tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 30970690
Truyện ngắn
31.05.2017
Ngọc Toàn
Bí mật đền Sỹ Nhiếp



I- Vợ chồng võ sư Lê Bá uống hết hai bát chè tươi mà vẫn không thấy ông Tạo Hường đến chơi. Đồng hồ quả lắc trên tường đã chỉ 9 giờ. Ông nói với bà:


- Chắc có chuyện gì phải đi gấp nên ông Tạo đến chậm.


Hớp một ngụm chè tươi còn bốc khói, bà chậm rãi:


- Phải là việc quan trọng. Từ xưa chưa bao giờ ông Tạo sai hẹn. Mùa màng xong cả rồi, nhiều gia nhân thế thì thiếu gì người sai bảo.


- Đáng tiếc! Ấm chè tươi bà nấu rất ngon mà ông Tạo không sang thưởng thức.


Vợ chồng võ sư Lê Bá không uống chè mạn, chè tàu, cả đời chỉ uống chè tươi, nhưng là một thứ chè đặc biệt. Ông bà mang giống chè lá nhỏ và dài từ Yên Bái về trồng, lâu năm cây đã thành cổ thụ. Muốn hái chè phải bắc thang hoặc đặt những tấm ván từ cây này sang cây khác. Chè được nấu trong ấm đất. Ông bà Bá không thích nấu chè trong ấm đồng bởi nó có mùi tanh của kim loại.


Mỗi tuần, ông bà Bá đều tắm chè một lần. Chè đun sôi trong chiếc nồi to rồi đổ vào cái vại đại, loại vại nổi tiếng trong ca dao “Ai về mua vại Hương Canh…”.


Ông Bá nói:


- Tắm chè tươi, người khỏe hẳn ra, sảng khoái hơn uống thuốc Bắc.


Riêng bà Bá còn cho một nắm hoa ngọc lan hoặc móng rồng vào vại. Có lần, ông Bá nói:


- Bà cho nhiều hoa thế, không sợ hắc hay sao?


Bà nguýt yêu:


- Thế ông không thích người tôi thơm tho à?


Ông cười lên ha hả. Bà khẽ gắt:


- Ông cười to quá, ngộ nhỡ các con hay học trò biết thì còn ra thế nào nữa!


Ông bà Lê Bá có một cậu con trai tên là Bốn và ba người học trò cũng là con nuôi. Ông đặt cho họ những cái tên mộc mạc: Một, Hai Ba. Họ cùng ông bà chăm sóc mấy nương ngô, nương chè, chăn nuôi súc vật.


Đến tận 10 giờ, ông Tạo Hường mới tới. Ông vội thanh minh:


- Tôi đến muộn vì phải đi khám nghiệm tử thi, điều tra vụ án.


- Ai chết đấy hả ông?


- Một gia nhân của tôi đi săn ở chân núi, nghe tiếng đập đá ầm ầm ở trong đền Sĩ Nhiếp nên lại gần nghe ngóng. Anh ta nói cho tôi biết chuyện rồi hôm sau trở lại xem xét và mất tích đã năm ngày. Sáng nay, người nhà phát hiện xác chết ở Lũng Nai, xương cổ bị gãy. Hơn nữa có hơn mười người Tàu xuất hiện ở rừng Sộp.


Ông Tạo Hường chưa kịp nói tiếp thì có hai người khách xin gặp ông Lê Bá. Đó là hai người Tàu ăn mặc diêm dúa theo lối nhà Thanh, có vẻ là một thiếu gia và một vệ sĩ.


Người trẻ tuổi nói:


- Được biết thầy Lê Bá giỏi võ. Chúng tôi đến xin học để thêm sự hiểu biết.


Ông Lê Bá mời họ uống chè:


- Ở vùng này đường sá xa xôi, chúng tôi chỉ uống chè tươi. Mời anh dùng tạm!


Rồi ông nói tiếp:


- Các anh đã học võ từ lâu rồi phải không? Cứ trông bước chân di chuyển, tôi biết là người có trình độ cao thâm.


- Chúng tôi đã từng học mấy thầy ở thôn quê, muốn trau dồi thêm võ nghệ của Việt Nam.


Hớp một ngụm chè, ông Lê Bá chậm rãi:


- Đáng tiếc cho hai anh, chúng tôi không dạy cho người nước ngoài, cũng như người đã học ở nơi khác.


- Sao thế? Chúng tôi được biết thầy đã từng sang Trung Quốc học võ.


- Đúng! Từ mấy nghìn năm nay, người Việt luôn luôn bị người phương Bắc chèn ép nên tôi học võ của họ để chế ra những chiêu thức hóa giải, dạy dỗ con em bảo vệ đất nước.


- Có lẽ khó đấy! Trung Hoa là trung tâm võ thuật thiên hạ, ra đời đầu tiên trên thế giới và được hệ thống lại thành các môn phái, bang hội chặt chẽ.


Ông Lê Bá cười nhạt:


- Các anh tự hào hơi quá mức đấy! Hiện nay, các võ sĩ Nhật Bản đến thách đấu nhiều lò võ nổi tiếng ở các tỉnh Trung Quốc và lần nào họ cũng thắng.


Rồi ông Lê Bá thủng thẳng:


- Đến tận thời Lương Võ Đế, thiền sư Đạt Ma người Ấn Độ sang Trung Quốc lập ra phái Thiếu Lâm, dạy người Hoa học võ. Và cũng từ đây, Trung Quốc mới ra đời các môn phái. Bảy mươi hai tuyệt kỹ của chùa Thiếu Lâm chẳng qua là góp nhặt từ các bang hội khắp nước rồi chế biến lại mà thành. Phải nói rằng, võ thuật đầu tiên ra đời là của người Ấn Độ và Ba Tư, trước Trung Quốc cả ngàn năm.


Tên vệ sĩ tức giận:


- Ông nói thì giỏi, xin học thì không thu nhận. Nếu có tài thì thử thi thố vài chiêu!


Bà Lê Bá nhẹ nhàng:


- Chúng tôi không muốn mất hòa khí, đấu võ sẽ có người bị thương. Còn nếu các anh làm được như học trò ở đây thì có người giao đấu cũng chưa muộn.


Bà gọi:


- Một đâu? Con thử múa vài đường cho họ xem!


Một là thanh niên chưa đến 30 tuổi, thân hình vạm vỡ, cao hơn thước bảy, có nụ cười tươi:


- Dạ, con xin nghe lời mẹ!


Anh đến giá binh khí lấy một cây gậy sắt dài 3m, nặng 25 cân tây, múa lên vù vù. Với những người dùng vũ khí nhẹ như kiếm, mã tấu thì thi đấu tay đôi với Một đều bất lợi. Khi va chạm với gậy của Một, tay họ không bị tê liệt thì cũng toạc hổ khẩu, khí giới đều bị đánh bay.


Bỗng Một hét lên rồi chống đầu gậy sắt xuống đất, tung mình bay lên cành đa cao trên 4 mét và đứng thế “hàn kê độc lập”. Đến cái hét thứ hai thì Một đã nhẹ nhàng sà xuống đất như một con sóc bay.


Một thay cây gậy sắt nặng khoảng 50 cân, băng băng chạy lên sườn đồi rồi lập tức trở xuống, vừa chạy vừa tung gậy lên trời và giơ tay đỡ. Hai người khách biết rằng chạy lên đã khó, lúc xuống đồi mang theo khối sắt nặng càng khó hơn.


Một đến trước mặt thầy mẹ và khách, hai tay nâng gậy ngang mày, chân phải quỳ xuống cúi chào. Bỗng từ ngoài cổng, một con hổ dài đến 2 mét, nặng gần 200 cân xồng xộc chạy vào. Hai người Tàu hoảng hốt, vội nấp sau lưng chủ nhà, mặt cắt không còn giọt máu. Ông bà Lê Bá ngồi nguyên. Hai con chó đuôi ngoáy tít từ trong nhà chạy ra, nhảy chồm lên lưng hổ. Khách nén cơn sợ hãi, họ biết chó vẫy đuôi là mừng rỡ khi gặp người quen.


Bà Lê Bá reo lên:


- Vàng đã về đấy con?


Con hổ đứng hai chân sau, đặt cả hai chân trước lên vai và cà cổ nó vào đầu bà. Bà Lê Bá âu yếm gãi tai hổ:


- Con ra thăm ông đi! Chắc ông cũng nhớ con lắm.


Vàng ung dung đến nằm bên ông Lê Bá, đặt đầu lên đùi ông đòi âu yếm.


Ông Lê Bá mắng yêu:


- Mày hôi quá rồi Vàng ạ. Hai đâu, lát nữa tắm cho nó nghe con!


Người học trò tên Hai thưa:


- Dạ. Con sẽ đưa cả Vàng và hai con chó ra thác nước.


Trước đây, chưa thả hổ về rừng, Hai luôn luôn tắm cho chúng. Anh bơi ngược dòng suối, ba con vật theo sau. Bọ vét, bọ chó sợ nước, theo lông di chuyển lên đỉnh đầu súc vật. Khi Hai và ba con vật đứng dưới thác nước thì bọn ký sinh trùng đành rời bỏ vật chủ, trôi theo dòng nước và làm mồi cho cá mương đầy ở suối.


Hai người Tàu vừa sợ vừa ngạc nhiên vì thấy người Việt Nam chơi với hổ như chơi với chó mèo. Bao nhiêu dũng khí đến lò võ thách đấu đều xẹp xuống. Họ thấy sức khỏe của Một, sức chịu đựng đôi vai của bà Bá dưới hai chân hổ nặng cả trăm cân, mà hoảng sợ. Nếu gây sự, họ chắc chắn mang nhục vào thân, đành chào chủ nhà và đi về phía chân núi.


Ông Tạo Hường nói:


- Tên ăn mặc kiểu nhà giàu chính là kẻ giết gia nhân của tôi!


Ông Lê Bá hỏi:


- Ông đã tìm được chứng cớ rồi à?


- Tên này đỡ chén chè ông mời bằng tay trái. Trên người hắn đeo một thanh dao quắm có mấu của người đi rừng. Chân hắn đi giày vải, đế cao su. Người nhà tôi bị chém cổ bên phải, tức là cách chém của người thuận tay trái. Chỗ xương cổ bị gãy là do mấu của dao quắm gây ra. Trên ngực phải nạn nhân có một vết bùn có hoa văn giống hệt vết giày hắn đi qua vũng nước mưa để lại trên gạch.


- Ông nhận xét rất chính xác. Ngay từ bây giờ, toàn bộ thầy trò tôi và gia đình bên ông chuẩn bị đối phó với bọn này. Ông nghĩ chúng đến đền Sĩ Nhiếp để làm gì? Theo sử sách, Sĩ Nhiếp là quan Thái thú của nhà Đông Hán thời Bắc thuộc. Các sử gia Việt Nam ca ngợi Sĩ Nhiếp là quan cai trị tốt. Họ nhìn nhận cuộc đời theo kiểu phong kiến. Có một tên xâm lược nào lại tử tế! Trong đền Sĩ Nhiếp, người ta đồn rằng là nơi hắn để của. Dân gian còn đồn đại nhiều chuyện hoang đường như ban đêm có một đàn vịt vàng rủ nhau đi ăn, một con vịt què đi cuối cùng… Tôi cho rằng bọn này sang ta tìm của ăn cướp do tổ tiên chúng để lại.


- Chúng ta cứ yên lặng mà làm. Đừng để lý trưởng, chánh tổng và bọn Tây biết chuyện. Nếu có bảo tàng thật thì chúng sẽ vơ vét sạch và đưa về Pháp. Vàng bạc châu báu của người Việt, hết bị Tàu lại đến Tây ăn cướp. Tôi sẽ đích thân đi thám thính, còn ông cho người theo dõi những tên mới đến.


- Chúng ta cứ thế mà làm!


- II -


Ông Tạo Hường vốn không mang họ Tạo. Tổ tiên ông nhiều đời làm quan nhà Lê và đậu tiến sĩ Võ, học vị ngang với tiến sĩ Văn, còn gọi là Tạo sĩ. Người ta lấy chữ Tạo đặt lên trên tên để tỏ lòng kính trọng. Đến đời Nguyễn, cha ông Hường phò vua Hàm Nghi, bỏ kinh thành Huế lên rừng lập chiến khu chống Pháp. Phong trào Cần Vương thất bại, cha ông cùng nhà vua bị đi đày. Để tránh bị Pháp theo dõi, ông Hường bỏ họ Lý và cái tên cúng cơm là Lý Văn Hồng, đặt tên mới là Tạo Hường.


Đến vùng bán sơn địa này, ông Hường thích quá. Ông chọn quả đồi thấp làm một nếp nhà sàn. Phía Đông đồi là một cái lũng sâu, phía Tây có một dòng suối. Ông chỉ quả đồi và nói:


- Chỗ này không thể gọi là đắc địa được, phải là vượng địa, miếu địa. Nếu là đắc địa thì làm tướng, làm soái; còn miếu địa thì phất lên làm vua, làm chúa. Ta chẳng cần làm tướng soái, vua chúa mà chỉ mong làm giàu để lấy tiền bạc, giúp nghĩa quân Đề Thám. Chỗ này là vượng địa mới đúng!


Ông Tạo Hường bắt dòng suối đổi chiều, chảy vào thung lũng. Chỗ nước chảy ra là một cái đập nhỏ, ông cắm đăng giữ cá. Nửa năm sau, nước mưa và nước suối biến cái lũng thành hồ rộng mấy chục mẫu. Ông Tạo Hường cho thả cá mè, cá trôi, cá trắm miền xuôi lẫn với các loại cá suối. Ba năm sau, hồ đầy cá. Khi có khách, ông chỉ cần cắm cái cần câu là kéo lên hàng rổ. Rồi le le, ngỗng trời, sâm cầm đến kiếm thức ăn làm cho hồ lúc nào cũng nhộn nhịp.


Ông Hường còn nuôi gà, lợn, trâu, bò bán hoang dã. Ngày ngày, chúng lên đồi bới bật các gốc khoai sắn kiếm củ mà người nhà ông đã trồng. Khoai sắn mênh mông cả mấy ngọn đồi nên lợn gà không bao giờ thiếu thức ăn.


Riêng đàn trâu mới có mấy năm mà đã sinh sản tới bốn chục con. Con đực đầu đàn có cặp sừng kềnh càng, nhọn hoắt. Nó đeo một cái mõ ở cổ, dẫn cả đàn đi đến các sườn núi, bờ suối ăn cỏ. Chạng vạng tối, trâu về bãi sông có những tảng đá bằng phẳng mà người nhà ông Hường rắc muối cho chúng liếm trước khi ngủ đêm. Nhờ những hạt muối cần thiết cho cơ thể, trâu thuần hóa, không bao giờ rời bỏ con người. Lâu lâu, chúng lại tự động kéo cả đàn về chuồng để được ăn lá mía, lá ngô, uống mật pha loãng.


Ban đêm, trâu ngủ theo thói quen hoang dã. Con cái, nghé non nằm giữa, trâu đực nằm ở vòng ngoài. Riêng trâu đầu đàn tựa gốc cây ngủ đứng. Đánh hơi thấy mùi thú dữ, nó ọ ọ lên báo động. Cả đàn đứng dậy theo vòng tròn ứng chiến.


Làm ăn phát đạt, ông Tạo Hường đưa một số người làng lên lập bản riêng với hàng chục nếp nhà sàn, đùm bọc lẫn nhau. Ông nhờ bạn thân là Lê Bá dạy thanh niên võ nghệ để bảo vệ bản làng và săn thú.


Lý trưởng, chánh tổng và các quan Tây đã nhiều lần đến thăm ông Tạo Hường. Bọn chúng sục sạo, bới lông tìm vết nhưng chẳng phát hiện được gì. Hơn nữa, lần nào ông Hường cũng cho mổ lợn, mổ bò làm cỗ, đón tiếp nồng hậu và tỏ lòng biết ơn chính quyền bảo hộ trị an rất rốt. Khi ra về, tên nào cũng hả hê xách theo ít nhất một đôi gà trống thiến.


Nhìn bộ dạng của Tạo Hường, chúng không thể nhịn được cười. Cơ thể béo tròn béo trục, mặc bộ đồ bằng lụa sồi rộng thùng thình, đầu để búi tó củ hành, ông Hường chẳng khác gì một anh trọc phú. Có lần quan Nam triều đầu tỉnh mời ông Tạo Hường một chức chánh mua hoặc hàn lâm cửu phẩm. Chánh mua là chánh tổng, không có thực quyền, nhưng được ăn trên ngồi trốc và dân gọi là cụ Chánh. Hàn lâm cửu phẩm cũng là một thứ tước vị bù nhìn, không có quyền lợi và tiền bạc, nhưng được đeo chiếc bài ngà chứng tỏ là người của triều đình. Riêng các quan Tây rất muốn ông Tạo Hường làm tai mắt cho chính phủ bảo hộ, đề nghị ông ra làm Nghị viên tư vấn Bắc kỳ.


Lần nào ông Hường cũng đều từ chối với các lý do: ít học, nhà quê, luộm thuộm và không quen ăn nói ở nơi đông người. Nhưng trong thâm tâm, ông thầm rủa, sẽ có ngày người Việt ném chúng mày xuống biển làm mồi cho cá.


- III -


Được tin đàn trâu bị hổ tấn công, ông Tạo Hường và vợ chồng ông Lê Bá vội khảo sát thực địa. Cả đàn trâu vẫn đứng quay lưng vào nhau, không chịu đi ăn. Thấy người, chúng kêu nghé ọ vang cả núi rừng. Con đầu đàn và một con hổ trên 200 cân ôm nhau chết ở gốc sộp. Hổ nhảy lên đầu, vả nát cả mặt trâu. Nhưng nó cũng bị con đầu đàn móc một sừng vào bụng. Càng giãy giụa, hổ càng bị chiếc sừng ngọn đâm sâu vào lục phủ ngũ tạng. Máu chảy nhiều, hổ ôm lấy trâu chết đứng. Trâu không chịu ngã gục, đứng tựa vào gốc sộp cùng chết.


Ông Tạo Hường nói:


- Tôi cho người chở hổ và trâu về làm thịt. Ông bà có ý kiến gì không?


Bà Lê Bá rụt rè:


- Ông cho xẻ thịt hổ để bà con trong bản cùng hưởng, riêng con trâu nên chôn cất tử tế, ăn thịt nó thì tội nghiệp.


- Vâng, tôi nghe lời bà và cho chôn con vật có nghĩa thật sâu để hổ báo không thể bới lên.


Ông Lê Bá pha trò:


- Tôi nghĩ ông có thể xin các quan Tây gắn mề đay “Bắc đẩu bội tinh” của nước Pháp và xin ông Thống xứ một đội kèn tây đến thổi bài “Mác xây e” để tiễn biệt nó.


Cả ba người đều bật cười. Ông Lê Bá ít nói, nhưng ý nghĩ của ông hóm hỉnh, sâu sắc, không kém phần mỉa mai về nhà nước bảo hộ. Mang đội kèn tây thổi quốc ca nước Pháp để khóc một con trâu chết thì cả triều đình Huế cũng không nghĩ ra được.


Ông Tạo Hường đem biếu ông bà Lê Bá 10 lạng cao hổ cốt, cặp nanh, cặp vuốt và một con mắt hổ. Nanh vuốt phải biếu một cặp có dương có âm thì mới quý. Còn mắt hổ thì có thể biếu một con để ở góc nhà trừ tà.


Hai tháng rồi, đàn trâu của ông Tạo Hường vẫn bị tấn công liên tục. Đến con thứ tư bị hạ sát thì cả đàn trâu không chịu ngủ đêm ở bãi sông. Chúng kéo nhau về trại để được bảo vệ. Ông Tạo Hường dẫn đường đoàn người đến bãi thả trâu. Con nghé nằm chết bên bìa rừng, bị hổ móc họng. Lạ một điều là nó không tha xác đi nơi khác.


Ông Lê Bá và ông Tạo Hường nghiên cứu địa hình. Xem những vết chân hổ, nơi nó ẩn nấp và thủ đoạn hạ sát trâu, ông Lê Bá kết luận:


- Đây là một con hổ cái. Nó nấp dưới bãi cỏ lau, chờ đàn trâu đi ngang thì tấn công vào giữa đàn, cắn cổ một con nghé rồi dông xuống suối, lội qua bờ bên kia. Đàn trâu đang đi hàng dài, không kịp đối phó.


Ông Tạo Hường tiếp lời:


- Hổ là giống sống cô độc. Mỗi con chiếm một khoảnh rừng làm lãnh địa. Nhưng giữa hổ đực và hổ cái vẫn có mối tương thông gia đình. Có thể con hổ cái này trả thù đàn trâu đã giết con đực.


- Tôi cũng nghĩ thế! Diệt con hổ này không phải là khó. Nó có xảo quyệt đến đâu cũng không thể qua mắt con người.


Ông Tạo Hường cho làm một cái chòi coi rừng bằng tre, cao trên 5 mét, đêm đêm có hai người ngủ. Đàn trâu yên tâm, nằm quây tròn xung quanh.


Ông Bá và ông Hường bí mật đặt một chục cái bẫy kẹp bằng sắt nặng 8 cân từ bãi cỏ tranh ra đến bìa rừng, nơi đàn trâu đi qua. Hai ông cẩn thận xóa mọi dấu vết, nâng từng ngọn cỏ bị chân người đạp lên.


Mười ngày trôi qua không có kết quả. Đến sẩm tối thứ 11 thì hổ mắc bẫy. Một tiếng gầm vang dội rồi tiếng gào thét đau đớn làm náo loạn buổi chiều tà. Đàn trâu quay đầu chạy về trại. Chim chóc chuẩn bị ngủ đêm cũng phải cất cánh bay lên. Cầy, cáo không dám ra khỏi hang. Cả bãi cỏ tranh bị hổ tàn phá, các bụi cây lúp xúp cũng bị gãy ngọn. Nhiều vết máu rơi trên đường hổ chạy trốn.


Ông Lê Bá và ông Tạo Hường xem xét từng chi tiết nhỏ. Ông Hường nói:


- Ta đuổi theo, hạ sát cho bằng được!


- Con hổ này mới bị sập bẫy, vẫn còn khỏe. Đến mai hãy truy sát. Thêm một ngày nữa bị đói khát, vết thương nhiễm trùng, cơ thể mất máu, nó sẽ phải xuống suối uống nhiều nước. Máu bị pha loãng, hổ càng mất sức. Ta dễ dàng tiêu diệt.


Bà Lê Bá nhắc lại:


- Ông có nhớ con hổ ba chân ở Bảo Hà không? Bị bẫy, nó tự cắn gẫy chân, chạy thoát. Từ đấy, nó thù ghét loài người, giết chóc điên cuồng. Đang đêm nó dám leo lên nhà sàn tha cô dâu mới cưới vào rừng ăn thịt. Người ta đánh thuốc độc, nó không chịu ăn mồi; đặt bẫy, nó biết tránh né. Sau phải huy động cả bản bủa vây mới lùa được nó vào lưới. Người ta đồn đại, nếu ăn thịt được một trăm người thì hổ sẽ thành tinh.


Ông Bá cười:


- Thành tinh thành ma thì không, nhưng nó nhiều kinh nghiệm nên tinh quái thì có. Ngày mai, ông Hường cho thêm người nhà đi hỗ trợ và nhớ mang theo hai con chó săn để đánh hơi.


- IV -


Thấy ông là Lê Bá và bốn người con mang khí giới, dây thừng, chuẩn bị lên đường, con Mực nhảy cẫng lên vì biết sắp được đi săn.


Bà Bá cản nó lại:


- Mày vừa đẻ, con còn chưa mở mắt, không được đi!


Con Mực tiu nghỉu, cặp đuôi sát vào mông, bỏ vào ổ cho con bú.


Cả nhà ông bà Lê Bá vừa gặp 10 người gia đình ông Tạo Hường ở chỗ hổ bị sập bẫy thì đã thấy con Mực chờ sẵn. Nó lấm lét nhìn chờ bà Bá quở mắng đuổi về. Mực theo sau mà không cho mọi người nhìn thấy. Nó và hai con chó săn to lớn nhà ông Hường chờ lệnh.


Cuộc truy đuổi bắt đầu.


Ba con chó đánh hơi đường chạy của con hổ. Đi được khoảng hai cây số cắt rừng, bọn chúng lùi lại, lông gáy dựng lên và len giữa đoàn người. Mùi hôi của hổ thoang thoảng bay trong không khí.


Ông Lê Bá hô:


- Chuẩn bị!


Ông đứng giữa khoảng rừng trống, hai tay cầm hai ngọn lao bằng gỗ dẻ, mũi thép chờ đợi.


Bỗng bụi cây rung động. Mấy mũi tên bắn vào bụi và những tiếng hét khiêu khích. Tiếng gầm vang dội núi rừng, con hổ to lớn lao ra. Chân trái nó còn bị cái bẫy 8 cân kẹp chặt. Khoảng cách thu hẹp dần, hổ nhảy lên cao chụp vào người dám đứng ra đương đầu với nó.


Chờ đến khi còn độ 5 mét, ông Lê Bá đặt ngọn lao bên tay trái thẳng với mặt đất rồi lăn mình qua bên phải. Con hổ biết bị lỡ đà nhưng đang ở trên cao, nó không kịp chuyển hướng. Cả cái thân hình gần 200 cân nhận đúng mũi lao vào ngực và mấy chiếc tên độc tẩm nhựa trúc đào pha nhựa củ nâu trắng. Nó lấy chân phải đập mạnh vào thân lao. Rắc… Lao gãy, để lại mũi lao thép trong ngực hổ. Nó gầm lên, phóng thẳng vào ông Bá. Nhưng hổ lại bị một ngọn lao nữa vào cổ. Nó gục xuống.


Ba con chó xông vào địch thủ. Con Mực cắn vào bộ phận sinh dục hổ rồi móc ruột theo miếng võ di truyền của tổ tiên nó, loài sói. Hai con chó săn táp đứt động mạch cảnh trên cổ hổ. Trước khi chết, hổ dùng toàn lực còn lại chộp lên lưng một con chó. Năm cái vuốt sắc như dao cắm sâu vào lưng con vật đáng thương.


Mọi người thở phào nhẹ nhõm. Bà Lê Bá phát hiện sữa chảy ra từ vú hổ. Bà nói:


- Con hổ này đang nuôi con.


Ông Hường nhẩm tính:


- Từ lúc con hổ đực bị trâu giết chết đến nay là hai tháng. Vậy con này và con trước là một cặp. Loài hổ mang thai trên ba tháng.


Ông Lê Bá nói:


- Ông mang hổ về xẻ thịt, nấu cao. Chúng tôi đi tìm đàn hổ con để diệt tận gốc.


- IV -


Con Mực đánh hơi tìm thấy hang hổ ở một hẻm núi. Lối vào nhỏ hẹp, chỉ đủ lọt mình hổ. Trong hang có tiếng gầm gừ của hổ con. Bà Bá bảo con Mực:


- Mang hổ con ra đây!


Mực tha ra hai hổ mới sinh chưa mở mắt, một con đã chết, con còn sống lả đi vì hơn một ngày chưa được bú. Mực cũng có con. Tình mẫu tử của loài vật cũng mãnh liệt như người. Trước những sinh linh nhỏ bé không đủ sức kháng cự, chúng cũng quên đi thù hận. Ngửi thấy mùi sữa, con vật bé nhỏ rên rỉ xin ăn. Mực nằm xuống cho nó bú. No nê, hổ con quay ra ngủ. Bà Lê Bá bọc nó trong vạt áo, mang về nhà.


Mực đẻ được hai con, cũng chỉ có một còn sống. Con vật bé tí giống mẹ, bộ lông đen tuyền, bốn bàn chân trắng. Sau khi ông Lê Bá lấy rượu phun lên mình ba con vật, chúng ôm lấy nhau ngủ.


Bà Bá nói:


- Con chó có tướng “tứ túc mai hoa”. Tôi thích đặt nôm na tên cho nó là Chân Trắng và hổ là Vàng. Được không ông?


- Chân Trắng, Chân Trắng, Vàng, Vàng… được lắm! Nếu gọi tên nó là Thống sứ hay Toàn quyền, tôi sợ phạm húy các quan. Còn gọi Chân Trắng hay Vàng, chắc không có ông nào kiện chúng ta.


Ngẫu nhiên hai con vật cùng mở mắt một ngày và rất thương yêu nhau vì cùng bú chung một bầu sữa mẹ. Hổ và chó liếm lông nhau và đùa giỡn suốt ngày.


Được ba tháng tuổi thì hai con vật khác biệt rõ rệt. Chân Trắng ăn cơm và thịt cá nấu chín ngon lành, Vàng thì chỉ thích thịt và không chịu ăn cơm. Bà Lê Bá muốn nó bớt thú tính nên không cho ăn thịt sống. Tất cả xương lớn, xương nhỏ bọn chó chê, hổ đều ăn hết. Xương ống, xương thủ lợn to đến đâu, nó cũng cắn rôm rốp, nuốt không còn một mảnh nhỏ.


Hai con vật được sáu tháng tuổi thì cơ thể chúng thay đổi hẳn. Con Vàng nặng khoảng 50 cân, tức là to gấp ba lần con Mực và sáu lần con Chân Trắng. Gia đình ông Lê Bá không thể nào lo được thịt cho con Vàng. Một bàn với ba em đưa chúng đi săn. Hai nói:


- Em chỉ sợ thầy mẹ không vừa lòng. Cho hổ ăn thịt sống sẽ kích thích tính hoang dã của nó. Rồi hổ bắt gà, lợn của người ta thì phiền nhiễu.


Ba bàn thêm:


- Mình quản lý thật chặt. Cần thì nhốt hổ vào cũi như khi nhà có khách. Cứ thử một lần xem sao!


Ở rừng, nhất là vùng đất bán sơn địa hoang vu này có nhiều loài chim thú. Nhưng phải biết tập tính của chúng. Có loài chỉ ăn ban đêm, hừng sáng đã về hang ổ; có loài ăn cả ngày lẫn đêm; có giống chỉ ra khỏi tổ khi mặt trời đã lên cao.


Bốn bàn với ba anh:


- Em biết một khu rừng có rất nhiều dúi. Bắt rất dễ.


Dúi thuộc họ gậm nhấm, sống ở các cánh rừng hòa thảo. Chỗ nào có tre, nứa, vầu, hóp… là có chúng. Dúi nặng nhất là bốn cân, lông xám nâu gần giống với lông chuột, mõm và đuôi ngắn. Dúi có họ hàng gần với thỏ nhiều hơn. Thức ăn của chúng là rễ cây tre nứa.


Bốn anh em và ba con vật vào rừng. Bụi nứa nào có một vài cây ở giữa bị chết khô là bị dúi ăn mất rễ. Họ hun khói, chúng bị ngạt, chạy ra cửa thoát hiểm là mắc luôn vào lưới. Những con đào nhiều cửa chạy trốn đều bị hai con chó cắn chết. Vàng đứng nhìn, khi thấy mẹ con Mực và Chân Trắng bắt được dúi, nó cũng hăng hái tham gia. Không con nào thoát khỏi móng vuốt của nó.


Bắt dúi hơi vất vả. Mỗi bụi tre nứa chỉ có một tổ và cũng chỉ có một con, chúng là loài sống cô độc. Khi đến mùa động dục, con đực và con cái tìm đến nhau bắt cặp.


Bốn vứt mấy con dúi cho chó và hổ ăn. Hai con chó ngửi ngửi rồi đứng lảng ra bên cạnh. Hổ ngạc nhiên, nhìn thái độ của mẹ và anh em cùng trang lứa với nó. Lần đầu tiên ngửi mùi thịt sống, nó tha nạn nhân ra một gốc cây nhai rau ráu. Cả những giọt máu rơi xuống đất, Vàng cũng liếm hết. Bản năng của thú ăn thịt trỗi dậy trong nó.


Hôm sau, chưa tập võ xong, bốn anh em đã thấy ba con vật ngồi chờ ở cửa. Hai nói:


- Hôm nay, anh em ta đi săn thỏ!


Thỏ là loài vật kiếm ăn ngày. Ban đêm, chúng ít ra khỏi hang. Trừ những đêm trăng sáng, chúng tập hợp từng bầy, đùa giỡn dưới ánh trăng. Bầy thỏ sống chung một vùng, mỗi hang là một gia đình. Chúng đào nhiều ngách để dễ chạy trốn các loài chim, thú ăn thịt.


Nhờ tài đánh hơi của ba con vật, cuộc săn mỹ mãn. Vàng được thưởng hai con thỏ. Nó tung hứng cho thỏ chạy rồi đuổi theo bắt lại, ăn không còn để lại một mẩu xương thừa.


Đến một năm tuổi, Vàng vẫn tỏ ra dễ dạy dỗ. Nó không bắt trộm gia súc, gia cầm người nuôi. Tất cả hoạt động của Vàng bắt chước hai con chó. Cái gì Mực không làm là nó không dám vi phạm. Bà Lê Bá rất mừng. Bốn anh em dạy ba con vật một số khẩu lệnh cần thiết: chạy, đuổi, cắn chết, tha về nhà… Xem ra hai con chó tiếp thu nhanh hơn. Nhưng những gì hai con chó làm được thì Vàng cũng đáp ứng yêu cầu.


Khi tròn một tuổi, Vàng được dự những cuộc săn lớn. Nương ngô của ông bà Lê Bá bị khỉ vàng phá. Chúng ăn thì ít mà cắn nát thì nhiều. Chỗ nào đàn khỉ đến là cây cối giập nát, bắp non bị bẻ gẫy và vứt bừa bãi.


Bà Lê Bá dặn dò:


- Các con mang ba con vật ra đuổi đàn khỉ. Nhưng nhớ là đừng tàn sát. Thầy mẹ không ăn thịt khỉ đâu. Khỉ làm lông xong, cơ thể chúng trắng toát giống như đứa trẻ. Trông tội nghiệp lắm!


Khỉ vàng sống theo bầy đàn từ dăm bảy cá thể đến cả trăm con, do một con đực to lớn làm thủ lĩnh. Dưới trướng nó có đến mấy chục “cung tần, mỹ nữ”. Bao giờ con đầu đàn cũng ăn trước cho đến khi no căng bụng thì mới đến lượt các con khác. Quản lý bầy đàn rất cẩn thận, nó ngồi trên cao, vừa bắt rận, vừa quan sát. Mỗi mệnh lệnh của khỉ đầu đàn, các con khác phải phục tùng tuyệt đối. Kẻ nào trái ý nó sẽ bị cào cấu hoặc cắn cho đến chết. Lãnh thổ của khỉ được bảo vệ chặt chẽ, đàn khác xâm phạm là cả bầy xông ra huyết chiến.


Đàn khỉ phá nương của ông bà Lê Bá do một khỉ già đã trụi cả lông làm thủ lĩnh. Nó ngồi vắt vẻo trên ngọn cây gạo quan sát, không ngờ bốn người và ba con vật xuất hiện ở bìa rừng. Khi lão khỉ biết thì đã muộn. Bầy đàn của nó chỉ có một con đường chạy xuống bãi sông. Nơi đó trống trải, hai con chó đã phục kích. Khỉ già càng hoảng hốt khi dưới gốc gạo có một con hổ đang gầm lên dữ dội. Chân tay luống cuống, lão rơi xuống như một quả chín nẫu, bị năm cái vuốt hổ cắm vào lưng. Đoàn người hò hét xua đuổi. Hai con chó cũng bắt được hai khỉ con.


Ba con vật mang chiến lợi phẩm đến trình diện. Một nói:


- Vàng, mày ăn con khỉ già này đi!


Con hổ ngậm gáy lão khỉ như con mèo tha con chuột. Nó ăn cái đầu trước rồi ngấu nghiến cả cơ thể con vật. Từ đấy, đàn khỉ không dám bén mảng đến nương ngô.


Trận săn mồi lớn nhất đối với con Vàng là cuộc chiến đánh đuổi bọn lợn rừng phá nương sắn.


Lợn rừng sống bầy đàn gồm nhiều nhóm họp lại. Mỗi gia đình là một con mẹ và bầy lợn con. Lợn đực sống một ổ riêng. Có nơi, lợn đào hang với nhiều ngách thông nhau. Nơi khác, chúng chỉ bới một cái lòng chảo rồi cắn cây rừng để lên trên. Ban đêm, mẹ con nhà lợn chui xuống ngủ dưới đám lá. Khi lá khô rụng hết, lợn lại lợp một cái nhà mới. Tập tính của chúng là thích chỗ nào có vũng lầy, cả đàn lăn mình xuống bùn để đuổi lũ ký sinh trùng bám dưới đám lông. Bùn khô biến thành một thứ áo giáp hiệu quả trước móng vuốt của những loài thú ăn thịt. Nếu gần rừng thông, lợn cọ mình vào thân cây để nhựa bám khắp cơ thể. Không con bọ chó, bọ chét nào sống nổi với lớp áo sát trùng này.


Bầy lợn phá nương sắn gồm một con đực nặng đến tạ rưỡi, có hai răng nanh thò ra khỏi mồm dài gần một gang tay. Đàn lợn còn có bốn bầy lợn con lúc nào cũng có mẹ đi kèm.


Con lợn đực đụng đầu với Vàng. Nó éc éc cho lợn cái, lợn con chạy trốn rồi xông thẳng vào hổ. Lợn thường gây ra vết thương chí tử cho địch thủ. Ở rừng, người ta thường nói, số người chết vì lợn nhiều hơn vì hổ. Nhận xét đó có lý. Lợn sinh sản nhanh, mỗi năm đẻ hai lứa, mỗi lứa từ bốn đến mười con. Chỉ một năm tuổi, có con đã nặng đến một tạ. Nếu không bị hổ báo sát hại và người săn bắn thì lợn đầy rừng đầy núi.


Một và Bốn đều hét lên:


- Vàng, cẩn thận!


Lợn đực dựng đứng cái đuôi thẳng lên như một lá cờ, phóng vào hổ. Vàng chờ nó cách còn 5 mét mới nhảy qua đầu. Đâm hụt, lợn chạy chừng 10 mét quay ngoắt lại đâm tiếp. Miếng võ của nó lặp đến lần thứ ba thì thất thế. Vàng chồm lên lưng lợn, cắn chặt vào gáy, hai chân trước móc họng. Những cái vuốt giật đứt thực quản, khí quản của con vật. Máu và khí ở phổi theo lỗ thủng trào ra ngoài. Chỉ 5 phút sau là con lợn quỵ xuống và dần dần tắt thở. Đàn lợn cuống cuồng, chỉ có một con đường chạy trốn, nhưng ở đấy chiếc lưới to chờ sẵn chụp xuống. Tám lợn con bị bắt. Bọn lợn mẹ bỏ chạy bán sống bán chết. Chiến lợi phẩm là con lợn đực và tám lợn con còn nhỏ, chưa hết những cái sọc ở lưng.


Bữa tiệc chiến thắng được tổ chức ngay buổi chiều hôm đó. Ông bà Lê Bá và ông bà Tạo Hường ngồi chiếu trên. Bốn anh em và mấy cô học trò của bà Lê Bá ngồi chiếu dưới. Con Vàng được thưởng bộ lòng lợn đầy hai cái rổ. Nó ngốn ngấu xong trước cả mọi người. Hai con chó không thích thịt sống, chỉ ăn thịt chín theo cách mà loài người đã thuần hóa chúng hàng ngàn năm nay.


Tám lợn con bị nhốt trong một cái chuồng. Phá phách ầm ĩ mãi mà không sao thoát được, chúng nằm thở dốc. Lợn con bị bỏ đói, đến chiều mới được uống nước. Sáng hôm sau được ăn lần đầu, chúng tranh nhau vục vào máng.


Một tháng trôi qua, tám con lợn đã quen sống trong chuồng, các cái sọc trên lưng mất dần và tính hung dữ cũng giảm.


- V -


Mùa đông năm đó rất lạnh. Gió bấc ào ào thổi qua những cánh rừng già, lá vàng rơi rụng phủ kín mặt đất. Mọi vật như ngừng sống. Công, gà, thỏ, nhím… đều không rời khỏi tổ. Những cuộc săn chim, thú của mọi người đều phải bỏ. Cả nhà ông Lê Bá lao đao vì không kiếm đủ thức ăn cho con Vàng. Từ ngày được ăn thịt thú săn, nó không chịu ăn những thứ nấu chín nữa. Bản năng trỗi dậy trong nó. Đàn lợn rừng tám con đã lớn, nhưng phải làm thịt dần cho Vàng ăn đã hết. Mỗi ngày nó cần phải được cung cấp 5 cân xương thịt sống. Hôm nào đói, Vàng nằm một chỗ ủ rũ, không thiết vật lộn với hai con chó. Con mèo mướp già hay gây gổ với chó và hổ có nhe nanh dọa thì nó cũng chẳng buồn đuổi.


Ông Lê Bá nói với vợ:


- Không đủ thức ăn, con Vàng gầy quá. Tội nghiệp! Thôi bà nghe tôi, thả nó về rừng đi. Bây giờ nó biết săn mồi, không sợ chết đói đâu.


Bà Lê Bá buồn rầu:


- Bố mẹ nó bị người giết chết. Nó côi cút. Nếu bỏ vào rừng, liệu nó có sống được không? Tôi cũng biết nhà ta không thể nuôi được nữa. Cuối mùa đông thì đàn lợn nhà chắc cũng hết. Sang năm, biết lấy gì sính lễ cho thằng Một cưới vợ?


- Bà cứ để tôi lo!


Bà Bá sụt sịt:


- Tùy ông!


Ông Bá cho Vàng đi theo đến miếu sơn thần. Hai con chó bị ông đuổi về. Miếu nhỏ, bên trong chỉ có một cái lư đá. Ông Bá thắp cả một bó hương, giơ cao lên trước mặt khấn:


- Hỡi thần núi! Cái gì của rừng núi, ta trả lại cho thần. Thần hãy chăm sóc, bảo vệ cho con Vàng thay ta. Nó mồ côi, rất đáng thương.


Ông hô to cho con Vàng nghe tiếng:


- Đuổi theo!


Khẩu lệnh quen thuộc. Hổ chạy thẳng vào rặng núi phía xa.


Ban đêm, con Vàng về nhà. Nó cào cửa nhưng không làm thế nào vào được. Tường trình bao bọc, chỉ có một cửa duy nhất nhưng bị đóng chặt. Hai con chó sủa ầm ĩ. Gần sáng, hổ bỏ vào rừng. Ba ngày đầu, đêm nào nó cũng về. Bà Bá nằm thở dài sườn sượt.


Vàng bỏ đi một tuần sau mới trở lại. Nó để một con hoẵng nhỏ ở cửa. Bà Bá nói:


- Kể cả thú dữ, nếu nuôi từ bé, nó cũng biết yêu thương, trả ơn mình. Nhìn mấy ông quan Nam triều và mấy thằng Tây mà ngán. Loại thú hai chân này ác hơn cả hổ báo.


Lâu không được về nhà với Mực và Chân Trắng, con Vàng liều lĩnh về ban ngày. Đối với loài hổ, chúng đi ăn đêm, xuất hiện ban ngày rất nguy hiểm, dễ bị người ta bắn chết. Chắc nó cũng hiểu điều đó nên cả tháng mới về một lần và lần gần nhất, nó gặp cả gia đình và hai người Tàu đến xin học võ.


- VI -


Ông Tạo Hường cho biết thêm, một người đi rừng kiếm măng, nấm tò mò lên đền Sĩ Nhiếp bị mất tích. Ông Lê Bá quyết tìm ra sự thực.


Đền Sĩ Nhiếp ở sườn núi, cao khoảng 50 mét so với mặt đất. Đứng ở sân có thể quan sát những người lên viếng đền. Đường lên có bậc làm bằng đá, một vài chỗ vướng cây cối khuất tầm nhìn. Ông Lê Bá và Một đóng vai người đi săn, có con Mực đi cùng. Tay Một xách vài con gà rừng. Cả hai thầy trò vai vác nỏ và cuộn dây thừng, tay cầm lao, bên sườn có bình nước và thức ăn khô, đá lửa. Họ ung dung lên đền, vừa đi vừa nói chuyện săn thú râm ran. Không có một người nào. Cửa đền khép hờ. Hai ông hộ pháp lâu ngày không có ai lau chùi, mặt mũi bị nước mưa và bụi làm nhem nhuốc.


Sợ bị phục kích, ông Lê Bá đánh tiếng nhiều lần rồi mới bước vào. Đền rất rộng, chính giữa có tượng Sĩ Nhiếp to như người thật ngồi trên một chiếc ngai. Vào đến hậu cung, hai thầy trò phát hiện một lỗ thủng mới được đục ra phía sau, đủ người chui lọt. Đứng ở ngoài, chỉ thấy tường hậu ốp vào sườn núi. Không ngờ còn một phòng rộng xây ngầm vào bên trong.


Căn phòng sáng rực bởi hai ngọn đuốc lớn. Ở giữa có một gốc cây ngọc am đã hóa thạch thành hổ phách, trong có một xác người, chắc chắn là Sĩ Nhiếp. Ngọc am là một loài thông hiếm, mọc ở trên núi cao, nhiệt độ thấp. Cây bị đốn hạ, gốc chứa nhiều nhựa, theo năm tháng sẽ trở thành hổ phách. Ngọc am sát trùng, làm quan tài cho những xác ướp. Gỗ nằm dưới đất càng quý, chỉ cần khoét rỗng, cho xác người vào rồi hàn chỗ hở bằng chính nhựa thông. Thi hài không bao giờ bị hủy hoại, kể cả trang phục và đồ tùy táng. Mặt Sĩ Nhiếp vẫn còn nguyên vẹn, chỉ bị khô quắt lại. Hắn mặc hoàng bào. Màu vàng là dành cho trang phục của vua chúa. Rõ ràng hắn muốn cát cứ Giao Châu làm vương quốc riêng theo kiểu Triệu Đà.


Trên bụng Sĩ Nhiếp đặt một thanh kiếm bằng vàng. Chung quanh xác hắn đầy ngọc trai, hồng ngọc, mã não… Nhưng đáng chú ý nhất là căn phòng còn có hai vật rất quý. Đó là một chiếc trống đồng, trên mặt có nhiều vòng tròn đồng tâm, chạm trổ những người hóa trang thành chim và các đường hoa văn cổ. Bốn góc trống có tượng bốn đôi nam nữ đang giao hợp, biểu tượng của nền văn hóa phồn thực. Vật thứ hai cũng bằng đồng, cao đến 6 mét, hai người ôm không xuể. Lại gần, ông Bá đọc sáu chữ cổ “Đồng trụ triết, Giao Chỉ diệt”. Ông nói với Một:


- Sĩ Nhiếp mang cột đồng Mã Viện về mộ phần của hắn, dã tâm đã rõ. Hắn không muốn người Giao Chỉ bị mai một vì lời nguyền của tên xâm lược Phục ba tướng quân Mã Viện. Mộng làm vua một cõi của hắn không thể chối cãi được.


Ông cười to:


- Đời trước, đời này và đời sau có tên thái thú nào tốt đâu. Dạy dân làm ruộng, nuôi tằm chỉ để phục vụ cho bản thân hắn mà thôi.


Gốc cây ngọc am và cũng là quan tài của Sĩ Nhiếp đã bị đẩy ra góc phòng. Giữa sàn lộ ra lỗ hổng mới bị đục thủng, có thang dây thả xuống lòng núi. Một cầm ngọn đuốc ném xuống, ước chừng đáy hang sâu độ 6 mét.


Anh hỏi:


- Có xuống không thầy? Con thấy rất nguy hiểm. Có thể là một cái bẫy.


- Đã đến đây thì còn phải tính toán gì nữa. Không vào hang hùm, đâu bắt được hùm con. Hơn nữa, làm hại thầy trò mình đâu có dễ. Ta xuống đi!


Một ôm con Mực leo xuống trước. Ông Bá đặt tên vào nỏ và đi sau bảo vệ. Lòng hang rộng mênh mông, trên cao phía xa có một lỗ hổng lọt ánh sáng vào hang. Những cột, nhũ đá trăm nghìn hình dáng kỳ ảo hiện ra. Hai thầy trò bỗng giật mình, hàng trăm bộ xương rải rác trong hang đá, người ngồi, người nằm ngửa, người nằm sấp… Nhiều chiếc đã rã thành bụi.


Ông Bá nói:


- Trong hang chắc chắn có bảo tàng. Những người này là công nhân xây dựng. Khi làm xong, Sĩ Nhiếp lấp cửa hang, chôn sống họ.


Bỗng có tiếng cười vang phía trên, thang dây bị kéo lên, rồi cửa hang nhỏ dần, chỉ còn một nửa. Bọn chúng chuyển quan tài Sĩ Nhiếp về chỗ cũ để chôn sống những người phía dưới. Ông Bá bật lẫy nỏ. Mũi tên chui qua khe hẹp bay lên. Một tiếng thét… Bớt đi một tên giặc.


Hai thầy trò đi sâu vào phía trong, đứng khuất sau các cột đá để tránh tên đạn.


Trông những cột nhũ đá bí hiểm, Một hỏi:


- Thưa thầy, đây có phải bát quái cửu cung của Sĩ Nhiếp không?


- Có lẽ không đúng. Con người không thể xây những cột đá vĩ đại kia được. Thiên nhiên mất nhiều triệu năm mới tạo nên chúng. Sĩ Nhiếp lợi dụng địa hình tạo ra một mê cung, đỡ tốn công sức. Bát quái phải có tám cửa. Thầy đã quan sát kỹ rồi, không có cái cửa nào cả. Hơn nữa, vào trong bát quái trận đồ chỉ có cửa Tử mới chết; còn vào các cửa Hưu, cửa Cảnh, cửa Sinh đều có lối ra.


- Bị hãm ở đây, liệu thầy trò ta sống được bao lâu?


- Không bao giờ chết. Đủ điều kiện để sống lâu dài rồi ta tìm đường ra.


- Thầy đã dạy con rằng, ở hoàn cảnh nào cũng sống được nếu đủ bốn yếu tố là không khí, lửa, nước và lương thực. Hang rộng thế này, trên đỉnh núi lại có thông hơi thì không ngại gì thiếu dưỡng khí. Trong tay ta có đá lửa, có đuốc. Đỉnh núi hay rơi những cành cây khô, chắc không bao giờ thiếu chất đốt. Con còn nghe những tiếng nước tí tách chảy xuống tạo thành nhũ đá thì không thiếu gì những vũng nước có thể uống được. Hơn nữa, con nhớ sau núi còn có cái thác và dòng suối, trong hang thế nào cũng có suối ngầm. Nhưng lương thực lấy đâu ra hả thầy?


Chỉ tay vào những hốc đá, ông Lê Bá nói:


- Con có thấy hàng vạn con dơi bám ở kia không? Chỉ cần ném đá lên là có thức ăn rồi.


- Ồ, con nghĩ không ra.


Chợt một trận gió mạnh nổi lên. Hai thầy trò bị hai sợi dây quấn quanh người. Con Mực sủa ầm ĩ.


Cả hai thầy trò cùng kêu:


- Trăn! Trăn!


Ông Lê Bá bị trăn quấn cả người, từ đầu gối lên đến tận cổ, chỉ có một tay phải thoát ra ngoài. Con vật khổng lồ ngày càng siết chặt. Ông dùng hai ngón tay chọc vào mắt nó theo thế võ “song chỉ”. Chắc bị mù một mắt, trăn càng quấn chặt hơn. Nhìn thấy cột đá có nhiều chỗ sắc cạnh, ông Bá lao người vào với tất cả sức lực. Có lẽ, những mũi đá nhọn đâm vào thân làm con vật bị đau, nó nới rộng ra. Ông Bá rút được cả tay trái lên. Hai bàn tay nắm chặt hai hàm con trăn xé mạnh. Khục… hàm dưới bị gẫy, nó vùng chạy. Ông Bá rút được con dao rừng sắc như nước, đâm nhiều nhát vào bất cứ chỗ nào trên mình con trăn. Nó quằn quại chống cự. Nhưng đến nhát cuối cùng trúng vào đầu, nó không còn giãy giụa được nữa.


Thoát được ra ngoài, ông Lê Bá cố cứu học trò. Con trăn thứ hai quấn Một quá chặt, chắc chỉ ba phút nữa là anh ngất. Con Mực cắn vào thân trăn, nhưng con vật vẫn tiếp tục siết. Một tay ông Bá nhặt ngọn đuốc dưới đất vẫn còn đang cháy, tay kia nắm đuôi trăn dí vào ngọn lửa. Nó vùng ra, bỏ trốn. Một thở hổn hển:


- May quá, thầy kịp cứu con!


Chỗ yếu nhất trên cơ thể con trăn là cái đuôi. Nó bỏ chạy ngay khi bị cắn hay đốt lửa. Nếu lấy dao chặt đứt đuôi, nó vẫn tiếp tục ép xác con mồi. Đến khi máu chảy hết thì nó chết, nhưng con mồi cũng hết sống.


Hai thầy trò chặt con trăn ra nhiều khúc, sấy khô bằng tất cả vật gì có thể cháy được.


Một cười:


- Con vật này giúp ta lương thực được dăm bảy ngày.


Ông Bá dặn dò:


- Con nhặt lấy tất cả than của đống củi này để đánh dấu các cột đá trên đường chúng ta đi. Nếu bị lạc thì có thể tìm được lối ra. Tuyệt đối không đi vào các khe hẹp, ở đấy có cạm bẫy thì khó lòng xoay sở.


Lỗ thủng trên đỉnh núi khá lớn, soi đường cho thầy trò ông Bá. Chốc chốc lại gặp một bộ xương người, Một hỏi:


- Trăn ăn thịt thì con mồi bị tiêu hóa cả xương. Tại sao đây lại còn nguyên vẹn?


Ông Bá dẫn giải:


- Những người này chết từ thời Sĩ Nhiếp. Còn trăn mới vào ăn thịt dơi gần đây thôi. Chỗ nào có thịt sống là trăn, rắn lọt vào kiếm mồi. Chúng không ăn xương của những con vật đã bị tiêu hết thịt.


Hai người đi rất chậm, cả ngày mò mẫm chỉ được vài trăm mét. Rất may là có ánh sáng từ lỗ thủng trên đỉnh núi. Không có cạm bẫy, thú dữ, độc trùng... Khi hết ánh sáng, hai thầy trò tìm được một cái hang rộng nghỉ đêm. Ngoài cửa hang, họ đốt một đống lửa. Con Mực nằm ngoài cùng canh phòng. Có lúc nó cũng ngủ, nhưng đôi tai loài chó vẫn làm việc, một tiếng động nhỏ cũng không thoát khỏi thính giác của nó.


Ngày thứ hai, thầy trò ông Lê Bá bị quay lại chỗ cũ đến hai lần; Mặc dầu ông lấy phương hướng bằng cách nhìn những lỗ thủng trên đỉnh núi. Xế chiều, họ gặp một bức tường đá cao 3 mét, dài đến 6 mét. Người ta đã cố ý xây giả cột đá nhiên nhiên, nhưng những hòn đá xếp lên nhau vẫn lộ ra chất kết dính là vữa tam hợp gồm cát, vôi và mật mía. Họ tiến vào quan sát. Bỗng từ dưới đất bật lên hai áo quan bằng gỗ ngọc am, trong có xác hai người con gái. Họ vừa nhảy lùi lại thì các áo quan hạ xuống như cũ.


Ông Lê Bá kết luận:


-             Chúng làm một cái đòn bẩy để quan tài đứng dậy hớp hồn những người yếu bóng vía. Chắc chắn đây là bảo tàng của Sĩ Nhiếp.


Một nói:


-             Thưa thầy, chúng ta có cần phá hủy các cơ quan, rồi vào trong xem tên thái thú này chứa chấp những báu vật gì của nước ta?


-             Chưa phải lúc! Bây giờ cần phải thoát thân. Ở nhà mẹ và các em con đang lo cuống lên đấy. Có lẽ ông Tạo Hường cũng đang tập hợp gia đinh, dân làng đến tiếp ứng chúng ta. À! Con có nghe tiếng suối chảy róc rách không? Ta sẽ thoát ra bằng chỗ đó.


Hai thầy trò tiếp tục đánh dấu các cột đá trong mê cung để tìm đường ra.


- VII -


Bà Lê Bá lo lắng thực sự. Hơn hai ngày rồi mà ông Lê Bá và Một chưa về. Nếu họ đi săn thú thì bà đâu có sợ. Võ công đầy mình, kiến thức thông kim bác cổ và tính tháo vát có thừa của ông Lê Bá thì con thú nào có thể làm hại thầy trò ông. Nhưng đây là săn những con thú hai chân xảo quyệt, không biết chuyện gì sẽ xảy ra. Bà Bá báo cho ông Tạo Hường biết bà lên đền Sĩ Nhiếp tìm chồng con và cần thì phải đánh phá bọn giặc cướp. Bà nhờ ông Tạo Hường huy động người nhà lên giúp sức.


Đường lên đền, bọn giặc đã rào lại, các chỗ ngoặt đều có người canh gác. Hai bên cầm cự nhau nửa ngày. Giặc phát hiện bên bà Lê Bá chỉ có bốn người và một con chó, chúng quyết định phản công, hò hét inh ỏi. Bà Bá tạm thời rút xuống chân núi.


Bà vỗ vào đầu con Chân Trắng, bảo:


- Mày đi mời ông Tạo Hường đem người đến tiếp ứng!


Hai phàn nàn:


- Con này ngu quá, không thông minh bằng mẹ nó!


Nhưng Hai lầm. Một giờ sau, con Chân Trắng đem quân tiếp viện đến. Tên viện binh này to lớn khác thường, gầm lên những tiếng rung chuyển rừng núi. Đó là con Vàng. Chân Trắng xông lên trước, Vàng theo sau. Cái rào cản đường bằng cây chẳng là gì với con hổ. Nó bay người qua và mỗi tiếng gầm là một tên giặc bị móc cổ. Tất cả giáo mác, cung nỏ chỉ là trò đùa với hổ. Đẹp nhất là Vàng cho một tên bay xuống sườn núi. Nó ngậm cổ rồi lắc đầu cho đối thủ bay lượn trong không khí trước khi đập vào vách đá.


Những tên còn lại đóng cửa đền cố thủ. Ngôi đền mới được nhà Nguyễn cho tu sửa thời Tự Đức, cửa gỗ lim dầy, chỉ có thuốc nổ mới phá được.


Ông Tạo Hường và gia nhân đến cứu viện. Bà Bá kể chuyện hổ đã đến cứu mẹ con bà. Bà gọi to thì Vàng đã biến đâu mất.


Ông Tạo Hường nói:


- Bọn chúng ở trong đền hết lương thực, sẽ phải bò ra để ta làm thịt. Tôi sẽ rải chông chà quanh đền, không tên nào có thể thoát thân. Nhưng tôi sợ chúng đã bắt được ông Lê Bá để làm con tin, mặc cả với ta.


- Khả năng ấy có thể lắm. Nhưng tôi nghĩ, ban đêm chúng sẽ qua cửa ngách của đền, leo ngược lên núi tìm đường chạy trốn.


Ba và Bốn đều nói:


- Thưa ông Tạo! Thưa mẹ! Con đã đến đây săn bắn nhiều lần. Chúng con biết, leo lên đỉnh núi rất khó. Bên kia là độc đạo dẫn xuống vực. Ở đấy có thác nước, không dễ gì qua được.


Ông Tạo Hường nói:


- Tôi sẽ cho một số người làm nghi binh, ở đây hò hét suốt ngày. Các ngả đường đều đặt chông sắt, bẫy cọp và nỏ tự động. Còn ta đi vòng qua chân núi, chờ chúng ở thác nước.


- Kế sách đó khá chu toàn. Nhưng tôi lo cho nhà tôi và con tôi quá!


- VIII -


Cơn khát làm thầy trò ông Lê Bá khá mệt. Nước nhỏ xuống từ các cột đá rất ít, chỉ đủ để duy trì lượng nước tối thiểu cho cơ thể. Riêng con Mực thì vẫn bình thường. Mấy ngày, hai thầy trò phải ngủ trong hang đá, luôn luôn canh chừng trăn rắn. Đến hôm thứ tư thì ông Lê Bá tìm thấy một ngọn suối chảy qua bãi cát dài hơn 20 mét, rồi chui xuống hang ngầm mất hút. Một định uống, ông Lê Bá ngăn lại:


- Hãy từ từ! Nhỡ suối chảy qua khu rừng nào có lá han thì ngứa đến móc ruột ra mà chết, hoặc nơi nào có lá ngón thì ngộ độc không thuốc nào chữa được.


Sau nửa giờ uống nước, con Mực vẫn vẫy đuôi vui vẻ, hai thầy trò mới giải khát.


Ở đầu dòng suối chảy vào hang có ánh sáng. Ông Lê Bá nói:


- Đây là nơi chúng ta thoát khỏi cái động hắc ám này. Nhưng nước lên đến sát trần hang, bơi lặn ra ngoài không phải dễ!


- Thầy thấy dòng nước in hình ngược phía trên không? Có lẽ chỉ lặn mươi mét là có thể trồi lên bơi thoải mái. Thầy để con đi trước!


Hai thầy trò lặn chưa được 10 mét thì trần hang đã cách mặt nước chừng một sải tay. Ông Bá trồi lên, con Mực đã ở ngay đàng sau. Bơi thêm vài phút là đến cửa hang. Trên đầu là thác nước dội xuống một dòng suối. Vài cái nhoài người, hai thầy trò đã đến bên kia bờ.


Từ đỉnh thác, hàng chục người ròng dây tụt xuống. Đó chính là bọn Tàu đang trốn ra khỏi đền Sĩ Nhiếp. Chúng chạy theo bờ suối, tìm cách lẩn vào rừng.


Từ đàng xa, một đoàn người khác do bà Lê Bá và ông Tạo Hường dẫn đầu, đang rải quân bao vây. Họ biết rằng, chỉ chặn đường là chúng sẽ chết vì không có đường thoát hiểm. Đói khát và tên độc sẽ giết đến tên cuối cùng.


Ông Bá và Một mệt mỏi mấy ngày nên chưa thể tham chiến.


Ở bờ bên kia, cầm cự độ một giờ thì bà Lê Bá vỗ đầu con chân Trắng:


- Mày đi tìm Vàng đi!


Con chó nằm ép bụng xuống đất, bò từ từ ra bãi cỏ tranh, rồi vừa chạy vừa tru lên những hồi rền rĩ như chó sói gọi đàn. Tiếng của nó đập vào vách đá, vang xa đến mấy cây số. Vàng xuất hiện. Hai con vật xông vào bọn Tàu đang run bần bật. Mỗi cái tát của con Vàng đều khiến một tên mất mạng. Cả bọn chạy vào hang nước mà thầy trò ông Lê Bá vừa thoát ra. Riêng một tên nhảy xuống suối, lặn sang bờ bên kia. Khi gã vừa leo lên thì thấy hai người đứng sừng sững ngay trước mặt và một con chó đen nhảy lên chực cắn cổ. Gã nhận ngay ra ông Lê Bá và Một, những người gã đã gặp hôm đến xin học võ, cũng là hôm chạm trán con Vàng lần đầu tiên. Gã chưa kịp định thần đã bị ông Lê Bá dùng cạnh bàn tay chém lên hai đầu vai. Tay gã bị liệt, rũ xuống như những cái tay áo chưa có người mặc.


Bà Lê Bá reo lên:


- Trời ơi! Thầy đấy à? Một đấy à? Tôi cứ tưởng…


Ông Tạo Hường cười lớn:


- Bà lo lắng quá rồi. Ai mà có thể thắng được ông Lê Bá giỏi mưu mẹo và võ nghệ đầy mình.


Ông Hường quay sang nhìn con dao quắm và đôi giày vải, đế cao su của tên Tàu. Ông nói:


- Đúng tên này giết người nhà của tôi.


Ông thò vào ngực gã, rút ra một tấm bản đồ da dê, trong có vẽ mọi chi tiết về bảo tàng Sĩ Nhiếp. Tên Tàu hoảng hốt lao mình xuống nước. Hai tay bị liệt, không bơi được, gã chìm ngay xuống đáy suối sâu ngập con sào.


Bị chặn ở cửa hang ngập nước, bọn giặc không tên nào thoát ra được.


Ông Lê Bá nói:


- Tôi sợ sau này chúng phát hiện trong hang có xương Tàu, lại lu loa lên: “Nơi nào có hài cốt người Hoa thì đấy vốn là đất của người Trung Hoa”!


Ông Tạo Hường hỏi:


- Ông vừa kể về bảo tàng của Thái thú Sĩ Nhiếp. Ta sẽ xử lý như thế nào?


- Vợ chồng tôi không có nhu cầu về đống vàng bạc đó. Còn ông cũng quá đầy đủ của cải rồi. Tôi đề nghị cho người lên Yên Thế mời ông Hoàng Hoa Thám về thương nghị để ông cho người đào bảo tàng lên, làm quân lương đánh thực dân Pháp.


Cả ông Tạo Hường và Bà Lê Bá đều cười to:


- Ý kiến đó rất hay! Ý kiến đó rất hay!- Bốn người con của ông bà và gia nhân của ông Tạo Hường đều vỗ tay tán thưởng.


 Từ đó, con Vàng mất tích. Không ai biết nó đi đâu.


Nguồn: Bí mật đền Sĩ Nhiếp. Tập truyện Dị sử của Ngọc Toàn. NXB Văn học, 2012. Lời tựa của nhà văn Triệu Xuân.


www.trieuxuan.info


 


bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Những kẻ câu đêm - Trần Nhã Thụy 16.01.2020
Chiếc đầu lâu - Ngọc Toàn 14.01.2020
Ngọc đá nước Việt - Ngọc Toàn 14.01.2020
Thoảng hương gió đồng - Trần Kỳ Trung 10.01.2020
Một câu chuyện buồn - Trần Kỳ Trung 10.01.2020
Cây mẫu đơn hoa trắng - Nguyễn Hải Yến (Hải Dương) 30.12.2019
Phía trước nhà có giàn mơ dại - Nguyễn Hải Yến (Hải Dương) 30.12.2019
Gió lên thả ngọn đèn trời - Nguyễn Hải Yến (Hải Dương) 30.12.2019
Giếng mắt rồng - Nguyễn Hải Yến (Hải Dương) 30.12.2019
Hoa đại đỏ - Nguyễn Hải Yến (Hải Dương) 30.12.2019
xem thêm »