tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 30970998
Truyện ngắn
31.05.2017
Ngọc Toàn
Lửa cháy Tháp Báo Thiên


1- Trời mờ sương, Thăng Long còn ngái ngủ. Nhà sư Thiện Tâm khẽ đẩy cửa Sùng Khánh Báo Thiên Tự bước vào chính điện. Phương trượng Thiện Chân đã ngồi trên bồ đoàn gõ mõ niệm Phật tự bao giờ. Khi hết quyển kinh, Thiện Chân quay lại:

-          Chắc đệ cũng không ngủ được do lo kiếp nạn của chùa?


Thiện Tâm chậm rãi:


-          Đệ cũng định hỏi sư huynh có kế sách gì đối phó với giặc Minh chưa?


-          Ta không nhiều mưu kế, không biết quyền biến như đệ, chỉ còn chết theo chùa mà thôi.


-          Nếu thế, phương trượng cho phép đệ được bày tỏ sách lược đối với giặc Minh. Đệ sẽ “đại khai sát giới” với chúng rồi xin Phật tổ trừng phạt.


Thiện Tâm ngập ngừng mãi mới nói được:


-          Nhưng… nhưng…


-          Chắc sư huynh nhắc đệ là người Hán. Đệ không còn nhớ mình là người nước nào. Đệ đã tu ở Đại Việt ba mươi năm. Khi đệ sang đây mới có hai tám tuổi, được các vua nhà Trần, sau đó là vua nhà Hồ cho đi thuyết pháp Phật giáo khắp cả nước. Đến đâu, đệ cũng được tôn trọng như những hòa thượng người Đại Việt. Hàng năm, các vị vua đều gửi cà sa, tăng bào, tràng hạt tặng đệ. Còn vua quan nhà Minh thì có ra gì. Khi Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương đuổi được người Mông Cổ, ông ta lên ngôi và một trong những việc đầu tiên là thanh trừng các “đồng chí” của mình. Hai tướng thân nhất là Trần Đạt và Thường Ngộ Xuân đều chết dưới bàn tay độc ác của Chu Nguyên Chương. Nếu giệt được giặc Minh xâm lược Đại Việt, đệ không còn ân hận gì cả.


Phương trượng Sùng Khánh Báo Thiên Tự thở dài:


-          A di đà Phật! Tội lỗi!


-          Đệ biết trong ngũ giới thì sát giới là nặng nhất. Đệ sẵn sàng xuống mười tám tầng địa ngục nếu diệt được nhiều giặc.


-          A di đà Phật! Tội lỗi!


Vừa khi đó, sư bác Sám Hối bước vào điện để dâng trà ban mai hai bậc sư trưởng. Trong khi ngọn lửa bếp lò đất đun bằng than hoa phừng phừng liếm đáy chiếc ấm đồng Cầu Nôm, nhà sư Sám Hối đi thắp hương trên Phật đài.


Cầm chén trà nóng hổi, hòa thượng Thiện Chân nói:


-          Sám Hối! Con ngồi đây, thầy và sư thúc có việc phải nhờ vả con!


Sám Hối run run:


-          Con không dám để thầy và sư thúc bận lòng!


Thiện Tâm nói:


-          Có những việc các thầy đã già không làm được, phải giao cho con. Con có biết tên tổng binh Vương Thông đến xin nóc tháp Báo Thiên và chuông chùa Sùng Khánh bằng đồng không?


Sám Hối giận dữ ra nét mặt:


-          Tháp Báo Thiên của bản tự là một trong tứ đại khí của An Nam tứ khí, thuộc loại to và đẹp nhất thiên hạ. Sao nhà Minh lại dám đòi?


Trong óc ba vị sư hiện ra tứ đại khí:


… Tháp Báo Thiên cao ngất trên bầu trời tới ba mươi mốt trượng[1]. Chân tháp xây bằng đá tảng, riêng chóp tháp làm bằng đồng để luôn luôn phản chiếu ánh mặt trời. Mỗi tầng tháp có hai cửa trông ra hướng Đông và hướng Tây, các sàn và cầu thang đều bằng gỗ lim rất dày. Ngoài ra, chùa Sùng Khánh còn có gác chuông với chuông đồng nặng năm nghìn cân[2], được đặt trên bốn cột đá, vì kèo đều bằng gỗ lim. Mỗi lần nhà chùa thỉnh chuông, tiếng bay xa đến hàng trăm dặm.


Chuông Quy Điền cũng nặng tới mười hai nghìn cân, do Diên Hựu tự (chùa Một Cột) đúc. Đáng tiếc, chuông rè vì khi tháo khuôn bị vỡ một mảnh. Nhà chùa đưa chuông ra ruộng cho rùa làm tổ nên các Phật tử đặt tên là chuông Quy Điền.


Vạc (đỉnh) Phổ Minh to nhất nước, người ta có thể đuổi nhau chạy quanh miệng vạc. Hoa văn trên vạc là hoa sen và nhiều loại chim, thú cách điệu.


Tượng Phật Tổ Như Lai của chùa Quỳnh Lâm bằng đồng mạ vàng, thuộc loại to nhất thiên hạ. Đứng từ bờ sông cách chùa năm dặm đã nhìn thấy tượng.


Thế mà giặc đã cướp chuông Quy Điền, vạc Phổ Minh, tượng chùa Quỳnh Lâm, mang về làng Ngũ Xã cạnh Tây hồ để chuẩn bị lấy đồng đúc súng đánh nhau với Lê Lợi…


Hồi sau, nhà sư Thiện Chân nói:


-          Ta chẳng biết làm thế nào giữ chùa, giữ tháp, giữ chuông, chỉ lấy cái chết để tạ tội với Phật tổ.


Sám Hối nói:


-          Con xin theo thầy về nơi cực lạc!


Thiện Tâm chậm rãi:


-          Hôm nay, xin phương trượng cho đệ huy động quần tăng, đối phó với giặc Minh. Sám Hối là người được giao nhiệm vụ nặng nhất.


Nhà sư Sám Hối chắp hai tay trước ngực:


-          A di đà Phật. Thưa sư thúc, con sợ không đủ uy tín được các sư huynh, sư đệ tín nhiệm.


Sám Hối nguyên là một cậu bé người Châu Hoan ra Thăng Long kiếm việc làm, bị bọn xấu rủ rê đi ăn cắp ở chợ nên suýt bị đầy đi Cao Bằng ma thiêng nước độc. Hòa thượng Thiện Chân đi qua trông thấy, động lòng từ bi, xin quan huyện tha tội cho về làm chú tiểu quét dọn chùa.


Sư Thiện Chân hỏi:


-          Con có chịu đi làm tiểu ở chùa ta tu không?


Chú bé trào nước mắt:


-          Con dại dột tự làm hỏng cuộc đời. Nếu sư ông cứu giúp, con xin nguyện làm đệ tử!


-          Ta đặt tên con là Thích Sám Hối để tự răn mình!


-          Xin thầy nhận cho con một lạy!


Từ đấy Sám Hối thức khuya dậy sớm, chưa đến canh năm đã lên thắp hương các Phật đài, ngày ngày gánh nước, hàng tháng cùng những chú tiểu khác ra rừng cây gần Thăng Long kiếm củi. Các bậc sư trưởng đều tin yêu chú bé.


Thích Sám Hối nói tiếp với sư Thiện Tâm:


-          Phương sách của sư phụ và sư thúc thế nào cho con được biết?


Hòa thượng Thiện Tâm trầm ngâm:


-          Chúng là kẻ cướp, ta bị động. Ta sẽ lấy tĩnh chế động. Sách lược của ta là “dĩ bất biến, ứng vạn biến”, luôn luôn quay mặt đối diện với kẻ thù, họ ra chiêu nào thì tìm các chiêu thức đối phó và hóa giải. Đó chính là cái lõi trong “Vạn kiếp tông bí truyền thư” của Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn. Ta sẽ tiêu diệt một phần sinh lực của địch để giúp Lê Lợi sớm khôi phục lại đất nước.


 


2


Sám Hối dâng chè (trà) hai vị sư trưởng. Hương thơm của chè thoang thoảng trong không khí làm gian chính điện rộng mênh mông ấm cúng hẳn lên. Vừa khi ấy, tiếng gà gáy sáng báo hiệu ngày mới bắt đầu, rồi hàng chục hàng trăm tiếng gà xa gần theo nhau vang khắp kinh kỳ.


Người Thăng Long rất thích nuôi gà mà huyện Thọ Xương ngay giữa trung tâm là nơi tập trung nhiều loại gà cả nước. Một trong những loại gà được người kinh kỳ yêu quý là gà Mía, nặng đến gần 10 cân với bộ lông mượt mà nhiều màu sắc, đẹp như những tấm áo mớ bảy mớ ba của các cô gái trấn Sơn Tây đầu năm đi trảy hội Chùa Thầy. Làng Mía ở Đường Lâm, quê hương của hai vị anh hùng dân tộc Phùng Hưng và Ngô Quyền. Nhiều con gà trống có cái đuôi dài đến 5 thước, được người ta gọi là gà trường vĩ. Chúng thường bay lên cây, đậu chỗ cao để khoe bộ lông sặc sỡ. Có chủ còn xây bệ đá cho chúng đứng làm cảnh trong vườn.


Loại gà khác nhỏ hơn nhiều nhưng gáy to hơn tất cả là gà rừng nâu lông xoắn núi Nưa, quê hương bà Triệu. Chúng dễ thuần hóa và có tiếng gáy rộn ràng làm nức lòng người.


Nhưng nếu to con, dáng đi hùng dũng thì phải kể đến gà Đông Cảo ở Phố Hiến, trấn Hưng Yên. Có con nặng tới 15 cân với cặp chân to như hai cổ tay người lớn. Chúng hiền lành, mến chủ, chịu đựng thời tiết mưa gió tốt, nhưng hơi ngốc nghếch nên mang cái tên là gà tồ.


Đẹp nhất có lẽ là gà Hồ, một loại gà được người ta vẽ hình, in tranh tết.


Gà gáy một hồi mới vang lên trống canh năm ở huyện Thọ Xương, rồi chuông chùa xa gần văng vẳng trong không gian.


Sư Thiện Chân nhấp một ngụm chè và thưởng thức các tiếng chuông chùa ở  Thăng Long. Chuông chùa Trấn Quốc vẫn là hay nhất, ngân nga, trong trẻo như đưa người ta về nơi cực lạc. Chuông chùa Hòe Nhai ở dốc Hàng Than trầm đục, nhiều sát khí. Chuông chùa Lý Quốc Sư mang âm thanh vương đạo…


Hòa thượng Thiện Tâm tủm tỉm cười:


-          Lâu lắm đệ mới được nghe những lời nói tâm tư của huynh.


Sư Thiện Chân ngắt lời:


-          Ta ngại Vương Thông sẽ lại phá chùa bất cứ lúc nào. Tên này tàn bạo không kém gì Trương Phụ.


-          Thôi, ta tạm quên những nỗi phiền lòng trước mắt. Đệ đã qua Tây hồ Hàng Châu ở Trung Quốc và hiện nay ở gần Tây hồ Thăng Long. Đệ hãy cho ta biết thêm, các danh thắng này khác nhau ra sao?


-          Tây hồ Hàng Châu nhỏ hơn Tây hồ Thăng Long, chung quanh được trồng nhiều cây liễu, có nhiều cổ tự làm bâng khuâng du khách. Mỗi gốc cây, mỗi góc chùa, mỗi trượng Phật đều gợi lên những huyền thoại, giai thoại đi vào lòng người. Còn Tây hồ Thăng Long đẹp tự nhiên, chung quanh có mấy chục ngôi chùa cổ kính. Đi từ chùa Trấn Quốc qua chùa Yên Phụ, Quảng An, Quảng Bá, Nhật Tân, Cáo Đỉnh, Vĩnh Yên, Ngọc Hà… thì phải mất mấy tháng nếu nếu mỗi chùa xin được tá túc một đêm.


Thiện Tâm nhấp thêm một ngụm chè:


-          Đệ đã đến chùa Yên Thái và được hòa thượng trụ trì mời uống trà sớm dưới rừng bàng chạy dọc theo ven hồ. Hôm đó là mùa xuân, rừng bàng rụng hết lá và trên cây nhú lên những mầm sống mới. Dưới ánh sáng của buổi rạng đông, cả rừng bàng bừng lên màu xanh lá non, đẹp không bút nào tả xiết. Cái đẹp, cái tốt, cái sức sống đang vươn lên cùng đất trời của cây cối. Xa xa thậm thịch tiếng chày giã vỏ cây dó làm giấy của làng Yên Thái, rồi tiếng ríu rít của bầy sâm cầm gọi nhau đi ăn trên mặt Tây hồ.


-          Đệ miêu tả hay quá! Đệ đã từng tu ở chùa Hàn San. Hãy vì huynh ngâm lại bài thơ Phong kiều dạ bạc của Trương Kế cho ta nghe được không?


-          Giọng huynh cũng tốt lắm. Đệ ngâm hai câu đầu, huynh ngâm câu thứ ba và Sám Hối tiếp câu cuối cùng.


Sám Hối thưa:


-          Con xin nghe lời sư thúc!


Hòa thượng Thiện Tâm ngâm:


-          Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên


Giang phong ngư hỏa đối sầu miên.


Sư Thiện Chân ngâm tiếp:


-          Cô Tô thành ngoại Hàn San tự.


Sư bác Thích Sám Hối nối theo:


-          Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền.


 


Dịch thơ:


Quạ kêu trăng xế sương tuôn


Cây chài lửa bến đối buồn nằm khan


Thành Cô Tô bến Hàn San


Nửa đêm chuông vẳng tiếng sang thuyền người.


(Bản dịch của Ngọc Toàn)


Ba thầy trò nhấp chè, tạm quên giặc đang lăm le phá chùa.


 


3


 


Tổng binh Vương Thông của nhà Minh cưỡi con ngựa đen, giáp trụ đầy mình, đi ăn cướp ở các chùa mà trang phục như ra trận. Theo sau hắn là mấy tên việt gian và bọn tì tướng cùng năm trăm quân Minh sẵn sàng xô đổ chùa, lật ngược tháp để cướp.


Cổng chùa Sùng Khánh Báo Thiên mở rộng, bên cổng có bia “Hạ mã”, nhưng Vương Thông ngang nhiên đi thẳng vào sân chùa. Hai nhà sư Thiện Chân và Thiện Tâm đón tiếp.


Vương Thông xẵng giọng:


-          Ai trụ trì ở đây?


Hòa thượng Thiện Tâm hỏi:


-          Tướng quân cần gì?


Ông nói bằng tiếng Hán, giọng đặc sệt thổ âm tỉnh Hà Bắc Trung Quốc.


Vương Thông ngạc nhiên:


-          Ông là người Hán hay người Việt?


-          A di đà Phật! Bần tăng sinh ra ở Hà Bắc, đồng hương với tổng binh, nhưng ba mươi năm ở nước Việt, không còn để tâm mình là người nước nào mà là đệ tử Phật môn.


-          Ông có biết ta đến đây làm gì không?


-          Tướng quân định gỡ chóp tháp Báo Thiên và chuông Sùng Khánh về đúc khí giới.


-          Ông có sẵn sàng ủng hộ ta?


-          Bần tăng khuyên ông không nên lấy đồ của nhà chùa, phải tội đấy! Ấn đường của tổng binh có mây đen bao phủ, hậu vận sẽ không hanh thông.


-          Ta giết người vô số, ai làm gì được! Ba báu vật của Đại Việt là tượng phật Như Lai ở chùa Quỳnh Lâm, vạc chùa Phổ Minh, chuông Quy Điền của chùa Diên Hựu đã bị ta đập vỡ từng mảnh để đúc súng thần công rồi. Có sao đâu!


-          Nếu tướng quân không lấy hai bảo khí của chùa Sùng Khánh, bần tăng đề nghị sư huynh Thiện Chân tặng hai vật quý của chùa.


Vương Thông mắt sáng lên, hỏi ngay:


-          Đó là những thứ gì?


Nhà sư chậm rãi:


-          Thứ nhất là tượng Phật Quan Âm bằng vàng ròng nặng hai mươi cân do một bà công chúa triều Lý cúng dường. Trên trán tượng có một viên kim cương to bằng hạt đậu nành.


Vương Thông hấp tấp:


-          Còn vật thứ hai là gì?


-          Bần tăng biết tổng binh thích nuôi phong lan mà nhà chùa có một giống lan rất hiếm, độc nhất vô nhị ở Đông Quan.


-          Đâu? Đưa ta đi xem!


Trước mắt Vương Thông là một bụi phong lan có mùi thơm thoang thoảng, quấn quanh một cái cây cao tới cả trượng. Hoa lan màu trắng, mép hoa viền vàng, môi hoa tím có hình dáng như bình ngọc lộ của Phật Bà Quan Âm.


Vương Thông hỏi:


-          Lan này quý ở chỗ nào? Tên nó là gì?


Sư Thiện Tâm nói:


-          Thông thường phong lan không có mùi thơm, mỗi năm chỉ trổ hoa có một lần. Loại lan này nở hoa quanh năm, hương thơm bay xa vài chục trượng, người ta đặt tên là Bạch Y Quan Âm.


Vương Thông bỗng la lên:


-          Kìa rắn!


Gã phát hiện hàng chục con rắn khoanh đen xen lẫn khoanh trắng quấn quanh cây chủ.


Phương trượng Thiện Chân nói:


-          Không phải rắn đâu. Rễ phong lan đấy! Loại lan này quý thêm nhờ bộ rễ.


Vương Thông hỏi:


-          Nó hút nhựa ở cây có hoa đỏ kia à?


Hòa thượng Thiện Chân nhẹ nhàng:


-          Phong lan và cây chủ cộng sinh. Lan chỉ bám nhờ để hút dưỡng chất trong không khí, khác với loài tầm gửi thò những cái rễ cắm vào cây chủ để hút nhựa. Tầm gửi là bọn ăn bám!


Vương Thông chữa thẹn:


-          Cái cây chủ có hoa đỏ kia là cây gì?


-          Đó là cây trà.


-          Có phải lá của nó phơi khô để uống mà người Việt gọi là chè không?


Hòa thượng Thiện Tâm đỡ lời:


-          Loại cây người ta lấy lá dùng làm nước giải khát, người Hoa gọi là “thà”, còn người Việt gọi là “trà” rồi đọc chệch ra là “chè”. Còn đây là loại cây khác, cũng tên là “trà” do đồng âm khác nghĩa, chỉ dùng để chơi hoa.


-          Cây trà này còn có tên riêng gì không?


Sư Thiện Tâm trả lời:


-          Nó luôn nở mười tám bông màu đỏ, có sọc vàng như áo nhà tu hành, nên được dân gian gọi là Thập Bát La Hán.


-          Có phải chăm bón cho cả hai loại cây không?


Hòa thượng Thiện Tâm giải thích:


-          Đối với lan, ngày nào cũng phải phun nước mưa vào rễ để cây nuôi thân, lá, hoa. Còn trà phải bón bằng nước cá. Nhà chùa cho cá chép vào những lu nước đậy nắp kín. Một tháng sau cá bị phân hủy, dùng nước trong lu pha loãng tưới vào gốc cây.


Vương Thông cười to chế giễu:


-          Mấy ông sư ơi! Lúc nào các ông cũng nói là không sát sinh. Thế còn giết cá tưới cây thì gọi là gì?


Sư Thiện Tâm chậm rãi:


-          Ông tổng binh nhầm rồi. Bần tăng chỉ cho vào lu những con cá đã chết. Hàng năm, trong hồ sen của chùa Sùng Khánh này có hàng ngàn con cá được thiện nam tín nữ xin về phóng sinh xuống hồ Lục Thủy và sông Nhị Hà. Thế nào cũng có một số cá không sống được. Chúng tôi là người tu hành, không sát hại cả con sâu cái kiến.


Vương Thông trịnh trọng:


-          Ta cảm ơn các hòa thượng cho hai vật quý, nhưng không thể không lấy đồng ở tháp Báo Thiên và chuông Sùng Khánh để đánh bọn phản nghịch Lê Lợi. Ta sẽ hoãn một tháng rồi cho quân lính đến mang về. Bay đâu? Đào cây trà Thập Bát La Hán cả rễ, nhớ không được làm ảnh hưởng đến cây phong lan Bạch Y Quan Âm!


Nhìn bọn cướp mang tượng và cây đi, các nhà sư lắc đầu. Hòa thượng Thiện Tâm ghé tai Thích Sám Hối nói nhỏ. Sư bác liền đi sau theo dõi Vương Thông.


Ba nhà sư chụm đầu lại với nhau bàn bạc. Hòa thượng Thiện Tâm nói:


-          Có một tháng, kiếp nạn đến. Vất vả quá! Ta phải làm như thế này… thế này…


 


4


 


Được hai bảo vật, Vương Thông ngắm nghía suốt ngày. Ba đêm liền gã ngồi ở tửu đình, thưởng lãm lan Bạch Y Quan Âm và trà Thập Bát La Hán với vợ và đứa con gái độc nhất. Thấy chồng nhìn chòng chọc vào đứa con gái mười sáu tuổi, Vương phu nhân hoảng sợ, kéo con gái ngồi sát vào mình. Bà lo người chồng háo sắc và vô luân này làm bậy.


Cách đây mấy năm, Vương Thông sang Đại Việt trước mẹ con bà. Gặp nhau, chưa kịp hàn huyên, Vương phu nhân đã đau khổ vì gã tổng binh lừa lúc bà đi lễ chùa, lôi cô hầu mới mười bảy tuổi vào phòng riêng cưỡng bức. Con bé thắt cổ tự sát. Ngày nào Vương Thông cũng qua các phố phường Đông Quan, tên mà nhà Minh đặt cho thành Thăng Long bấy giờ, kiếm con gái nhà lành hãm hiếp.


Đến ngày thứ tư thì Vương Thông phải vào dinh tổng binh để bàn việc quân cơ. Lúc này Đông Quan bị bao vây tứ phía. Bình Định Vương Lê Lợi làm tháp tre cao ngang tháp Báo Thiên ở làng Bồ Đề bên kia sông Nhị Hà, nhòm vào doanh trại của quân Minh. Giặc chuyển quân, động binh, Lê Lợi và Nguyễn Trãi đều biết hết. Mỗi viên tướng Minh đều có ý kiến riêng. Người thì nói chờ viện binh do Liễu Thăng và Mộc Thạnh sắp sang Đại Việt. Người thì muốn “hội thề” với nghĩa quân Lam Sơn rồi rút về nước. Hội thề là cách nói giữ thể diện quốc gia, thực chất là đầu hàng có điều kiện.


 


Trong lúc cuộc tranh luận bất phân thắng bại thì một tên quân hầu ở phủ tổng binh chạy đến báo cho Vương Thông biết: phu nhân và tiểu thư bị nạn, nằm chết bên tửu đình.


Viên tổng binh về ngay. Vương phu nhân nằm úp mặt xuống đất, tiểu thư nằm ngửa, vắt mình trên tam cấp. Tim cả hai người ngừng đập nhưng miệng của họ nở nụ cười méo mó.


Hai vị lương y giỏi nhất của quân Minh được điều đến khám nghiệm.


Ông lang thứ nhất phán:


-          Chân của phu nhân và tiểu thư có vết đốt của loài bọ cạp sọc vằn. Nọc của chúng độc lắm!


Ông lang thứ hai phản đối:


-          Chỗ bị thương có hai vết cắn đối nhau. Đây là rắn độc cắn. Ông đã hành nghề trên ba chục năm mà không phân biệt được những điều đơn giản đó à?! Thôi, về tỉnh Mân mà đi cày!


Họ cãi nhau om sòm mà không tìm được nguyên nhân cái chết của vợ con Vương Thông. Gã tổng binh nổi đóa, đuổi cả hai đại phu ra khỏi phủ.


Đám ma vừa xong thì lại thêm những cái chết mới. Để đề phòng bất trắc, Vương Thông tăng cường quân lính tuần canh. Hàng đêm, từng toán bốn tên lính mang vũ khí sục sạo khắp phủ tổng binh.


Canh ba. Người hầu vào báo, bốn tên lính tuần tra nằm chết gần tửu đình. Mồm tên nào cũng nở nụ cười méo mó.


Đến toán lính thứ chín bị chết thì Vương Thông quyết tìm ra bí ẩn này.


Gã cùng sáu tên lính thân cận trang bị vũ khí đầy mình, bí mật ngồi sau những gốc cây gần tửu đình quan sát. Trống canh ba vừa điểm, toán lính vừa đi sát bụi phong lan Bạch Y Quan Âm thì những cái rễ đen trắng lao ra khỏi cây trà Thập Bát La Hán, tấn công tới tấp rồi quay về chỗ cũ. Những kẻ bất hạnh không kịp la lên một tiếng, mồm há ra như cười rồi chẳng kịp khép lại. Vương Thông cho đốt đuốc. Bảy người bao vây cây trà. Quấn quýt quanh rễ phong lan là những con rắn khoanh đen xen lẫn khoanh trắng giống như các rễ. Chúng đang hít hương thơm của lan.


Bảy thanh kiếm đâm chém loạn xạ. Bọn rắn chống đối quyết liệt. Một tên lính bị rắn cắn chết ngay, miệng hé nở nụ cười quái gở. Cả cây trà Thập Bát La Hán và cây lan Bạch Y Quan Âm bị phóng hỏa cháy trụi. Một vài con rắn chạy thoát[3].


 


5


 


Sau sự cố kinh hoàng trong phủ tổng binh, Vương Thông không chờ đến một tháng, đã điều ngay năm bách hộ, tức năm trăm người, đến chùa để cướp chóp tháp Báo Thiên và chuông Sùng Khánh.


Gã ngạc nhiên, chùa vắng tanh. Các tượng Phật và đồ pháp khí đã được dời đi hết. Tháp Báo Thiên có mười hai tầng, các cửa trổ ra ngoài đều bị bịt kín. Riêng tầng một và tầng mười hai còn để ngỏ. Nền tháp ở tầng một có đống củi cao nửa trượng. Hai nhà sư Thiện Chân và Thiện Tâm ngồi trên, mặt quay ra cửa, mắt nhắm, hai tay chắp vào nhau, miệng lẩm nhẩm đọc kinh.


Vương Thông quát to:


-          Hai lão sư kia, sao dám cho rắn giết vợ con và lính của ta?


Hòa thượng Thiện Tâm giơ lên một cái hộp:


-          A di đà Phật! Tổng binh nhầm rồi. Bần tăng cho người mang vật này đến để ngài xua rắn nhưng bị đuổi về. Lỗi đó đâu phải tại nhà chùa.


Vương Thông vẫn quát nạt:


-          Đó là cái gì?


-          Long diên hương.


-          Long diên hương là cái con khỉ gì?


Hòa thượng Thiện Tâm châm biếm:


-          Đại nhân dành cả cuộc đời đi đâm chém, không có thì giờ đọc sách nên không biết long diên hương do cá nhà táng tiết ra, nổi trên mặt biển. Người ta vớt long diên hương về làm thuốc chữa nhiều bệnh, làm mỹ phẩm cho các mệnh phụ, tiểu thư và chế biến làm thuốc xua đuổi rắn Hắc Bạch Xà Vương, loại rắn kịch độc, thích hít hương thơm của phong lan Bạch Y Quan Âm để luyện nọc. Nhà chùa đã trồng lan mười năm mà chưa có tai nạn nào.


Vương Thông gầm lên:


-          Ta biết các ngươi cố tình chống đối thiên triều. Binh sĩ đâu, tiến hành quân lệnh!


Hai bách hộ tìm cách hạ chuông Sùng Khánh.


Hai bách hộ khác chạy theo cầu thang xoáy của tháp Báo Thiên lên tầng mười hai.


Bách hộ còn lại vây vòng trong vòng ngoài quanh hai nhà sư, chật kín tầng một.


Vương Thông quát tiếp:


-          Binh sĩ đâu, ném hai lão sư này ra ngoài!


Các hòa thượng xoa hai tay vào nhau. Ngọn lửa xanh phụt ra từ những đầu ngón tay. Các vị đã luyện Phật pháp đến mức có thể điều khiển năng lượng bản thể đến bất cứ đâu. Người ta gọi đó là lửa tam muội.


 


Bốn bàn tay phóng hỏa. Củi được tẩm nhựa thông, nhựa chai, nhựa trẩu. Cầu thang và sàn nhà được rắc diêm sinh và than xoan. Tầng một tháp Báo Thiên biến thành biển lửa.


Không khí từ cửa tầng một bị hút vào lòng tháp, thoát ra ở cửa tầng mười hai. Tất cả bọn lính Minh vây quanh hai nhà sư chỉ còn một con đường duy nhất là chạy lên những tầng trên theo đồng bọn.


Từng tầng, từng tầng tháp bị thiêu cháy. Vương Thông nhìn rõ mặt hai nhà sư. Các hòa thượng thật bình thản, mắt nhắm nghiền, miệng đọc kinh, không có biểu hiện gì đau đớn. Cả cây tháp cao tới ba mươi mốt trượng bị nung nóng rừng rực. Gỗ làm cầu thang và sàn nhà bùng bùng cháy. Ngọn lửa leo đến tầng thứ mười một thì ba bách hộ quân Minh hết đường chạy. Chúng như những con chuột bị sa vào bẫy, quay lại cắn nhau để giành một chỗ đứng ở tầng thứ mười hai. Đao kiếm vung lên, từng xác người gục xuống. Nhiều tên bị ném qua chiếc cửa duy nhất ở trên tầng cao xuống chân tháp.


 


Một tiếng nổ to như sét đánh. Tháp Báo Thiên bật tung. Nóc chóp đồng vỡ từng mảnh. Thân tháp bằng đá văng xa ba, bốn chục trượng. Không một tên lính nào sống sót.


Gác chuông Sùng Khánh cao bốn trượng. Quả chuông nặng năm nghìn cân được treo ở tầng trên. Toàn thể công trình được đặt lên bốn cái cột bằng đá. Lính Minh buộc dây vào chuông, hè nhau giật đổ. Quả chuông lắc qua lắc lại rồi rơi xuống. Đáng lẽ nằm ở mặt đất thì nó lại chui vào lòng đất. Các nhà sư đã đào hố sâu và chống chọi sức nặng quả chuông cùng bốn cột đá bằng tre, gỗ. Cả một khoảnh đất rộng đến nửa sào biến thành hố tử thần. Nước từ các mạch ngầm ào ra. Toàn bộ khu gác chuông Sùng Khánh phút chốc chỉ còn là mặt hồ. Không một tên giặc nào chạy thoát.


Huyện Thọ Xương trong đó có chùa Sùng Khánh và cả hồ Tây, hồ Hoàn Kiếm mấy ngàn năm trước là đáy sông Nhị Hà. Sông đổi dòng, phù sa bồi đắp thành đất thổ cư, nhưng những mạch nước ngầm vẫn tồn tại bên dưới.


Tất cả năm bách hộ quân Minh bị tiêu diệt sạch. Chỉ có một kẻ chạy thoát. Đó là Vương Thông. Khi thấy tháp Báo Thiên sụp đổ, gã tế ngựa như điên dại về dinh.


 


6


 


Các nhà sư trở lại chùa Sùng Khánh để dọn dẹp. Xác giặc bị cháy, rơi từ trên cao xuống ngổn ngang. Nền tháp Báo Thiên, chỗ hai hòa thượng tự thiêu, có hai vật trắng sáng lóng lánh như ngọc thạch, to như trứng chim bồ câu. Tất cả các nhà sư quỳ xuống niệm Phật. Hai vị sư trưởng Thiện Chân và Thiện Tâm đã đắc đạo. Đó là hai viên ngọc xá lợi.


 


Sư Thích Sám Hối nghẹn ngào:


-          Các huynh đệ nghe bần tăng nói. Hai vị sư trưởng đã về cõi Phật. Chúng ta phải thực hiện lời căn dặn của các thầy. Sư đệ Thích Tuệ Đăng và bốn đệ tử mang hai viên ngọc xá lợi lên chùa Thầy, bí mật gửi vào tháp trong hang Gió. Các vị khác dọn dẹp chùa sạch sẽ, đưa nhục thể của giặc Minh xuống hố dưới chân gác chuông Sùng Khánh rồi san bằng…


Một vị sư lớn tuổi ngắt lời:


-          Huynh sợ sau này bọn giặc phương Bắc tìm đến, thấy xương cốt người Hán, chúng lại lu loa lên rằng Thăng Long xa xưa cũng là đất của Thiên Triều…


Sư Sám Hối ôn tồn:


-          Người Hán đông dân lại đẻ nhiều, chỗ nào có lửa là có người Hán. Chẳng lẽ cả mấy cái đảo thuộc Đại Việt ở biển Đông cũng là của chúng à? Còn bần tăng sẽ lên làng Ngũ Xã để ngăn cản không cho chúng đúc đồng làm súng bắn vào nghĩa quân Lam Sơn. Tiếp theo, bần tăng sẽ sang làng Bồ Đề, xin gặp quân sư Nguyễn Trãi, truyền lại mấy câu kệ của hai vị sư trưởng.


Sư Thích Sám Hối nói tiếp:


-          Làm xong việc, xin các huynh đệ tá túc ở các chùa lân cận. Chúng ta sẽ là những người dẫn đường cho nghĩa quân vào giải phóng Thăng Long.


 


7


 


Quân Minh bị quân Lê Lợi vây chặt, thiếu thốn lương thực, khí giới. Nhiều tên cảm thấy giờ chết sắp điểm. Vương Thông chỉ còn hy vọng Liễu Thăng và Mộc Thạnh mang mười lăm vạn quân tiếp viện sang Đại Việt. Khí giới do làng đúc đồng Ngũ Xã trở thành phế liệu. Đạn bay ra không quá năm trượng đã bị rơi. Các nòng súng vỡ toác, giết chết luôn bọn pháo thủ. Vương Thông cho kiểm nghiệm thì biết rằng, vũ khí bị phá hoại do một nhà sư chỉ điểm. Họ bỏ cát và sắt vụn vào đồng đúc nòng thần công. Các kim loại không đồng chất giãn nở không đều, tự nổ tung. Bốn bảo khí của Đại Việt mà chúng ăn cướp trở thành những đống phế liệu.


Ngày lại ngày. Mười vạn quân Minh bị bao vây ở Thăng Long đói khát, mỗi khi ra ngoài thành kiếm ăn đều bị quân Lam Sơn chặn đánh. Dẫn đường là những nhà sư Sùng Khánh Báo Thiên Tự. Họ thuộc địa hình địa vật Thăng Long như lòng bàn tay của mình.


Lúc này, Vương Thông mới thấm thía thế nào là thiếu ăn, thế nào là mất người thân, thế nào là tinh thần bị khủng bố… Gã ngày đêm bị ám ảnh bởi một giấc mơ ghê rợn: Quân tiếp viện không đến, gã bị bắt và đứng trước hàng cọc trên đoạn đầu đài, rồi lưỡi mã tấu sáng lóe ngọt xớt chặt vào cổ. Có khi gã chết không được toàn thây. Người Việt còn căm thù gã, họ mang thây và đầu gã vào rừng cho chó sói, hổ báo ăn thịt. Có nhiều đêm, gã thét lên như bị rắn cắn. Viễn cảnh đời gã và đạo quân Minh bị bao vây không có lối thoát. Nếu tính tổng cộng các lần xâm lược Đại Việt thì quân Nguyên để lại nhiều nhất, gần một triệu xác chết. Còn quân Minh cũng khoảng bốn, năm mươi vạn…


Quân canh cửa vào báo, có sứ giả của Lê Lợi đến gặp. Vương Thông mừng rỡ, có lẽ đây là lối thoát.


Sứ giả là một nhà sư trông quen mặt. Gã tổng binh hỏi:


-          Hình như tôi đã gặp sư ông ở đâu rồi?


-          Chúng ta đã chạm trán ở chùa Sùng Khánh, hôm ông đến lấy tượng Phật Quan Âm bằng vàng và bụi phong lan quý. Thôi, bây giờ vào chuyện. Đây là món đồ mà Bình Định Vương Lê Lợi và quân sư Nguyễn Trãi gửi ông.


Nhà sư Thích Sám Hối đưa lính hầu của Vương Thông một chiếc hộp sơn son thếp vàng để chuyển cho gã.


Vương Thông gằn giọng:


-          Trong đó có gì? Nhỡ các ngươi lại trao cho ta độc trùng, độc dược thì sao?


Nhà sư Sám Hối nghiêm nét mặt:


-          Người Đại Việt không bao giờ làm việc của kẻ tiểu nhân đê tiện, trừ khi bị quân giặc áp bức thì mới phải đối phó.


-          Vậy ngươi mở ra xem!


Sư Sám Hối bật nắp hộp gỗ, chiếc nẫy bằng sắt nâng từ dưới lên một cái đầu mắt mở trừng trừng. Tất cả những người có mặt đều la to:


-          An Viễn Hầu Liễu Thăng! Đầu An Viễn Hầu Liễu Thăng!


Vương Thông tái mặt:


-          Các ngươi hại An Viễn Hầu bao giờ? Lâu chưa?


Hòa thượng Thích Sám Hối cười nhạt:


-          Đây không phải là làm hại mà là chém đầu quân giặc, bảo vệ đất nước. Tướng quân Lưu Nhân Chú đã thay trời hành đạo. Quân sư Nguyễn Trãi còn nhắn, nếu tổng binh không biết mình biết người thì còn nhiều Liễu Thăng khác bị rơi đầu, trong đó có tổng binh. Và đây là bằng sắc, ấn tín của An Viễn Hầu.


Sám Hối đưa Vương Thông một cái gói đủ cả hổ phù, ấn tín của Liễu Thăng và nói tiếp:


-          Đạo quân của Mộc Thạnh đã tan rã, chắc binh lính không còn một nửa. Họ đã hoảng sợ tự bỏ chạy về Tàu.


Vương Thông dịu giọng:


-          Sứ giả có biết An Viễn Hầu bị chết ở đâu không? Mười vạn quân Minh bây giờ ra sao?


Sư Sám Hối nhấn mạnh từng lời:


-          Liễu Thăng bị chém ở đồi Mã Yên. Mười vạn quân chắc chỉ còn lại vài ba ngàn là cùng.


Vương Thông mất bình tĩnh:


-          Bình Định Vương Lê Lợi muốn chúng tôi phải làm gì? Sứ giả có thể giúp chúng tôi yên ổn rút khỏi Đại Việt không?


-          Hai bên hội thề ở Thăng Long. Chúng tôi cấp lương thực, xe ngựa cho các ông về nước. Hai quốc gia sẽ hòa hiếu, không ai xâm phạm đất đai đối phương.


Vương Thông thở phào, các nếp nhăn trên mặt giãn ra. Gã cố giấu sự hoảng hốt mà không được.


 


8


 


Bại quân nhà Minh rút ra khỏi Thăng Long, theo đường bộ về Lạng Sơn. Các tướng lĩnh của nghĩa quân Lam Sơn dẫn đường, trong đó có nhà sư Thích Sám Hối. Khi đi qua chùa Sùng Khánh, Vương Thông không khỏi rùng mình. Nếu hôm đó không một mình một ngựa chạy thoát thì có lẽ xác hắn cũng nằm dưới gác chuông.


Đoàn bại quân đi qua các phố phường, Vương Thông ngạc nhiên không thấy một người dân nào ra chửi bới, ném gạch đá, chai lọ vào bọn gã. Xem ra người Việt cư xử theo kiểu quân tử.


Triều đình nhà Minh họp tại điện Thái Hòa. Các vị đại thần mũ cao áo dài khi được cử sang Đại Việt thì đều từ chối vì tuổi già sức yếu. Nhưng hôm hạch tội Vương Thông và Mộc Thạnh thì họ rất hăng hái. Nào là không biết hết mình vì nhà vua, nào là vơ vét của cải đến nỗi xe chở châu báu bị gãy cả trục…


Vương Thông bị giam ngay vào đại lao và bị tịch thu gia sản, đúng như lời tiên đoán của nhà sư Thiện Chân.


 


Nguồn: Hổ Thần. Tập truyện dã sử của Ngọc Toàn. Lời tựa của Nhà văn Triệu Xuân. NXB Hội Nhà văn, 2015.


www.trieuxuan.info







[1]Nền tháp Báo Thiên ngày nay chính là nhà thờ lớn Hà Nội. Tháp cao 31 trượng, tức trên 71 mét, cao hơn nhà thờ lớn khoảng 9 mét.




[2] Theo nhiều tài liệu, chùa Sùng Khánh còn có tháp chuông với chuông đồng nặng 5.000 cân ta, tức 3.000 kg.


 




[3] Đất nước Cambodia hiện vẫn còn loài rắn này ở rừng sâu núi hiểm. Chúng quấn dưới gốc một loại phong lan có mùi thơm. Những người làm nghề bùa ngải dùng nọc rắn để làm độc dược và một số nhà sư chuyên nghiên cứu thuốc giải độc cứu người. Dân chúng gọi rắn này là Mai Hoa Xà.


 




bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Những kẻ câu đêm - Trần Nhã Thụy 16.01.2020
Chiếc đầu lâu - Ngọc Toàn 14.01.2020
Ngọc đá nước Việt - Ngọc Toàn 14.01.2020
Thoảng hương gió đồng - Trần Kỳ Trung 10.01.2020
Một câu chuyện buồn - Trần Kỳ Trung 10.01.2020
Cây mẫu đơn hoa trắng - Nguyễn Hải Yến (Hải Dương) 30.12.2019
Phía trước nhà có giàn mơ dại - Nguyễn Hải Yến (Hải Dương) 30.12.2019
Gió lên thả ngọn đèn trời - Nguyễn Hải Yến (Hải Dương) 30.12.2019
Giếng mắt rồng - Nguyễn Hải Yến (Hải Dương) 30.12.2019
Hoa đại đỏ - Nguyễn Hải Yến (Hải Dương) 30.12.2019
xem thêm »