhưng chỉ có một đám mây đen nhỏ hắt mấy giọt mưa trên bụi đường và trên khóm lá xanh mọng. Phía bên trái, cánh rừng tối sẫm với những bóng cây rợp mát; phía bên phải, rừng ẩm ướt, bóng lộn, lá cây óng ánh dưới nắng, chỉ khẽ đung đưa trong gió nhẹ. Cảnh vật đều nở hoa; có tiếng họa mi thánh thót khi xa khi gần.


 "Phải, ở đây, trong khóm rừng này có cây sồi mà dạo nọ ta đã từng đồng tình. - Công tước Anđrây nghĩ thầm. - Nó đâu rồi nhỉ?". Chàng nhìn sang bên trái đường và bất giác đưa mắt ngắm nghía một cây sồi lớn, không nhận ra rằng đây chính là cây sồi mà chàng đang tìm kiếm. Cây sồi già bây giờ đã hoàn toàn đổi mới, tỏa rộng một vòm lá sum suê xanh tốt thẫm màu, đang như say sưa ngất ngây, khẽ đung đưa trong ánh nắng chiều. Không còn thấy những ngón tay co quắp, những vết sứt sẹo; vẻ ngờ vực và buồn rầu trước kia cũng không còn dấu vết. Xuyên qua lớp vỏ cứng già hàng thế kỷ, những đám lá non xanh tươi đã đâm thẳng ra ngoài. Thật khó lòng tin được rằng, chính cây sồi cằn cỗi kia đã sinh ra những chòm lá xanh mơn mởn ấy.


"Phải, chính cây sồi dạo trước" - Công tước Anđrây nghĩ, và chàng bỗng vô cớ có một cảm giác vui mừng, sảng khoái, tưởng chừng như mỗi tế bào trong mình đã đổi mới, sống lại. Và trong cùng một lúc, chàng nhớ lại tất cả những giờ phút tốt đẹp nhất của đời mình. Chiến trường Aostéclích với bầu trời cao lồng lộng, khuôn mặt đầy vẻ trách móc của vợ khi đã tắt thở, Pie trên chuyến phà, người con gái bồi hồi rung động trước cảnh đẹp đêm ấy, và cả cái đêm hôm ấy, vầng trăng - tất cả những cái đó đều cùng hiện lên trong ký ức của chàng.


"Không, cuộc đời chưa chấm dứt ở tuổi ba mươi mốt! Công tước Anđrây đột nhiên nghĩ thầm, và ý nghĩ này có cái sức mạnh của một điều quyết định, không thể nào thay đổi được nữa. -Ta biết rõ những gì ở trong ta ư? Không đủ. Phải làm thế nào cho mọi người cũng đều biết kia: cả Pie, cả người con gái đêm nào muốn bay lên trời; phải làm sao cho mọi người đều biết rõ ta, sao cho cuộc sống của ta trôi qua không phải chỉ vì mình ta, sao cho họ đừng sống cách biệt với cuộc sống của ta như vậy, sao cho cuộc đời của ta phản chiếu lên tất cả mọi người, và mọi người cùng sống chung với ta!".


Về đến nhà, công tước Anđrây dự định đến mùa thu sẽ đi Pêtécbua và ngồi nghĩ ra nhiều lý do này nọ để biện hộ cho ý định này. Cả một loạt lý luận hợp lý sẵn sàng hiện ra để giúp chàng cắt nghĩa tại sao chàng lại cần phải đi Pêtécbua và hơn nữa, phải nhận một chức vụ của Nhà nước. Ngay đến giờ chàng cũng chưa hiểu vì sao đã có lúc chàng có thể hồ nghi về sự cần thiết phải tham gia vào cuộc sống một cách hăng hái, cũng như một tháng trước đây chàng không hiểu tại sao mình lại có thể có ý nghĩ đi ra khỏi làng quê. Chàng thấy rất rõ rằng tất cả những kinh nghiệm của chàng về cuộc sống tất sẽ bỏ phí và trở thành vô nghĩa nếu chàng không đem nó ra sử dụng và không trở lại hoạt động với đời. Thậm chí chàng không hiểu nổi tại sao trước đây, cũng với những lập luận thảm hại ấy, chàng đã yên trí là sau những bài học đường đời ấy mà còn tin rằng mình có thể hữu ích, còn tin vào hạnh phúc và tình yêu, thì thật là tủi nhục. Bây giờ lý trí nói với chàng những điều khác hẳn. Sau chuyến đi ấy, công tước Anđrây thấy chán cảnh sống ở thôn quê, chàng không còn thấy thú vị trong những công việc trước kia nữa, và nhiều khi đang ngồi một mình trong phòng làm việc, chàng đứng dậy, đến trước tấm gương và nhìn mặt mình một hồi lâu. Rồi chàng quay lại nhìn bức chân dung của nàng Lida quá cố, tóc uốn quăn theo kiểu Hy Lạp2, đang âu yếm và vui vẻ nhìn chàng trong chiếc khung thiếp vàng. Nàng không còn nói với chàng những lời lẽ khủng khiếp trước kia nữa, nàng chỉ vui vẻ nhìn chàng, vẻ giản dị và tò mò. Và công tước Anđrây chắp tay sau lưng, đi đi lại lại trong phòng, khi cau mày, khi mỉm cười, ôn lại những ý nghĩ điên rồ, không thể nói ra được bằng lời, bí ẩn như một tội ác, những ý nghĩ có liên quan đến Pie, đến danh vọng, đến cô gái bên cửa sổ, đến cây sồi, đến nhan sắc đàn bà và đến tình yêu, những ý nghĩ đã biến đổi cả cuộc đời của chàng. Và trong những giờ phút như vậy, nếu có ai đến gặp chàng, chàng thường tỏ ra đặc biệt kiên nghị, nghiêm khắc và lạnh lùng, và nhất là chàng lý sự một cách khó chịu.


Trong những phút như vậy, có đôi khi công tước tiểu thư Maria vào phòng chàng và nói:


- Anh ạ3, cháu Nicôlai hôm nay không cho đi chơi được đâu, lạnh lắm.


Và những lúc ấy, công tước Anđrây thường trả lời em rất xẵng:


- Nếu trời ấm thì nó sẽ mặc áo sơ mi mà đi chơi, nhưng trời rét thế này thì phải mặc thêm áo ấm cho nó, sinh ra áo ấm là để dùng vào những việc như thế. Đấy, nếu trời rét thì phải làm như vậy, chứ không phải là lại ở nhà, trong khi trẻ nó cần không khí. - Chàng nói với một giọng lý sự đặc biệt, như muốn trừng phạt một người nào về sự chuyển biến bí ẩn, phi lý đang diễn ra trong tâm hồn chàng.


Trong những trường hợp như vậy, công tước Maria tiểu thư thường nghĩ rằng công việc trí óc làm cho đàn ông khô cằn đi nhiều quá.


IV


Công tước Anđrây đến Pêtécbua vào tháng tám năm 1809. Đó là lúc mà danh vọng của Xpêranski lên đến cực điểm, và cũng là lúc viên đại thần trẻ tuổi ấy thực hiện những cuộc cải cách của mình một cách quyết liệt nhất. Cũng vào tháng tám năm ấy, Hoàng thượng bị đổ xe, bị thương ở chân và phải ở lại Pêtécbua ba tuần, hàng ngày chỉ gặp một mình Xpêranski. Vào thời ấy, ngoài hai đạo dụ nổi tiếng khiến cho dư luận xôn xao ban bố bãi bỏ các chức tước trong triều đình và lập các kỳ thi vào các chức chưởng giáo trợ tá4 và cố vấn quốc gia5, người ta còn soạn ra cả một hiến pháp Nhà nước nhằm thay đổi chế độ tư pháp, hành chính và tài chính hiện hành ở Nga, kể từ hội đồng quốc gia cho chí ban quản trị xã. Bây giờ là lúc những mong ước khoáng đạt mơ hồ của Alếchxanđơ đang được thực hiện và thành hình, những mong ước mà nhà vua đã ấp ủ từ hồi mới lên ngôi và hy vọng thực hiện với sự giúp đỡ của những người giúp việc của ngài là Tsáctôriski, Nôvôxintxép, Cốtsubây và Xtrôvanốp mà chính ngài thường gọi đùa là "Ủy ban Cứu quốc"6 của mình.


Bấy giờ Xpêranski đã thế chân cho những người ấy về mọi quan chức bên nội chính, còn Arắctsâyép thì thế chân cho họ về quân sự. Công tước Anđrây đến Pêtécbua được mấy hôm đã phải đến trình diện ở triều đình với tư cách là thị thần7, và trong những buổi triều hội, Hoàng đế Alếchxanđơ đã hai lần gặp chàng mà chẳng nói với chàng lấy một câu. Từ trước, công tước Anđrây đã luôn luôn có cảm tưởng rằng nhà vua không ưa mình, không ưa cái diện mạo và cả con người của mình. Trong cái nhìn lạnh lùng và cao xa của nhà vua đối với chàng, bấy giờ Anđrây càng thấy điều mình ức đoán là đúng. Mấy vị triều thần cắt nghĩa cho công tước Anđrây hiểu rằng, Hoàng thượng lạnh nhạt với chàng như vậy là vì chàng đã thoát ly mọi hoạt động từ năm 1805.


Công tước Anđrây nghĩ:


"Bản thân ta vẫn biết rằng con người không làm chủ được lòng yêu ghét của mình, cho nên tốt hơn là đừng nghĩ đến việc thân hành đem bản bút ký về quy chế quân đội trình lên nhà vua làm gì, rồi sự thực tự nó sẽ nói thôi".


Chàng đem chuyện này nói với một vị thống soái già vốn là bạn của cha chàng. Ông thống soái ấn định cho chàng một buổi hội kiến, tiếp chàng rất niềm nở và hứa sẽ tâu lại với Hoàng thượng. Vài hôm sau, công tước Anđrây nhận được một bản thông báo cho hay rằng, chàng phải ra mắt quan tổng trưởng Bộ chiến tranh là bá tước Arắctsâyép.


Đến ngày đã định, đúng chín giờ sáng, công tước Anđrây bước vào phòng tiếp tân của bá tước Arắctsâyép.


Công tước Anđrây vốn không quen riêng Arắctsâyép và chưa bao giờ gặp ông ta, nhưng những điều chàng được biết về Arắctsâyép ít làm cho chàng kính nể con người này.


"Ông ta là tổng trưởng Bộ chiến tranh, là một nhân vật thân tín của Hoàng thượng; không ai có quyền động đến những phẩm chất cá nhân của ông ta cả; họ đã giao cho ông ta xem xét bản bút ký của ta, - như vậy nghĩa là chỉ có một mình ông ta có quyền đem nó ra thực hiện" - Công tước Anđrây nghĩ trong khi cùng ngồi đợi với nhiều nhân vật quan trọng và không quan trọng trong phòng tiếp tân của bá tước Arắctsâyép.


Công tước Anđrây hồi còn làm việc nhà nước, phần lớn là làm sĩ quan hành dinh, đã trông thấy rất nhiều phòng tiếp tân của các nhân vật quan trọng và hiểu rất rõ tính chất của từng loại phòng tiếp tân như vậy. Phòng tiếp tân của bá tước Arắctsâyép có một tính chất hoàn toàn đặc biệt. Trên gương mặt của những nhân vật không quan trọng ngồi đợi đến lượt mình được tiếp kiến trong phòng khách của bá tước Arắctsâyép hiện rõ vẻ e thẹn và khúm núm; trên gương mặt của những nhân vật có chức vụ cao hơn đều thấy rõ một vẻ lúng túng giống nhau, được che đậy dưới một vẻ ung dung bề ngoài và như có ý tự giễu cợt mình, giễu cợt cái địa vị của mình và giễu cợt người mình đang đợi. Người thì đi đi lại lại ra dáng tư lự, người thì nói chuyện thì thầm và cười với nhau, và công tước Anđrây nghe rõ tên gọi đùa8 "Xila Anđrâyích"9 và mấy tiếng "Ông bác sẽ cho cậu một chầu" ám chỉ bá tước Arắctsâyép. Một vị tướng (nhân vật quan trọng) có lẽ mếch lòng vì phải chờ đợi quá lâu, ngồi tréo chân trên ghế và cười nụ một mình ra dáng khinh khỉnh.


Nhưng cánh cửa vừa mở ra, thì trong khoảnh khắc, tất cả mọi gương mặt đều đồng loạt phản chiếu một cảm xúc duy nhất: sợ hãi. Công tước Anđrây một lần nữa yêu cầu viên trực nhật vào báo tên mình, nhưng người ta nhìn chàng một cách ngạo nghễ và bảo rằng lúc nào đến lượt chàng hẵng hay. Sau khi mấy người được viên sĩ quan phụ tá đưa vào phòng làm việc của quan tổng trưởng rồi lại đưa ra, đến lượt một sĩ quan dáng dấp sợ sệt và khúm núm khiến công tước Anđrây phải kinh ngạc, được đưa vào cái cửa khủng khiếp kia. Cuộc tiếp kiến viên sĩ quan kéo dài một hồi lâu. Chợt từ phía sau cánh cửa vẳng ra những tiếng nói khó chịu, và viên sĩ quan, mặt tái xanh, môi run lẩy bẩy, bước ra khỏi phòng và ôm đầu đi qua phòng khách.


Sau đó, công tước Anđrây được dẫn đến cánh cửa và người trực nhật thì thầm với chàng: "Sang bên phải, về phía cửa sổ".


Công tước Anđrây bước vào một căn phòng sạch sẽ không có gì sang trọng và bên chiếc bàn chàng thấy một người trạc bốn mươi tuổi, lưng dài, đầu dài, tóc húi ngắn, mặt có những nếp nhăn dày, đôi lông mày nhíu lại phía trên đôi mắt đục màu xanh nhờ nhờ như có pha màu nâu, cái mũi đỏ khoặm xuống. Arắctsâyép, quay đầu về phía công tước Anđrây, nhưng không nhìn chàng:


- Ông xin việc gì? - Arắctsâyép hỏi.


- Thưa ngài, tôi không... xin gì cả. - Công tước Anđrây nói khẽ. Hai con mắt của Arắctsâyép đưa về phía chàng.


- Mời ông ngồi. - Arắctsâyép nói - Công tước Bôncônski phải không?


- Tôi không xin gì cả; Hoàng thượng ngài có lòng chuyển cho quan lớn tập bút ký của tôi...


- Ông bạn rất quý ạ, xin ông biết cho rằng bản bút ký của ông tôi đã có đọc. - Arắctsâyép ngắt lời. Ông ta nói mấy tiếng đầu với một giọng ôn tồn, rồi không nhìn vào mặt công tước Anđrây nữa và giọng nói ngày càng chuyển thành cáu kỉnh và khinh bỉ. - Ông đề nghị những đạo luật quân sự mới à? Luật thì nhiều lắm, luật cũ đấy cũng chưa có ai thi hành cho. Bây giờ thì ai cũng soạn luật cả, viết vốn dễ hơn làm mà.


- Tôi lĩnh ý Hoàng thượng đến đây, mong ngài cho biết ngài định sử dụng tập bút ký của tôi như thế nào? - Công tước Anđrây lễ phép nói.


- Tôi đã có quyết định về tập bút ký của ông và đã chuyển sang ủy ban rồi. Tôi không tán thành. - Arắctsâyép vừa nói vừa đứng dậy và lấy ở bàn viết ra một tờ giấy đưa cho công tước Anđrây. - Đây!


Trên tờ giấy có viết ngang mấy dòng chữ bằng bút chì, không có chữ hoa, sai hết chính tả, không có dấu chấm câu: "soạn không chu đáo, bắt chước của quy chế quân sự pháp và khác với điều lệ quân đội một cách không cần thiết".


Công tước Anđrây hỏi:


- Bản bút ký của tôi được chuyển cho ủy ban nào?


- Ủy ban quy chế quân sự; và tôi có giới thiệu ngài vào làm ủy viên trong ủy ban đó. Nhưng không có lương.


Công tước Anđrây mỉm cười:


- Tôi cũng không mong thế.


- Ủy viên không lương. – Arắctsâyép nhắc lại. - Tôi đã được hân hạnh. Ê! Cho vào! Còn ai nữa? - Ông ta vừa quát vừa cúi đầu chào công tước Anđrây.


V


Trong khi chờ đợi thông báo về việc được cử làm ủy viên, công tước Anđrây tìm gặp những người quen cũ, nhất là những người mà chàng biết là có thế lực và chàng có thể sẽ cần đến. Bấy giờ ở Pêtécbua chàng có một cảm giác giống như đêm trước khi ra trận, khi chàng cảm thấy tò mò và bồn chồn lo lắng, và có một cái gì thu hút chàng mãnh liệt đến các giới quyền cao chức trọng, nơi đang quyết định tương lai, nơi nắm giữ vận mệnh của hàng triệu người. Cứ xem cái vẻ hằn học của các quan chức cao tuổi, cái vẻ tò mò của những kẻ không am hiểu, cái vẻ dè dặt của những người am hiểu, cái vẻ vội vàng, lo lắng của mọi người, cái tình trạng ủy ban này ủy ban nọ không sao kể xiết, - mỗi ngày chàng lại được biết thêm mấy ủy ban như thế, - công tước Anđrây cảm thấy rằng, hiện nay, năm 1809, ở thành phố Pêtécbua này đang sắp diễn ra một trận tỉ thí lớn trong chính giới, và người tổng chỉ huy trận này là một nhân vật mà chàng chưa từng biết, một nhân vật bí ẩn mà chàng đoán chắc phải là một thiên tài: Xpêranski. Cái công cuộc cải cách mà chàng chỉ biết lờ mờ và Xpêranski, con người chủ chốt trong công cuộc này, bắt đầu khiến chàng quan tâm hết sức, đến nỗi trong trí óc chàng, việc cải cách quy chế quân đội chẳng bao lâu đã tụt xuống hàng thứ yếu.


Công tước Anđrây đang ở một cương vị thuận lợi vào bậc nhất để được tiếp đãi ân cần trong tất cả các giới tai mắt hồi ấy ở Pêtécbua. Phái cải cách niềm nở tiếp đón và mời mọc chàng, trước hết vì chàng vốn được tiếng là có trí tuệ và học vấn sâu rộng, thứ đến là vì việc giải phóng nông nô đã khiến chàng nổi tiếng là một người có tư tưởng tự do. Phái những người già bất mãn thấy chàng là con trai lão công tước Bôncônski, nên chờ mong chàng sẽ đồng tình với họ mà lên án những cuộc cải cách. Giới phụ nữ, giới giao tế thượng lưu, thì niềm nở tiếp chàng, vì chàng là một đám giàu có và quyền quý; chàng như đã trở thành một nhân vật mới, chung quanh bao phủ một đám hào quang đậm màu thơ mộng do câu chuyện chàng tử trận và cái chết bi thảm của vợ chàng tạo nên. Ngoài ra, tất cả những ai biết chàng từ trước đều đồng thanh công nhận rằng, năm năm nay chàng đã khá hơn trước nhiều và đã nhũn nhặn, chín chắn hơn xưa, rằng chàng không còn cái vẻ vờ vĩnh, kiêu căng, ngạo mạn như trước nữa, rằng nay chàng đã có thái độ trầm tĩnh của một người đã sống nhiều. Họ bàn tán về chàng, chú ý đến chàng và mong được gặp chàng.


Sau buổi đến yết kiến bá tước Arắctsâyép một hôm, công tước Anđrây đến thăm bá tước Côssubây vào buổi tối. Chàng kể cho bá tước nghe chuyện chàng tiếp xúc với Xila Anđrâyích (Cốtsubây cũng gọi Arắctsâyép như vậy với cái vẻ giễu cợt bâng quơ, không biết nhằm vào cái gì, mà công tước Anđrây đã nhận thấy trong phòng khách của quan tổng trưởng Bộ chiến tranh).


- Anh bạn ạ10, ngay cả việc này nữa, cũng không thể không qua tay Mikhai Mikhaivích. Đó chính là người làm ra mọi chuyện11. Tôi sẽ nói với ông ấy. Ông ấy có hứa tối nay sẽ đến.


- Xpêranski thì liên quan gì đến các quy chế quân sự? - Công tước Anđrây hỏi.


Cốtsubây mỉm cười, lắc đầu như có ý ngạc nhiên về sự ngây thơ của Bôncônski, rồi nói tiếp:


- Cách đây mấy hôm, tôi với Xpêranski có nói chuyện về anh, về mấy chú nông dân tự do của anh đấy...


Một ông già sống từ thời Êkatêrina bấy giờ đang ngồi trong phòng khách nghe nói, liền quay đầu lại nhìn Bôncônski ra vẻ khinh khỉnh và nói:


- À thế ra công tước chính là cái người đã giải phóng bọn mugích của mình đấy phỏng?


- Điền trang nhỏ quá, thu nhập chẳng được bao nhiêu cả. - Bôncônski đáp, cố làm cho hành động của mình bớt ý nghĩa để khỏi khiêu khích ông già một cách vô ích.


- Công tước sợ lạc hậu chắc12 - Ông già đưa mắt nhìn Cốtsubây, nói.- Có một điều làm cho tôi thắc mắc, - ông già nói tiếp, - là nếu cho chúng nó tự do thì ai sẽ cày bừa cho? Soạn luật thì dễ, cai trị thì khó. Cũng như bây giờ đây, tôi xin hỏi bá tước nếu, mọi người đều phải thi cả thì ai sẽ đứng đầu các nghị viện?


- Tôi thiết tưởng những người đã thi họ đứng đầu chứ? - Cốtsubây đáp, vừa tréo chân lại vừa đưa mắt nhìn quanh.


- Đấy, như ở chỗ tôi có ông Prarítsnicốp, một người rất tốt, một con người vàng ngọc chứ không phải, năm nay ông ta sáu mươi tuổi rồi, chả nhẽ ông ta cũng phải thi sao?


- Phải, cũng khó thật, vì nay học vấn ít được truyền bá quá, nhưng...


Bá tước Cốtsubây không nói hết. Ông ta đứng dậy nắm lấy tay công tước Anđrây và ra đón một người vừa mới bước vào, thân hình cao lớn, trán rộng và hói, tóc vàng, trạc bốn mươi tuổi, khuôn mặt dài, nước da trắng lạ thường. Người mới vào mặc lễ phục màu xanh, cổ đeo huân chương chữ thập và ngực đính một ngôi sao ở bên trái. Người đó là Xpêranski. Công tước Anđrây nhận ra ông ta ngay và trong lòng chàng chợt có cái gì thót lại, như ta vẫn thường thấy trong những giờ phút quan trọng của cuộc đời. Đó là vì kính trọng, vì ganh tị hay là vì chờ đợi, - chàng cũng không rõ. Cả con người Xpêranski có một cái gì đặc biệt khiến người ta có thể nhận ra ngay. Trong cái xã hội chàng đã từng sống, công tước Anđrây chưa thấy người nào có những cử chỉ chậm chạp, vụng về mà lại đầy vẻ trầm tĩnh và tự tin như vậy, chàng chưa thấy người nào có đôi mắt lim dim và hơi ướt với cái nhìn vừa kiên quyết vừa dịu dàng, một nụ cười không có ý nghĩa gì nhưng lại rắn rỏi, một giọng nói nhỏ nhẹ, đều đều và đặc biệt là một nước da trắng mịn lạ lùng trên khuôn mặt và nhất là trên hai bàn tay hơi to nhưng mềm nhũn, múp míp và trắng lạ thường như vậy. Công tước Anđrây chỉ thấy cái nước da trắng và cái vẻ mặt dịu dàng ấy ở những người lính đã nằm nhà thương rất lâu.


Đó chính là Xpêranski, quốc vụ khanh và báo cáo viên của Hoàng đế, đã từng đi theo nhà vua đến Écphua và đã gặp gỡ, nói chuyện với Napôlêông mấy lần ở đấy.


Xpêranski không đưa mắt nhìn lướt từ người này sang người khác như người ta thường làm một cách không tự giác khi bước vào một nơi đông người, và không nói vội. Ông ta nói khe khẽ, tin chắc rằng người ta sẽ nghe mình, và nói với ai thì chỉ nhìn vào người ấy.


Công tước Anđrây đặc biệt chăm chú theo dõi từng lời, từng cử chỉ của Xpêranski. Cũng như mọi người, nhất là những ai thường xét đoán đồng loại một cách nghiêm khắc, khi gặp một nhân vật mới, nhất là một nhân vật như Xpêranski, một người mà chàng đã biết tiếng, công tước Anđrây bao giờ cũng chắc mẩm sẽ tìm thấy ở người đó những phẩm chất hoàn mỹ nhất của loài người.


Xpêranski nói với Cốtsubây rằng ông ta lấy làm tiếc là không đến sớm hơn được vì có việc phải nán lại ở hoàng cung. Ông ta không nói rõ là chính Hoàng thượng đã giữ ông lại. Công tước Anđrây cũng để ý thấy lối khiêm tốn đáng chú ý này. Khi Cốtsubây giới thiệu công tước Anđrây Bôncônski, Xpêranski chậm rãi đưa mắt sang phía chàng và vẫn giữ nụ cười như cũ, bắt đầu im lặng nhìn chàng.


- Tôi rất lấy làm mừng được làm quen với công tước; cũng như mọi người, tôi đã được nghe nói về công tước. - Xpêranski nói.


Cốtsubây nói qua mấy lời về việc Arắctsâyép tiếp Bôncônski. Xpêranski mỉm cười rộng miệng hơn nữa.


- Ông giám đốc ban quy chế quân sự ông Mácnítski là bạn thân của tôi, - Xpêranski nói, phát âm rõ ràng từng chữ từng vần, - và nếu ngài muốn, tôi có thể giới thiệu ngài với ông ta (Xpêranski dừng lại để chấm câu). Tôi hy vọng rằng ngài sẽ thấy ông ta đồng tình với ngài và sẵn lòng ủng hộ tất cả những gì hợp lý.


Xung quanh Xpêranski, các tân khách đã quây lại thành một vòng, và ông già lúc nãy nói chuyện về người viên chức Pranítsnicốp của mình cũng đến xin hỏi Xpêranski một câu.


Công tước Anđrây không tham gia vào câu chuyện. Chàng để ý quan sát mọi cử động của Xpêranski, con người mới đây còn là một anh học trò trường dòng vô danh mà nay đã nắm trong tay - trong đôi tay trắng trẻo và múp míp ấy - cả vận mệnh của nước Nga, như Bôncônski tự nhủ. Công tước Anđrây không khỏi kinh ngạc về cái phong thái điềm tĩnh và xem thường của Xpêranski khi trả lời ông già. Ông ta có vẻ như đứng ở một cao điểm chót vót mà hạ cố ban lờ xuống cho ông già kia. Khi ông già nói hơi to quá thì Xpêranski mỉm cười và đáp rằng ông ta không có quyền được phán đoán thiệt hơn về những việc Hoàng thượng có ý muốn làm.


Ngồi nói chuyện được một lúc giữa đám tân khách, Xpêranski đứng dậy và đến gần công tước Anđrây mời chàng theo mình đi đến cuối phòng đối diện. Có thể thấy rõ rằng, ông ta thấy cần phải lưu ý đến Bôncônski.


- Vừa rồi chuyện trò với cụ già ấy hăng quá nên tôi chưa kịp nói xong chuyện với công tước. - Xpêranski nói, miệng mỉm cười dịu dàng và khinh khỉnh, cái nụ cười dường như thừa nhận rằng ông ta cũng như công tước Anđrây đều hiểu rõ cái kém cỏi của những người vừa nói chuyện với mình. Điều đó làm cho công tước Anđrây rất hài lòng. - Tôi biết công tước từ lâu: trước hết là nhân việc ngài giải phóng nông dân, đó là tấm gương đầu tiên ở nước ta và mong sao tấm gương ấy ngày càng có nhiều người theo hơn; sau nữa là vì ngài là một trong những vị thị thần không mếch lòng vì cái đạo dụ mới ra về các quan chức trong triều đình, một đạo dụ đã gây rất nhiều lời bàn ra tán vào.


Công tước Anđrây nói:


- Vâng, cha tôi không muốn rằng tôi lợi dụng cái quyền ấy; tôi bắt đầu làm việc nhà nước ở những cấp bậc thấp.


- Cụ thân sinh công tước tuy là một người của thế kỷ trước, nhưng rõ ràng là cụ hơn những người ở thời đại ta rất nhiều, những người công kích biện pháp ấy, tuy thật ra nó chỉ phục hồi lại một sự công bằng tự nhiên mà thôi.


- Nhưng tôi thiết tưởng những lời công kích đó cũng có cơ sở. - Công tước Anđrây muốn cưỡng lại ảnh hưởng của Xpêranski mà chàng đã bắt đầu thấy tác động đến mình. Chàng cảm thấy khó chịu nếu việc gì cũng đồng ý với ông ta: chàng muốn nói ngược lại. Công tước Anđrây thường ngày vẫn nói năng dễ dàng và lưu loát, nay lại thấy khó diễn đạt khi nói chuyện với Xpêranski. Tâm trí chàng đang mải dồn vào việc quan sát nhân cách của con người nổi tiếng này.


- Có lẽ cơ sở dựa trên lòng hiếu danh cá nhân thì có. - Xpêranski nói nhẹ.


- Một phần cũng vì quốc gia nữa. - Công tước Anđrây nói.


- Ý công tước muốn nói thế nào? - Xpêranski hỏi, mắt hơi nhìn xuống.


- Tôi là một người khâm phục Môngteskiơ13 - công tước Anđrây nói, - và tư tưởng của Môngteskiơ cho rằng nguyên lý của các chế độ quân chủ là danh dự


(còn tiếp)


Nguồn: Chiến tranh và Hòa bình, 3 tập. Bộ mới, NXB Văn học, 1-2007. Triệu Xuân biên tập. In theo lần xuất bản đầu tiên tại Việt Nam năm 1961 và 1962 của Nhà xuất bản Văn hóa, tiền thân của NXB Văn học. Những người dịch: Cao Xuân Hạo, Nhữ Thành, Trường Xuyên (tức Cao Xuân Huy) và Hoàng Thiếu Sơn.


www.trieuxuan.info








1 Một người do các gia đình quý tộc trong một tỉnh hay một huyện bầu ra để lo các công việc riêng của đẳng cấp và giữ một chức vụ tương ứng trong các cơ quan tự quản của địa phương.


 à la grecque 




 




3  Mon cher.


Chức quan văn đệ bát phẩm.




 




5 Chức quan văn đệ ngũ phẩm. 




6 Comité de salut public.




7 Phẩm hàm danh dự trong cung đình; nguyên là chức của các triều thần lo các công việc nội bộ của cung điện (tiếng Đức là Kamerherr). 




8 Sobriquet.




9 Xila có nghĩa là “sức mạnh”.


 10 Mon cher.




 




11 C’est le grand faiseur.


  Vous craignez d’être en retard.




 




13 Montesquieu.


 



Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
23.
24.
25.
26.
27.
28.
29.
30.
31.
32.
33.
34.
35.
36.
37.
38.
39.
40.
41.
42.
43.
44.
45.
46.
47.
48.
49.
50.
51.
52.
53.
54.
55.
56.
57.
58.Phần Thứ Mười một
59.
60.
61.
62.
63.
64.
65.
66.
67.
68.
69.
70.
71.
72.
73.
74.
75.
76.
77.
78.Phần Thứ tám
79.
80.
81.Phần Thứ sáu
82.Lời Người biên tập và Lời Giới thiệu của Cao Xuân Hạo
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Đi tìm hiện thực của những ước mơ - Hạ Bá Đoàn 18.07.2019
Thế giới những ngày qua - Stefan Zweig 17.07.2019
Seo Mỉ - Đỗ Quang Tiến 12.07.2019
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 08.07.2019
Đất thức - Trương Thị Thương Huyền 01.07.2019
Ông cố vấn - Hữu Mai 29.06.2019
Ma rừng - Phùng Phương Quý 28.06.2019
Kim Vân Kiều Truyện - Thanh Tâm Tài Nhân 19.06.2019
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 01.06.2019
Cõi mê - Triệu Xuân 21.05.2019
xem thêm »