tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 30971111
Truyện ngắn
31.05.2017
Ngọc Toàn
Yết Đảo



I- Ông Suyến, nhà khảo cổ học, ngồi trước mấy cái đầu lâu, xương người, xương động vật và binh khí. Lạ lùng nhất là xương của người phương Bắc. Trên cái đảo này là nơi cư trú của một làng vạn chài Việt Nam thì lẽ ra ở đây chỉ có người Việt. Ông phải tìm cho ra đáp án. Bọn xâm lược đang lục soát các đảo ở biển Đông, rồi dựng hiện trường giả và công bố nơi này là đất của chúng vì có cư dân phương Bắc chiếm cứ từ nhiều thế kỷ trước.


Với hộ tâm kính, kích kiếm gãy thì rõ ràng đây là vũ khí của quân Nguyên Mông. Theo Đại Việt sử ký toàn thư và kể cả Nguyên sử, thời cường thịnh nhất của người Mông Cổ ở thế kỷ 12 – 13, chưa bao giờ họ đến được các đảo của phương Nam. Vậy là sao?


Ông Suyến sinh ra ở cái làng chài này từ đầu thế kỷ trước, lớn lên vào học trong đất liền. Sau khi đi bộ đội, ông học tiếp ngành Sử và rất mê môn Khảo cổ. Ông Suyến quyết tâm tìm hiểu xem tại sao hài cốt và binh khí của quân Nguyên lại có mặt ở cái đảo xa xôi này.


Mấy ngày nay, tàu đánh cá của giặc đi hàng bầy, bắt hải sản trên vùng biển nước ta. Xa hơn một chút, dăm bảy tàu hải giám trang bị đầy vũ khí đi yểm trợ cho bọn ngư tặc.


Điện thoại di động reo vang. Quân đội đã lập được một số trạm tiếp sóng trên các đảo để báo cho ngư dân đề phòng gió bão và cảnh giác với cướp biển.


Tàu giặc sắp vào, phải đi thôi. Làng chài đã chuẩn bị từ trước. Các cụ già, đàn bà, trẻ em lên các tàu đánh cá, di tản vào các nơi có quân đội bảo vệ. Ông Suyến thu dọn đồ đạc và cùng dăm cậu thanh niên ở lại đảo.


Đảo có diện tích trên 1.000 hecta, có cả núi đá, rừng nguyên thủy với những hang động mà ngay cả ngư dân cũng chưa bao giờ khám phá hết. Động vật ở đây khá phong phú, có cả khỉ, vượn, mèo rừng, chó hoang, chuột và nhiều loài bò sát. Trên đảo còn có một tổ quạ rất lớn và nhiều giống hải âu.


Ông Suyến ngồi trước cửa hang nhìn ra biển rất rõ. Ông đem theo một chiếc ống nhòm để theo dõi giặc và điện thoại di động để liên lạc với các đảo xung quanh.


Cướp biển đóng giả ngư dân, cho bốn chiếc xuồng cao su cập bờ. Chúng trang bị súng ống đến tận răng. Tên nào cũng lăm lăm khẩu AK.


Chúng đến làng chài thì ngừng lại, vây xung quanh, ngạc nhiên vì cư dân ở đây dựng nhà sàn như người miền núi. Tất cả chung một cái sân rộng. Ngoài cùng là hàng rào bằng gỗ cả cây, dựng sát vào nhau, cao tới 3 mét, trông như trại quân của thế kỷ trước. Giặc đi quanh làng, một tên định đẩy cửa bước vào, tên chỉ huy lắc đầu rồi ra lệnh đốt nhà. Hai khẩu súng phun lửa thiêu hủy những tài sản của ngư dân nghèo. Chó, mèo, gà, vịt… trong trại kêu la ầm ĩ. Cả đảo nhốn nháo. Mấy chục năm nay, súc vật trên đảo chưa bao giờ bị tai kiếp như vậy.


Thấy không có phản ứng gì của những người trên đảo, giặc rút ra và nửa ngày sau trở lại với hàng chục áo quan và lều bạt. Chúng dựng trại sát chân núi, chỗ ngư dân vẫn thường cho động vật hoang dã ăn những hải sản thừa.


Ngày tiếp theo, những tên cướp đảo đào huyệt chôn những chiếc quan tài rỗng. Dưới lớp đất lộ ra những xương người và binh khí cũ. Chúng nhảy múa, la hét như những kẻ điên. Những hàng chữ Mông Cổ trên binh khí nói lên tất cả. Hơn 700 năm trước đã có người Hán, người Mông Cổ ở đây. Thế này thì người Việt không thể cãi được. Họ không đủ chứng cứ để bảo rằng đây là đất của người Việt! Năm ngày sau thì chúng sắp xong công việc chôn mộ giả.


- II -


Cuối năm 1287.


Giặc Nguyên bị đẩy vào đường cùng. 30 vạn quân xâm lược Đại Việt không còn đến một nửa. Thoát Hoan thất vọng. Hắn lồng lộn như một con hổ bị bẫy, ngày nào cũng ra lệnh giết người. Những kẻ bị hắn giết lại là quân Mông Cổ: những tên vi phạm quân lệnh, trộm quân lương hoặc giết ngựa chiến ăn thịt. Chúng đói! Suốt tháng nay, chúng phải ăn cả vỏ cây, rơm rạ của ngựa. Lương thực hết từ lâu. Đoàn thuyền chở 70 vạn hộc lương của Trương Văn Hổ sang tiếp tế không thấy đến. Thoát Hoan đoán là đã bị quân Nam lấy được hoặc đánh chìm xuống đáy biển.


Giặc Nguyên chỉ còn chờ chủ tướng quay đi là cho một cây kim rỗng ruột vào động mạch cảnh ở cổ ngựa để hút máu. Những con vật đói khát chỉ vài ngày là ngã gục. Bọn lính chỉ chờ có thế, lập tức xẻ thịt ngựa, cắt từng miếng lớn để nướng trên bếp lửa, rồi ngốn ngấu.


Mỗi ngày, hàng trăm tên lính bị đặt cổ lên thớt mà chúng vẫn giết ngựa. Cái đói hành hạ dễ sợ hơn cả lưỡi mã tấu. Quân Mông Cổ có thói quen hát trong khi ăn, khi ngủ, nhảy nhót trước đống lửa trại. Nhưng lúc này chẳng tên nào buồn mở miệng. Cái đói hành hạ khiến chúng không sao đủ sức. Tiếng hát của quân Nguyên vốn đã buồn như gió chạy, cát bay rên rỉ trên đại mạc. Nhưng Thoát Hoan thà nghe tiếng hát còn hơn ngồi chờ chết. Hắn biết 30 vạn quân Đại Việt đặt cạm bẫy chung quanh trại. Khắp mọi nẻo đường đều là trận địa mai phục.


Vô phương, Trấn Nam Vương Thoát Hoan biết chỉ còn một lối thoát duy nhất là trốn chạy về Tàu. Điều đó cũng khó, phải rút như thế nào nếu không muốn số quân còn lại để nắm xương khô ở Đại Việt.


Các viên tướng đều tránh nhìn vào mắt Thoát Hoan và chỉ chờ hắn ra lệnh đào tẩu.


Thoát Hoan cho quân rút làm hai đường. Đạo thủy binh do Ô Mã Nhi và Tích Cơ Lệ chạy hướng Bạch Đằng giang ra biển. Trình Bằng Phi đi theo bảo vệ với một vạn kỵ binh sát bờ sông.


Cánh quân thứ hai tìm mọi cách rút về phía Bắc. Cái mà Thoát Hoan quan tâm nhất là chiếc ống đồng để chui vào tránh mũi tên, hòn đạn. Lần xâm lược trước, hắn cho làm một cái dài tới 2 trượng, chạm trổ rất đẹp. Thoát Hoan định bắt chước Mã Viện dựng ngay giữa Thăng Long để ghi chiến tích. Nhưng sau thất trận thê thảm, hắn có một sáng kiến tuyệt vời là chui vào cái ống chật chội đó để bảo toàn tính mạng. Nằm trong ống đồng là một cực hình: gò bó, thiếu dưỡng khí, lại bị muỗi, kiến, bọ chét, bọ chó từ hai búi cỏ nút hai đầu ống lần xuống hút máu. Ngứa ngáy, đau đớn chưa đủ lại bị quân lính tuột tay rơi xuống hố. Cái ống quay lộn trong không khí, va vào đá làm đầu óc hắn đảo lộn đất trời. Mặt mũi, chân tay Thoát Hoan chỗ nào cũng bầm dập. Nghĩ đến đây, hắn rùng mình, toát mồ hôi hột dù thời tiết đang giữa mùa đông.


Quyết định xong, Thoát Hoan nhổ trại ngay đêm đó, bỏ lại nhiều vũ khí và vàng bạc châu báu cướp được ở Đại Việt. Đối với hắn, mạng sống là quan trọng nhất. Chẳng gì hắn cũng là Trấn Nam Vương.


***


400 chiến thuyền với 4 vạn quân rút ra cửa Bạch Đằng. Ô Mã Nhi và Tích Cơ Lệ chán ngán. Chúng vốn không ưa gì nhau, nhưng cùng ngồi trên một con thuyền có thể bị đắm bất cứ lúc nào thì không phải là lúc mỉa mai, cãi cọ. Tích Cơ Lệ là Thân vương Mông Cổ, được xếp loại người hạng nhất. Còn Ô Mã Nhi là nguyên soái nhưng chỉ là ngoại tộc, thuộc giống người loại hai. Hắn tên là Omar, rất khỏe và được vua Nguyên phong Ba Tu. Người Hán gọi hắn là Ô Mã Nhi Bạt Đô hay Ô Mã Nhi Dũng Sĩ. Hắn sử dụng một cây thiết chùy nặng 40 cân, lúc nào cũng khoe khoang đã từng nện chết bẹp một chiến tướng của thành Hoa Thích Tử Mô (Sa-Mác-Căng, một thành trì gần Ba Tư) bằng cái đập duy nhất.


Nỗi nhục lớn nhất của Ô Mã Nhi là lần giáp chiến với tướng Phạm Ngũ Lão của Đại Việt. Phạm Ngũ Lão đỡ thiết chùy của hắn bằng một ngọn giáo nhẹ. Trong khi Ô Mã Nhi chưa kịp thu vũ khí về phòng thủ thì đã bị Phạm Ngũ Lão đá vào ngực. May có hộ tâm kính nên hắn không bị dập hết tim phổi. Từ đấy, xưng tên với ai, hắn không bao giờ kèm theo danh hiệu Bạt Đô.


Đến giờ thân thì Ô Mã Nhi nhận một tin sét đánh ngang tai. Đạo quân đi hộ vệ cho đoàn chiến thuyền bị đánh tan. Trình Bằng Phi chỉ còn lại hơn 1000 tên lính, quay ngựa chạy theo Thoát Hoan về Tàu bằng đường bộ. Nhìn sông nước Lục Đầu Giang mà lòng Ô Mã Nhi trĩu nặng. Không biết còn những tai vạ gì bám theo hắn.


Phía đầu nguồn hiện lên chiếc thuyền rồng, trên có Thượng hoàng Trần Thánh Tông, vua Trần Nhân Tông và Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn. Xung quanh, mấy chục chiếc khinh châu chở đạo quân Thánh Dực thiện chiến đi hộ vệ. Tướng quân Nguyễn Khoái khoác hồng bào, đứng uy nghi trên mũi thuyền chỉ huy. Ông cầm lá cờ đại phất lên hai vòng, cả Lục Đầu giang nổi sóng. Đại pháo, ống lệnh nổ vang. Các ngách sông xuất hiện mấy chục chiếc bè hỏa công, trên chứa củi, đuốc, rơm rạ tẩm dầu thông, dầu trẩu. Theo sau là đoàn thuyền nhẹ với 10 mái chèo đẩy bè hỏa công trôi theo hướng đi của quân Nguyên.


Phía cuối nguồn, gần cửa sông Bạch Đằng, một đoàn khinh châu khác xuất hiện. Yết Kiêu oai vệ khoanh tay đứng trên mũi thuyền.


Đến giờ tỵ thì Ô Mã Nhi và Tích Cơ Lệ biết mình đã bị bao vây, ba hướng đều là bè hỏa công. Phía ra biển hiện lên những chiếc cọc gỗ lim, đầu bịt sắt. Thủy triều rút nhanh. Yết Kiêu cho khinh châu khéo léo lách qua những cây cọc. Người Việt sống trên vùng sông nước từ nhỏ, điều khiển thuyền bè còn giỏi hơn người Mông Cổ cưỡi ngựa.


Cuộc xáp chiến bắt đầu. Tiếng trống đồng nổi hiệu lệnh “Sát Thát” vang dậy Bạch Đằng giang. Thuyền giặc bén lửa, cháy rừng rực. Mùi thịt quân Nguyên khét lẹt, từng xác người rơi xuống sông. Ô Mã Nhi muốn đánh mà không được. Chung quanh hắn là nước và lửa. Tích Cơ Lệ tháo được một chiếc thuyền nhỏ trốn chạy, hắn nhảy theo. Cả hai biết không còn con đường nào thoát, nhưng bản năng sinh tồn của con người bắt chúng phải tìm cách chạy trốn bằng mọi giá. Ô Mã Nhi nhớ đến những lần đi săn chuột ở đại mạc. Bọn trẻ con hun khói vào hang, những con vật gậm nhấm lông vàng cuống cuồng chạy lao vào lưới, rồi làm mồi cho bọn hắn nướng trên bếp lửa. Giờ phút này, bọn chúng không khác gì những con chuột.


Vòng vây thu hẹp dần, 400 chiến thuyền giặc va vào cọc và bị đốt cháy gần hết. 4 vạn quân Mông Cổ chỉ còn vài ngàn tên. Xác người nổi lên lều bều, bị cọc ngăn lại, không kịp trôi ra biển. Ô Mã Nhi và Tích Cơ Lệ hoảng loạn như những con chuột lông vàng bị hun khói. Bọn hắn nhảy từ thuyền nhỏ lên đống xác giặc chồng chất trên Bạch Đằng giang.


Nguyễn Khoái hô to:


- Quan gia ra lệnh, ai bắt được hai tên Ô Mã Nhi và Tích Cơ Lệ thì sẽ được trọng thưởng.


Đỗ Hành, người cận vệ đứng bên cạnh vua khoanh tay:


- Thần xin bắt giặc!


Vua Trần gật đầu khuyến khích. Đỗ Hành cởi áo ngoài, cánh tay tả lộ ra hai chữ “Sát Thát”. Ông mặc áo chẽn, quanh bụng quấn sợi dây vo. Đây là một loại dây leo thuộc họ tầm gửi, hễ quấn vào cây chủ thì thò ra những cái rễ hút nhựa, người ra gọi là “dây bóp cổ”. Dây này sau khi luộc, dai như ruột mèo rừng, nhưng lại mềm như lụa tơ tằm, khó có loại đao kiếm nào cắt đứt.


Đỗ Hành quăng sợi dây vo buộc nút thòng lọng vào cổ Ô Mã Nhi. Tên Nguyên soái nhà Nguyên chưa kịp rút kiếm thì đã bị Đỗ Hành ném xuống sông Bạch Đằng.


Ở sa mạc ít nước, con người bơi lội kém. Ô Mã Nhi sặc sụa, không còn sức kháng cự. Tích Cơ Lệ quỳ xuống xin tha mạng.


Đỗ Hành một tay cắp Tích Cơ Lệ vào nách, một tay giật Ô Mã Nhi lên thuyền rồng. Lính Thánh Dực trói chúng vào cột buồm. Hai vua rất hài lòng. Thượng hoàng Trần Thánh Tông phán:


- Đỗ tướng quân đúng là trời sai xuống giúp ta. Đại Việt có Phạm Ngũ Lão, Yết Kiêu, Dã Tượng, Nguyễn Khoái, Đỗ Hành… thì còn phải sợ giặc nào!


Trận chiến tàn, Yết Kiêu phải cho lính khơi dòng chảy để những cái xác giặc theo thủy triều trôi ra biển. Hàng đàn cá kình đang chờ chúng.


4 vạn quân Nguyên và 400 chiếc thuyền hoàn toàn bị đập nát, chỉ còn lại khoảng 800 tù binh, trong đó có Ô Mã Nhi và Tích Cơ Lệ.


- III -


Ông Suyến vẫn theo dõi động tĩnh của địch. Ông biết hàng trăm năm qua ngư dân trên đảo rất vất vả mới dựng được những nếp nhà sàn. Bỗng chốc giặc đốt hết, họ lấy gì để tránh mưa bão.


Khi mới đến đảo, người dân bị những con chó rừng đến quấy phá. Chúng bắt gà vịt và tha vào rừng những mẻ cá mới đánh lên từ biển. Người ta làm nhà sàn cao và đóng cây gỗ thành tường bao quanh khu trại, phủ những tấm lưới lên trên. Chó rừng không dám đến phá phách. Bản năng mách bảo chúng có thể mắc vào bẫy.


Những mẻ cá thừa, ngư dân đổ vào chân núi cho chó, mèo, chim, quạ… và những loài ăn thịt sống. Hôm sau chúng ăn hết sạch. Động vật hoang dã biết ơn con người không làm hại chúng. Hai bên chung sống hòa bình khá lâu dài.


Đêm âm u, ông Suyến vẫn theo dõi địch. Ngọn lửa bập bùng bên những mái lều bạt. Bỗng một tràng súng AK nổi lên, rồi những mái lều bén lửa, tiếng chó sủa ran, tiếng người kêu khóc. Nửa giờ sau, lửa tắt, không gian lại đi vào yên tĩnh trong tiếng gió biển rì rào.


Chưa đến 5 giờ sáng, ông Suyến và những thanh niên trên đảo tiếp cận trại giặc. Họ kinh ngạc thấy chúng chết hết. Tên nào cũng bị cắn nát gáy. Trên mặt cát biển còn lưu lại hàng ngàn vết chân chó có màng.


Ông Suyến ra lệnh mang những chiếc xương người và khí giới cổ về hang núi. Ông cũng cho tịch thu luôn mấy khẩu AK và toàn bộ máy bộ đàm để sau này có chứng cứ xâm lược của giặc.


Bây giờ thì ông Suyến đã biết, đàn chó chân có màng là chó Yết[1], được người Việt thuần dưỡng từ đời Trần. Trên vũ khí cổ có hai thanh kiếm khắc tên và chức vụ của người sử dụng: nguyên soái Ô Mã Nhi dũng sĩ và Thân vương Tích Cơ Lệ, những tù binh đã được Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn đã thả về Tàu. Có lẽ chúng bị giông bão quét lên đảo.


Trời nổi giông tố. Một cái vòi rồng xóa sạch bãi chiến trường.


- IV -


Trại giam dã chiến ở giữa rừng, dựa vào dãy núi chạy xuôi ra biển. Nhà tranh vách nứa nhưng khá bề thế cho gần 1.000 tù binh Mông Cổ. Tướng lĩnh của giặc bị giam mỗi tên một ngăn, còn lính tráng ở chung một cái trại lớn. Tích Cơ Lệ và Ô Mã Nhi ở hai gian cạnh nhau. Suốt ngày chúng chẳng nói một câu. Cả hai tên này ghét nhau từ trước. Nói đúng ra tướng sĩ Nguyên Mông không ai ưa ai. Chúng chỉ có chung một mục đích, chia nhau của cướp được càng nhiều càng tốt.


Nhìn cái trại giam sơ sài, Ô Mã Nhi tự nhủ: Ta chạy trốn dễ như trở bàn tay, sức này ai cản được. Nhưng hắn lại tự bảo thầm, người Việt căm thù quân Mông Cổ đến tận xương tủy, già trẻ lớn bé đều xăm trên tay hai chữ “Sát Thát”. Từ đây về đến đất Tàu xa cả ngàn dặm, hắn sẽ bị rụng ít nhất vài chục cái đầu trước khi đến châu Tư Minh.


Ô Mã Nhi nhiều lần nhìn thấy mỗi người lính đều giữ một con chó đen mà ớn tận óc. Loài chó này cao to, nặng ít nhất từ 30 đến 40 cân, mõm ngắn, răng to, ức nở, chân cao, riêng khấu đuôi có một chùm lông trắng bay phất phơ như ngọn cờ lau.


Chó dữ nhưng tuân lệnh người nuôi răm rắp. Khi chủ trừng mắt, đàn chó chồm dậy, chuẩn bị tấn công; chủ cụp mắt, chó nằm xuống duỗi hai chân về phía trước; chủ để tay lên mồm, chúng đứng yên. Thật là một loài chó quý.


Sau nửa tuần trăng, không khí trong trại tù binh bớt căng thẳng. Quân Mông Cổ được ăn uống khá tốt và cảm thấy không bị mang ra hành hình. Người Việt biết dân phương Bắc thích ăn thịt ngựa nên vài ngày lại cho chúng món khoái khẩu. Quân Nguyên không muốn trốn trại vì sợ đàn khuyển binh xé xác.


Đôi khi chúng cũng được xem binh lính Đại Việt huấn luyện chó. Trước trại tù là một bãi rộng có rào xung quanh, chỉ có một cửa ra vào. Người ta thả vào đấy một con lợn rừng nặng đến 300 cân để đánh nhau với bốn con chó. Cả bầy chó cộng lại không bằng nửa trọng lượng của đối thủ. Cuộc chiến quyết liệt, lợn rừng với cặp nanh to xông thẳng vào bọn chó xếp hàng ngang lúc nào nó cũng húc vào khoảng không rồi thở hồng hộc. Chờ cho lợn chạy quá đà, con chó đầu đàn nhảy lên cắn gáy, nơi tập trung hệ thần kinh. Ba con còn lại cắn vào hạ bộ và hai chân sau con lợn. Cuộc chiến kết thúc, lợn gục xuống giãy chết. Chó chạy lại ve vẩy đuôi, khoe chiến tích với chủ.


Một hôm, Ô Mã Nhi mạnh dạn hỏi người lính đưa cơm đến cho gã:


- Các con chó đen kia là giống gì mà giỏi thế?


- Đó là chó Yết, một loài chó đặc hữu của người Việt. Hưng Đạo Đại Vương giao cho tướng Phạm Hữu Thế huấn luyện chúng. Ông Thế được Đại Vương đặt biệt hiệu là Yết Kiêu để vinh danh tài ba người dạy dỗ đàn chó Yết kiêu hùng.


***


Chó Yết sống thành bầy ở rừng núi do một con chó cái thống lĩnh. Khác với sói, mỗi bầy do một cặp chó đực và cái đầu đàn chỉ huy. Chó Yết hơn hẳn chó sói về tình nghĩa bầy đàn và tính năng động. Khi một con chó sói bị thương nặng là cả đàn xông vào xé xác. Chó Yết thì không hại đồng loại. Trong cuộc chiến sinh tồn với các loài khác, cả đàn luôn yểm trợ lẫn nhau. Con nào bị thương được cả bầy đưa về hang chăm sóc, chẳng may bị chết thì được chôn ngay gần cửa hang và bảo vệ cho đến khi cái xác phân hủy, không hổ báo, sài lang nào có thể ăn thịt.


Chó Yết còn biết leo trèo không thua loài báo. Chúng nằm trên các cành cây cao, chờ con mồi đi qua rồi đồng loạt đái vào mặt. Nước tiểu chó Yết rất đặc, khiến nạn nhân không mở được mắt. Cả bầy nhảy xuống cắn gáy, quật ngã con vật. Chúng bơi lội cũng rất giỏi, giữa bốn ngón chân có màng[2] như các loài chim nước.


Yết Kiêu mất 4 năm với 5 thế hệ chó Yết mới thuần dưỡng được chúng. Ông bắt chó con về dạy dỗ, huấn luyện theo hiệu lệnh của con người. Yết Kiêu phát hiện chúng thông minh, ham học hỏi và biết sủa, khác với chó sói chỉ biết tru.


***


Ô Mã Nhi tặc lưỡi:


- Nếu chúng tôi không bị giết ở Đại Việt thì khi về nước, các ông cho vài con chó làm kỷ niệm được không?


Rồi hắn nghĩ, tội của mình chắc không ai tha. Người Mông Cổ gây biết bao đau khổ với người Đại Việt! Riêng hắn đã từng đào mả các bậc tiền nhân của vua Trần, đáng chết trăm lần. Chắc gì người Việt quên được!


Cuộc hỏi cung tù binh đầu tiên do Chiêu Văn Vương Trần Nhật Duật thực hiện. Ngồi hai bên ông là Yết Kiêu và Đỗ Hành. Ô Mã Nhi tỏ ra còn hung hăng. Trái lại Tích Cơ Lệ nhũn như một con lươn. Hắn lạy lục, van xin tha mạng và hứa tâu với Hốt Tất Liệt không bao giờ xâm lược Đại Việt lần nữa.


Ô Mã Nhi dùng tiếng Mông Cổ nói với Tích Cơ Lệ:


- Ngươi hèn hạ thế! Hãy nhớ rằng, ngươi là thân vương của Đại Hãn.


Tích Cơ Lệ cũng không vừa:


- Nên nhớ rằng ngươi là Ba Tu, nhưng cũng chỉ là một tên lính đánh thuê cho đế quốc Mông Cổ chúng ta.


Để cho chúng cãi nhau chán, Chiêu Văn Vương Trần Nhật Duật mới nói bằng tiếng Mông Cổ:


- Các ngươi tuy là Nguyên soái, Thân vương nhưng cũng chỉ là tù binh của Đại Việt. Nước Nam ta đã chuẩn bị sẵn những trận Bạch Đằng, Tây Kết để chờ đế quốc Mông Cổ mang quân sang nộp mạng.


Cả hai tên ngạc nhiên đến há hốc mồm, Chiêu Văn Vương Trần Nhật Duật nói thứ ngôn ngữ của chúng chuẩn xác như người bản địa.


Chúng không ngờ Trần Nhật Duật là người am tường rất nhiều ngôn ngữ. Ông có thể nói tiếng Hán, tiếng Đại Lý, tiếng Mông Cổ, tiếng các dân tộc ít người ở Vân Nam, Quảng Đông…


Tích Cơ Lệ khai hết những điều bí mật của vua tôi nhà Nguyên. Ô Mã Nhi khinh bỉ hắn ra mặt. Một tên Thân vương lúc nào cũng vênh váo, nhưng trước địch thủ thì tự hạ mình đến mức đáng phỉ nhổ.


Cuộc hỏi cung kết thúc, Chiêu Văn Vương nói:


- Tất cả những điều các ngươi khai báo, chúng ta đều biết cả. Âm mưu của chúa tôi Mông Cổ định thôn tính Đại Việt, rồi tràn xuống phía Nam bắt các nước Chiêm Thành, Xiêm La, Mã Lai, Nam Dương… thần phục. Có phải thế không? Đáng tiếc thay! Đại Việt đã dạy cho các ngươi bài học nhớ đời!


Tích Cơ Lệ quỵ lụy, vâng vâng dạ dạ. Cuối cùng hắn lộ ý sợ thanh mã tấu của người Việt:


- Mong Đại vương về tâu với vua Trần tha cho chúng tôi tội chết! Tôi sẽ không bao giờ sang nước Nam cướp phá lần nữa.


Ô Mã Nhi có khí tiết hơn:


- Các ông đối xử với tù nhân quá tốt, khác hẳn với nhà Nguyên làm chúng tôi xấu hổ. Nếu được tha về, tôi xin với Đại Hãn đừng bao giờ xâm lược Đại Việt. Bên các ông, vua tôi một lòng, lấy nhân nghĩa làm đầu, các tướng tài nhiều như lá cây rừng. Tôi là bại tướng của hai ông Yết Kiêu và Đỗ Hành đây mấy lượt. Nếu đánh nước Nam, Mông Cổ sẽ còn thêm chiến bại, thêm hao người tốn của. Nguyên sử sẽ thêm những trang bị bôi đen…


Chiêu Văn Vương mời họ một bữa tiệc rượu nhỏ. Bát đĩa đều tráng men ngọc do làng Bát Tràng sản xuất, dưới đáy có hai chữ “Nội phủ”, họa tiết là những bông sen cách điệu, mềm mại, uyển chuyển.


Tích Cơ Lệ vốn là Thân vương. Hắn biết giá trị của những đồ gốm sứ này. Hắn nói:


- Chúng tôi được Đại vương cho dùng những đồ quý giá, biết lấy gì báo đáp. Gốm sứ Giao Chỉ đã nổi tiếng trong thiên hạ. Từ Ba Tư, Hoa Thích Tử Mô đến Đông Dương[3], các nhà quý tộc ai cũng muốn có một bộ dùng trong dịp lễ tết.


Rượu dâng lên thơm ngát mùi hoa cúc. Nhưng cả hai tên tù binh ngần ngại không chịu uống. Trần Nhật Duật biết ý:


- Nếu định đầu độc các ngươi, ta đâu cần phải làm việc tiểu nhân ấy. Chỉ cần giơ tay ra lệnh là bọn chó Yết kia biết phải làm gì!


Ông rút trong người ra một đôi đũa gỗ:


- Đây là đũa kim giao, một loài cây chỉ mọc trên núi cao trên 300 trượng. Bất cứ loại độc nào dù là nọc xích huyết xà, bọ cạp tía, đoạn trường thảo… đũa này cũng phát hiện được. Nếu thức ăn có độc, trong chớp mắt, đũa sẽ đổi từ màu trắng sang đen.


Trần Nhật Duật nhúng đôi đũa vào chén rượu. Gỗ không đổi màu. Ông cầm chén uống trước. Yết Kiêu, Đỗ Hành cũng xin phép được thưởng thức rượu ngon.


Tích Cơ Lệ lễ phép:


- Thưa Đại vương, tôi được thưởng thức rượu ngon khắp thiên hạ. Ở Trung Quốc được uống Thiệu Hưng, Bồ Đào, Trạng Nguyên Hồng… nhưng chưa từng được nếm loại rượu lạ thế này.


Trần Nhật Duật chậm rãi:


- Đây là rượu cúc tím, một loài hoa chỉ mọc ở phương Nam, mặt trên là màu tím sẫm, mặt dưới màu bạc trắng. Sau khi cất rượu xong phải hạ thổ ít nhất một năm để men bớt phần gay gắt. Hơi lạnh của đất hòa với khí nóng của rượu làm âm dương hòa hợp, người uống nhiều đến đâu đầu óc vẫn tỉnh táo. Chúng tôi gọi là Đại Việt mỹ tửu và coi như là quốc tửu. Quan trọng nhất là men phải đủ ba mươi sáu loại cây cỏ mọc ở phương Nam.


Tiệc tàn. Trước khi Trần Nhật Duật ra về, Tích Cơ Lệ còn lải nhải:


- Xin đại vương tha cho chúng tôi về nước. Đừng giết chúng tôi! Tôi còn chín bà vợ và hai mươi mốt đứa con, đứa nhỏ nhất chưa đầy ba tuổi…


Ô Mã Nhi chắp tay kính cẩn:


- Xin đại vương và hai vị tướng quân cho chúng tôi vài con chó quý mang về nước làm kỷ niệm. Những ngày bị tù ở quý quốc đã giúp cho chúng tôi hiểu thêm đạo làm người.


Trần Nhật Duật nói:


- Việc này phải xin phép Quốc Công Tiết Chế Hưng Đạo Đại Vương vì đây là giống chó đặc hữu của Đại Việt.


- V -


Vua Nguyên cho sứ giả sang xin nhà Trần tha cho mấy vạn tù binh và hứa không gây can qua giữa hai nước lần nữa. Cả triều đình Đại Việt biết đây là âm mưu của giặc nhưng cũng quyết định tha cho chúng về nước. Hưng Đạo Vương cử Chiêu Văn Vương Trần Nhật Duật đến đọc lệnh ân xá cho tù nhân và gửi quà cho Ô Mã Nhi cùng Tích Cơ Lệ. Mỗi tên được tặng một bộ cẩm bào bằng lụa Cổ Đô, một vò Đại Việt mỹ tửu, một chồng bát đĩa men ngọc, một đôi đũa kim giao cùng khí giới của giặc và đặc biệt là hai ổ chó Yết mới biết ăn.


Lần đầu tiên Ô Mã Nhi khóc:


- Cả cuộc đời tôi theo người Mông Cổ đi chinh chiến, tội ác quá nhiều, nhất là việc đào mả nhà Trần. Nếu là nước khác, họ sẽ băm chúng tôi ra từng mảnh, vứt cho chó ăn. Nhưng Đại Việt cư xử theo cách của những bậc quân tử. Tôi không bao giờ đi làm kẻ giết thuê nữa và sẽ về đại mạc chăn dê, cừu, săn bắn, làm người dân lương thiện.


Đám thủy quân Mông Cổ lên tám chiếc thuyền lớn của giặc được trục vớt ở sông Bạch Đằng. Trên thuyền có đủ lương thực, nước ngọt cho một tháng lênh đênh trên biển.


Tên nào cũng lầm lũi cúi đầu bước xuống thuyền, khác với bộ mặt năm trước nhâng nháo vào Đại Việt ăn cướp.


Thuyền ra biển đã được ba ngày. Ô Mã Nhi lầm lì không nói. Hắn ngồi uống rượu một mình, lương tâm thức tỉnh. Hắn sẽ xin giải ngũ về quê chăm sóc đàn gia súc, trông nom mẹ già, con dại.


Tích Cơ Lệ nằm ở góc thuyền. Hắn nhẩm lại bài biểu dâng lên Hốt Tất liệt về tội Ô Mã Nhi bị người Việt khuất phục, khai tất cả bí mật quân sự. Bỗng hắn giật mình ngồi bật hẳn dậy vì tiếng kêu hốt hoảng của một tên lính nói với Ô Mã Nhi:


- Nguyên soái trông kìa. Chân trời vàng rực, sắp có bão!


Bầu trời oi bức, không một ngọn gió nhỏ. Các cánh buồm gần như không động đậy. Những mái chèo chỉ làm thuyền nhúc nhích chậm chạp. Nhiều tên lính Nguyên bảo nhau:


- Nhà Trần không giết, nhưng chúng ta bị trời trừng phạt!


Hai ngày sau bão nổi lên. Những ngọn sóng bạc đầu cao như trái núi nhỏ ập lên đoàn thuyền. Bảy chiếc chìm xuống đáy biển Đông, nơi biển trời thiêng liêng của người Đại Việt. Chỉ còn chiếc thuyền chở Ô Mã Nhi và Tích Cơ Lệ dạt vào một hoang đảo. Ngoài hai tên tướng, chỉ còn mấy chục lính thoát chết. Cả bọn lóp ngóp leo lên bờ đá. Đàn chó Yết nhảy xuống biển bơi theo.


Tích Cơ Lệ chán ngán:


- Lấy gì ăn mà để sống đây?


Rồi hắn cười như điên:


- Trước tiên ta nướng con này!


Hắn phóng ngọn giáo vào một con chó. Con vật chỉ kịp kêu ẳng rồi giãy chết.


Ô Mã Nhi quát lên:


- Tại sao ngươi giết nó? Đây là chó của ta!


Hai tên cùng bị kích động, rút gươm ra khỏi vỏ. Tích Cơ Lệ gọi lính trợ chiến:


- Anh em Mông Cổ đâu! Hãy giết kẻ ngoại bang!


Phe Tích Cơ Lệ đông, nhưng Ô Mã Nhi võ nghệ cao cường hơn. Cả bọn xông vào chém giết. Những kẻ cùng đường mất lý trí tấn công nhau. Đàn chó con hoảng sợ chạy trốn vào rừng.


Vùng biển này luôn luôn có giông bão. Bầu trời phủ kín mây đen, con chốt xuất hiện. Nước cuốn cát sỏi phủ lên những cái xác.


- VI -


Mỗi lần mở máy bộ đàm của giặc, ông Suyến lại nghe tiếng chúng gọi bọn lên đảo. Đến ngày thứ 4, không thấy trả lời, chúng không chờ đợi được nữa, cho khoảng một đại đội trang bị các loại súng thận trọng đột nhập.


Ông Suyến và các cộng sự đợi sẵn. Nếu giặc phát hiện cửa hang thì nhử cho chúng vào. Một khối thuốc nổ được điều khiển bằng điện thoại di động đánh sập lối ra. Những người cố thủ thoát bằng đường hầm bí mật. Giặc sẽ trở thành chuột trong bẫy.


Đi lên đi xuống, leo trèo quanh đảo mà không tìm thấy đồng bọn, chúng sợ mắc bẫy nên rút ra biển và không trở lại. Mấy ngàn năm lịch sử đã dạy cho chúng những bài học đắt giá.


Bà con ngư dân lại trở về. Ông Suyến đề nghị đặt cho đảo một cái tên mới là đảo Yết Kiêu. Việt Nam đã có đảo Nam Yết, không biết trên đó có giống chó Yết quý hiếm không? Nhưng giặc không bao giờ quên được cái tên Yết Kiêu trong Nguyên sử.


(còn tiếp)


Nguồn: Bí mật đền Sĩ Nhiếp. Tập truyện Dị sử của Ngọc Toàn. NXB Văn học, 2012. Lời tựa của nhà văn Triệu Xuân.


www.trieuxuan.info







[1] Chó Yết: Loài chó đặc hữu của Việt Nam do Yết Kiêu huấn luyện.




[2] Chân chó Yết có màng giống như chó Phú Quốc.




[3] Đông Dương: tên cũ chỉ Nhật Bản.




bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Những kẻ câu đêm - Trần Nhã Thụy 16.01.2020
Chiếc đầu lâu - Ngọc Toàn 14.01.2020
Ngọc đá nước Việt - Ngọc Toàn 14.01.2020
Thoảng hương gió đồng - Trần Kỳ Trung 10.01.2020
Một câu chuyện buồn - Trần Kỳ Trung 10.01.2020
Cây mẫu đơn hoa trắng - Nguyễn Hải Yến (Hải Dương) 30.12.2019
Phía trước nhà có giàn mơ dại - Nguyễn Hải Yến (Hải Dương) 30.12.2019
Gió lên thả ngọn đèn trời - Nguyễn Hải Yến (Hải Dương) 30.12.2019
Giếng mắt rồng - Nguyễn Hải Yến (Hải Dương) 30.12.2019
Hoa đại đỏ - Nguyễn Hải Yến (Hải Dương) 30.12.2019
xem thêm »