tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 30970958
Truyện ngắn
31.05.2017
Ngọc Toàn
Người trong gương



I- Đầu năm 1976, tôi được Ban Biên tập điều động vào phân tòa soạn tại Sài Gòn. Ra đón tôi tại sân bay Tân Sơn Nhất là Nguyễn Đình Hồng. Chưa kịp hàn huyên thì Hồng đã khoe:


- Thành phố phân phối cho phân tòa soạn năm căn hộ. Bọn tôi biết ông vào nên giữ cho ông một chiếc.


Tôi hỏi:


- Chất lượng nhà còn khá không?


- Loại cấp bốn. Diện tích xây dựng là 40m2, có gác gỗ. Nhưng khuôn viên rộng tới 150m2, ông tha hồ mà trồng cây, nuôi phong lan. Tạm ở được, nhưng tôi sợ ông không thích.


- Tại sao vậy?


- Chung quanh nhiều mồ mả.


- Việc đó có quan trọng gì đâu! Người chết không biết phản bội.


Hồng cười bí hiểm:


- Chưa chắc!


Ba ngày sau, tôi xuống xem nhà và làm thủ tục với phường. Chưa kịp mở khóa cửa thì sáu đứa trẻ hàng xóm ùa đến. Đứa nhỏ nhất độ lên tám, đứa lớn nhất khoảng mười hai tuổi, đủ cả trai lẫn gái. Chúng ríu rít:


- Chú đến ở nhà này à?


Rồi chúng nó nhìn nhau với cặp mắt khác lạ. Đứa lớn còn le lưỡi dọa đứa nhỏ nhất. Nhà lâu không có người ở, tường vôi loang lổ, cửa xộc xệch mất cả cánh, bụi phủ lên sàn một lớp dầy. Ngoài sân có một cây xoài và một cây mận lá rụng khắp nơi. Trong phòng chỉ còn một cái giường xiêu vẹo, một cái tủ mất nửa chiếc gương. Người chủ cũ thờ đủ thứ tôn giáo. Trên nóc tủ có tượng phật bà Quan Âm, ngoài cửa có chiếc bát quái và cuối sân là một hang đá với Chúa hài đồng và đức bà Maria.


Lạ thật! Ba tôn giáo lớn Phật giáo, Lão giáo, Gia tô giáo gặp nhau ở cái nhà này.


Tôi bảo bọn trẻ:


- Cháu nào kiếm giùm chú cái chổi quét tạm một góc nhà, rồi chú cháu ta ăn kẹo bánh. Chú có bánh Hải Hà và kẹo Hải Châu đây.


Bọn trẻ nhanh thật. Chúng chạy ngay về nhà mang chổi và xẻng hốt rác, thi nhau dọn dẹp. Phòng ngoài tạm ổn. Những đứa trẻ này rất ngoan, vừa ăn kẹo chúng vừa hỏi tôi:


- Chú có súng đấy chứ? Nhà này ghê lắm…


Tôi cười:


- Các cháu ở quanh đây à? Có đi học không?


- Dạ, có. Chú là cán bộ phải hông? Chú làm việc chi?


Tôi trả lời:


- Chú là nhà báo. Cháu nào học hành có gì bí, chạy sang đây, chú sẵn sàng chỉ giúp.


Chúng reo lên:


- Hay quá! Chú là ký giả, chắc chú giỏi văn lắm?


Bọn trẻ ra về, tôi đi xem toàn bộ căn nhà. Hình như nó được xây trên một gò đất cao, bên cạnh là một bãi trũng sâu đến 5m, rải rác xung quanh có nhiều mồ mả. Trước mặt nhà là một cái mộ khá to có mái, chiều dài chừng 6m, bên trên có cây thánh giá. Cạnh đó là một cái mả nhỏ hơn, trên mái có tượng Địa Tạng Vương.


Vừa bước vào toilet rửa tay, tôi giật bắn mình vì giọng nói ồm ồm cất lên. Một người ngoại quốc nói tiếng Việt chưa sõi, các âm sắc đều thiếu dấu:


- Đên nhân nha đây ha?


Trên chiếc gương hiện lên khuôn mặt một người da đen to bằng người thật, hàm răng trắng nhởn, nhìn thoáng qua như hình quảng cáo trên hộp kem đánh răng Hinos.


Hắn nheo mắt nhìn tôi, bộ mặt tinh quái. Tôi lùi lại, đụng vào tường, suýt ngã.


- Anh là ai?


- Tôi la chu cái buông nay.


Đóng cửa toilet đánh sầm một cái, tôi chạy ngay đến tòa soạn và kể lại cho Nguyễn Đình Hồng nghe. Đó là một hành động hấp tấp, sai lầm không thể tha thứ. Hôm sau thì cả cơ quan biết chuyện. Thông tin nào nghe được mà Nguyễn Đình Hồng không kể cho người khác thì ông ta ngứa ngáy không chịu nổi.


Sáng hôm sau, cô Ngọc đánh máy hỏi tôi:


- Nó có đen lắm không anh?


Cô Kim nheo mắt:


- Anh bảo với anh Hồng là người chết không biết phản bội, bây giờ thì tha hồ mà hối hận nhé!


- II -


Tôi bực lắm! Chẳng lẽ lại thua một cái bóng ma. Tôi đi mua một cái búa đinh và vào thẳng toilet. Tên da đen hiện ra giễu cợt:


- Vê rôi đây a? Sau lưng giâu cai gi?


Choang! Tôi nện thẳng một nhát búa vào gương. Thủy tinh tung tóe văng khắp cái phòng bé nhỏ. Nhìn kìa! Trời ơi! Mỗi mảnh gương bé tí lại hiện ra một tên da đen. Bây giờ trong phòng có vài chục hình giống nhau như đúc.


Hắn cười:


- Hôm nay tôi ra cai gương phong ngoai, chăc anh mât ngu ca đêm.


Đến đây, tôi xin viết đủ sáu thanh, năm dấu của tiếng Việt để người đọc đỡ bực mình.


Hắn nói tiếp:


- Anh đi kiếm cái gương khác về đây. Tôi chỉ ở trong cái phòng này, không bao giờ ra ngoài làm phiền anh. Nước sông Missisipi của Mỹ không phạm vào nước sông Sài Gòn của Việt Nam đâu.


Ừ! Hắn nói thế thì nghe được. Tối nay, tôi đóng chặt cửa toilet lại là xong.


Khi tôi thay gương và quét dọn toilet, hắn không hiện ra. Từ hôm đó, tôi đi vệ sinh và tắm rửa tại phân tòa soạn. Ban đêm, cần đi tiểu tiện thì tôi ra ngay gốc xoài ở sân. Nhưng đây chỉ là biện pháp tạm thời, lâu dài thì không ổn. Nước rửa mặt, nước pha trà chẳng lẽ lại đi xin hàng xóm!


Chiều thứ Bảy, Nguyễn Đình Hồng bảo tôi:


- Sáng mai, cả phân tòa soạn đến thăm nhà và cúng tam sên để ông sống vui vẻ.


Tam sên là cúng một con tôm, một quả trứng vịt và một miếng thịt heo, tượng trưng cho một con vật dưới nước, một con vật biết bay và một con vật bốn chân trên cạn. Có lẽ người ta đọc chệch lễ tam sinh thành tam sên. Thời buổi này, làm gì ai có đủ tiền cúng tam sinh với dê trắng, trâu trắng, ngựa trắng.


Mấy cô phóng viên kiếm được mảnh gỗ, đặt lên cái bệ làm bàn thờ, có đủ cả bát hương, lọ hoa, trái cây và cái đĩa đựng tam sên. Họ yêu cầu tôi là người chủ tế. Từ thuở nhỏ, có bao giờ tôi biết khấn khứa gì đâu. Nguyễn Đình Hồng phải thay tôi làm việc ấy.


Buổi trưa có vịt quay, bánh mì, nước xá xị và trái cây. Bọn trẻ hàng xóm thập thò ngoài cổng. Tôi nhờ chúng lấy cho vài xô nước với lý do nhà vệ sinh bị hỏng. Bọn chúng hỏi:


- Chú vào toilet có thấy gì không?


- Có gì lạ đâu! Người trước gỡ hết đồ dùng rồi.


Bọn chúng le lưỡi nhìn nhau, vừa cười vừa chạy.


Cô Ngọc cho tôi một con chó con:


- Chó của em mới sanh, anh nuôi nó trông nhà. Đêm hôm có gì, nó sủa cũng… đỡ.


Cô Kim đi dán khắp nhà mấy cái bùa có vẽ những chữ loằng ngoằng. Chắc chắn đó không phải chữ Hán. Nó là sự trộn lẫn giữa chữ Phạn, chữ Ba Tư, chữ Ả Rập. Có lẽ chẳng ai trên đời có thể đọc được.


Lúc đi rửa đũa chén, các cô rủ nhau một lượt vào toilet, khi ra cười rũ:


- Có gì đâu! Chẳng thấy thằng nào trong gương cả. Thế mà ai cũng sợ.


Bỗng từ trong toilet, một tiếng nói ồm ồm cất lên:


- Vô một lúc mấy người để hù nhau hả?


Ba cô sợ đến rúm người lại:


- Bây giờ thì chúng em tin anh!


- III -


Tôi quyết định đập vỡ cả cái gương toilet và cái gương tủ áo xem hắn hiện lên bằng cách nào. Nhưng vừa giơ búa lên thì tên da đen hiện ra, nét mặt rầu rầu:


- Tao nói thật, tao không làm hại mày. Mày hãy để tao sống yên ổn tại đây.


- Này! Anh không thể mày tao với tôi. Ăn nói phải lịch sự!


Hắn cười khá đểu, giọng giễu cợt:


- Thế thì tôi gọi anh bằng ông, được không? Bên các ông xưng hô với nhau là đồng chí. Thân mật gớm!


Tôi trả đũa:


- Bên chúng tôi tôn trọng nhau, không ai gọi người da màu là hắc tinh tinh, đậu đen hay cà phê…


- Thành thật mà nói, tệ phân biệt màu da là nỗi đau của nước chúng tôi. Người da màu chỉ là công dân loại hai, loại ba so với người da trắng. Qua nói chuyện của các quý ông quý bà ở phòng ngoài lúc nãy, tôi biết quý vị là ký giả. Nếu ông muốn thì tôi xin kể lại đời mình. Biết đâu, ông sẽ viết được một cái gì đăng báo cũng nên.


- Được thôi! Mỗi lần tôi vào phòng vệ sinh, anh đừng làm phiền tôi thì tôi sẽ để anh ở lại đây lâu dài.


- Ok!


Từ hôm đó, hắn không hiện lên nữa. Nếu lúc nào thấy hắn, tôi coi như nhìn thấy hình quảng cáo của hãng kem đánh răng Hinos.


- IV -


Rồi một hôm hắn kể:


- Tôi sinh ra ở Alabama. Bố mẹ tôi đều là người da màu. Tổ tiên tôi là dân châu Phi, bị bán sang Hoa Kỳ làm nô lệ từ ba thế kỷ trước. Mẹ tôi rất tốt bụng. Ông có xem phim “Gone with the wind” chưa? Mẹ tôi giống hệt bà Bessie, người phục vụ cô Scarlett O'Hara đó.


- Có. Đó tác phẩm điện ảnh chuyển thể từ tiểu thuyết của Margaret Mitchell. Ở nước tôi, có người dịch là Cuốn theo chiều gió, người khác dịch là Cầm bằng theo gió đưa đi. Nội dung phản ảnh cuộc chiến tranh Nam – Bắc Mỹ. Còn phim được đóng năm 1939 với hai tài tử nổi tiếng Clark Gable và Vivien Leigh.


Hắn nịnh tôi:


- Ồ, ông giỏi quá! Biết về nước Mỹ hơn cả người Mỹ chúng tôi. Mẹ tôi đau khổ quá nhiều. Bố tôi bỏ mẹ con tôi đi theo một người đàn bà khác khi tôi còn rất nhỏ. Ngày tôi đi lính sang Việt Nam, mẹ tôi khóc hết nước mắt. Bà lúc nào cũng cầu xin Đức chúa trời cho tôi trở về. Nhưng ngày đó không bao giờ đến.


- Sao anh lại đến căn nhà này?


- Vợ tôi thuê ở đây đã từ lâu. Cô ấy gặp tôi và làm vợ có hợp đồng được mấy năm.


- Vợ có hợp đồng là sao?


- Chúng tôi ký kết với nhau. Tôi phải bỏ ra một phần ba số lương của hạ sĩ quan cho cô ấy ăn và đánh bạc. Vợ tôi có thể đánh bài thâu đêm suốt sáng với mấy người đàn bà khác.


- Họ chơi cái gì?


- Hết chơi tứ sắc lại binh sập xám, rồi xóc đĩa, xì phé…Tôi chỉ biết chơi xì phé, còn các thứ khác thì chịu. Ông có để ý mấy cái mả trước mặt nhà này không? Đó là mộ phu nhân tổng trấn Sài Gòn. Bà đó cũng là một con bạc chơi được cả đêm. Còn cái mả nhỏ hơn bên cạnh là của thằng Bò. Nó hay vào hát cho các bà đánh bạc nghe để lấy chút tiền còm hoặc để được yêu miễn phí một bà nào đó có chồng ra mặt trận. Lúc nào ông ra xem kỹ hai cái mả này, có nhiều cái hay lắm.


- Thôi anh kể về chuyện của anh đi. Tôi thấy có nhiều thú vị đấy!


- Tôi đi trận về, bị cảm rồi chết ở nhà này. Đơn vị mang tôi về nhà xác của lính Mỹ ở 83 Yên Đổ. Họ mổ xẻ cơ thể xem chết vì cái gì rồi cho vào poncho mang về Mỹ. Linh hồn tôi không muốn xa vợ nên ở lại đây cho đến nay. Nhưng tôi bị sốc vì một thằng bạn thân da màu của tôi đến thăm cô ta rồi hai đứa đưa nhau lên giường.


Hắn than thở, triết lý như một triết gia:


- Đời là thế! Cái gì của ta khi ta còn nắm trong tay. Năm 1973, thằng bạn tôi theo đơn vị về Mỹ. Đến 1975, vợ tôi cũng theo một người đàn ông da vàng di tản. Thế là hết! Tôi ở đây trơ trọi một mình! Những người trước đến đây đều sợ, bỏ nhà mà đi. Ông nên ra xem hai cái mả rồi tôi kể tiếp vì sao tôi không ra ngoài.


- V -


Hai cái mả trước nhà tôi có nhiều điều đáng xem. Chiếc lớn có mái như một căn nhà, tấm bia to tướng in ảnh một người đàn bà mũi hếch, môi dầy. Riêng cái tên đọc muốn cũng đủ mệt:


Bà Maria Phạm Thị Tuyết Lê Kiều Diễm


Nhũ danh Phạm Thị Tẹt


Tên thường gọi Madame Bạch Hồng


Phu nhân Tổng trấn Đô thành Sài Gòn


Phía dưới ghi quê quán và tiểu sử dài như một cái bi ký ở miếu nào đó.


Cái mả bên cạnh nhỏ hơn so với mả bà Phạm Thị Tẹt. Mộ chí không có tên, chỉ khắc hình con bò cái có bốn cái vú to hơn mức bình thường, nếu vắt chắc được vài chục lít sữa.


Tên da đen than thở:


- Hai con ma đó dữ lắm. Tôi ra khỏi nhà này là chúng cấu xé ngay. Ở đây có tới hai mươi bốn cái mả và cả hai mươi bốn con ma đều chiếm những mảnh đất làm lãnh thổ riêng.


Rồi hắn cho tôi biết, bà Phạm Thị Tẹt có một cái lai lịch rất lạ, xuất thân là me tây. Chồng bà là một ông đại úy quân đội Liên hiệp Pháp. Ông chồng xua quân đi cướp bóc được rất nhiều tiền của ở Bắc Việt. Y cho vợ mở một khách sạn to giữa Hà Nội, đặt tên là Con gà trống vàng. Mỗi lần ông ta đi trận về, bà chủ hotel ra ngay vỉa hè đón, ôm hôn nhau rất say sưa trước mặt các tây đầm khác. Ông chồng có một anh đội, vừa là lái xe, vừa là hộ vệ, lúc nào cũng bám lấy chủ như một con chó được huấn luyện kỹ. Năm 1954, ông Tây về Tây và có ý tặng vợ cả cái khách sạn cùng anh đầy tớ. Anh đội tự nhiên được cả bò lẫn chuồng. Tuy “con bò” lớn hơn đến 7 tuổi, nhưng anh ta vẫn nghĩ mình là kẻ trúng số độc đắc. Rồi cả hai di cư vào Nam.


Các cuộc đảo chính của tướng tá Sài Gòn làm anh đội lên vù vù. Mới có dăm bảy năm mà từ lon đội, anh ta được đeo lon chuẩn tướng và làm tổng trấn Đô thành Sài Gòn. Bà Tẹt bây giờ sang lắm, mở một khách sạn to khác và dành thời gian suốt ngày đánh bạc. Ông tổng trấn mấy ngày mới về thăm vợ một lần. Ông ta còn bận rộn với các em cave, những ca sĩ phòng trà, mấy cô chiêu đãi viên ở sở Mỹ… Ông ta nói với thuộc hạ: “Cái đám gà móng đỏ bu chặt lấy tao làm tao chẳng có thời gian nghĩ đến cái xà lan bẹp ở nhà. Ha ha…”. Bà chủ hotel có niềm vui khác. Hôm nay, bà đi đến các mỹ viện cắt mắt, bơm ngực, bơm mông. Ngày mai, bà ngồi đánh bạc đủ 24 giờ.


Rồi tên da đen lại kể tiếp về cái mả bên cạnh của thằng Bò. Tên nó là gì thì chẳng cần biết vì cả đời nó liên quan đến bò bê. Nó có một lai lịch khá ly kỳ. Mẹ nó là kỹ nữ, được một ông nhà giàu bao. Nó ra đời ở xóm ả đào, chả biết cha là ai. Ông nhà giàu không có con trai nên đón nó về để sau này có người hương khói, mặc dù chẳng biết nó có mang dòng máu của mình không, hay ông ta chỉ là kẻ tráng men còn một anh làng chơi khác khắc cốt.


Khi được đón về nhà, thằng Bò đã hơn 2 tuổi, có cái đầu trọc to tướng, đứng không vững, đi lại lật đật như con rối. Đầu nó đầy mụn nhọt, gai gạo, mà lươn. Trong nhà có bảy đứa trẻ lớn hơn nó. Chúng không thèm chơi với đồ con hoang sinh ra ở xóm ả đào. Thằng Bò trở thành cái bia để bọn trẻ trêu chọc. Mỗi lần nó ngồi dưới cái cửa sổ tròn, trên để bình vôi là bọn trẻ lại đến phá. Chúng xếp hàng một đi qua mặt thằng Bò, cốc vào đầu nó. Đứa lớn nhất cốc xong đọc “đầu trọc”, đứa thứ hai tiếp “lông lốc”, đứa thứ ba nói “bình vôi”. Khi cả bảy đứa đi qua thì đầy đủ câu hát:


Đầu trọc lông lốc bình vôi


Mẹ ngồi mẹ ỉa mẹ bôi lên đầu.


Thằng đầu to hét lên như bị chọc tiết. Người lớn quát hỏi:


- Đứa nào lại trêu nó đấy?


Bọn trẻ tản ra, mỗi đứa một góc nhà. Nửa giờ sau, cuộc chơi của chúng lại bắt đầu.


Thằng Bò lớn lên học hành dốt nát. Trong kỳ thi, cả lớp có 50 học sinh thì 49 đứa đỗ, duy nhất có nó là gặp vỏ chuối.


Ông nhà giàu cho nó làm nghề chăn bò, vắt sữa. Lớn lên, Bò đi bán sữa tươi và sữa chua cho tây đầm. Có lẽ do ăn nhiều bơ sữa nên nó cao lớn, bộ mặt sáng sủa, khác hẳn lúc bé. Xem ra, nó có duyên với nghề này nên đã gặp bà tổng trấn Đô thành. Bà đưa nó về khách sạn cho làm ở phòng chế biến sữa.


Tuy vậy, thằng Bò cũng có tài lẻ, hát khá hay và làm sữa chua rất ngon, tính cách lại trai lơ. Bà Tổng trấn khoái lắm, luôn bắt nó hát cho bà nghe. Từ “đầu to”, nó trở thành anh “sữa bò”. Nhưng cái tên nghe không lọt tai nên người ta gọi nó là Bò.


Được êm ấm nơi ở, chứng khoác lác nổi lên, nó tự nhận là trung úy cảnh sát, giáo sư dạy môn Hóa công nghiệp thực phẩm. Cái nói khoác của nó thế mà tai hại. Cảnh sát Đô thành thắc mắc, không biết nó dạy ở đại học nào, ở đơn vị cảnh sát nào, là người của CIA hay Việt cộng… Thằng Bò bị bắt lên Tổng nha hỏi cung. Nó bị giam bảy ngày tám đêm. Ban ngày bị cảnh sát đấm đá, ban đêm nó bị đại bàng hành hạ, bắt đổ bô…


Bà Tẹt mất người hát cho nghe và làm sữa chua nên bắt ông tổng trấn đi tìm. Thằng Bò được thả ra. Một tuần lễ nó nằm ở Tổng nha với đám người đủ mọi thành phần, bộ quần áo rách tươm, khi thả vào chậu nước, rận rệp nổi lên đen cả mặt chậu như chén chè vừng đen mà người Tàu gọi là chí mà phủ.


Vài tháng sau, ông tổng trấn chán bọn cave nhõng nhẽo, vòi tiền. Ông về thăm bà Tẹt. Ngó vào phòng, ông không thể nào vui được. Thằng Bò cầm đàn guitar đang hát Chiều mưa biên giới anh đi về đâu… Bà tổng trấn mặc bộ quần áo mỏng như cánh chuồn chuồn, tựa lưng vào thằng Bò, say sưa hớp từng câu hát. Ông tím mặt đi giật lùi ra cửa. Chưa đầy một tuần lễ, tai nạn xảy ra với thằng Bò. Nó bị ô tô nhà binh cán chết. Năm sau, bà tổng trấn bị huyết áp cao và cũng qua đời. Cơ thể của bà phản đối thực phẩm và thuốc bổ sâm nhung mà bà uống quá nhiều.


Vô tình hay cố ý, người ta chôn bà Tẹt ở cạnh thằng Bò. Cũng là điều tốt đẹp, bà được chôn cạnh người tình kém 15 tuổi.


Tên da đen lại kể:


- Ông nhà báo biết không, ở trên trần con người ta cư xử với nhau như thế nào thì khi chết họ đối xử với nhau cũng không kém phần quyết liệt. Tôi ra khỏi đây là chúng xúm lại cấu xé tôi ngay, nhất là thằng Bò để móng tay dài và có máu ghen tuông. Nó chỉ sợ tôi đến ve vãn bà tổng trấn.


- VI -


Từ đấy, tôi không còn sợ cái bóng tên da đen Smith trong gương nữa. Nhưng giá nó biến mất thì vẫn tốt hơn. Đôi khi nằm nghe tiếng chó con sủa, tôi bị giật mình. Tôi không thích Smith ra ngoài quấy rối.


Một hôm tôi về, anh ta hiện lên gương và bảo:


- Ông nhà báo ơi, tôi sắp về Mỹ đây.


Tôi ngạc nhiên:


- Anh về bằng cách nào?


- Có một hội từ thiện sang đây làm việc. Họ muốn đưa tất cả các linh hồn hồi hương. Tôi phải theo họ đi thôi. Đây là cơ hội hiếm có. Tôi muốn về nhà gặp mẹ.


- Anh ở đây cũng chẳng làm hại gì tôi. Chúng ta chung sống hòa bình cũng lâu rồi đấy nhỉ. Thôi chúc anh về quê quán vui vẻ! Lâu lâu ta lại để một vài phút nghĩ đến nhau.


- Xin cảm ơn ông. Các ông là những người tốt!


Từ đấy, tôi không bao giờ thấy Smith hiện lên nữa. Tôi nhơ nhớ cái bóng ma mới lạ chứ! Khi anh ta hiện lên, tôi muốn tống cổ đi. Khi anh ta đi rồi, tôi lại như thấy thiếu một cái gì. Lạ nhỉ!


Nhưng thôi, không nên nói cho Nguyễn Đình Hồng biết. Ông ta là người tốt song sống quá nguyên tắc. Nhỡ Hồng lôi tôi ra kiểm điểm vì tội nhớ một kẻ bên kia chiến tuyến thì khốn. Thật đấy!


Nguồn: Bí mật đền Sĩ Nhiếp. Tập truyện Dị sử của Ngọc Toàn. NXB Văn học, 2012. Lời tựa của nhà văn Triệu Xuân.


www.trieuxuan.info


 


bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Những kẻ câu đêm - Trần Nhã Thụy 16.01.2020
Chiếc đầu lâu - Ngọc Toàn 14.01.2020
Ngọc đá nước Việt - Ngọc Toàn 14.01.2020
Thoảng hương gió đồng - Trần Kỳ Trung 10.01.2020
Một câu chuyện buồn - Trần Kỳ Trung 10.01.2020
Cây mẫu đơn hoa trắng - Nguyễn Hải Yến (Hải Dương) 30.12.2019
Phía trước nhà có giàn mơ dại - Nguyễn Hải Yến (Hải Dương) 30.12.2019
Gió lên thả ngọn đèn trời - Nguyễn Hải Yến (Hải Dương) 30.12.2019
Giếng mắt rồng - Nguyễn Hải Yến (Hải Dương) 30.12.2019
Hoa đại đỏ - Nguyễn Hải Yến (Hải Dương) 30.12.2019
xem thêm »