tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 30971142
Truyện ngắn
31.05.2017
Ngọc Toàn
Lũng Voi



I- Qua ngã ba Bờ Đậu, trời đã sập tối. Tia sáng cuối cùng của hoàng hôn đỏ quạch cũng đã chìm sau dãy núi. Cây cối bên đường bắt đầu nhập nhòe trước mắt tôi. Từng đàn đom đóm đan qua đan lại trong các nương chè lúp xúp. Nếu chạy với tốc độ này, nửa giờ nữa tôi sẽ đến núi Pháo. Nghĩ gặp lại mấy ông bạn làm báo tỉnh Thái Nguyên và được uống chè Tân Cương, tôi thấy vui hẳn lên, quên quãng đường từ Hà Nội lên đây đã gần 100km. Đường sá bây giờ so với hồi chiến tranh khá hơn nhiều, các nương chè có vẻ xanh tốt hơn, các cây trẩu ở sườn đồi sáng lên với những chùm hoa trắng.


Bỗng đầu xe gắn máy chiếu phải một vật gì chạy trước. Thú rừng à? Không phải! Tôi căng mắt ra nhìn, đó là một chú bé 12, 13 tuổi, mặc quần áo chàm. Xe chạy nhanh, chú bé cũng chạy nhanh. Xe giảm ga, nó cũng chạy chậm lại, luôn luôn có một khoảng cách độ 20m. Tôi tăng ga thêm chút nữa cũng không đuổi kịp nó. Nhìn đồng hồ tốc độ chỉ trên 30km/h, tôi hoảng hồn, mình thật là điên rồ, đụng vào con người ta thì sao, rừng núi này đi bệnh viện cấp cứu thế nào…


Đến khúc ngoặt. Gốc Sộp đây rồi. Chú bé biến đâu mất. Có lẽ nó trốn vào nương chè bên đường. Một quán nước có ánh đèn vàng le lói còn mở cửa. Tôi dựng xe vào quán. Cô chủ chừng bốn chục tuổi nói:


- Có chè Thái Nguyên trồng ở núi Pháo và bánh gai, bánh mật ngon lắm. Xin mời ông!


Cô bóc hai chiếc bánh và rót ra từ cái ấm nhỏ một chén chè. Mùi thơm có hương vị cốm thoang thoảng bay trong không khí. Nước chè qua cổ còn đọng lại vị ngọt hơi đắng, không giống bất cứ loại chè nào tôi từng được uống. Đời làm báo, tôi đi khắp đó đây, đã thưởng thức chè Long Tỉnh, Thiết Quan Âm, Phổ Nhĩ, Bích Loa Xuân… nổi tiếng của Trung Quốc nhiều lần. Thật thà mà nói, các loại chè kia đều thua xa chè Thái Nguyên Việt Nam. Nhất là chè trồng ở xã Tân Cương, huyện Đồng Hỷ.


Cô chủ quán thấy tôi chốc chốc nhìn ra đường, khẽ cười:


- Chắc ông lại bị nó trêu?


Tôi ngạc nhiên:


- Cô định nói ai cơ?


- Thằng bé chạy trước xe của ông lúc nãy.


- Sao cô biết?


- Hôm nào sắp có trăng non như hôm nay, nó đều chạy trước những người qua đường. Lúc xưa là những người gồng gánh, cưỡi ngựa, đi võng. Còn bây giờ, nó chạy trước xe đạp, xe máy, đôi khi cả ô tô.


- Nó là ai?


- Gọi là ma cũng được. Gọi là thần cũng được. Gọi là liệt sĩ yêu nước cũng được.


Tôi tò mò:


- Cô kể tôi nghe được không?


- Ông định viết thành truyện à?


- Sao cô biết tôi là…


- Ông mặc áo ký giả nhiều túi, trước ngực gài ba cây bút, cổ đeo máy ảnh… thì trẻ con cũng đoán được nghề nghiệp của ông.


- Cô cứ kể đi!


- II -


Năm Mậu Thân (1788), vua Lê Chiêu Thống dẫn quân Mãn Thanh sang Đại Việt để đánh nhà Tây Sơn. Một đạo tiền tiêu của giặc qua đây, bắt dân chúng đi sửa đường, làm cầu để đại quân hội sư tại Thăng long. Chúng gặp ông già ngồi vót tre làm bẫy thú nhỏ và một thằng bé đang chơi quay tại gốc sộp này.


Tên tướng Tàu quát nạt:


- Lão già kia, theo ta đi mở đường để quân thiên triều vào giúp An Nam đánh ngụy Tây Sơn!


Quân giặc không cần biết người bị chúng bắt đi làm dân phu là ai, già hay trẻ, trai hay gái, miễn là cầm được con dao hay cái cuốc phục vụ chúng.


Ông già nói:


- Tôi đã ngoài 60, không đủ sức đi làm đường cho các quan lớn được đâu.


Hai tên lính Tàu cầm sợi thừng tròng vào cổ ông lão kéo đi. Đứa cháu vừa khóc, vừa níu tay ông:


- Ông ơi, ông đừng đi!


Tên tướng Tàu co giò đá thằng bé. Cả hai cùng thét lên. Chú bé bị cú đá lăn ra cả trượng, còn kẻ mạnh bị mũi nhọn con quay trong túi chú bé xiên qua hài sảo, đâm vào gan bàn chân.


Quân lính Tàu đấm đá túi bụi vào hai ông cháu. Một lát, cả hai đều tắt thở. Chúng kéo họ vứt vào vệ đường bên gốc sộp. Qua hôm sau, mối xông thành hai ngôi mộ.


Được vài ngày, tên tướng Tàu cũng chết. Vết thương ở chân bị làm độc, sưng lên như chân voi, suốt ngày nước vàng chảy ra, không thuốc nào chữa khỏi. Gã chết trong đau đớn, quằn quại hơn chú bé chơi quay.


Ngày 5 tháng Giêng năm Kỷ Dậu (1789), vua Quang Trung tiêu diệt đồn lũy cuối cùng của Mãn Thanh ở Thăng Long. Một đạo quân khoảng 5.000 tên vượt sông Nhĩ Hà, chạy theo đường cũ qua Thái Nguyên về Tàu.


Sáng mùng 8 tháng Giêng, chúng đến gốc sộp. Tên nào cũng phờ phạc, quần áo rách nát, râu ria xồm xoàm. Chúng bắt gặp ông già vót tre làm bẫy thú và đứa cháu chơi quay. Giết người nhiều quá, bọn lính không nhớ nổi họ đã bị chúng hạ sát trước đây hơn một tháng.


Tên tướng đi đầu cưỡi con ngựa ô, hỏi ông già:


- Đường này đi về Tàu được không?


Ông già không thèm ngước mắt, trả lời:


- Cầu bị phá hết rồi, đường bị đặt địa lôi, hai bên núi rừng quân Tây Sơn phục kích. Họ có súng điểu thương, hỏa hổ, đại pháo. Các ông không qua được đâu.


- Có con đường nào khác không?


- Bên tay phải có lối nhỏ, dẫn đến cầu Mây cách đây ba dặm. Vượt qua suối, tới Lũng Nai là có thể về Tàu. Đường không có quân phục kích, nhưng khó đi đấy.


- Ông dẫn đi, ta thưởng cho một nén vàng!


- Tôi già rồi, lấy vàng làm gì. Để cháu tôi dẫn đường.


- Thằng nhỏ này cũng làm hướng đạo được sao?


- Nó sinh ra ở đây, lạ gì đường rừng. 8 tuổi nó đã đi săn, chạy nhanh như thỏ, chưa chắc các ông đã theo kịp.


- Mấy ngày ở trong rừng lấy gì mà ăn?


Ông già bật cười:


- Khát có nước suối. Đói có củ mài, rau rừng, quả rừng, bắn nai mà nướng.


Tên quan nhà Lê chạy theo giặc hỏi:


- Có phải qua cầu Mây là vào Lũng Voi không?


- Lũng Voi đâu chỗ này, xa lắm! Muốn đến cũng phải đi hai ngày đường. Mấy ai đã vào được nơi ấy. Đây là Lũng Nai.


Thắng bé chạy trước theo kiểu chân sáo, luôn giữ khoảng cách chừng 20 trượng. Cầu Mây đây rồi. Gọi là cầu Song thì đúng hơn. Người ra buộc sáu sợi song vào các gốc sộp hai bên bờ suối, trên bắc ván làm chỗ đặt chân. Dưới chiếc cầu chênh vênh, nước ào ạt chảy vào những tảng đá nhọn hoắt, tung bọt trắng xóa, reo lên như những tiếng thét của thiên binh vạn mã. Thằng bé chạy như bay trên chiếc cầu không tay vịn.


Một tên bách hộ bắt bọn lính dắt mấy con ngựa qua cầu. Ra giữa suối, lũ ngựa hoảng sợ, đứng dựng hai chân sau, hý lên những hồi hoảng loạn. Chiếc cầu chao đảo, lật nghiêng, hất cả đoàn người ngựa xuống suối. Dòng nước dìm chúng xuống đáy. Một tên lính bị hất ngược lên, mắc vào sườn núi, thân hình nát nhừ. Bỗng con trăn to như cột nhà xuất hiện, bập những răng nhọn vào xác tên lính, nuốt dần… Diễn biến khủng khiếp làm cho đạo quân thất trận trốn chạy mất tinh thần, không tên nào dám tiếp tục vượt cầu Mây.


Cuối cùng, chúng cũng tìm ra được phương pháp vượt suối: bỏ lại toàn bộ lừa, ngựa và qua cầu bằng cách đi hai tay hai chân như những loài động vật bốn chân có vú.


Gần nửa ngày sau, nhóm lính đi trước bắt đầu xuống đến chỗ sâu nhất của thung lũng thì nhận được những tiếng hú từ phía sau báo tin cả đoàn quân đã qua cầu.


Thằng bé vẫn chạy trước. Bỗng nó hát lên những câu làm cho bọn giặc thất đảm tinh thần:


Giết! Giết! Giết! Quân xâm lược!


Diệt! Diệt! Diệt! Giặc Mãn Thanh!…


Tiếng nó vọng vào núi hắt lên những âm thanh hùng tráng như cả đoàn quân hát nhịp hành tiến.


Thật ra, bài hát này đã có từ đời Trần 500 năm trước, tương truyền là của Chiêu Vân Vương Trần Nhật Duật. Ông là một vị tướng văn võ toàn tài, biết rất nhiều thổ ngữ của các dân tộc thiểu số. Khi vào nhập tiệc với họ, Trần Nhật Duật uống rượu bằng mũi theo phong tục như dân bản địa. Các bộ tộc ít người đều tình nguyện theo ông về nhà Trần làm phên dậu cho Đại Việt chống bọn Bắc xâm. Mỗi lần ra quân, Trần Nhật Duật đều làm một bài hát để tăng sĩ khí. Ban đầu có những câu…


Giết! Giết! Giết! Quân xâm lược!


Diệt! Diệt! Diệt! Giặc Thát Đát!…


Thằng bé cải biên đi vài chữ để nói lên tinh thần người Việt không cho bất cứ kẻ thù hùng mạnh nào đến cướp mảnh đất yêu quý của mình. Chúng đến là những tên lính, nhưng khi về là những bộ xương nằm rải rác khắp núi rừng, đồng bằng, sông suối của người Việt.


Thằng bé vẫn vừa chạy vừa hát. Đoàn quân Tàu hoảng hốt đứng sững cả lại. Khi lời hát vừa ngừng thì những tiếng voi gầm lên rung chuyển cả núi rừng. Đàn voi khoảng sáu chục con xuất hiện. Đi đầu là một con voi cái to lớn, da mốc thếch, chiếc vòi vươn lên cao gầm rú, giận dữ. Theo sau là những con voi đực với cặp ngà nhọn hoắt, sáng bóng. Đi giữa là voi cái và voi con. Tập hậu là một thớt voi đực khổng lồ với cặp ngà bằng sải tay người lớn.


- III -


Tên tướng cuối cùng vừa bò qua cầu Mây, quay lại nhìn và thầm cảm ơn trời phật đã phù hộ cho chúng vượt được dòng suối hung dữ. Bỗng hắn kinh ngạc thấy bên kia suối có hai người xuất hiện: ông lão và thằng bé. Quái lạ, thằng bé dẫn đầu đoàn quân, sao bây giờ lại ở bên kia suối? Nó trở về bằng cách nào? Chắp cánh bay qua sông núi?


Khi ông lão bê một chiếc vò lớn, đổ thứ nước màu xanh nhạt lên chiếc cầu và thằng bé cầm bó đuốc châm lửa đốt thì hắn đã hiểu hai ông cháu chặt đứt đường về của chúng.


Ngọn lửa bùng lên, những tấm ván và các sợi song sát bờ bên kia bùng cháy. Chiếc cầu vặn mình rồi rớt ầm xuống dòng suối. Nước cuốn những tấm ván xuống đáy rồi lại hất lên ở cuối dòng. Con suối réo lên như vui sướng.


Đàn voi ngửi thấy mùi lạ, chúng xông lên bảo vệ rừng thiêng của mình. Tên tường Tàu hét to:


- Ném ống lệnh và bắn tên thuốc độc!


Ống lệnh là những ống tre, trong chứa than xoan, lưu huỳnh, diêm sinh, có chiếc ngòi thò ra ngoài để châm lửa. Tiếng nổ đì đùng và những chiếc tên làm đàn voi thêm giận dữ. Chúng xông tới cuốn từng tên giặc, quăng lên trời rồi giơ cặp ngà ra đỡ những cái xác quay cuồng trong không khí. Bọn voi cái làm nhiệm vụ cuối cùng là chà đạp lên những tên sống sót. Tiếng voi gầm, tiếng người kêu khóc vang lên xao động khắp núi rừng vốn yên bình từ hàng ngàn năm trước.


Ngày nay, khi xới đất trồng chè trong Lũng Voi, người ta vẫn tìm thấy những bộ xương người không hoàn chỉnh và các vũ khí gãy nát của thời Càn Long bên Tàu.


- IV -


Tôi tỉnh dậy, thấy mình nằm trong quán hôm trước. Chõng bán hàng vẫn còn mấy lọ đựng chè và bánh trái, nhưng người đàn bà thì đã biến mất. Bên cạnh quán, dưới gốc sộp có ba cái mả. Vài người đi chợ sớm đang thắp hương xì xụp khấn vái. Tôi hỏi, họ trả lời:


- Chiếc mả bên trái của người ông. Giữa là thằng bé. Còn chiếc cuối cùng là của con gái ông cụ, tức mẹ thằng bé. Những đêm sắp có trăng non, gia đình này thường hiện lên đùa khách đi đường nhưng không bao giờ làm hại ai. Dân chúng gọi thằng bé là Cậu nhỏ.


Nguồn: Bí mật đền Sĩ Nhiếp. Tập truyện Dị sử của Ngọc Toàn. NXB Văn học, 2012. Lời tựa của nhà văn Triệu Xuân.


www.trieuxuan.info


bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Những kẻ câu đêm - Trần Nhã Thụy 16.01.2020
Chiếc đầu lâu - Ngọc Toàn 14.01.2020
Ngọc đá nước Việt - Ngọc Toàn 14.01.2020
Thoảng hương gió đồng - Trần Kỳ Trung 10.01.2020
Một câu chuyện buồn - Trần Kỳ Trung 10.01.2020
Cây mẫu đơn hoa trắng - Nguyễn Hải Yến (Hải Dương) 30.12.2019
Phía trước nhà có giàn mơ dại - Nguyễn Hải Yến (Hải Dương) 30.12.2019
Gió lên thả ngọn đèn trời - Nguyễn Hải Yến (Hải Dương) 30.12.2019
Giếng mắt rồng - Nguyễn Hải Yến (Hải Dương) 30.12.2019
Hoa đại đỏ - Nguyễn Hải Yến (Hải Dương) 30.12.2019
xem thêm »