tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 29481971
Tiểu thuyết
25.12.2008
Liep Nicôlaievich Tônxtoi
Chiến tranh và Hòa bình
Lời Người biên tập và Lời Giới thiệu của Cao Xuân Hạo

LỜI NGƯỜI BIÊN TẬP


Nhà văn Triệu Xuân


 


Danh tác Chiến tranh và Hòa bình của văn hào Nga: Liép Nhicalaiêvich Tônxtôi (1828- 1910), lần đầu tiên được xuất bản tại Việt Nam, do Nhà xuất bản Văn hóa, tiền thân của NXB Văn học ngày nay. Thuở ấy, tác phẩm in thành bốn tập. Tập 1 phát hành tháng 12-1961. Ba tập còn lại phát hành năm 1962. Những người dịch bộ tiểu thuyết nổi tiếng này gồm: Cao Xuân Hạo (chủ biên), Hoàng Thiếu Sơn, Nhữ Thành (tức Giáo sư Phan Ngọc) và Trường Xuyên, tức Giáo sư Cao Xuân Huy, thân sinh của Giáo sư Cao Xuân Hạo. Sau 46 năm kể từ ngày hoàn thành bản dịch, những người dịch Chiến tranh và Hòa bình hiện nay ra sao? Xin thưa: Giáo sư Cao Xuân Huy, nhà văn Hoàng Thiếu Sơn đã qua đời nhiều năm. Giáo sư Cao Xuân Hạo qua đời ở tuổi 76 tại Gò Vấp thành phố Hồ Chí Minh. Giáo sư Phan Ngọc sống ở Hà Nội, cũng gần tám chục tuổi rồi!


   


Sau 46 năm kể từ khi phát hành lần đầu tiên, Chiến tranh và Hòa bình đã được tái bản hàng chục lần, kỷ lục về tái bản trong số những tác phẩm văn học dịch. Nhưng, thật đáng tiếc đã có sự “tam sao thất bản” đối với tác phẩm! Đặc điểm của tác phẩm này là có tới gần một phần tư số chữ tác giả viết bằng tiếng Pháp, cho nên, để tôn trọng nguyên tác, các dịch giả Việt Nam, vốn là những nhà văn hóa lớn, đã giữ nguyên phần tiếng Pháp để đưa vào phần chú thích. Bởi thế, mỗi khi tái bản, việc sửa lỗi morasse bằng tiếng Pháp là một thử thách lớn đối với những người làm sách mà không thạo ngoại ngữ! Càng về sau này, lỗi morasse càng nhiều, không chỉ ở phần tiếng Pháp mà ở ngay phần tiếng Việt. Thậm chí có đoạn văn của bản in đầu bị biến mất, nhiều câu văn thiếu chữ cho nên thành vô nghĩa. Ở những lần tái bản sau này, Lời giới thiệu do Giáo sư Cao Xuân Hạo biên soạn rất công phu, súc tích, đã bị bóc ra mà không hề được sự đồng ý của dịch giả, thay vô đó là một bài giới thiệu rất dài nhưng...


Năm 2005, khi tôi (Nhà văn Triệu Xuân) về Hà Nội làm việc sáu tháng tại Trụ sở chính của NXB Văn học, trình bày ý định tái bản Chiến tranh và Hòa bình dựa theo bản in lần đầu tiên năm 1961, 1962, Giáo sư Cao Xuân Hạo, Giáo sư Phan Ngọc rất vui. Giáo sư Hạo nói: Chúng tôi già rồi, sức kiệt rồi, không còn làm gì hơn được nữa, đành trông cậy cả vào Nhà xuất bản. Chúng tôi mong NXB Văn học mang đến cho bạn đọc ấn bản tốt, thật ít lỗi morasse, để không phụ lòng người đọc!


Còn nhớ, Tết Nguyên đán năm 1963, khi ấy tôi mới mười một tuổi, đang học lớp bẩy trường làng. Nhân việc là học sinh giỏi, được Chủ tịch nước khen thưởng, cha tôi có phần thưởng cho đứa con trai độc nhất là bộ sách Chiến tranh và Hòa bình. Tôi đọc ngấu đọc nghiến, quên ăn quên ngủ! Càng lớn lên, tôi càng thích tác phẩm này, thích đến nỗi có những chương, những đoạn của Liép Tônxtôi, tôi thuộc làu! Văn xuôi Nga thế kỷ 19, tôi chỉ mê có hai người: Phêđor Mikhailôvich Đôxtôiépxki và Liép Tônxtôi. Một người tôi cho là đại tài về việc miêu tả những nẻo khuất của tâm trạng con người, những số phận hẩm hiu, bi kịch; Một người là bậc thầy về miêu tả tâm lý và thiên nhiên, chuyên gia về phép biện chứng tâm hồn, đã viết được bộ tiểu thuyết mà tôi nghĩ là mẫu mực của loại tiểu thuyết sử thi trên thế giới. Sau này, khi đã trở thành người chuyên viết tiểu thuyết, tôi chịu ảnh hưởng nhiều của hai bậc tiền bối nói trên! Đến khi học đại học, tôi rất tâm đắc với ý kiến của V.I. Lênin về L. Tônxtôi. Lênin nói: Ở Âu châu, có thể có ai sánh được với Tônxtôi không? - Chẳng có ai cả! (Dẫn theo Hồi ức về Lênin của Mácxim Gorki). V. Lênin còn viết rằng trong văn nghiệp của Tônxtôi, có những cái không thuộc về quá khứ mà thuộc về tương lai! Năm 1908, L. Tônxtôi 80 tuổi, Lênin đã viết bài: “L. Tônxtôi, tấm gương soi của Cách mạng Nga”… Ca ngợi Liép Tônxtôi mấy cho vừa!


Tôi xin thưa với bạn đọc: Mặc dù tấm lòng của những người làm sách là vô cùng nồng nhiệt với di sản của Liép Tônxtôi, nhưng do trình độ có hạn, nhất là không thạo tiếng Pháp, cho nên, dù đã cố gắng hết mình, chúng tôi vẫn chưa hài lòng, bởi chắc chắn còn sót lỗi morasse trong lần tái bản này. Kính mong bạn đọc góp ý để chúng tôi có cơ hội hoàn thiện ấn phẩm này trong lần tái bản sau!


 


Thành phố Hồ Chí Minh, tháng Giêng, 2007.


Nhà văn Triệu Xuân 


 


LỜI GIỚI THIỆU CỦA CAO XUÂN HẠO


In trong lần xuất bản đầu tiên. Lần tái bản năm 2007, nhà văn Triệu Xuân khôi phục bài này.


Vào khoảng hai trăm cây số về phía Nam Mạc Tư Khoa, cách Tula không xa mấy, có một trang viên mà toàn thể nhân loại yêu văn học đều biết tên. Đó là trang viên Yasnaia Pôliana, nơi chôn nhau cắt rốn, nhà ở và chỗ làm việc của một trong những thiên tài vĩ đại của nhân loại, Liép Nicôlaiêvích Tônxtôi.


Tônxtôi sinh ngày 28 tháng 8 năm 1828 trong một gia đình quý tộc lâu đời. Thân sinh ông là bá tước Nicôlai Ilích Tônxtôi, một người đã từng tham gia cuộc chiến tranh 1812 và về hưu với chức trung tá, năm 1822 kết hôn với một nữ công tước đã luống tuổi, nhưng giàu có là Maria Nicôlaiépna Voncônskaia. Trong số những trang viên mà Voncônskaia đưa về cho chồng làm của hồi môn có cả trang viên Yasnaia Pôliana.


Đây là một cái “tổ quý tộc” điển hình ở thời ấy. Dinh thự Yasnaia Pôliana do ông thân sinh của Voncônskaia, là công tước Nicôlai Voncônski, một người quý tộc có học thức thời Êcatêrina, xây dựng lên từ cuối thế kỷ thứ XVIII. Tòa dinh thự xây giữa một phong cảnh cực kỳ ngoạn mục. Trong một khu rừng cấm rậm rạp um tùm, có một khoảng cây thưa thớt, vào những ngày nắng sáng vẽ thành một vệt màu tươi nhạt nổi lên trên nền xanh thẫm của khu rừng([1][1]). Tòa dinh thự của bá tước Tônxtôi đã mọc lên dần dần trên khoảng rừng thưa ấy. Ở cổng vào trang viên có hai cái tháp sơn màu trắng, trong trang vien có những lối đi dạo, những khóm cây rậm rạp của khu vườn cổ kính, những thửa vườn ủ cây, mấy cái hồ, một tòa dinh thự lớn có hai dãy nhà dọc - đó là quang cảnh chung của cái “tổ quý tộc” nơi Tônxtôi ra đời. Ngay trước mặt tòa dinh thự, bên kia cổng khu vườn là xóm nhà gỗ lợp lợp rạ của nông dân; xa hơn nữa là những cánh đồng, những khe hố, những khóm rừng, rồi lại đến những làng mạc.


Lối giáo dục cho cậu bé Tônxtôi là lối giáo dục điển hình cho các gia đình quý tộc giàu có. Những người bạn đường tất yếu của lối giáo dục này là những gia sư người ngoại quốc. Nhưng trong hoàn cảnh Tônxtôi lớn lên và được dạy dỗ có một khía cạnh đã ảnh hưởng rất mạnh mẽ đối với sự hình thành ý thức và tâm lý của nhà văn tương lai. Đó là sự gần gũi thiên nhiên, gần gũi nhân dân bình dị.


Bốn anh em cậu bé Liôva sống rất nhiều ở giữa lòng thiên nhiên - trong khu rừng và trong khu vườn bao quanh dinh thự. Rừng và vườn của trang viên Yasnaia Pôliana đã im lặng tham dự những trò chơi thú vị của mấy cậu bé, đã chứng kiến những nỗi buồn và những niềm vui thơ ngây của họ. Trơng những ngày niên thiếu “trong sáng, êm đẹp, nên thơ, huyền diệu, chan chứa tình yêu” ấy, bốn anh em Liôva đã tung tăng đi trong những con đường rợp mát của khu vườn, tìm kiếm “cái gậy xanh” thần kỳ có phép nhiệm mầu là có thể mách cho con người biết cái bí quyết của hạnh phúc toàn nhân loại. Được lớn lên trong hoàn cảnh tiếp xúc gần gũi với thiên nhiên như vậy, ngay từ thuở bé Tônxtôi đã quen nhận xét một cách tế nhị tất cả những màu sắc và những sự biến đổi của thiên nhiên, học được cách “hiểu tiếng nói của lá cây và cảm thấy được từng cái run rẩy của ngọn cỏ”([2][2]). Tônxtôi đã suốt đời yêu mến thiên nhiên nước Nga ấy một cách sâu sắc.


Hoàn cảnh sống trong trang viên đã cho phép Tônxtôi gần gũi mật thiết với quần chúng nông dân. Bên cạnh tòa dinh thự, sau cổng vườn, nông nô của họ Tônxtôi đang sống cuộc đời thôn dã của họ. Còn ngay trong dinh thự thì cũng chính những người nông dân ấy đóng vai những người gia nô hầu hạ gia đình Tônxtôi. Cậu bé vốn có khiếu quan sát, dần dần hấp thu những ấn tượng về cuộc sống thôn quê, dần dần biết yêu người “mugích” và những tập quán, những cách nhìn, những bài ca, những cách ăn nói của họ. Về sau Tônxtôi có nói rằng mình yêu nông dân “với một tình yêu gần như thể xác”. Mấy mươi năm sau Tônxtôi lại nói rằng chỉ có chân lý của nhân dân, của “mugích” là có thể cứu vớt được nước Nga.


Năm 1837 gia đình Tônxtôi dọn lên ở Mạc Tư Khoa để tiện cho các trẻ ăn học. Cũng năm ấy bá tước Nicôlai Ilích Tônxtôi qua đời (mẹ của Liép Nicôlaiêvích chết từ khi ông mới được một năm rưỡi). Mấy người em gái của bá tước, đặc biệt là Yuskôva, vợ viên Tổng trấn Cadan, lĩnh lấy trách nhiệm coi sóc mấy anh em mồ côi. Tônxtôi đến Cadan ở. Bấy giờ ông được mười ba tuổi.


Năm 1844, chàng thiếu niên Tônxtôi thi vào Trường Đại học Cadan, và học ở khoa ngôn ngữ Đông phương. Chẳng bao lâu Tônxtôi thấy mất hứng thú đối với các môn học ở khoa này, nên một năm sau ông chuyển sang học năm thứ nhất khoa pháp lý. Việc học hành của Tônxtôi ở trường đại học không được đều đặn. Một mặt thì cái không khí quan liêu của trường đại học khiến ông bực mình và chán ghét, mặt khác thì cuộc sống giao thiệp phồn hoa có sức thu hút ông khá mạnh. Tônxtôi luôn luôn có mặt ở các vũ hội và các phòng khách quý tộc ở Cadan và sống một cuộc đời phóng đãng, hết tiệc tùng lại khiêu vũ hay chè chén với bạn bè. Vào thời kỳ này lý tưởng của ông là con người dandy([3][3]), là con người gentleman([4][4]), con người “comme il faut”([5][5]), xứng đáng mang danh hiệu là người quý phái.


Nhưng cuộc sống phóng đãng cũng không chiếm giữ Tônxtôi được lâu. Trong tâm hồn ông diễn ra một cuộc đấu tranh kiên trì và gay gắt. Từ hồi nhỏ Tônxtôi đã đọc rất nhiều, và thường e dè che giấu những sự suy nghĩ của mình về những điều đã đọc được. Bấy giờ, trong những năm thiếu thời, ông say mê với những tư tưởng của Giăng Giắc Rútxô, nghiên cứu quyển Tinh thần pháp luật của Môngtêskiơ và có trù tính viết một công trình về đạo Dụ của Êcatêrina Đệ nhị.


Trong khi vận dụng trí tuệ làm công việc phê phán, Tônxtôi đi tới chỗ thất vọng đối với lý tưởng “comme il faut” của ông. Cuộc sống giao tế phồn hoa và những công việc học hành trong trường đại học cũng không thỏa mãn được ông, cho nên năm 1847 ông đang học năm thứ hai thì bỏ về Yasnaia Pôliana để “lập cư” trên đất đai của tổ tiên.
Mùa xuân năm 1847, sau khi chia gia tài với các anh, Tônxtôi được quyền chiếm hữu trang viên Yasnaia Pôliana và 330 nông nô. Nhà trang chủ trẻ tuổi đặt ra cho mình một nhiệm vụ là đem tất cả sức lực ra để cải thiện đời sống cho nông dân của mình. Chàng thanh niên Tônxtôi không hiểu được tính chất không thể dung hòa của những mâu thuẫn giữa trang chủ và nông nô. Mặc dầu Tônxtôi có thiện ý tha thiết và chân thành, nông dân vẫn nhìn những hoạt động cải cách của ông bằng một con mắt ngờ vực và lo sợ. Về sau Tônxtôi đã miêu tả lại chuyện những cố gắng của mình đã thất bại ra sao trong truyện Buổi sáng của một người trang chủ.


Bị thất vọng trong những hoài bão về cải cách điền trang, Tônxtôi say mê bắt tay vào công cuộc tu thân. Vào hồi đó, Tônxtôi nghĩ ra rất nhiều kế hoạch khác nhau, khi thì ông định nhập ngũ, khi thì ông mở ra một trường dạy con cái nông dân trong trang viên (1849) khi thì lại thử làm văn (Tônxtôi bắt đầu viết những bài báo về âm nhạc, những mẩu truyện ngắn, suy nghĩ về bố cục của một cuốn tiểu thuyết, bắt tay vào viết các truyện ngắn Rút từ cuộc sống của người Txưgan, nhưng tất cả những công việc đó đều bị bỏ dở). Cũng thời kỳ này Tônxtôi hay đi Mạc Tư Khoa và lao mình vào những cuộc vui chơi giải trí với tất cả cái tính say mê cuồng nhiệt mà ông vốn có.


Nhưng cảnh sống không có công việc hẳn hoi, không có “chỗ đứng trong cuộc đời” làm cho Tônxtôi chán nản. Không thể không thay đổi lối sống đó. Năm 1851, Tônxtôi lên vùng Cápcadơ theo lời khuyên nhủ của anh là Nicôlai hồi ấy đang làm sĩ quan trong quân đoàn Cápcadơ, để thực hiện ý định ấy.


Tônxtôi nhập ngũ với chức chuẩn úy trong đại đoàn pháo binh đóng ở vị trí Starôgrát trên sông Têréc và tham dự cuộc chiến tranh với các thổ dân miền núi. Trong chiến đấu Tônxtôi đã tỏ ra có tinh thần dũng cảm phi thường. Có lần một quả lựu đạn nổ ngay dưới chân Tônxtôi khi ông đang điều chỉnh một khẩu pháo, và ông thoát chết cũng chỉ vì một sự tình cờ. Nơi đây, trong một đồn ải vùng Cápcadơ, hoạt động văn học thật sự của Tônxtôi bắt đầu. Mùa hè năm 1852, ông viết xong truyện ngắn Thời thơ ấu. Cuốn truyện được gửi cho tạp chí Người đương thời của Nêcraxốp và được đăng lên báo vào tháng chín năm ấy.


Cũng ở đây, trên núi Cápcadơ, Tônxtôi viết một loạt truyện ngắn đậm đà hương vị sinh hoạt của dân địa phương và những truyện chiến đấu: Đột kích, Đẵn gỗ, Gặp gỡ trong đơn vị.


Tháng giêng năm 1854, Tônxtôi được thăng lên chức thiếu úy và thuyên chuyển sang quân đoàn Đunai([6][6]), rồi lại được chuyển đến vùng Crưm, đến Xêvastôpôn bấy giờ đang anh dũng kháng cự cuộc tấn công dữ dội của địch. Tônxtôi ở Xêvastôpôn từ 1854 cho đến ngày các chiến sĩ Nga bảo vệ thành này phải buộc lòng rút đi. Trong chiến dịch bảo vệ Xêvastôpôn Tônxtôi đã tỏ ra dũng cảm đặc biệt trong khi chiến đấu trên hỏa điểm thứ tư oanh liệt. Cuộc đấu tranh anh dũng của thành Xêvastôpôn đã cung cấp cho Tônxtôi tài liệu để viết ba thiên truyện ngắn mới: Xêvastôpôn vào Tháng Chạp 1854, Xêvastôpôn vào tháng Năm 1855 và Xêvastôpôn vào tháng Tám 1855. Tác phẩm của viên sĩ quan trẻ tuổi đã khiến các giới nhà văn chú ý. A. F. Pixemski tuyên bố: “Cái anh sĩ quan quèn này sẽ nuốt hết chúng mình cho mà xem”. Tuốcghênhiép đặc biệt có thiện cảm với tác giả trẻ tuổi. Ông nói như một lời tiên tri: “Rượu này hãy còn non, nhưng khi nó đã lên men rồi thì nó sẽ thành một thứ rượu thần”.


Vào cuối năm 1856 Tônxtôi giải ngũ với chức trung úy.


Khi ông đến Pêtécbua, tòa soạn các báo chí ưu tú đều mở rộng cửa đón mời ông. Các nhà văn tập hợp quanh tờ báo tiến bộ nhất thời bấy giờ là tạp chí Người đương thời niềm nở đón ông. Tônxtôi được thu hút vào một không khí đấu tranh chính trị và văn học hoàn toàn mới lạ đối với ông. Tuy vậy, Tônxtôi không liên hệ gần gũi với nhóm Người đương thời vốn có tính chất bình dân do Tsécnưsépski cầm đầu. Ông vốn có những truyền thống và một thế giới quan quý tộc, chú ý hơn cả là đến các vấn đề luân lý chứ không phải các vấn đề chính trị, cho nên rất xa những lập trường dân chủ cách mạng của lớp trí thức bình dân trong những năm 60.


“Có ma quỷ biết được trong đầu óc ông ta có những gì! - Nêcraxốp băn khoăn thốt lên như vậy. - Thật đáng tiếc nếu những dấu vết của cuộc sống quý tộc và sĩ quan của ông không bị xóa mờ đi. Một tài năng rất lớn sẽ bị bỏ phí”. May thay, điều mà Nêcraxốp lo sợ đã không thành sự thật. Thời gian đã cho thấy rằng bản thân Tônxtôi đã hiểu được cái ảnh hưởng tai hại của văn hóa quý tộc đối với ông. Nhưng không phải ông đã trong một lúc hiểu ngay được điều đó.


Năm 1857, Tônxtôi lần đầu tiên lên đường ra nước ngoài. Nền văn hóa Tây Âu đã gây ra trong tâm trí ông một ấn tượng tiêu cực sâu sắc. Tiếng vang trực tiếp của những ấn tượng này là thiên truyện ngắn nhân đạo chủ nghĩa Luyxécnờ.


Trong một thành phố nghỉ mát ở Thụy Sĩ là Luyxécnờ, Tônxtôi đã vô tình chứng kiến một cảnh tượng thương tâm. Ông đã trông thấy những người du lịch giàu sang, thỏa mãn, trọ trong một tòa khách sạn lộng lẫy, có một thái độ dửng dưng đối với một người nhạc công ăn mày, từ chối không chịu giúp đỡ con người đáng thương đã hằng giờ đứng hát dưới các cửa sổ của khách sạn. Đã ba lần người nhạc công mệt mỏi, đói khát cầm chiếc mũ cát két giơ ra xin các ông các bà ăn mặc sang trọng kia bố thí cho - nhưng không có ai cho người ấy một xu nhỏ. Người nhạc công đáng thương lẩm bẩm mấy tiếng gì trong miệng rồi bỏ đi, trong khi bọn bồi bếp trơ trẽn và đám khách du lịch ăn không ngồi rồi kia ha hả cười theo.


Sự tàn nhẫn vô lương tâm của bọn tư sản đã khiến Tônxtôi phải kêu lên: “Đây là một biến cố mà các sử gia của thời đại ta phải ghi lại bằng những chữ lửa không bao giờ xóa mờ được!”. Tônxtôi không biết rằng trước đấy mười năm, trong bản Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, những người sáng lập ra chủ nghĩa cộng sản khoa học là Mác và Ăngghen đã kết án không thương tiếc xã hội tư sản như sau: “Ở nơi nào mà giai cấp tư sản đã chiếm được quyền thống trị, thì nó phá vỡ hết những quan hệ phong lưu, những quan hệ thơ mộng của chế độ gia trưởng. Nó chỉ để lại một mối liên hệ giữa người và người, là quyền lợi trần truồng, là lối “tiền trao cháo múc” không chút tình nghĩa (Tuyên ngôn Đảng Cộng sản).


Tônxtôi công phẫn là vậy, nhưng truyện lại kết thúc một cách bất ngờ: tác giả đi tới chỗ nghĩ rằng mình không có quyền phán xét người khác về việc ác họ đã làm, vì trong vũ trụ có một sự “hài hòa vô tận” nào đó mà con người không thể hiểu được. Ở đây có một mối mâu thuẫn rất rõ rệt: một mặt Tônxtôi căm giận vạch trần cái xấu xa hư hỏng của văn minh tư sản, mặt khác ông lại kêu gọi người ta tha thứ tất cả, yên phận với những định luật “vĩnh cửu” của luân lý.


Bàn về mối mâu thuẫn này trong thế giới quan của Tônxtôi, V. I. Lênin có viết: “Ông (Tônxtôi - người biên soạn) suy luận một cách trừu tượng, ông chỉ thừa nhận quan điểm của những nguyên tắc “vĩnh cửu” của luân lý, những chân lý “vĩnh cửu” của tôn giáo”.


Năm 1862, Tônxtôi lấy Xôphia Anđrâyépna Bécxờ, con gái một y sĩ có tiếng ở Mạc Tư Khoa. Cuộc sống gia đình hạnh phúc đã làm nguôi được một thời gian những nỗi dằn vặt lo lắng trong tâm hồn Tônxtôi. Năng khiếu sáng tác văn học lại được thức tỉnh với một sức sống mới, và Tônxtôi bắt đầu nghĩ đến việc viết quyển tiểu thuyết lớn Chiến tranh và hòa bình. Tônxtôi giao nhà trường dạy cho con em nông dân cho các giáo viên trông nom và dốc hết sức lực vào việc sáng tác.


Quyển tiểu thuyết đầu tiên của Tônxtôi viết với một tốc độ nhanh chóng lạ thường. Thiên tiểu thuyết anh hùng ca đồ sộ ấy được Tônxtôi sáng tác trong khoảng không đầy sáu năm (1864 -1869), tuy chỉ riêng việc nghiên cứu tài liệu lịch sử cũng đã chiếm hết một thời gian rất lớn.


Gơtờ có một câu nổi tiếng: “Thiên tài là lòng kiên nhẫn”.


Nếu ý kiến này cần được chứng minh, thì cách chứng minh tốt nhất là hoạt động sáng tác của Tônxtôi. Nói đến sức làm việc phi thường của Tônxtôi, bác sĩ Macôvítski vốn quen thân nhà văn vĩ đại có nhận xét: “Liép Nicôlaiêvích chịu khó làm việc hàng ngày hàng giờ, làm không tiếc sức để thực hiện những việc cần thiết. Ông không biết thương mình. Ông không biết lười biếng là gì... Giống như người Trung Hoa, Tônxtôi không thừa nhận là có những ngày nghỉ”.


Điều khiến người ta kinh ngạc trước hết là cái quy mô rộng lớn đặc biệt của công cuộc tự học của Tônxtôi, là lòng khát khao hiểu biết mênh mông của ông. Theo lời Macôvítski, về cuối đời Tônxtôi biết các thứ ngoại ngữ sau đây: tiếng Pháp, tiếng Đức, tiếng Anh (đến mức hoàn hảo), tiếng Ý (dịch thạo), tiếng cổ Hy Lạp, cổ La tinh, cổ Do Thái (giỏi), tiếng Ba Lan, tiếng Tiệp, tiếng Xécbi, tiếng Bungari, tiếng Hà Lan, tiếng Ucrain. Điều đó cho thấy trình độ học vấn uyên bác của nhà văn thiên tài.


Thư viện khổng lồ của Tônxtôi cũng cho thấy rõ quy mô rộng lớn của công cuộc tự học ấy: hàng mấy ngàn quyển sách trong các tủ đều có mang những lời ghi chú bình phẩm của Tônxtôi ngoài lề các trang giấy.


Trong khi làm việc Tônxtôi đòi hỏi ở mình rất nhiều, rất khó tính đối với phẩm chất sáng tác của mình. Ông cho rằng điều kiện không thể thiếu của việc sáng tác là phải tiếp thu kinh nghiệm của tất cả các nhà văn khác. Tônxtôi đọc rất nhiều và rất thường xuyên. Ông nói: “Con đường đúng là con đường sau đây: học lấy những điều mà những người đi trước đã làm được, rồi tiếp tục đi xa hơn”.


Văn học đối với Tônxtôi là sự nghiệp cả cuộc đời mà ông toàn tâm phụng sự. Theo quan điểm của Tônxtôi, nhà văn phải có một thái độ như thế đối với văn học thì mới có thể sáng tác được. Ông nói: “Một tác phẩm nghệ thuật là kết quả của một tình yêu”. Bản thân Tônxtôi làm việc rất say sưa, rất ham mê. Năm 1861, Tônxtôi ghi trong nhật ký: “Sáng hôm nay đọc cho Tanhia viết khoảng một giờ, đọc rõ ràng, bình tĩnh, không xúc động, mà không xúc động thì công việc viết văn chẳng ra gì”.


Đến nay còn giữ lại được nhiều câu nói của Tônxtôi cho thấy rõ quan điểm của ông đối với quá trình sáng tác và đối với tác phẩm văn học. Sau đây là một vài câu:


“Một việc rất khổ là phải lo sao cho hình thức được hoàn mỹ. Lo như thế thật không uổng... cần phải mài giũa tác phẩm nghệ thuật cho sắc thì nó mới thấm sâu vào tâm hồn. Mài cho sắc chính là làm cho nó có phẩm chất nghệ thuật hoàn hảo.


“Đãi cát mới ra vàng; những tư tưởng hay được biểu hiện tốt cũng phải gột rửa mới có được”.


“Sự đơn giản là điều kiện thiết yếu của cái đẹp”.


“Rút ngắn bao giờ cũng có lợi cho đoạn văn. Nếu người đọc thấy tác giả nói chuyện gẫu, họ sẽ không chú ý nữa”.


“Thà nói chưa đủ còn hơn là nói thừa”.


“Phải vĩnh viễn từ bỏ ý nghĩ là có thể viết mà không chữa lại. Ba bốn lần chữa hãy còn là ít”.


“Cái chính là đừng viết vội, đừng ngại chữa, đừng ngại viết đi viết lại hàng chục lần, hàng vài chục lần”.


Những bản viết nháp của Tônxtôi nay còn giữ được cho ta hình dung rõ được ông ta đã lo lắng về hình thức nghệ thuật đến thế nào. Chẳng hạn truyện Tuổi thơ ấu có bốn bản viết khác nhau, và sau mười tám tháng mới viết xong. Quyển truyện có cả thảy chừng hơn 90 trang. Như vậy năng suất trung bình của nhà văn ở giai đoạn này là năm sáu trang mỗi tháng. Trong cuốn tiểu thuyết Chiến tranh và hòa bình có những chương viết đi viết lại đến bảy lần. Trong quyển Anna Karênina có những chương viết đến mười hai lần. Phần đầu của truyện Tái sinh có hai mươi bản viết khác nhau. Nhưng số bản viết lại đáng lấy làm kinh dị nhất là số bản của bài nói đầu cuốn Con đường đời (viết vào khoảng 1901-1910). Bài này viết đi viết lại đến một trăm linh năm lần. Ta có thể thấy Tônxtôi trong khi sáng tác đã dày công đến chừng nào.


Năm 1873, Tônxtôi bắt đầu viết cuốn tiểu thuyết Anna Karênina. Vào thời kỳ này trước mắt Tônxtôi những vấn đề đã khiến ông quan tâm từ những năm 50, 60 nay lại được đặt ra, ngày thêm cấp thiết: vấn đề ý nghĩa và mục đích của cuộc sống, vấn đề vận mệnh của quý tộc và của nhân dân, vấn đề tương quan giữa thành thị và nông thôn, vấn đề sự sống và cái chết, tình yêu và hạnh phúc, gia đình và hôn nhân, v.v... Nội dung tư tưởng của tiểu thuyết Anna Karênina chính là việc đặt ra và giải quyết các vấn đề này.


Tônxtôi là một người biết quan sát thời đại mình một cách tinh vi. Dưới mắt Tônxtôi, nước Nga sau cuộc cải cách 1861 là một đại dương đang nổi sóng, sẵn sàng nuốt chửng mọi vật. Ông có ý thức rất rõ rằng trong nước có một tai họa xã hội đang chín muồi. Trong quyển tiểu thuyết Anna Karênina, Tônxtôi có nhận xét rằng mọi vật đã “đảo lộn” và mới bắt đầu được sắp đặt lại. Trong một quyển nhật ký năm 1881 ông lại ghi: “Cuộc cách mạng kinh tế không phải là có thể nổ ra, mà là không thể không nổ ra được. Thật đáng lấy làm lạ rằng mãi đến giờ nó vẫn chưa nổ ra”.


Trong tập Tự thú (1879 -1881) Tônxtôi kể lại chuyển biến của ông sau khi ông gần gũi với “dân chúng cần lao”, tức với quần chúng nhân dân.


“Đến đây, cuộc sống của giới chúng ta, giới những người giàu sang, có học thức, không những tôi thấy chán ghét, mà lại còn thấy nó mất hết nghĩa lý. Tất cả những công việc chúng ta làm, những điều chúng ta nghĩ, khoa học nghệ thuật - dưới mắt tôi đều thay đổi ý nghĩa. Tôi đã hiểu rằng tất cả những thứ đó đều là những trò trẻ con, không thể tìm thấy một ý nghĩa gì ở đấy được”.


Và Tônxtôi đã đi tới chỗ đoạn tuyệt với giai cấp quý tộc.


Chúng ta biết rằng sự chuyển biến này trong thế giới quan và tâm trạng của nhà văn đã được chuẩn bị từ lâu. Cơn khủng hoảng của những năm 80 chỉ là đoạn kết của một cuộc hành trình dai dẳng và phức tạp trên con đường tìm tòi, ngờ vực, mâu thuẫn của Tônxtôi. Bây giờ ông chuyển hẳn sang lập trường nông dân gia trưởng và đứng trên lập trường này chĩa mũi nhọn vào chế độ nhà nước của nước Nga, vào sinh hoạt và luân lý của giai cấp có đặc quyền.


Bước chuyển này đưa Tônxtôi đến chỗ phủ định nhà nước, nhà thờ, tư hữu. Lênin có nói về bước chuyển này như sau: “Về dòng dõi và cách giáo dục thì Tônxtôi thuộc lớp đại quý tộc địa chủ cao nhất ở Nga, ông đã đoạn tuyệt với tất cả những quan điểm quen thuộc của tầng lớp này và trong các tác phẩm cuối cùng đã kịch liệt công kích tất cả các trật tự nhà nước, nhà thờ, xã hội kinh tế đương thời, là những trật tự trên việc nô dịch quần chúng, dựa trên cảnh bần cùng của họ, trên sự phá sản của nông dân và tiểu chủ nói chung, trên bạo lực và sự giả dối, là những điều thấm sâu vào toàn bộ cuộc sống đương thời từ trên xuống dưới. (Lênin toàn tập, q.16, tr. 301).


Tuy nhiên, trong khi vạch trần được tất cả sự giả dối và sự khủng khiếp của chế độ tư bản, dựa trên sự bóc lột vô cùng tàn nhẫn giữa người và người, Liép Tônxtôi vẫn không rút ra được kết luận đúng đắn là phải làm cách mạng để thủ tiêu chủ nghĩa tư bản. Ông lầm tưởng rằng muốn khắc phục tình trạng bất công trong xã hội cần phải cải tạo con người về mặt đạo đức, chứ không phải là làm cách mạng xã hội. Quan điểm mới mà Tônxtôi vận dụng để phê phán, thuyết giải lại tất cả các hiện tượng của cuộc sống, được ông phát biểu trong luận cảo Thế thì chúng ta phải làm gì? Ông viết: “Có thể tưởng đâu như con người chỉ buôn bán, hiệp thương, chiến tranh, làm nghệ thuật, thật ra đối với nó chỉ có một việc quan trọng và nó chỉ làm có mỗi một việc đó: nó tìm hiểu những định luật luân lý trong cuộc sốn. Những việc tìm hiểu định luật luân lý này không những là sự nghiệp chủ yếu, mà còn là sự nghiệp duy nhất của toàn thể nhân loại”.


Tônxtôi cho rằng con đường dẫn tới hạnh phúc nằm trong việc tu thân, trong thái độ không dùng bạo lực để kháng cự lại cái ác, và trong việc đơn giản hóa sinh hoạt. Học thuyết này được Tônxtôi tuyên truyền trong nhiều sách vở và bài báo (Tín ngưỡng của tôi ở chỗ nào? Phê phán thần học giáo điều, Nghệ thuật là gì? V.v...). Như vậy là hình thành cái học thuyết thường gọi là “chủ nghĩa Tônxtôi”. Theo Lênin thì học thuyết của Tônxtôi chắc chắn là không tưởng và về nội dung thì có tính chất phản động, theo cái nghĩa chính xác nhất và sâu xa nhất của từ nay (V.I. Lênin toàn tập. q 17, tr. 32). Song trong thời kỳ phản động của những năm 80 số những người theo học thuyết này ngày càng đông. Trong số các môn đồ này có đủ các hạng người; có những người thành thật và ngây thơ tin vào tính chất chân lý của học thuyết Tônxtôi và thậm chí còn cố gắng tổ chức sinh hoạt theo đúng lời chỉ bảo của Tônxtôi; cũng có những người trí thức mất phương hướng mong tìm thấy trong lời Tônxtôi một cách giải đáp những câu hỏi đang giày vò họ; lại có cả những kẻ giả dối lợi dụng việc gần gũi Tônxtôi để kiếm lợi.


Vào cuối thế kỷ thứ XIX trang viên Yasnaia Pôliana biến thành một thứ trung tâm văn hóa đặc biệt. Các nhà văn, nhà khoa học và nhà chính trị từ khắp các nẻo, ở Nga và ở các nước khác, đều lần lượt đến đây để làm quen với Tônxtôi. M. Goócki kinh ngạc và kiêu hãnh viết: “Cả thế giới, cả nhân loại đang nhìn về ông, từ Trung Quốc, từ Ấn Độ, từ châu Mỹ - từ khắp bốn phương có những sợi dây sống rung rinh chăng đến tận ông, tâm hồn của ông dành cho mọi người, và vĩnh viễn là như vậy”.


Đến Yasnaia Pôliana có những nhà văn như Tuốcghênhiép, Phết, Tsêkhốp, Goócki, Lêskốp, Kôrôlenkô, Gácsin, Vêrêxaiép v.v...; những họa sĩ như Rêpin, Cramskôi, Ghê, Nêstêrốp, Pastécnác, Xêrốp, Yarôsenkô v.v...; nững nhà điêu khắc như Trubétskôi, Hinsbus; những nhạc sĩ như Tanâyép, Hôndenvâyde, Arenski, Igumnốp; những nhà khoa học như Métsnikốp v.v...


Trong những năm 80 và 90 (từ 1881 đến 1901) Tônxtôi sống nhiều nhất là ở Mạc Tự Khoa để tiện cho các con ăn học. Ông tậu một ngôi nhà ở ngõ Khamôpních (bây giờ là phố Tônxtôi).


Tônxtôi ở Mạc Tư Khoa mười chín năm (cứ đến mùa hè thì lại về Yasnaia Pôliana, năm nào cũng vậy). Ngôi nhà hai tầng có vườn rộng này cũng thu hút nhiều người đến thăm không kém gì trang viên Yasnaia Pôliana. Ở Mạc Tư Khoa, Tônxtôi cũng sống đơn sơ như ở Yasnaia Pôliana. Ông vẫn tự đẩy xe trượt tuyết đi lấy nước, bửa củi, đóng giày dép. Cho đến già Tônxtôi vẫn rất khỏe mạnh. Chỉ cần nói rằng đến bảy mươi tuổi ông vẫn còn đi trượt tuyết, đến bảy mươi lăm tuổi ông rất thích đi chơi xe đạp, đến tám mươi tuổi ông còn cưỡi ngựa phi rất nhanh. Ngoài việc viết văn ra, ông vẫn chú ý nhiều đến hoạt động xã hội như trước. Năm 1882 ông hăng hái tham gia vào việc điều ra dân số Mạc Tư Khoa, giành cho mình phần điều tra các khu phố dân nghèo. Từ năm 1891 đến 1894, trong những năm mất mùa, ông tham gia vào tổ chức cứu giúp nông dân bị đói.


Vào cuối 1901 Tônxtôi bị bệnh sưng phổi rất nặng. Ông đến điều trị ở Crưm mấy tháng. Ở đây ông thường gặp Goócki và Tsêkhốp là hai người quen mà ông rất yêu mến và quý trọng. Goócki đã cung cấp cho ta một bức chân dung rất hoàn mỹ về Tônxtôi trong giai đoạn này. Từ Crưm trở về, Tônxtôi lại định cư ở Yasnaia Pôliana và mãi đến cuối đời không rời nơi này nữa.


Trong thời gian chuyển biến tư tưởng, sự phát triển của các quan điểm của Tônxtôi đã nhất quán dẫn ông đến chỗ xét lại toàn bộ giai đoạn hoạt động văn học trước đây của ông. Trong luận cảo Thế thì chúng ta phải làm gì? Tônxtôi viết: “Chúng ta đã tạo ra vô số người, vô số nhà văn lớn, chúng ta phân tách chi ly các nhà văn đó, viết ra hàng núi những bài phê bình, những bài phê bình các nhà phê bình, rồi những bài phê bình các bài phê bình, chúng ta tập hợp hàng đống tranh, chúng ta nghiên cứu đủ các trường phái nghệ thuật đến chân tơ kẽ tóc, và các bản giao hưởng, các nhạc kịch của chúng ta nó phức tạp đến nỗi chính chúng ta cũng bắt đầu thấy khó lòng mà nghe nổi. Thế nhưng chúng ta đã thêm được những gì vào các bài vè, các truyền thuyết, các truyện cổ tích, các bài hát của nhân dân, chúng ta đã truyền đạt cho nhân dân những bức tranh gì, những bản nhạc gì?”. Tônxtôi khẳng định rằng “văn học, cũng như chế độ bao thầu thu thuế, chỉ là một lối bóc lột khôn khéo, chỉ có lợi cho những người tham gia và có hại cho nhân dân”.


Tônxtôi đi đến chỗ phủ nhận toàn bộ hoạt động văn học của ông từ trước, cho rằng đó chỉ là một phương tiện thôi thúc những dục vọng tội lỗi. Do quan điểm này, vào những năm 80 ông chuyển sang những tác phẩm nghệ thuật trong đó ông tự đặt cho mình nhiệm vụ chủ yếu là dạy luân lý cho nhân dân: ấy là những truyện ngắn như Người ta sống bằng cái gì? Cây nến, Hai cụ già, Chúa thấy sự thật, nhưng chẳng nói ngay ra đâu, v.v... Xu hướng giáo dục cũng có thể thấy có trong những tác phẩm lớn hơn viết vào những năm 80-90: Cái chết của Ivan Ilích (1886), Quyền lực của bóng tối (1886), Bản xonát Croitxơ (1890), Kết quả của học vấn (1891), Người chủ và người làm công (1895), v.v...


Trong những năm 80, để cung cấp sách vở rẻ giá và bổ ích cho nhân dân, Tônxtôi tổ chức một nhà xuất bản sách lấy tên là “Người trung gian”. Sách của “Người trung gian” giá từ một côpếch đến một côpếch rưỡi được phổ biến trong quần chúng nhân dân với một số lượng rất lớn.


Việc Tônxtôi quyết định từ bỏ văn học nghệ thuật khiến cho các bạn của ông cũng như những người hâm mộ ông rất xúc động. I. X. Tuốcghênhiép trong khi hấp hối đã viết cho ông một bức thư tuyệt mệnh: “Bạn ạ, bạn hãy trở về với văn học!... Bạn của tôi, nhà văn vĩ đại của đất Nga! Hãy nghe lời cầu xin của tôi!”.


Vả chăng bản thân cuộc sống, cũng như nhu cầu hoạt động văn học, cũng như ước vọng phản ánh thái độ mới của mình đối với thực tại trong một bức tranh nghệ thuật rộng lớn đã thúc đẩy Tônxtôi trở về với việc sáng tác nghệ thuật. Do ảnh hưởng của tất cả những điều đó, trong những năm 90 thái độ của ông đối với nghệ thuật lại thay đổi lần nữa. Ông đi đến chỗ nghĩ rằng công việc viết văn sẽ cho phép ông phát biểu những quan điểm mới của ông đã hình thành trong mười năm gần đây. Năm 1891 Tônxtôi ghi trong nhật ký: “Bắt đầu nghĩ cách làm sao viết một quyển tiểu thuyết phản ánh được quan điểm hiện nay của mình đối với sự vật”.


Quyển tiểu thuyết ấy chính là quyển Tái sinh (viết xong năm 1899).


Trong khi đó thời gian trôi qua và lần lượt đặt ra cho Tônxtôi những vấn đề mới mà ông không thể giải quyết được nếu cứ đứng trên lập trường của thế giới quan nông dân gia trưởng. Chính Tônxtôi cũng cảm thấy như vậy nên đã trải qua những cơn dằn vặt rất đau đớn. Trong một quyển nhật ký năm 1896 của ông có ghi: “Và tôi lại cầu nguyện, lại rên xiết kêu đau. Tôi đã lầm lạc, đã sa lầy, bản thân tôi không thể, nhưng tôi căm ghét mình và cuộc sống của mình”.


Hoạt động văn học của ông ngay trong những năm 90 cũng không ngừng. Trong những năm này, những lời phản kháng căm giận của ông đã nhiều lần làm cho chính phủ giật mình (các bài báo Chế độ nô lệ thời nay, Hãy nghĩ lại! Cuộc chuyển biến không sao tránh khỏi, v.v...).


Năm 1908, nhân những cuộc hành binh liên tiếp của thời kỳ phản động Stôlưpin, ông ném vào mặt chính phủ một bài báo gay gắt: Tôi không thể làm thinh!


Những lời công kích tàn tệ sự bóc lột tư bản chủ nghĩa, vạch trần những sự lộng hành của chính phủ, những trò hề của tòa án và các cơ quan hành chính mà Lênin đã nhận thấy ở Tônxtôi, chứa đựng một nguy cơ rõ rệt cho chính phủ Nga hoàng. A. X. Xuvôrin, biên tập viên báo Thời mới của phái Trăm đen, năm 1901 có viết trong nhật ký về ảnh hưởng ngày càng tăng của Tônxtôi như sau: “Ở nước ta có hai sa hoàng: Nicôlai Đệ nhị và Liép Tônxtôi. Trong hai nhà vua ấy vua nào mạnh hơn? Nicôlai Đệ nhị không làm gì được Tônxtôi hết, không rung chuyển được ngai vàng của ông, trong khi Tônxtôi chắc chắn sẽ làm lay chuyển ngai vàng của Nicôlai và triều đại Rômanốp”.


Chính phủ lo lắng theo dõi hoạt động của nhà văn vĩ đại, nhưng cũng như trong những năm 80 - 90, vẫn không dám thi hành những biện pháp thô bạo để trấn áp ông. Hồi ấy có người khuyên Alếchxanđrơ Đệ tam truy tố Tônxtôi thì y đáp: “Ta hoàn toàn không dại gì để cho ông ta trở thành một kẻ tuẫn đạo và do đó mà làm cho mọi người công phẫn với ta”. Một viên tướng hiến binh giảng giải cho chính Tônxtôi biết rằng “danh vọng của ông lớn lao đến nỗi các nhà tù của nước Nga không sao chứa nổi”. Cũng vì danh vọng của Tônxtôi trên toàn thế giới và vì sợ dư luận các nước văn minh, nên chính phủ Nicôlai Đệ nhị cũng chỉ dám thi hành những biện pháp nửa vời chống lại Tônxtôi. Một trong những biện pháp đó là việc tòa thánh Xinốt (cơ quan tôn giáo tối cao của nước Nga) cắt phép thông công của Tônxtôi năm 1901. Theo nghị định của giáo hội Nga cứ mỗi năm, vào một ngày chủ nhật, trong tất cả các nhà thờ ở Nga đều có làm lễ trọng thể để “nguyền rủa” “tên dị giáo và phản Chúa” là bá tước Tônxtôi. Tuy vậy biện pháp này không đạt được mục đích, vì chỉ làm tăng thêm uy tín của tên tuổi và tư tưởng Tônxtôi.


Về việc cắt phép thông công này Lênin có viết: “Tòa thánh Xinốt trục xuất Tônxtôi ra khỏi giáo hội... chiến công này diễn ra đúng vào lúc nhân dân đang trả thù bọn quan lại mặc áo thâm, bọn cảnh binh đeo thánh giá, bọn giáo hình đen tối đã từng ủng hộ các cuộc khủng bố người Do Thái và các chiến công khác của bè lũ Trăm đen của Nga hoàng” (Lênin toàn tập, q. 16, tr. 296).


Năm 1908 thế giới văn minh làm lễ mừng Tônxtôi thọ 80 tuổi. Nhân ngày lễ đó Lênin đã viết bài “Liép Tônxtôi, tấm gương soi của cách mạng Nga”.


Sau lễ mừng thọ này Tônxtôi chỉ sống thêm được hai năm.


Trong tâm hồn ông đã từ lâu nung nấu một tấn bi kịch nảy sinh ra từ chỗ ông nhận thấy rằng cái lý tưởng sống mà ông truyền bá, chính ông đã không thực hiện cho đến cùng. Trong khi tha thiết kêu gọi người ta đơn giản hóa sinh hoạt và từ bỏ mọi đặc quyền trong cuộc sống, thì chính mình vẫn sống giữa một tầng lớp có đặc quyền, bên cạnh gia đình, mà gia đình mình lại sinh hoạt trong môi trường văn hóa tư sản: điều đó giày vò Tônxtôi rất đau đớn. Năm 1897 Tônxtôi có viết: “Cuộc sống ở quanh tôi mỗi ngày một thêm điên rồ vô nghĩa lý: ăn diện, chơi bời đủ cách, xằng xỡ, đùa cợt, vung phí tiền bạc ở giữa cảnh bần cùng và áp bức, ngoài ra không có gì nữa. Và không thể có cách nào ngăn tình trạng đó lại, tố cáo nó ra, kêu gọi lương tâm của người đời... Và tôi thấy khổ tâm, khổ tâm hết sức... Tại sao không cho tôi sống lấy một năm thôi cũng được, trước khi chết đi, một cuộc sống thích hợp với tôi, ở bên ngoài cái dối trá mà hiện nay không những tôi đang sống, mà còn dự phần vào và đang chìm đắm ở trong đó...”. Trong nhật ký của Tônxtôi cũng thấy phản ánh tâm trạng ấy. Năm 1907 ông có ghi: “Tôi mỗi ngày một thêm đau khổ một cách hầu như thể chất vì tình trạng bất bình đẳng, vì sự giàu sang thừa thãi trong sinh hoạt của chúng tôi ở giữa cảnh bần cùng, và tôi không thể làm giảm bớt tình trạng này đi được. Đó là tấn bi kịch thầm kín của đời tôi”.


Tônxtôi ngày càng nghĩ nhiều đến việc bỏ gia đình ra đi, trốn khỏi cái xã hội quý tộc của mình. Ông có cảm tưởng rằng hoàn cảnh sinh hoạt của một kẻ lữ hành sẽ làm cho ông thấy đỡ khổ hơn là cái “cuộc sống dã man” trong gia đình, và tại một nơi nào đó ở miền Nam nước Nga, trong hoàn cảnh sinh hoạt của nông dân, hay thậm chí ở một nước ngoài như Bungari ông sẽ sớm thực hiện được cái lý tưởng sống giản dị, tự do. Cuối cùng ý định đó đã chín muồi.


Ngày 28 tháng 10 năm 1910, giữa một đêm thu tối tăm, ướt át, Tônxtôi cùng với người bạn và là người thầy thuốc của ông là D. Macôvítski bí mật từ bỏ Yasnaia Pôliana ra đi mãi mãi. Đó là màn cuối của tấn kịch dài đã bao nhiêu năm trường diễn ra trong tâm hồn nhà văn vĩ đại.


Sức khỏe của Tônxtôi, bấy giờ đã tám mươi hai tuổi, không chịu đựng nổi cuộc hành trình. Ở giữa đường, trên xe hỏa, Tônxtôi bị cảm lạnh và chưa kịp đến ga Astapôvô trên đường sắt Riadan Uran (ngày nay là ga Liép Tônxtôi) thì bệnh cảm hàn đã chuyển thành bệnh sưng phổi. Viên trưởng ga Astapôvô là Ôdôlin đã nhường gian nhà của mình cho Tônxtôi nằm.


Tin nhà văn vĩ đại bỏ Yasnaia Pôliana ra đi và bị bệnh truyền đi rất nhanh trên các báo khắp thế giới. Cái nhà ga Astapôvô bé nhỏ vô danh đột nhiên thu hút sự chú ý của hàng triệu người bấy giờ đang hồi hộp chờ đợi những tin tức về bệnh tình của Tônxtôi đăng trên các báo. Và đến khi những tờ báo viền đen báo tin rằng ngày mồng 7 tháng mười một năm 1910 Liép Tônxtôi đã qua đời, toàn thế giới văn hóa đã rung chuyển, xúc động như trước một tổn thất lớn lao, nặng nề của nhân loại.


Y theo nguyện vọng của người quá cố, người ta chôn ông ở Yasnaia Pôliana, bên cạnh một cái khe, nơi mà thời còn nhỏ Tônxtôi cùng các anh thường tim “chiếc gậy xanh” - bí quyết của hạnh phúc loài người.


Nơi ấy, trong khu vườn rậm rạp và thanh vắng, cách dinh thự chừng một cây số, bên bờ khe có một ngôi mộ lẻ loi, kín đáo nép mình dưới bóng cổ thụ. Ở phía trên, cành lá sum suê của những cây sồi, những cây bạch dương và những cây bồ đề đan vào nhau như để che cho giấc ngủ của con người vĩ đại. Trên mộ không có thánh giá, cũng không có bia, tượng. Chỉ có một gò đất thấp mùa hè phủ một tấm thảm hoa tươi còn mùa đông thì phủ tuyết trắng xóa cho biết nơi Tônxtôi yên nghỉ. Ở đây, nhà văn vĩ đại nằm lại một mình với thiên nhiên Nga mà ông đã từng yêu thiết tha và đã từng miêu tả một cách thần tình.


CHIẾN TRANH VÀ HÒA BÌNH


Thời gian Tônxtôi viết cuốn tiểu thuyết Chiến tranh và hòa bình (1864 -1869) là một thời kỳ đấu tranh giai cấp gay go diễn ra chung quanh vấn đề nông dân. Cuộc cải cách 1861 về thực chất không giải quyết được vấn đề người nông dân, vấn đề tương quan giữa nông dân và địa chủ. Những cuộc khởi nghĩa nông dân nổ ra rất nhiều sau cuộc cải cách cho thấy rõ ràng sự bất mãn và công phẫn mà cuộc cải cách đã gây nên trong quần chúng nông dân. Vấn đề người “mugích” vẫn là trung tâm chú ý của dư luận như trước. Trong báo chí và văn học, vấn đề nông dân và các vấn đề về sự phát triển sau này của nước Nga được đặt ra và bàn luận một cách sôi nổi hơn bao giờ hết. Công chúng đặc biệt chú ý đến những tác phẩm đặt ra những vấn đề bức thiết về chính trị, triết học và lịch sử. Dưới ánh sáng của quá khứ, người ta khảo sát những vấn đề quan trọng nhất của thời đại.


Chính trong bầu không khí xã hội và văn học ấy L. Tônxtôi đã nảy ra ý định viết một quyển tiểu thuyết lịch sử, nhưng là một quyển tiểu thuyết như thế nào mà có dùng tài liệu lịch sử để cung cấp một lời giải đáp cho các vấn đề nóng hổi của thời bấy giờ. Tônxtôi nghĩ cách đối chiếu hai thời đại: thời đại của phong trào cách mạng đầu tiên ở Nga - thời đại của những người Tháng Chạp, và những năm 60 - thời đại của những người dân chủ cách mạng.


Tônxtôi đi đến thiên anh hùng ca Chiến tranh và hòa bình xuất phát từ quyển tiểu thuyết Những người Tháng Chạp. Năm 1856, sau khi Nicôlai Đệ nhất chết những người Tháng Chạp còn sống sót được ân xá. Lúc họ từ Xibêri trở về lẽ tự nhiên là công chúng Nga chú ý đến việc đó rất nhiều. Nhân đó, Tônxtôi bắt đầu nghĩ ra chủ đề quyển tiểu thuyết Những người Tháng Chạp. Trong cuốn này Tônxtôi dự định mô tả gia đình của một người Tháng Chạp mới từ Xibêri về. Nhưng chẳng bao lâu ông bỏ phần đã bắt đầu viết và chuyển về năm 1825, là thời kỳ “lầm lạc và khốn khổ” của nhân vật chính của ông, rồi sau đó “lại bỏ phần đã bắt đầu viết và khởi công viết lại từ thời kỳ 1812”, vì muốn kể lại thời thanh niên của một người Tháng Chạp, trùng với thời chiến tranh vệ quốc. Song, như chính Tônxtôi có nói rõ, ông thấy “ngượng” nếu chỉ viết về cuộc toàn thắng của nước Nga trong cuộc đấu tranh với Bônapáctơ, nên ông lại chuyển sang thời 1805 -1806 là thời kỳ “thất bại”, thời kỳ “tủi nhục” của nước Nga. Như vậy là khi chuyển từ 1856 lên 1805 Tônxtôi có ý định “dắt dẫn không phải là một nhân vật nữa, mà nhiều... nhân vật nam nữ qua các biến cố lịch sử 1805, 1812, 1825 và 1856”.


Tônxtôi đã không thực hiện ý định này. Nhưng vì đưa vào cuốn tiểu thuyết nhiều biến cố lịch sử nên khuôn khổ của nó mở rộng ra khá nhiều. Trong số các nhân vật thấy xuất hiện cả những nhân vật lịch sử như Alếchxanđrơ Đệ nhất, Napôlêông, Cutudốp, Spêranski v.v...; con đường đời của các nhân vật chính trong cuốn tiểu thuyết là Anđrây Bôncônski và Pie Bêdukhốp trở nên phức tạp hơn; cuốn tiểu thuyết có thêm một nhân vật chính nữa là nhân dân.


Như vậy là trong quá trình làm việc, dự định của nhà văn đã đi sâu thêm. Lúc đầu Tônxtôi chỉ muốn mô tả nước Nga phong kiến địa chủ, giai cấp quý tộc, nhưng rốt cục trong bản thảo hoàn chỉnh của quyển tiểu thuyết ông đã vẽ ra một bức tranh vô cùng rộng lớn về nước Nga phong kiến, về cuộc đấu tranh giành tự do của nhân dân vào khoảng hai mươi lăm năm đầu của thế kỷ XIX, sáng tạo nên một thể loại tiểu thuyết đặc biệt, một thiên anh hùng ca hiện thực đồ sộ về sức bao quát cuộc sống và quy mô lớn lao của cốt truyện.


Từ chỗ muốn miêu tả vận mệnh của một người Tháng Chạp; Tônxtôi đã đi đến chỗ tìm hiểu cội nguồn của cả phong trào Tháng Chạp, và hiện thực khách quan hầu như đã buộc văn hào đào sâu thêm mãi vào tinh thần nhân dân, vào số phận cá nhân con người. Những người Tháng Chạp vốn “xa rời nhân dân một cách kinh khủng”, cho nên Tônxtôi đã phát triển đề tài cũ, mở rộng phạm vi mô tả để có thể tìm hiểu sâu sắc và toàn vẹn bản chất của dân tộc Nga, của người mugích, của con người.


Tất cả những phạm vi sinh hoạt được mô tả trong Chiến tranh và hòa bình đều quay chung quanh cái trục đó. Cuộc chiến tranh chống xâm lược Pháp là một chiến công rực rỡ của dân tộc Nga trong đó tinh thần của họ đã biểu lộ ra rất rõ rệt”. Là người đã chiến đấu ở Xêvastôpôn bên cạnh những người nông dân Nga mặc áo lính, Tônxtôi thấy rõ rằng chiến trường là nơi bộc lộ rõ rệt nhất lòng yêu nước thiết tha của nhân dân, ý thức dân tộc cao cả của họ, lòng dũng cảm không bờ bến của họ trong những giờ phút đen tối nhất. Một bộ phận khá lớn của quyển truyện được dành cho những môi trường và nhân vật quý tộc. Các nhân vật trung tâm của quyển truyện là những người quý tộc. Nhưng những đối tượng ấy vẫn là những phương tiện biểu hiện các mặt khác nhau của dân tộc tính Nga. Đó là những tấm gương phản chiếu lại, mỗi tấm một cách, những màu sắc phong phú và đậm đà của người dân Nga mà Tônxtôi yêu mến và cảm thông sâu sắc. Các cảnh sinh hoạt trong hòa bình cũng như trong chiến tranh đều là những bức tranh đậm đà bản sắc dân tộc. Các nhân vật quý tộc đều được đánh giá trên quan điểm nhân dân tính. Dưới mắt Tônxtôi, trong các tầng lớp quý tộc nếu có những tầng lớp nào, những người nào còn giữ được những phẩm chất tốt đẹp của con người thì đó đều là những phẩm chất hấp thụ được từ nhân dân, từ con người mugích Nga. Con đường sống phức tạp, đầy những nỗi dằn vặt đau xót, đầy những sự tìm tòi gian khổ của cá nhân những nhân vật chính cũng là con đường họ tìm về với nhân dân, cội nguồn tất yếu của cuộc sống: đó chính là con đường của bản thân Tônxtôi.


Cho nên, qua quá trình phát triển ý định sáng tác, chủ đề nhân dân và nhân dân tính đã trở thành chủ đề trung tâm, chủ đề chỉ đạo chi phối toàn bộ tác phẩm, bàng bạc trên khắp các tình tiết của pho truyện. Cuộc chiến tranh vệ quốc và sinh hoạt của các tầng lớp quý tộc và cuộc sống cá nhân của các nhân vật chính là những chủ đề được đào rất sâu, khai triển rất rộng nhưng không hề tách rời khỏi chủ đề nhân dân và nhất là những khía cạnh biểu hiện chủ đề đó.


Trong khi miêu tả các chiến sự xảy ra trong thời gian 1805-1912, Tônxtôi không những đã vẽ nên những bức tranh rất xác thực và rộng rãi về tình hình diễn biến của chiến tranh, về những cuộc chiến đấu lớn như trận Sơngraben, trận Aostéclích và trânj Bôrôđinô, mà còn miêu tả rất rõ nét tâm lý những con người bị lôi cuốn vào cơn lốc của các chiến sự. Các tổng tư lệnh, các tướng tá, các bộ tham mưu, các sĩ quan chỉ huy đơn vị, và quần chúng binh sĩ, du kích - tất cả những hạng người đó, vốn có những tâm lý hết sức khác nhau, đều được Tônxtôi mô tả với một nghệ thuật trác việt trong những hoàn cảnh sinh hoạt chiến đấu và hòa bình muôn hình muôn vẻ. Đồng thời, là người đã từng hiểu rõ bộ mặt thật của chiến tranh, Tônxtôi cố vẽ một bức tranh trung thành, không tô vẽ, cho thấy cảnh chết chóc, đau khổ của chiến địa trong đó tính huênh hoang giả tạo, tâm lý nhỏ nhen, cầu cạnh, hèn nhát của đa số bọn sĩ quan quý tộc tương phản dữ dội với tinh thần hy sinh dũng cảm của những người lính bình thường.


Trong Chiến tranh và hòa bình Tônxtôi miêu tả hai cuộc chiến tranh khác nhau: cuộc viễn trinh ở nước ngoài năm 1805 -1807 và cuộc chiến tranh vệ quốc năm 1812.


Trong cuộc chiến tranh trên đất nước người, binh sĩ Nga mặc dầu có một lòng hy sinh tận tụy vẫn không tránh khỏi những cuộc rút lui hỗn loạn vì những lỗi lầm không thể dung thứ của bọn tướng tá bất tài, cách làm ăn luộm thuộm của bọn quân nhu và nhất là sự phản bội của các nước đồng minh. Tuy vậy trong các chiến sự này, bên cạnh những sĩ quan đê tiện như Giéccốp chỉ muốn chui vào bộ tham mưu để khỏi ra trận và chóng thăng chức, vẫn xuất hiện những anh hùng chân chính, giản dị mà vĩ đại và vô cùng đáng mến, như đại úy Tusin, đã chiến đấu đến cùng với các đội viên anh dung của mình bên cạnh mấy khẩu pháo không có đơn vị nào yểm hộ.


Chiến sự 1805 - 1807 diễn ra ở ngoài biên giới Nga, và mục đích ý nghĩa của nó rất xa lạ đối với nhân dân. Trái lại cuộc chiến tranh 1812 là một cuộc chiến tranh nhân dân bảo vệ tổ quốc, một cuộc chiến tranh chính nghĩa đã lôi cuốn toàn dân Nga đứng dậy chống xâm lược. Đội quân thiện chiến gồm nửa triệu người, nổi danh là vô địch, do một danh tướng là Napôlêông chỉ huy, khi tràn vào nước Nga đã vấp phải một sức kháng cự vô cùng mãnh liệt. Bấy giờ không phải chỉ có quân đội chính quy, mà toàn dân đã đứng dậy bảo vệ “mảnh đất Nga thiêng liêng”, thân yêu của họ. Ở trận Bôrôđinô, đại quân của Napôlêông đã bị một vết thương không sao chữa khỏi được nữa. Đến Mạc Tư Khoa họ đã thấy một thành phố không người, và ít lâu sau, thủ đô nước Nga bốc cháy. Không chỗ nương tựa, không sao mở được một trận đánh toàn diện, quân đội Napôlêông đã chết dần chết mòn dưới “cái vồ chiến tranh nhân dân”, tiêu hao lực lượng dưới những trận đột kích của các đội quân của Đênixốp và Đôlôkhốp với những người nông dân dũng cảm như Tikhôn Sécbaty. Những người dân thường như bà Vaxilixa cũng tự mình đứng lên đánh giặc, giết hàng trăm tên. Trước mối nguy cơ mất nước, toàn dân đã tập hợp thành một khối dày đặc, một lực lượng khổng lồ đánh bại đội quân bách chiến bách thắng với một danh tướng mà toàn thế giới đều thừa nhận là thiên tài.


Tuy Tônxtôi có những tư tưởng định mệnh chủ nghĩa sai lầm về lịch sử, ngòi bút hiện thực của ông vẫn nêu được vai trò quyết định của nhân dân trong các biến cố quyết định của cuộc chiến tranh.


Trong khi mô tả các chiến sự, qua những trận đánh, những cảnh rút lui, những cảnh sinh hoạt trong quân đội, trong các đội du kích cũng như trong dân gian, Tônxtôi đã sáng tạo được những bức tranh nhuốm đậm màu sắc dân tộc, đã vẽ nên những nét rất sắc về tinh thần của dân Nga, của người nông dân Nga, giản dị, nhân hậu, biểu lộ trong những tâm lý cá nhân rất khác nhau của các lớp người tham gia chiến đấu.


Trong các nhân vật lịch sử được Tônxtôi nhắc đến trong quá trình mô tả các chiến sự, nổi bật nhất là Napôlêông và Cutudốp, hai danh tướng đã chạm trán nhau trong hai cuộc chiến tranh lớn, làm thành hai hình tượng tương phản gay gắt.


Trong Chiến tranh và hòa bình, lần đầu tiên Napôlêông đã được trình bày đúng thực chất của y. Là một nhà chỉ huy quân sự lỗi lạc đã được các chiến dịch của cách mạng đưa lên con đường vinh quang, Napôlêông đã trở thành một con người ham quyền vị, ham danh vọng, nuôi một mơ ước điên rồ là thống trị toàn thế giới, tưởng rằng tài ba và uy tín của cá nhân mình có thể tha hồ chi phối vận mệnh các dân tộc. Lòng kiêu ngạo ích kỷ không bờ bến của Napôlêông đã biến thành một con người rất nhỏ bé, ti tiện. Y luôn luôn như một anh kép hát trên sân khấu biết rằng mọi con mắt đang đổ dồn về phía mình, y luôn luôn đóng kịch, luôn luôn lấy điệu bộ này, làm cử chỉ kia, không bao giời đi đứng nói năng một cách tự nhiên. Y xem quân lính như những công cụ riêng của mình, như những kẻ có bổn phận lao vào cõi chết theo một cái vẫy tay của mình, khinh miệt họ, tàn nhẫn đối với họ và luôn dùng những thủ đoạn xảo trá để lừa bịp họ. Dưới mắt Tônxtôi, Napôlêông nhỏ bé chính vì y là “một công cụ vô nghĩa trong tay lịch sử” mà lại tưởng mình làm chủ lịch sử.


Ngược lại, Cutudốp, tổng tư lệnh quân đội Nga, là người tướng lĩnh chân chính của chiến tranh nhân dân, một người giản dị, gần gũi nhân dân, biết quý trọng con người. Nga hoàng và bọn triều thần có ác cảm với ông, nhưng nhân dân và những người quý tộc ưu tú đều tin tưởng ở lòng yêu nước và tài thao lược của ông. Cutudốp cùng có một tâm trạng, một ngôn ngữ chung với binh sĩ, cho nên được họ cảm thông và mến phục.


Cutudốp vốn tin tưởng vào sức mạnh của nhân dân, nên đã không dựa vào những lý thuyết quân sự cổ điển, mà dựa vào nhân dân, dựa vào thiên thời địa lợi, cũng như vào tinh thần của binh sĩ và quân du kích. Riêng ông dám quả quyết rằng trận Bôrôđinô không phải là một cuộc bại trận, cũng chỉ mình ông hiểu rõ rằng mất Mạc Tư Khoa không phải là mất nước Nga. Tônxtôi có một quan niệm định mệnh chủ nghĩa về lịch sử, cho nên ông đã ít nhiều phủ nhận vai trò của cá nhân Cutudốp trong cuộc chiến tranh vệ quốc. Tuy vậy, ông đã thấy rõ rằng Cutudốp là một tướng lĩnh nhân dân chân chính. Cái vĩ đại của vị tướng ấy là ở chỗ mục đích ông tự đặt ra cho mình chính là nguyện vọng của nhân dân, sức mạnh của ông là ở chỗ ông là hiện thân của tư tưởng, tình cảm và ý chí của nhân dân.


Đề tài chiến tranh được phát triển trong suốt thiên tiểu thuyết và được dùng làm một phương tiện quan trọng để bộc lộ những nét tiêu biểu của dân tộc tính Nga. Ngoài ra, Tônxtôi đã dành một phần lớn tác phẩm để mô tả sinh hoạt trong hòa bình của nước Nga phong kiến nông nô, nhất là sinh hoạt của giai cấp quý tộc, trong đó ông phân biệt lớp đại quý tộc, quan liêu ở cung đình (Curaghin, Sêre v.v...), lớp quý tộc lãnh chủ Mạc Tư Khoa (gia đình Rôstốp) và lớp quý tộc độc lập có xu hướng chống đối chính phủ (lão công tước Bôncônski, Bêdukhốp).


Lớp quý tộc thượng lưu ở Pêtécbua được Tônxtôi trình bày với một ngòi bút châm biếm rất sắc cạnh. Đó là “giới giao tế” hào hoa phong nhã thường thấy xuất hiện ở các phòng khách thời thượng như phòng khách của Anna Sêre, phần lớn gồm những nhân vật tai mắt của lớp quan liêu ở thủ đô. Những phòng khách xa hoa này là nơi họ ngồi lê đôi mách, kháo nhau những chuyện vặt vãnh ở cung đình, bàn nhau những âm mưu cầu cạnh ti tiện và phô trương một thứ “trí tuệ” vô dụng, bằng một thứ tiếng Pháp cầu kỳ. Phòng khách thượng lưu đầy dẫy một không khí giả tạo, dối trá. Không thể tìm thấy ở đây một cử chỉ, một vẻ mặt, một lời nói tự nhiên, thành thật. Tất cả đều đã được sắp xếp trước, tất cả đều diễn ra theo đúng những quy tắc ước lệ của phép xã giao, tất cả đều máy móc “như trong một xưởng dệt”.


Trong số những tân khách tiêu biểu của Sêre có công tước Vaxili Curaghin, một viên quan cao cấp vô lương tâm, chỉ sống bằng những thủ đoạn vụ lợi và con cái của y: Êlen, một người đàn bà ngu xuẩn và dâm đãng, Íppôlít, một thanh niên đần độn và lố bịch, Anatôn, một tên vô lại chỉ biết chơi bời trụy lạc. Vaxili Curaghin, sau khi lập mưu hôi phần gia tài của bá tước Bêdukhốp mà không được, liền tìm cách bẫy cho con trai của bá tước lấy Êlen, con gái mình, xong lại âm mưu dạm hỏi công tước tiểu thư Maria giàu có cho Anatôn để đào mỏ. Dưới cái bề ngoài lịch thiệp sang trọng của cha con nhà Curaghin che giấu những tâm địa hết sức đê tiện. Ngoài ra ta còn thấy có mụ Anna Đrubétskaia, một quả phụ quý tộc phá sản suốt đời chỉ đi luồn lọt hết nơi này đến nơi khác để kiếm chác tiền bạc và địa vị cho con trai. Thuộc hạng người này còn có những thanh niên mà lý tưởng sống chỉ là làm sao tìm cho được một “địa vị ấm cúng” trong xã hội, như Bôris Đrubétskôi và Anphônxờ Béc. Vào quân đội, họ chỉ tìm cách chuyển sang những nơi nào có thể dễ bề nịnh hót quan trên để chóng thăng chức và tăng lương. Đối với hôn nhân, họ chỉ mong sao tìm cho được một người vợ giàu có.


Tônxtôi thóa mạ không thương tiếc những tên quan lại của chính phủ Nga hoàng như Rastốpsin, những kẻ xa lạ đối với nhân dân, khinh miệt nhân dân và bị nhân dân khinh miệt. Khi nói đến bọn quan lại của chính quyền Nga hoàng, văn cũng như võ, Tônxtôi vạch rõ tính chất phả nhân dân, quan liêu và vụ lợi của đa số bọn họ, như Arắctsâyép - cánh tay phải của Alếchxan Đệ nhất, một tên cảnh sát tận tụy, tàn nhẫn và “không biết cách nào để tỏ lòng tận tụy ngoài sự tàn bạo”. Dưới ngòi bút của Tônxtôi, từ toàn bộ chân dung của những hạng người này toát ra một không khí dối trá, đê tiện. Đó là những con người vong bản, không còn giữ lại được một phẩm chất gì của dân tộc, đến nỗi nói tiếng Nga cũng lơ lớ như người ngoại quốc (Íppôlít Curaghin) hoặc chỉ dùng tiếng Nga khi nào muốn tỏ ý khinh bỉ (Bilibin).


Tônxtôi mô tả lớp quý tộc trang chủ với một thái độ khác hẳn. Là những người sinh hoạt gần gũi với nhân dân hơn và không bị những lối sống xa hoa trụy lạc và đầy dẫy những thủ đoạn gian trá ở cung đình làm hư hỏng, họ còn giữ được những phẩm chất tốt đẹp của người dân Nga mà Tônxtôi rất yêu mến. Gia đình Rôstốp là một gia đình đôn hậu, vui vẻ, giản dị, thật thà, đối xử phải chăng với gia nhân và nông nô. Sinh hoạt của họ nhuốm rất đậm màu sắc dân tộc. Những cảnh như ngày lễ thánh ở nhà Rôstốp, cuộc sửa soạn đi dự vũ hội của Natasa, lễ Nôen, cuộc đi săn, v.v... là những cảnh thú vị nhất trong thiên tiểu thuyết, được Tônxtôi mô tả một cách rất trìu mến. Một người bạn thân của gia đình Rôstốp là bà Akhơrôximôva, một người lỗ mãng nhưng thẳng thắn, xuề xòa, biết thương người. Bà Akhơrôximôva bao giờ cũng nói tiếng Nga, lời lẽ của bà hay chen những câu tục ngữ dân gian.


Tính chất của gia đình công tước Bôncônski khác hẳn gia đình Rôstốp. Lão công tước là một người đại quý tộc, kiêu căng và gàn dở, nhưng có học thức, thông mình và trung thực. Ông rất ghét giới triều thần và khinh miệt bọn quan lại. Đối với tiểu thư Maria, người con gái xấu xí nhưng dịu dàng của ông, lão công tước đối xử rất khắc nghiệt và làm cô ta khổ rất nhiều, mặc dầu ông rất quý con. Không khí của gia đình Bôncônski rất trầm lặng, khắc khổ, nhưng trong sạch cao quý.


Tônxtôi vốn gần gũi với lớp quý tộc trang chủ, nên đã mô tả những nhân vật thuộc tầng lớp này với rất nhiều thiện cảm. Ông tìm thấy ở họ những phẩm chất tốt đẹp của dân tộc Nga mà ông đem đối lập với những tính chất Tây Âu thể hiện trong bọn quý tộc thành thị vong bản. Những gia đình quý tộc trang chủ này gần gũi với nhân dân hơn, với chân lý của nhân dân hơn.


Tônxtôi không thấy được cái cơ sở bất công và đầy mâu thuẫn của sinh hoạt trang chủ, và đề cuộc sống của nông dân gia trưởng lên thành một lý tưởng, cho rằng cuộc sống lao động thanh thản ấy làm cho con người trong sạch và cao quý lên. Tuy vậy, cuộc đời của hai nhân vật chính của thiên tiểu thuyết là Anđrây Bôncônski và Pie Bêdukhốp cũng cho thấy rõ rằng nền móng của giai cấp quý tộc đang lung lay đến tận gốc.


Anđrây Bôncônski và Pie Bêdukhốp là hai nhân vật mà Tônxtôi đã sáng tạo nên với rất nhiều tâm huyết. Những bước đường tư tưởng, những tâm trạng của họ, có nhiều phần phản ánh những mối cảm nghĩ của chính bản thân tác giả. Đó là hai con người có sức sống tinh thần, có lương tâm, biết đi tìm ý nghĩa của cuộc sống, và điều đó đã bắt đầu dẫn họ tìm về với nhân dân.


Công tước Anđrây Bôncônski là một người trung thực, thông minh và có nghị lực. Chàng thấy rõ sự hèn hạ của bọn thượng lưu quý tộc ở thủ đô và không giấu giếm lòng khinh miệt đối với họ cũng như sự chán nản đối với cuộc đời vô nghĩa mà chàng đang phải sống ở giữa đám người ngu xuẩn, giả dối ấy.


Chàng muốn tìm một con đường đi, một lý tưởng hành động, cho cuộc sống của mình có một ý nghĩa. Chàng vào quân đội, không phải tìm cho mình một địa vị cao sang như Bôris và Béc, mà để lập chiến công. Chàng không muốn ở bộ tham mưu, chàng muốn chiến đấu bên cạnh binh sĩ. Vốn có thiện cảm với cuộc cách mạng Pháp và với những tướng lĩnh trẻ tuổi lớn lên trong cách mạng mà người tiêu biểu là Napôlêông, chàng mơ ước “một trận Tulông” có thể đem lại vinh quang cho chàng như người danh tướng Pháp mà chàng hâm mộ.


Nhưng sau khi bị thương trong trận Aostéclích và thất vọng về những hư vinh quân sự; về cả bản thân Napôlêông mà chàng thấy là nhỏ nhen huênh hoang, chàng trở về điền trang cố tìm cách cải thiện cuộc sống của nông dân, thực hiện những cải cách tiến bộ ở trên đất của mình, rồi sau một thời gian hoạt động trong một cơ quan chính phủ bên cạnh Spêranski, chàng thấy rõ sự trì trệ của bộ máy nhà nước, sự vô bổ của những lý thuyết chính trị xa rời cuộc sống của Spêranski.


Gặp Natasa, lần đầu tiên Anđrây thấy có thể hưởng một hạnh phúc thật sự, nhưng Anatôn, tên sở khanh bất lương, đã phá mất hạnh phúc của chàng. Anđrây trải qua một thời kỳ khủng hoảng tinh thần trầm trọng. Nhưng mối nguy cơ đang đe dọa tổ quốc đã làm cho chàng quê những đau khổ các nhân; chàng tìm thấy ý nghĩa cuộc sống trong tình yêu nhân dân, trong sự nghiệp đấu tranh cho nhân dân. Binh sĩ của chàng hiểu chàng, yêu mến chàng, và đã làm cho tâm hồn chàng sống lại.


Anđrây chết vì một vết thương nặng trong trận Bôrôđinô. Trong những giờ hấp hối, chen lẫn với những tư tưởng yếm thế của người bệnh hoạn, công tước Anđrây đã thấy lóe ra cái ý nghĩa lớn lao của cuộc sống mà chàng suốt đời tìm kiếm: tình yêu nhân dân.


Bạn của Anđrây là Pie hiểu rõ rằng giá chàng còn sống, chàng sẽ đứng trong hàng ngũ của những người sau này sẽ làm cuộc khởi nghĩa tháng Chạp.


Cuộc đời của Anđrây là một quá trình mò mẫm đau xót, nhằm tìm lối thoát ra khỏi tình cảnh bế tắc của giai cấp quý tộc, của chế độ nông nô. Chàng thấy cô độc và chán nản vì khinh ghét xã hội thượng lưu, chàng có một thái độ lãnh đạm và khinh khỉnh làm cho nhiều người rất khó chịu, nhưng tự bản chất chàng là một người có tình, có nhiệt tâm, lòng có thể rung động chân thành vì những tình cảm cao quý. Đối với những người như Pie Bêdukhốp, thái độ của chàng khác hẳn: cởi mở, trìu mến, nhiệt thành.


Anđrây mến Pie vì trong cái xã hội thượng lưu giả dối ấy Pie là một người trong trắng, hiền hậu, tuy không phải không có những nhược điểm lớn, nhưng phục thiện, luôn luôn vươn tới chân lý, tìm về với nhân dân. Pie háo hức tiếp thu những tư tưởng tự do của cách mạng Pháp, và vốn có một tâm hồn thích mơ mộng viển vông, Pie khi thì ước ao thực hiện chế độ cộng hòa ở Nga, khi thì lại muốn làm Napôlêông, khi thì lại muốn làm nhà triết học, khi thì lại muốn làm kẻ chiến thắng Napôlêông. Sống xa thực tế, chàng luôn luôn ngơ ngác trước cuộc sống và không sao đủ sức thực hiện những ý định tốt của mình.


Nét đặc trưng chủ yếu của Pie là luôn luôn đi tìm sự “yên tĩnh tinh thần, tìm sự thỏa thuận với bản thân mình”. Tất cả con đường sống của Pie là một quá trình tìm tòi ý nghĩa của cuộc sống, tìm một cuộc sống có thể hòa hợp với những đòi hỏi của lòng mình và có thể đem lại cho mình một sự thỏa mãn về tinh thần. Chàng đi tìm cuộc sống đó trong tôn giáo, trong hội Tam điểm, nhưng chẳng bao lâu sự dối trá, tính chất vụ lợi của những người tham gia hội này cũng như thực chất giai cấp của nó đã khiến cho Pie thất vọng. Cuộc sống ăn chơi, rượu chè cũng không đưa lại cho chàng một niềm an ủi nào.


Đến khi đi dự trận Bôrôđinô, Pie đã xúc động trước lòng dũng cảm phi thường của binh sĩ, chàng bắt đầu thấy mến những người lính giản dị, chân thật, mạnh mẽ ấy và bắt đầu muốn gần gũi họ, cố làm sao cho mình giống họ.


Bị Pháp bắt, Pie làm quen với Platôn Carataiép và nhờ người nông dân này chàng đã có được “sự yên tĩnh và lòng tự thỏa mãn với mình” mà chàng đã hoài công tìm kiếm bấy lâu. Carataiép là hiện thân của cái lý tưởng nông dân gia trưởng mà Tônxtôi xem là mẫu mực của cuộc sống.


Sau đó Pie đã trở thành một con người khác, giản dị hơn, đa cảm hơn; nhưng lại quả quyết hơn. Tuy chịu ảnh hưởng của Carataiép, Pie không tiếp thu thái độ thụ động của anh ta đối với cuộc sống. Chàng đã đi tìm một con đường cải tạo xã hội bằng cách đấu tranh chống lại những tệ lậu của chế độ.


Trong hình tượng Anđrây Bôncônski và Pie Bêdukhốp, Tônxtôi đã thể hiện những nét tốt đẹp nhất của những người ở thời đại ông, đã xây dựng những nhân vật tiêu biểu của giới quý tộc tiên tiến biết đấu tranh cho quyền lợi của nhân dân chống chính quyền chuyên chế và chế độ ngu dân. Những vấn đề cấp thiết về số phận của con người mà hai nhân vật này đặt ra cho mình cũng chính là những vấn đề đã khiến Tônxtôi băn khoăn suốt đời, những vấn đề nhân sinh quan chủ yếu của thời đại ông.


Trong cuộc đời của Anđrây và Pie bóng dáng của Natasa Rôstôva và Maria Bôncônskaia có một vị trí đặc biệt. Đó là hai nhân vật nữ trung tâm của thiên tiểu thuyết, hai hình tượng được Tônxtôi chú tâm miêu tả với những màu sắc rất khác nhau, nhưng cùng nói lên những quan niệm của Tônxtôi về lý tưởng của người phụ nữ.


Hình ảnh của Natasa Rôstôva phát triển dần dần qua câu chuyện, người đọc theo dõi cuộc sống của nàng từ khi còn là một cô bé mới chớm dậy thì cho đến khi nàng trở thành một thiếu phụ trưởng thành trong sinh hoạt gia đình. Natasa là một người con gái tràn đầy sức sống và tình yêu. Nàng say sưa và sung sướng đón lấy cuộc đời. Sống trong tình trìu mến của một gia đình hòa thuận, Natasa yêu thương mọi người, tin tưởng vào lòng tốt của mọi người và xem cuộc đời như một ngày hội tưng bừng, trong đó mỗi bước đi của mình đều đưa đến những niềm vui mới mẻ ngày càng trong sáng mãi.


Natasa sống hoàn toàn bằng tình cảm, nàng sống với tất cả tình yêu thương bồng bột của mình đối với mọi người, mọi vật ở xung quanh, và những cảm xúc nhiệt thành của nàng không hề có một chút nào bị hạn chế hay che đậy, mỗi cảm xúc của nàng đều lộ rõ trên nét mặt sinh động, trong những cử chỉ linh hoạt của nàng. Suốt đời nàng, Natasa “không hề biết và không thể làm một việc gì mà không phải là làm với tất cả tâm hồn, tất cả sức lực của mình”.


Anđrây Bôncônski yêu Natasa chính vì tâm hồn trong sạch và chân thành của nàng nổi bật hẳn lên trên những tâm địa đê hèn, giả dối của giới thượng lưu mà chàng đã chán ngấy. Cả con người chan chứa tình yêu đời của Natasa đã truyền sự sống cho tâm hồn mệt mỏi của Anđrây và đã thức tỉnh những tình cảm trong sáng nhất trong lòng Pie Bêdukhốp.


Natasa rung cảm mãnh liệt với những gì đẹp đẽ trong thiên nhiên và trong con người, mỹ cảm của nàng đậm đà màu sắc dân tộc; trong những phút khó khăn nhất của cuộc chiến tranh vệ quốc, nàng đã tỏ ra rắn rỏi, quả cảm và biết hy sinh. Trong sinh hoạt gia đình, nàng là một người vợ đảm đang, thực tiễn.


Tâm hồn Natasa Rôstôva tươi sáng, cởi mở bao nhiêu, thì tâm hồn Maria Bôncônskaia, người em gái của công tước Anđrây, trầm lặng, kín đáo bấy nhiêu. Natasa sống cởi mở, hoàn toàn theo tình cảm bồng bột của lòng mình, thì Maria trong cảnh sống cô đơn lại quen trầm tư mặc tưởng. Natasa say sưa lao tới hạnh phúc cá nhân, thì Maria lại mê mải đi tìm ý nghĩa của cuộc sống trong sự hy sinh vì người khác.


Maria là một cô gái dịu dàng, trong sạch và rất giàu tình thương. Nàng xấu, nhưng đôi mắt đẹp đẽ phản chiếu tâm hồn nàng, “rọi lên khuôn mặt nàng một ánh sáng kỳ diệu”. Tâm hồn mơ mộng của nàng tìm đến thế giới huyền ảo, cao siêu của tôn giáo, nhưng con người nàng vẫn thầm kín vươn tới hạnh phúc cá nhân, điều mà nàng thành thật cho là một tội lỗi.


Sống bên người cha già mà nàng cảm thông sâu sắc và hết lòng kính yêu, mặc dầu phải chịu đựng những nỗi khổ tinh thần rất lớn vì cái tính gàn dở kỳ quặc của ông, Maria vẫn chân thành mong ước được dành cả cuộc đời của mình để phụng dưỡng cha già và nuôi đứa cháu mồ côi của nàng. Maria không hề biết ganh tị thù ghét, vì nàng không thể quan niệm rằng con người có thể xấu xa.


Cũng như Natasa, nữ công tước Maria đã tìm thấy hạnh phúc trong cuộc sống gia đình. Cuộc hôn nhân của nàng với Nicôlai Rôstốp, tuy chỉ là một cuộc hôn nhân vì lý trí, cũng đã đem lại cho nàng một cuộc sống tinh thần êm đẹp. Số phận của Natasa và Maria phản ánh quan niệm của Tônxtôi về người phụ nữ: Tônxtôi vốn cho rằng mục đích sống của họ chính là gia đình, “ngôi đền của tinh thần dân tộc”, là làm tròn nhiệm vụ của người mẹ hiền, người vợ đảm.


Bên cạnh bốn nhân vật nói trên, vốn mang nặng những tâm sự, những chí hướng, những ước mơ của bản thân Tônxtôi, có một nhân vật khác không kém phần quan trọng phản ảnh cái nhìn khách quan và sâu sắc của tác giả đối với con người “trung bình” của thời đại. Nhân vật đó là Nicôlai Rôstốp.


Nicôlai Rôstốp là một nhân vật điển hình có tính chất khái quát cao độ, chính vì đó là một con người bình thường, một sĩ quan bình thường, một trang chủ bình thường. Nicôlai Rôstốp cũng đánh bạc, chơi bời, đánh đập quản lý, tôn sùng Nga hoàng như bất cứ người sĩ quan, người trang chủ nào ở thời ấy. Nhưng bên cạnh những nét đặc trưng của đẳng cấp lộ ra trong những cảm xúc, những ý nghĩ tầm thường, dung tục của chàng, Nicôlai Rôstốp cũng như Natasa hay lão bá tước Ilya Anđrâyích còn có được những phẩm chất tốt đẹp của người dân Nga bình dị. Nicôlai là một con người thuần chất; những cảm nghĩ, những lời nói, những hành động của chàng đều trực tiếp toát ra từ một tâm hồn giản dị, trong sạch và ngay thẳng. Công tước tiểu thư Maria yêu chàng “không phải chỉ là yêu khóe nhìn vui vẻ, hồn hậu và cởi mở, và cái dung mạo tuấn tú của chàng”, nàng còn “đoán được cái tâm hồn cao quý, cương nghị, đầy tinh thần vị tha của chàng”.


Tônxtôi thường nhấn mạnh rằng những con người bình thường là những con người hữu dụng nhất trong cuộc chiến tranh bảo vệ tổ quốc: chính Rôstốp đã được sử dụng để xác minh điều này. Với lòng yêu nước giản dị mà sâu sắc, không hề có dấu vết của sự so đo ích kỷ hay của lối huênh hoang giả tạo, một lòng yêu nước chân chính biểu lộ ra trong những hành động dũng cảm rất tự nhiên, Nicôlai Rôstốp là một trong những người công dân trung thành đã góp phần vào sự nghiệp vĩ đại của toàn dân.


Cuộc đời các nhân vật trung tâm của Chiến tranh và hòa bình diễn ra trước mắt người đọc một cách trọn vẹn, với tất cả những màu sắc phong phú của quá trình “biện chứng của tâm hồn” họ, những số phận cá nhân ấy liên hệ với nhau một cách hữu cơ và cùng với số phận của hơn 550 nhân vật khác nhau diễn biến trên dòng sự kiện lịch sử đang lôi cuốn toàn dân tộc. Đó là những hình tượng đã kết tinh những quan sát sâu sắc nhất của Tônxtôi về con người, về thời đại([7][7]). Phần lớn các nhân vật của Tônxtôi dù đôi khi chỉ là những nhân vật thứ yếu; đều để lại một ấn tượng không thể phải mờ trong trí nhớ của người đọc, vì đó là những con người sống thật, với tất cả những khía cạnh phong phú và đầy mâu thuẫn được trình bày trong sự phát triển biện chứng của nó, những nhân vật điển hình cao độ xuất hiện với những đường nét hết sức cụ thể và sinh động.


Trong Chiến tranh và hòa bình cũng như trong các tác phẩm khác của Tônxtôi không hề thấy dấu vết của lối khuếch đại có tính chất biếm họa, hoang đường. Nhà văn vĩ đại nhìn thẳng vào cuộc sống một cách thận trọng, chăm chú theo dõi từng nhịp mạch của nó, lắng nghe từng hơi thở của nó, cho nên những bức tranh, những con người của ông tạo nên đều sinh động như bản thân cuộc sống. Lênin gọi chủ nghĩa hiện thực của Tônxtôi là “chủ nghĩa hiện thực tỉnh táo nhất”. Trong khi vẽ nên bức tranh toàn diện về cuộc sống của dân Nga bằng những màu sắc tươi đậm, phong phú và chan chứa tình yêu, Tônxtôi vẫn không giấu giếm những khía cạnh đáng tủi nhục; trong khi miêu tả những nhân vật yêu mến nhất của mình, ông vẫn thấy rõ những nét xấu của họ. Ngược lại, trong khi miêu tả các nhân vật xấu, Tônxtôi với quan điểm nhân đạo đặc thù và con mắt hiện thực sâu sắc của ông, đã đi sâu vào nguồn gốc xã hội để cắt nghĩa hành động và nhân cách của các nhân vật đó, cho nên các hình tượng của Tônxtôi càng tố cáo trực tiếp hơn nữa tính chất thối nát của xã hội đã sản sinh ra những hành động, những nhân cách đó.


Là một “nhà tâm lý học sâu sắc và tế nhị”, Tônxtôi hết sức chú ý đến “tính chất biến thiên của con người”, tính chất động của nhân cách, “biện chứng pháp của tâm hồn”. Cuộc sống tinh thần của các nhân vật là một quá trình phức tạp diễn ra trong sự đấu tranh giữa những tâm trạng trái ngược, với những cơn khủng hoảng sâu sắc. Nhân vật của ông sống, yêu thương, đau khổ, tìm tòi, ngờ vực, lầm lạc, tin tưởng. Cũng nhân vật ấy có thể trải qua những cảm xúc cao thượng và mãnh liệt, những tâm trạng yêu đương đằm thắm, hoặc rơi vào những tình trạng sa đọa tinh thần, những tâm trạng ích kỷ, đê hèn, bỉ ổi. Theo lời của Tônxtôi, nhân vật của ông có thể khi là một tên gian phi, khi thì lại là một thiên thần. Chỉ cần nhắc đến một nhân vật như Đôlôkhốp, một thanh niên ngỗ ngược, vô lương tâm, chơi bời vong mạng, nhưng cũng là một con người thẳng thắn, dũng cảm, một người con hiếu có những tình cảm nồng nàn, cảm động đối với mẹ, và về sau là một “chiến sĩ phục thù” của nhân dân cũng đủ thấy cái nghệ thuật điêu luyện của Tônxtôi trong việc mô tả “phép biện chứng của tâm hồn” các nhân vật. Những lầm lạc đau xót và nhiều khi đáng hổ thẹn của Anđrây, Pie, Natasa, Nicôlai cũng nói rõ điều đó.


Thái độ của Tônxtôi đối với xã hội rất rõ rệt, thiện cảm ác cảm của ông đối với những con người mà ông miêu tả cũng rất dứt khoát, nhưng điều đó không đưa ông đến chỗ mù quán, phiến diện. Con mắt hiện thực “tỉnh táo” của Tônxtôi thấy rõ những khía cạnh phức tạp của con người, chủ nghĩa nhân đạo sâu sắc của ông biết tìm ra cái nguyên nhân khiến cho con người sa ngã, tìm ra cái cơ sở xã hội đẻ ra những tâm địa đê hèn.


Trong khi miêu tả các nhân vật cũng như các sự kiện, các cảnh sinh hoạt, các môi trường xã hội, Tônxtôi thích dùng thế tương phản cũng như thế song hành. Ta thấy có những đôi nhân vật tương phản nhau như Napôlêông và Cutudốp, Sêre và Akhơrôximôva, Bôris Đrubétskôi và Nicôlai Rôstốp, Natasa và Maria, gia đình Curaghin và gia đình Rôstốp v.v...; những cảnh tương phản như chiến tranh và hòa bình, tử vong và sinh nở, cảnh thiên nhiên sinh động và cảnh trang trí giả tạo v.v... Ngoài ra ta cũng thấy những nhân vật song hành như cha con Bôncônski, Natasa và Nicôlai Rôstốp, Êlen và Anatôn, Bôris và Béc. Đặc biệt cách dùng thể tương phản của Tônxtôi phản ánh quan niệm của ông về những lực lượng đối lập làm thành hai thái cực trong thế giới. Các nhân vật của Chiến tranh và hòa bình dường như bị xâu xé giữa sức hấp dẫn của hai thái cực ấy.


Trong khi miêu tả dung mạo của các nhân vật cũng như phong cảnh bên ngoài, Tônxtôi đều lấy đó làm những phương tiện để truyền đạt tính cách của những con người và tâm trạng của họ. Những bức chân dung của Tônxtôi có sức làm cho các nhân vật hiện rõ ra trước mắt người đọc như những con người thật, một phần lớn cũng chính vì những màu sắc và đường nét của Tônxtôi vẽ nên đều cho thấy rõ cuộc sống bên trong của nhân vật được miêu tả, và phù hợp với những phương tiện khác dùng để bộc lộ cá tính các nhân vật đó. Ngay khi mô tả những con người giả dối, che giấu một tâm địa hèn hạ dưới một bề ngoài phong nhã, lịch thiệp, hào nhoáng, chỉ cần một vài nét nhỏ, một vài cử chỉ không tự giác cũng đủ nêu rõ những chỗ hở tất yếu của cái vỏ ngoài và báo cho người đọc biết rằng trước mắt mình là một cái mặt nạ chứ không phải là bộ mặt thật của nhân vật đang được giới thiệu.


Tônxtôi thường kể đi kể lại một số nét đặc biệt nào đó để khắc sâu nó vào trí nhớ của người đọc, như “cái môi trên hơi ngắn và phủ lông tơ” của công tước phu nhân Lida, “đôi mắt trong sáng và dáng đi nặng nề” của công tước tiểu thư Maria, tiếng xì mũi cáu kỉnh của lão công tước Bôncônski, cái miệng có “hai nụ cười ở hai bên mép” của Đôlôkhốp, những thớ thịt giật giật lên từng đợt trên má công tước Vaxili.


Người đọc sẽ nhớ mãi khổ người to béo, dáng điệu vụng về và đôi mắt hiền hậu, tò mò của Pie sau đôi kính trắng, dáng người thanh thanh và những đường nét sắc gọn của công tước Anđrây, vẻ mặt khinh khỉnh và dáng điệu uể oải của chàng khi tiếp xúc với giới thượng lưu, những động tác linh hoạt và gương mặt phấn chấn với đôi mắt đen tươi cười của Natasa, bộ tóc đen bù xù của Đênixốp, vẻ mặt rạng rỡ và nụ cười tự tin của Anatôn, dáng người mềm mại của “con mèo” Xônhia; giọng nói ồm ồm của Akhơrôximôva, cái lưng quá dài và bộ tóc bết thành mảng của nữ công tước Catêrina, dáng người gù gù và nụ cười ngượng ngập của Tusin, cái bụng ỏng của Napôlêông, vẻ mặt thiểu não như đã khóc quá nhiều của Anna Mikhailốpna, và hàng trăm hình ảnh sinh động, độc đáo khác. Cũng như tính cách, tâm lý của các nhân vật, những bức chân dung ấy đều được trình bày một cách động, phản ánh quá trình phát triển, diễn biến của tâm lý nhân vật.


Những cảm nghĩ sâu kín của các nhân vật nhiều khi được bộc lộ ra trong những đoạn “độc thoại và đối thoại bên trong”. Ngoài ra, lời của người kể chuyện thường cũng là ý nghĩ của nhân vật: những sự việc mà tác giả kể được trình bày qua cách nhìn của nhân vật đang chứng kiến và tham dự vào sự việc được kể, khiến người đọc thấy như được đưa hẳn vào khung cảnh của câu chuyện. Là một người hiểu rõ và biết yêu thiên nhiên, Tônxtôi thường sử dụng phong cảnh để nói lên tâm trạng của nhân vật một cách hết sức tài tình. Các phong cảnh thiên nhiên của Chiến tranh và hòa bình đều được nhìn qua con mắt của một nhân vật này hay một nhân vật khác, cho nên nó nhuốm màu sắc chủ quan của từng nhân vật và phản ánh được cảm xúc, tâm trạng của nhân vật. Ánh nắng rực rỡ trên chiến trường Sơngraben, bầu trời cao vòi vọi trên chiến trường Aostéclích, đêm trăng huyền diệu trong vườn Ôtrátnôiê, bóng dáng cây sồi già bên đường, là những bức tranh hiện thực nên thơ và đầy sức gợi cảm không những vì màu sắc thiên nhiên của nó mà còn vì những cảm xúc trong tâm hồn Nicôlai Rôstốp, Anđrây và Natasa trong khi đứng trước những cảnh đó.


Văn của Tônxtôi tiếp tục sự phát triển của ngôn ngữ văn học Nga đã được Puskin, Lécmôntốp, Gôgôn trau dồi. Tônxtôi đã cố gắng dùng ngôn ngữ trong sáng của nhân dân, một ngôn ngữ chính xác, hiện thực, có thể phản ánh đúng đắn những sự việc, những ý nghĩ những cảm xúc phức tạp. Ngôn ngữ của Chiến tranh và hòa bình phong phú, nhiều hình ảnh và rất đa dạng.


Lời của tác giả xây dựng trên cơ sở ngôn ngữ văn học toàn dân. Nhưng để chuyển đạt màu sắc lịch sử Tônxtôi cũng dùng đến những yếu tố ngôn ngữ của thời kỳ đầu thế kỷ XIX và đã gợi được một “dư âm” của thời đại đã qua. Nhiều từ ngữ và cách đặt câu nhắc nhở lại ngôn ngữ của thời Puskin. Giọng kể chuyện biến chuyển không ngừng tùy theo đối tượng tự sự. Những đoạn văn trình bày tình hình chiến sự gọn ghẽ, khắc khổ và chính xác như những bản điệp báo, có sức gây nên một không khí lịch sử rất thật, xen kẽ với những đoạn văn sinh động và tế nhị dùng để theo dõi những diễn biến tâm lý của các nhân vật, những đoạn văn đầy thi vị tả những cảnh thiên nhiên và những cảnh sinh hoạt.


Lời lẽ của các nhân vật phản ánh rõ rệt môi trường sinh hoạt và tâm lý cá nhân của họ. Từ những câu nói hồn nhiên hóm hỉnh và giàu hình ảnh của người nông dân, của người lính, cho đến những câu nói cầu kỳ, giả tạo, luôn luôn chêm tiếng Pháp của giới thượng lưu quý tộc, có cả một âm giai phong phú được sử dụng một cách tinh vi.


Chủ nghĩa hiện thực của Tônxtôi cũng biểu lộ rõ rệt trong cách dùng các phương tiện mô phỏng của ngôn ngữ trong thiên tiểu thuyết. Những tỷ dụ của Tônxtôi chẳng hạn đều rất cụ thể và chính xác. Tônxtôi cho rằng dùng tỷ dụ là để cho người đọc hiểu ý của tác giả một cách dễ dàng hơn, đúng hơn, chứ không phải để lòe người đọc vì những lối so sánh độc đáo, đột ngột. Những lối tỷ dụ của Tônxtôi như so sánh phòng khách của Anna Sêre như một cái xưởng dệt, so sánh những người khách xúm quanh Bagrachiôn như những hạt lúa dồn lại giữa sàng, so sánh nụ cười đau khổ, khó khăn của Natasa như một cánh cửa hang gỉ hé mở ra, v.v... đều rất cần thiết để cho người đọc hình dung được một cách cụ thể những điều phức tạp đang được mô tả.


Những hình dung ngữ mà Tônxtôi dùng cũng rất chính xác và cụ thể. Để truyền đạt thật đúng những tâm trạng phức tạp của các nhân vật, Tônxtôi dùng nhiều hình dung ngữ phức hợp([8][8]) đôi khi gồm hai tính từ gần như trái nghĩa nhau.


Để miêu tả và trình bày cho thật chính xác sự việc và tâm trạng các nhân vật, Tônxtôi không ngần ngại dùng những câu nặng nề chồng chất hàng loạt mệnh đề phụ. Tônxtôi trau chuốt hành văn rất công phu, nhưng không bao giờ hy sinh mục đích chuyển đạt nội dung một cách chính xác để tìm một hình thức ngôn ngữ trang nhã hơn, nếu hình thức đó không truyền đạt được hết và đúng điều ông muốn nói. Với Tônxtôi, ngôn ngữ là một công cụ trung thành của chủ nghĩa hiện thực.


Chiến tranh và hòa bình là một tác phẩm nhân dân chân chính; một thiên trường ca ái quốc vĩ đại ca ngợi tinh thần anh dũng của nhân dân Nga trong một thời đại lớn của lịch sử dân tộc.


Staxốp, nhà phê bình văn học ở thế kỷ XIX đã viết về Chiến tranh và hòa bình như sau: “Chưa có một nền văn học nào có được một tác phẩm như vậy. Hàng nghìn nhân vật, hàng nghìn sự việc, đủ các lĩnh vực sinh hoạt xã hội và cá nhân, lịch sử, chiến tranh, tất cả những nỗi khủng khiếp có thể có được trên thế gian này, tất cả các tình cảm, dục vọng, tất cả mọi thời đoạn của cuộc sống con người, từ tiếng khóc của đứa trẻ sơ sinh cho đến những tia cảm giác cuối cùng của ông già đang hấp hối, tất cả những niềm vui sướng, những nỗi đắng cay mà con người có thể trải qua, tất cả những tâm trạng khác nhau, từ cảm giác của một thằng ăn cắp tiền của bạn cho đến những cảm xúc cao thượng, xán lạn nhất của tâm hồn con người - tất cả đều có mặt trong bức tranh ấy. Trong nghệ thuật chưa hề thấy... một tác phẩm nào kỳ diệu đến như vậy”.


Tinh thần yêu nước, lòng nhân đạo cao cả thấm nhuần từng trang sách, chủ nghĩa hiện thực chân chính, những vấn đề lớn lao của nhân loại được nêu lên, nghệ thuật phản ánh thực tại trác việt của tác giả, đã làm cho Chiến tranh và hòa bình được thế giới đồng thanh thừa nhận là thiên tiểu thuyết vĩ đại nhất của mọi thời đại.


Quyển tiểu thuyết phản ánh rõ rệt những mâu thuẫn gay gắt trong tư tưởng của Tônxtôi. Chủ nghĩa hiện thực của ông xung đột dữ dội với những quan niệm gia trưởng, bất đề kháng, định mệnh chủ nghĩa của ông. Nhưng sức mạnh khách quan của nghệ thuật rốt cục đã làm cho văn hào Tônxtôi thắng bá tước Tônxtôi, và tác phẩm của ông vẫn là một niềm tự hào lớn của nền văn học thế giới.


Chiến tranh và hòa bình đã có ảnh hưởng rất lớn lao đối với sự phát triển của văn học Xô viết và văn học Tây Âu. Các nhà văn Liên Xô như M. Goócki, M. Sôlôkhốp, A. Phađâyép, I. Êrenbua, v.v... đã và đang tiếp tục các truyền thống nghệ thuật của Tônxtôi. Từ khi ra đời cho đến nay, bộ tiểu thuyết đã được xuất bản hàng nghìn lần bằng nhiều thứ tiếng trên thế giới, nhất là trong thời gian đại chiến thứ hai9. Điều đó cũng đủ nói lên ý nghĩa lớn lao của Tônxtôi đối với sự phát triển văn hóa của toàn thể nhân loại tiến bộ.


Cao Xuân Hạo


Nguồn: Chiến tranh và Hòa bình, 3 tập. Tiểu thuyết sử thi của L. N. Tônxtôi. Bộ mi, NXB Văn hc, 1-2007. Triu Xuân biên tp. In theo ln xut bn đu tiên tại Vit Nam năm 1961 và 1962 ca Nhà xut bn Văn hóa, tin thân ca NXBn hc. Nhng người dch: Cao Xuân Ho, Nh Thành, Trường Xuyên (tc Cao Xuân Huy) và Hoàng Thiếu Sơn.


www.trieuxuan.info







 




 




 




 




 




 




 




 




 



Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
23.
24.
25.
26.
27.
28.
29.
30.
31.
32.
33.
34.
35.
36.
37.
38.
39.
40.
41.
42.
43.
44.
45.
46.
47.
48.
49.
50.
51.
52.
53.
54.
55.
56.
57.
58.Phần Thứ Mười một
59.
60.
61.
62.
63.
64.
65.
66.
67.
68.
69.
70.
71.
72.
73.
74.
75.
76.
77.
78.Phần Thứ tám
79.
80.
81.Phần Thứ sáu
82.Lời Người biên tập và Lời Giới thiệu của Cao Xuân Hạo
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Đêm thánh nhân - Nguyễn Đình Chính 11.09.2019
Jude - Kẻ vô danh - Thomas Hardy 10.09.2019
Ông cố vấn - Hữu Mai 10.09.2019
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 05.09.2019
Seo Mỉ - Đỗ Quang Tiến 28.08.2019
Sông Côn mùa lũ - Nguyễn Mộng Giác 23.08.2019
Lâu đài - Franz Kafka 21.08.2019
Trăm năm cô đơn - G. G. Marquez 20.08.2019
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 20.08.2019
Gia đình Buddenbrook - Thomas Mann 19.08.2019
xem thêm »