tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 29386978
Truyện ngắn
26.05.2017
Khái Hưng
Tập truyện ngắn Đội mũ lệch (2)



Trúng số


Bính và Mẫn nghỉ học rủ nhau vào hiệu Gô-đa chơi, vào chơi thôi chứ cũng chẳng định mua thức gì.


Trước bàn trả tiền, hai chàng ngây người đứng ngắm cô Pháp lai thủ quỹ. Cô tươi cười hỏi Bính:


- Thưa ông, cái gì của ông?


Bính nhìn Mẫn. Cô kia hỏi luôn Mẫn:


- Và ông?


Thấy hai chàng luống cuống, cô mủm mỉm cười nói tiếp:


- Chừng ông muốn mua một số phiếu thi xe đạp?


Rồi cô mở tập phiếu ra, bàn tay trắng trẻo cầm một tờ toan xé:


- Ông mua số này thế nào cũng trúng. Số độc đắc là một cái xe mô-tô. Tay tôi xé may mắn lắm, giá có một đồng thôi.


Bính tưởng nên trả lời một câu tình tứ:


- Tay cô xé cho biết bao nhiêu người rồi, mà đều may mắn cả.


- Nhưng riêng phiếu này may mắn nhất.


Hai chàng chống lại sao nổi cái nụ cười thơm tho. Bính thì thầm hỏi Mẫn:


- Anh có tiền đấy chứ?


- Tôi chỉ có năm hào.


- Tôi cũng vậy.


- Vậy mua chung nhé?


Tức thì hai chàng dốc cả túi đếm đủ mười hào lên miếng đồng vuông trên bàn trả tiền, để đổi lấy cái cười đủ hai hàm răng trắng nuột, và một phiếu đánh số xe đạp.


*


Mẫn không tiếc lời kỳ kèo bạn, kỳ kèo cho đến hôm xem nhật trình thấy mình trúng số độc đắc. Từ đó, cố nhiên hai chàng không ai kỳ kèo ai nữa. Bính toan đến ngay Gô-đa cám ơn cô Pháp lai xinh đẹp. Mẫn cho thế là hơi lố, nên gạt đi.


Hai chàng đến lĩnh xe mô-tô. Đứng trước chiếc xe bóng loáng, hai chàng sung sướng như người... mới trúng số độc đắc. Mẫn hỏi Bính:


- Anh có biết lái xe mô-tô không?


Bính gật gù tự phụ:


- Còn phải nói. Đến xe ô-tô tôi còn lái được, nữa là xe mô-tô.


Mẫn buồn rầu ngẫm nghĩ:


- Vậy thế nào ta cũng phải bán xe.


- Nhưng làm thế nào đem được nó về bây giờ. Hay ta thuê xe bò kéo.


Mẫn cười:


- Kìa, anh đã quên rằng anh lái xe mô-tô giỏi hơn lái xe ô-tô.


- Ồ nhỉ!


Sau khi đã hỏi người thợ máy ở hãng xe về các máy móc, Bính liền cưỡi xe cho chạy. Nhưng cái xe còn mới lạ chưa quen chủ, nên nó bất kham chẳng chịu đi. Bính, Mẫn đành thay nhau dắt nó về chỗ trọ học.


Sau khi Bính, Mẫn đã giở hết tài hùng biện và đi khắp mọi nơi để tán tụng cái xe quý, thì một người đội Tây nghe bùi tai bằng lòng trả lại hai trăm bạc, nghĩa là chưa đầy nửa số tiền thực giá của nó. Nhưng hai chàng cũng mừng quýnh bắt tay cảm ơn mãi người đội mà hai chàng coi như ân nhân của mình. Bính bảo Mẫn:


- Với hai trăm bạc ấy, chúng ta sẽ mời anh em chén một bữa thực sang, rồi tặng một cái cúp ten-nit thực oai ê-xê-tê-ra... ê-xê-tê-ra...


Nhưng trước khi được hưởng những lạc thú ấy, hai chàng còn phải chịu khó một lần cuối cùng dắt xe tới một hiệu chữa xe ở phố Cửa Nam để người thợ máy ở đấy soát lại máy móc một lượt. Người đội hứa hôm sau sẽ đem tiền đến đó lấy xe.


Hôm sau Bính trở lại hiệu chữa xe Cửa Nam để nhận tiền. Mẫn đã đến trước. Bính hỏi:


- Nó đâu?


Mần bĩu môi đáp:


- Nó đã trở nên một đống sắt nát.


Bính không hiểu, kinh ngạc:


- Anh bảo lão đội?


Mẫn thản nhiên:


- Không, tôi bảo cái xe. Kìa anh trông.


Bính ngắm chiếc xe mô-tô rúm ró trong một xó:


- Anh chỉ nói đùa!


- Lại đùa nữa.


Người chủ hiệu phải buồn rầu và thuật lại sự rủi ro khi thử xe cho Bính nghe. Bỉnh mới tin là thực. Mẫn cũng trầm ngâm đứng nghĩ tới sự rủi ro của bữa tiệc và cái cúp ten-nít.


- Nhưng không sao, để tôi chữa lại mới nguyên.


Bính gắt:


- Mới nguyên! Xe của tôi giá năm trăm bạc mà ông làm ra nông nỗi như thế kia... Không được, ông phải đền tôi. Giá xe năm trăm bạc, tôi chỉ lấy hai trăm thôi.


Chủ hiệu không có hai trăm và xin đền bằng bốn cái xe đạp mới. Mẫn đã toan nhận lời, nhưng Bính nhất định không nghe, đòi cho bằng được hai trăm không thì kiện.


Bính tưởng dọa đùa một câu để chủ hiệu có sợ mà đền tiền chăng. Chẳng ngờ đùa quá hóa thực. Là vì Bính, Mẫn có một người bạn làm thư ký cho một ông thầy kiện ở Hà thành. Người bạn ấy bảo hai chàng:


- Quan trạng của tôi cãi đâu được đấy. Các anh chạy lấy ba chục, tôi sẽ nói ngài cãi giúp các anh. Đền hai trăm à? Năm trăm là ít.


Chiều hôm ấy, Bính Mẫn mỗi người gửi về nhà một bức điện tín tối khẩn như sau này: “Gửi ngay tiền học ba tháng tới, nếu không sẽ bị đuổi”.


Và hôm sau mỗi người nhận được một cái ngân phiếu ba chục. Món tiền học ba tháng lớp nhất trường trung học Albert Sarraut ấy tức thì trở nên tiền giấy mực trạng sư.


Chủ xe tuy cũng thuê trạng sư, nhưng ý chừng ông trạng ấy còn kém cỏi, vì một năm sau, Bính, Mẫn được kiện.


Được kiện mà mất cho trạng sư có gần trăm bạc, thành thử lãi những hơn bốn trăm, vì tòa xử bên bị phải đền bên nguyên đủ số tiền năm trăm.


Bính Mần, suýt hôn thầy kiện của mình. Rồi hai chàng nhờ ngay thừa phát lại đến hiệu chữa xe ở phố cửa Nam đòi tiền.


Một lát sau, thừa phát lại trở về.


Mẫn mừng quýnh hỏi:


- Nó trả rồi chứ?


Thừa phát lại thản nhiên trả lời:


- Nó vỡ nợ đã ba tháng nay, và hiện ở đâu không biết, vì không để đia chỉ lại.


Chiều hôm ấy Bính, Mẫn vào Gô-đa để di dưỡng cặp mắt và cố quên nỗi phiền muộn trong lòng.


Sau một năm, cô Pháp lai ở bàn trả tiền vẫn nhận được Bính, cái anh chàng hay ngắm nghía mình. Cô ta hỏi:


- Thế nào, năm ngoái ông có trúng số không?


Binh nhìn Mẫn suýt ứa nước mắt.


- Có trúng, trúng số độc đắc.


- Trời ơi! Trúng sõ độc đắc! Đã bảo tay tôi xé phiếu may mắn lắm mà!


 


Ba nước cờ


Ngọc đến chơi nhà Kim thấy trên bàn có cái hộp Nhật Bản xinh xắn. Chàng cầm ngắm nghía khen ngợi nét vẽ, rồi mở ra xem: hộp đựng một quân cờ ngà đã lên nước.


- Trời ơi! Anh cao cờ lắm nhỉ?


Kim cười:


- Sao anh biết tôi cao cờ?


- Không cao mà lại chơi quân cờ ngà?


Ngọc đem kể cho bạn nghe câu chuyện cổ tích:


- Ngày xưa một tay danh kỳ có ba bộ quân cờ: bộ sừng để tiếp những khách đánh năm đồng (người ấy chỉ đấu cờ tiền), bộ xương để tiếp khách đánh mười đồng và bộ ngà để tiếp những ông khách đánh từ hai mươi đồng trở lên.


Kim lại cười:


- Vì thế mà anh biết tôi cao cờ đây?


Ngọc kể tiếp:


- “Một hôm có người đến xin đấu cờ. Người ấy nói chỉ mang theo đúng năm đồng, nhưng nếu chủ nhân ưng tiếp bằng bộ quân ngà thì xin hầu một ván, vì xưa nay chưa từng chơi quân sừng hay quân xương bao giờ.


Chủ nhân nghe nói biết khách là tay kỳ tài liền đem bộ quân ngà ra tiếp. Hai bên mới đi được ba nước, thì khách không nhìn tới bàn cờ nữa, ngửng lên hỏi thăm gia đình chủ nhân, rồi liên miên bàn về kỳ sử, kỳ trận, đến nỗi chủ nhân phải nhắc:


- Nhưng mời ngài đi...


Khách mỉm cười hỏi:


- Còn đi nữa kia à? Tưởng ngài biết rằng ngài thua rồi.


Chủ nhân xin vào nhà trong nghĩ lại. Loay hoay gần nửa ngày bàn tính với con, chàng ra xin chiu thua,


- Vâng, bốn mươi nước nữa, tôi sẽ bị thua về nước pháo bí.


Khách gật gù:


- Ngài tính được đến bốn mươi nước, kể đã khá lắm. Tính riết ra thì phải bốn mươi ba nước”.


Câu truyện cổ tích làm hai người cười ngất. Rồi Kim mời Ngọc đấu một ván cờ để đọ tài cao thấp.


- Vậy anh bảo đem bàn ra.


Ngọc yên trí rằng Kim đã có bộ quàn cờ ngà như thế kia, thì chắc chắn cái bàn cờ cũng chẳng phải là cái bàn cờ tầm thường. Nhưng chàng kinh ngạc biết bao khi thấy bạn mở ngăn kéo lấy ra một tờ giấy bìa mỏng gấp đôi mà nói rằng:


- Bàn cờ đây.


Những quân cờ ngà bày ra lên trên tờ bìa nâu trông không có một chút mỹ thuật nào.


Đi được ba nước - cũng đi được ba nước như trong câu chuyện cổ tích - Ngọc dừng cuộc đấu, ngừng lên bảo Kim:


- Sao anh chẳng sắm lấy một cái bàn cờ bằng gỗ lát, gỗ gụ, hay gỗ trắc chẳng hạn. Đánh bàn cờ giấy không những phí bộ quân ngà, mà lại mất hết cả nước cao.


Kim mỉm cười:


- Ấy, trước tôi vẫn có một cái bàn cờ bẳng gỗ gụ đẹp lắm.


- Thế bây giờ đâu?


- Tôi dùng làm mặt bàn ngủ rồi.


- Sao lại dùng bàn cờ làm mặt bàn ngủ? Anh thích ngủ hơn đánh cờ?


- Cũng chẳng thích hơn, nhưng vì một cớ quan trọng.


Ngọc tò mò hỏi:


- Có thể cho tôi biết cái cớ quan trọng ấy được không?


- “Sao lại không được. Có gì đâu. Một hôm tôi đến chơi anh Thuyết. Tới nhà không thấy Thuyết đâu. Nhưng dưới sập, nằm bên cạnh nhau hai đôi giầy, hai đôi giầy ta lớn nhỏ khác nhau.


Tôi ngẫm nghĩ: ‘Quái! Sao lại hai đôi giầy!’


Bỗng nghe có tiếng ‘huỵch huỵch’ ở sân sau. Tôi chạy vội ra.


Một cảnh tượng rất kinh dị, rất buồn cười, rất đau đớn, rất ngộ nghĩnh, rất hài hước hiện ra trước mắt tôi: hai người một tay dằng co cái bàn cờ, một tay giơ lên đấm vào đầu nhau.


Tôi đến gỡ ra thì là anh Thuyết và anh Ngôn.


Tôi hỏi:


- Các anh điên à?


Anh Thuyết vừa thở vừa đáp:


- Anh tính thế này thì có tức không. Mới ra quân được ba nước, tôi đặt lầm quân xe vào chân mã nó, chưa kịp buông tay lên nó đã vồ lấy, tôi không cho nó vồ, nó cầm bàn cờ phang tôi.


Ngôn không để cho Thuyết nói hết câu, cãi lại:


- Lại còn chưa buông tay ra. Đặt yên chỗ rồi, người ta mới chặt, lại còn bảo người ta vồ!


Tôi can một câu:


- Đánh cờ cần nước cao thấp, chứ sao lại cướp!


Thuyết được thể:


- Đấy, anh nghĩ có phải không?


Ngôn cãi:


- Thế ván trước, anh kém quân mà lừa chiếu tôi nước pháo bí, tôi chịu thua ngay, chứ có hượm anh đâu?


- Chiếu thua khác, bắt quân khác chứ!


- Khác thế nào? Cờ gì lại cờ hượm! Cờ gì lại cờ con khỉ thế!


Thuyết giật ngay cái bàn cờ ở tay tôi vừa phang bừa vừa thét:


- Anh bảo ai khỉ hở?


Nhưng anh Ngôn né mình về một bên, cái bàn cờ giáng mạnh xuống vai tôi. May mà chỉ đau thôi.


Bấy giờ hai nhà kỳ địch mới chịu hòa để cùng nhau xin lỗi tôi và lấy dầu long não bóp chỗ thương cho tôi.


Về đến nhà, tôi cất biệt ngay cái bàn cờ gụ của tôi đi. Rồi nhân một cái bàn ngủ đã mọt, lấy bàn cờ thay vào.


Vì thế mà hôm nay tôi chỉ được tiếp anh với cái bàn cờ giấy, tuy anh là một nhà danh kỳ, xin anh cũng lượng tình tha thứ cho”.


Ngọc vỗ tay cười. Kim cúi xuống bàn cờ, bảo bạn:


- Nhưng mời anh đi cho!


Ngọc vẻ mặt kinh ngạc:


- Còn đi nữa kia à?


- Chứ sao?


- Thế ra anh chưa biết anh thua.


Kim quên bẵng câu truyện cổ tích ban nãy, chau mày nói câu:


- Cờ này mà anh bảo tôi thua? Mới đi được ba nước, mà anh đã bảo tôi thua? Tôi lại cầm bàn cờ phang vào đầu cho anh mấy cái bây giờ!


Ngọc phá lên cười:


- May mà bàn cờ của anh chỉ còn là bàn cờ giấy!


 


Cờ điện thoại


Hồi I


Trời mưa, Huỳnh ngồi một mình ở bàn giấy, buồn rầu cau có, vì chẳng biết làm gì. Bỗng chàng nghĩ ra một điều hay hay, khúc khích cười và vui vẻ đứng dậy lấy bàn cờ bày dàn quân ra, rồi gọi điện thoại.


Huỳnh, nói điện thoại - Allo... 470 phải 4-7-0... (một lát) Allo! Anh Sâm đấy, phải không?... Chính Huỳnh đây... vẫn như thường, anh tính còn có chuyện gì lạ nữa?... Phải tôi cũng như anh, cũng buồn như chấu cắn, vì thế, tôi nghĩ ra được một cách tiêu khiển thần tình, thú vị lắm... Anh lấy bàn cờ, bày quân ra... Thì cứ bày quân ra... Không cần gì tôi phải lại đằng anh, đánh cờ bằng điện thoại kia mà... Được lắm chứ sao Thì anh cứ bày quân ra bàn đã rồi sẽ hay... Allo!... (một lát) Allo! Xin cô đừng cắt [1]... Allo! Anh Sâm? Anh bày xong cờ rồi, phải không? Vây xin mời anh đi trước... Ấy, không được, tiền khách hậu chủ chứ!... Chính anh là khách. Anh là khách, tôi là chủ... Vì tôi mời anh, vì lối cờ điện thoại này, tôi là người nghĩ ra đầu tiên... Vâng, được rồi tôi sẽ thết anh... Anh uống gì? Canh-ki-na nhé? Sâm banh nhé? Bia thôi à?... Vậy mời anh rót bia ra cốc, đằng này tôi cũng sẵn cốc Amer Picou rồi đây. Allo! Xin mời anh! (giữ cốc rồi uống) Picon khá đấy chứ, anh nhỉ?... Bây giờ mời anh đi... Anh vào pháo đầu? Pháo hai bình năm? Tôi cũng xin pháo hai bình năm (vừa nói vừa đi nước cừ).. Chính thế, Đại liệt lắm chứ... Phải, cố nhiên là phải mã hai tiến ba... Allo! Xin cô đừng cắt... Lâu gì mà lâu, chúng tôi vừa nói chuyện được nửa giờ... à, nửa phút, Allo... mã tám tiến chín... Thưa cô đừng cắt... Mã tám tiến chín mà lại!... Allo, allo! Thế nào? Allo! Rõ khổ! Nó cắt mất rồi.


Hồi II


Cùng cảnh, hai giờ sau


Huỳnh - Allô! Vẫn anh Sâm đấy chứ? Khó chịu quá! Hai giờ đồng hồ đi được hơn mười nước cờ! Mà cô ả cắt không biết bao nhiêu lần nữa... Nghe thấy thì nghe thấy, tôi sợ gì cờ điện thoại, rồi tôi còn kiện cho nữa là khác!.. Anh tính đánh cờ mà không là việc quan hệ à?... Vả lại chúng mình còn có việc cóc gì quan hệ nữa. Hử! Mỗi năm người ta trả những sáu chục bạc, mà không để người ta được tự do đảnh cờ... Nhưng anh đi đi chứ. Allo! Ai mách anh đấy?... Không à? Nghe nheo nhéo “đừng nhảy mã, đừng nhảy mã”, lại còn không có ai mách!... Ngài nào đấy, tôi nói cho biết một lần cuối cùng; cờ ngoài, bài trong, ngài đừng khoe khôn, khoe ngoan, mà bàn cờ này vào đầu có phen!... Báo đấy à? Báo thì Báo, tôi cũng không kiêng nể đâu... Xe hai tiến ba phải không?... Chắc chắn rồi đấy chứ... Thực chắc chắn. Vậy tôi, mã sáu thoái bảy... Phải thoái bảy... Cố nhiên đuổi hai xe, thưa ngài quân sư Báo... Không được, không hượm được, đã bảo chắc chắn rồi tôi mới đi kia mà... (ấn mạnh quân xuống bàn cờ). Không hượm được. Tôi có hượm anh bao giờ đâu... Nhầm? Mặc chứ, nhầm tức là thấp... Không đánh nữa à?... Chơi bẩn thế à? Không, nhất định không cho hượm... Anh cứ hượm?... Dễ nghe nhỉ (ngón lay dí mạnh quân cờ xuống bàn). Đi mau, cho người ta chặt xe... Chặt hẳn chứ lị... Thưa cô, đừng chặt... đừng cắt... À, cô lại gắt với tôi?... Tôi có quyền được nói mãi... À, cô nghe chuyện riêng của tôi?... Cô biết chúng tôi đánh cờ... Allo! Allo! (lắc đầu) lại cắt rồi. (Đặt mạnh ống điện thoại xuống máy).


Hồi III


Mười lăm phút sau


Huỳnh - Allo! Allo! Anh Sâm đấy à?.. Không?... Anh Sâm đi vắng?... Thì chính tiếng anh đấy mà lại? Tôi nhầm sao được?... À, anh nhất định bảo anh đi vắng?... Anh nhất định, phải không?... Không anh không đi vắng, anh có nhà... có nhà... có nhà... Bẩn, đánh bẩn. sắp thua lại phá bĩnh... Cáu này! Phá bĩnh này! (giơ chân đạp mạnh bàn cờ đặt trên ghế, quân lăn ra đất, và thuận tay ném luôn cả cốc rượu).


Nghỉ một giây, và nghe chừng chưa hả giận. Allo! Allo! Nghe đây này (Bầy vội quân cờ lại, ghé ống điện thoại gần vào bàn cờ, rồi chặt một cái thực mạnh). Allo! Chặt xe đấy! Nghe rõ chưa? (Đoạn nhặt những mảnh cốc vỡ ném mạnh xuống đánh xoảng một tiếng) Chừa chơi bẩn chưa? Chừa phá bĩnh chưa?


Hạ màn


___


[1] Lời nói với cô giữ việc điện thoại ở nhà dây thép.


 


Cầm vườn


Vợ chồng Độ đương làm ăn vui vẻ, bỗng đem nhà cửa, vườn đất cầm ráo cho ông hàn Đang.


Những người láng giềng bảo nhau:


- Kinh tế ghê gớm thật! Đấy, cái dinh cơ mới tậu được vài năm đã cầm bán rồi.


- Phải, thời buổi này, ai mà chắc được.


Một người đàn bà soi mói:


- Kinh tế, kinh tụng gì! Tôi biết. Chỉ tại chồng thì cờ bạc chơi bời, vợ thì như cái đụn rạ, chẳng chịu làm lụng tần tảo.


Một người khác lại tiếp một câu cay độc:


- Đáng kiếp! Muốn lên bà, khó lắm con ơi!


Họ còn bàn tán, bình phẩm nhiều câu, hoặc phàn nàn thương hại, hoặc mỉa mai trách mắng. Phàn nàn để tự bảo rằng mình chưa đến nỗi khổ sở nào, trách mắng để tỏ ra rằng mình giỏi giang hay hớm. Bao giờ cũng vậy, sự khổ sở của người khác, nếu không là sự sung sướng của mình thì ít ra cũng an ủi được mình đôi chút. Đến như ông hàn Đang kia giầu nứt đốđổ vách ra và tuy đã vớ được một món hời mà cũng còn khinh bỉ kẻ gặp vận túng. Ông ta cười bảo vợ lẽ:


- Thằng cha ấy lên mặt học thức lắm kia đấy. Xem phen này có nhăn răng ra với ông không nào.


Vợ lẽ đáp:


- Ông biết đâu rằng người ta nhăn răng. Ông ấy bảo cầm nhà cầm vườn để kiếm ít tiền làm vốn lên Hà Nội buôn bán, rồi đến hạn lại chuộc kia mà.


Ông hàn cười oang oang nói:


- Thế thì cô chẳng biết một tí gì cả. Xưa nay cô đã thấy ai cầm cái gì cho tôi mà hòng chuộc lại được không? Tôi láu lắm chứ, nếu tôi biết người ta chuộc được, thì tôi đã mua phăng, chứ khi nào chịu cầm.


Cô vợ lẽ nịnh khéo:


- Thế thì ông đáo để thực.


Ông hàn được thể:


- Nhà đất hắn ta mua hơn hai nghìn bây giờ cầm cho mình năm trăm bạc, thì mình còn cho vay món nào lãi hơn nữa.


- Nhưng hình như lãi có một phân.


- Cần gì cái số lãi ấy. Mà nó trả gì được lãi. Nghĩa là mình đã lấy phăng cái dinh cơ của nó rồi. Nhưng văn tự đây, cô xem khắc hiểu cái khóe cạnh của tôi.


Rồi ông hàn đem văn khế ra đọc cho vợ lẽ nghe. Đại khái thế này. Một nếp nhà và một cái vườn rộng một mẫu, vợ chồng ông Độ đem cầm cho ông hàn Đang lấy 500 bạc, lãi một phân. Số lãi ấy vợ chồng ông Độ trả từng tháng một, từng năm một hay khi chuộc lại trả gộp vào gốc cũng được. Nhưng ông hàn được ở nhà, được hưởng hoa lợi trong vườn và điều cần nhất, quá hạn năm năm ba ngày không chuộc thì nhà và vườn kia coi như là thuộc quyền sở hữu của ông hàn Đang.


Đọc xong bản văn khế, ông hàn lại cất tiếng cười he hé bảo vợ lẽ.


- Mình đã hiểu chưa? Nghề đời càng dễ càng khó; càng rộng càng chật. Cho cu cậu, trả lãi dễ dãi thế, cu cậu mới ỳ ra rồi chợt đến hạn không moi đâu ra được tiền mà trả gộp cả gốc lẫn lãi, là cu cậu đành bỏ.


*


Ngày hôm sau, ông hàn ta cho ngay vợ lẽ sang ở cái dinh cơ mới “tậu” được, và dặn cứ việc trồng cây cối cho đẹp mắt, cho vừa ý thì thôi vì ông ta chắc chắn rằng chủ nhà không sao chuộc lại nổi.


Một năm qua. Chưa một lần thấy Độ mang tiền lãi đến trả. Ông hàn đắc chí bảo vợ lẽ:


- Đấy mình coi, tôi nói có sai đâu. Đã bảo chúng nó đã bán xới mà lại! Vị tất còn sống. Thường đã chết đói chết khát ở xó nào cũng nên.


Vợ lẽ ông hàn mừng quýnh, vì nếu người ta không chuộc thì cái dinh cơ ấy về mình, chứ còn về ai nữa. Từ đó cô ta càng ra công trông nom trồng trọt. Trong vườn chẳng thiếu một thứ cây quả, nào bưởi Tàu, lựu Vân Nam, cam Ngọc Cục, thôi thì nghe đâu có thứ địa sản quý là lấy giống cho bằng được.


Hết năm thứ hai, rồi hết năm thứ ba, thứ tư, người nhà cũng chẳng thấy bén mảng gì! Mà cho người đi hỏi thăm thì biết tin vợ chồng Độ nghèo xơ nghèo xác mà hiện ở nhờ nhà một người bà con. Điều đó chính mồm Độ thú thực với người đi dò tin. Lúc bấy giờ thì vợ lẽ ông hàn Đang chắc rằng cái dinh cơ đẹp đẽ kia chắc là của mình rồi. Thôi, tha hồ cho cô Hai sửa sang cổng trước, cổng sau, đường đi lối lại trong vườn.


Còn độ vài tháng nữa hết hạn chuộc, thì đã nhiều cây có quả. Na chíu chít hàng trăm gốc.


Cam quít đã bói được một năm. Những cây lựu Vân Nam cành mềm mại, quả đỏ tía trông ngon ngọt quá. Còn những cây nhãn, cây sấu trồng quanh vườn thì đã cao chừng bốn, năm thước cả.


Ở một góc vườn, một đống gạch cao lù lù, và những phiến gỗ lim để ngổn ngang: cô hàn hai chỉ đợi quá hạn năm năm là dựng thêm vài nếp nhà...


Một hôm nữa trước kỳ hạn. Cô ta vừa mừng quýnh vừa lo lắng bảo chồng:


- Ngày mai...


Ông hàn không hiểu hỏi lại:


- Ngày mai làm gì?


- Ngày mai hết hạn chuộc nhà, ông quên sao?


Ông hàn vui mừng, vỗ mạnh vào đùi, đáp:


- Ờ nhỉ. Nhưng nó chuộc chiếc gì được mà bàn đến. Năm năm nay không trả lãi, trả lời được đồng nào, bây giờ đào đâu ra tiền mà chuộc. Mỗi cái mình cứ khởi công làm nhà đi.


Nhưng cô Hai chẳng dại gì. Chờ năm năm còn được nữa là thêm một vài ngày.


Hôm sau hai vợ chòng ông hàn Đang ngồi chờ cho đến tối là ăn ngon cái dinh cơ của Độ.


Vào khoảng năm giờ chiều, bỗng có một cái ô-tô đỗ ở cổng. Người nhà vào bảo:


- Thưa ông... tây!...


Người tây vào, nghiễm nhiên mở cặp đưa ra một tập giấy một trăm nói:


- Khách hàng tôi là ông Độ giao việc chuộc nhà cho tôi. Nay vừa đúng hết hạn, tôi về trả tiền gốc và lãi để xin lại ông cái văn khế và giấy má về việc cầm nhà đất.


Hàn Đang và vợ lẽ đờ người ra, hỏi:


- Nhưng ông là ai?


- Tôi là thầy kiện.


Hàn Đang giật mình:


- Sao ông Độ lại không về chuộc lấy?


- Ông không cần hỏi lôi thôi. Ông có bằng lòng cho chuộc không thì ông bảo? Nếu không cho chuộc, tôi sẽ đem việc này ra tòa án.


Nghe nói đến tòa án, thầy kiện, ông hàn Đang choáng cả người, đành đem văn khế ra và nhận lấy đủ số tiền chuộc.


Một lát sau, vợ chồng Độ cũng tới nơi, và nhận nhà liền. Thầy kiện bảo khách:


- Hết cả các thức ở đày là của ông. Ông nhớ điều ấy cho.


Độ mỉm cười đáp:


- Phải cố nhiên là của tôi cả. Nhưng muốn trả ơn ông bà hàn đã trông nom nhà đất cho tôi trong năm năm trời tôi xin biếu lại ông bà ấy số gạch và số gỗ kia. Xin nội ngày mai, ông bà đem người đến khuân vác ngay đi cho.


*


Từ đó mỗi lần ra vườn trẩy quả để nếm, vợ chồng Độ không thể không mỉm cười bảo nhau:


- Ăn quả phải nhở kẻ trồng cây nhé?


Rồi chồng láu lỉnh bảo vợ:


- Vì tôi không lập mưu thuê khéo người ta trông nom giúp thì ngày nay làm gì có cái vườn đẹp như thế này.


Vợ đáp:


- Nhưng cũng tốn mất mấy trăm bạc lãi.


Chồng cười:


- Sự nghiệp này đáng hàng nghìn, kể chi mấy trăm hạc!


Còn ông hàn Đang và vợ lẽ ông ta thì uất ức đến sinh ốm. Nhất là nhà ông hàn lại ở ngay bên cạnh nhà ông Độ, nên thường nghe người qua lại chỉ trỏ vào vườn khen ngọi:


- Cây cối tốt quá, đẹp quá nhỉ!


Rồi họ mỉa mai nói tiếp:


- Đó là công trình ông hàn Đang và cô vợ lẽ ông ta.


- Công trình!... Công cốc!


 


Bá cáo việc riêng


Ông Hàn ở ngoài về, nét mặt hầm hầm cau có bảo bà Hàn:


- Tức lắm bà ạ.


Bà hàn vồn vã hỏi lại:


- Cái gì thế, ông? Ông có điều gì bực tức thế ông? Sao thằng Cả vừa đỗ mà ông lại không vui thế?


Ông hàn thở dài:


- Ấy chính vì việc thằng Cả đỗ...


Bà hàn kinh ngạc:


- Vì thằng Cả đỗ?


- Phải chỉ vì việc ấy.


- Ông sợ nó đỗ nó trở nên kiêu ngạo, hiếu bất mục chăng?


- Nào có thế.


- Thế sao?


- Tôi đến bốn tờ báo hàng ngày nhờ họ đăng cho mấy dòng báo tin thằng Cả đỗ mà họ không đăng.


- Họ không đăng?


- Họ không đăng.


- Sao ông không thuê tiền?


- Mình là độc giả của họ, mà họ có coi mình vào đâu. Chuyến này hết hạn, nhất định thôi, không mua báo nữa. Tưởng làm ơn mua năm cho họ để những lúc hiếu, hỷ như lúc này chẳng hạn, họ đăng tin giúp mình. Chứ mất tiền thì còn nói làm gì. Vả lại mất tiền vị tất họ đã đăng cho vì tôi chắc chỉ tại họ thấy con mình đỗ, con họ không đỗ họ ghen ghét. Nghe giọng họ nghĩ luận, mình thừa hiểu: nào những kính trọng độc giả, những làm thế riêng tây quá.


Bà hàn ngập ngừng ngắt lời!


- Thế họ vẫn đăng “bá cáo việc riêng!” thì sao?


Ông hàn như vụt tỉnh ngộ, kêu:


- Ồ phải, “bá cáo việc riêng!” bà hàn thế mà khá.


Rồi ông vội vã ra đi, miệng lẩm bẩm: “Mất tiền thì mất nhưng phải làm cho ra ngô ra khoai mới được!”


Ngay sáng hôm sau trên bốn tờ báo hằng ngày độc giả thấy ở trang đầu đóng khung vuông bài sau này:


BÁ CÁO VIỆC RIÊNG


 


Tôi có thằng con tên là Nguyễn văn Tốt năm nay mới mười tám tuổi và vừa đỗ Tú tài phần triết học. Nó còn trẻ người non dạ chì biết có bụng tốt hay cứu giúp bạn dù không có tiền phải đi vay. Vậy xin bá cáo để các ông các bà biết mà đừng cho nó vay mượn, tôi và vợ tôi sẽ không chịu trách nhiêm về công nợ của nó đâu.


Kính cáo Nguyễn văn Kiểm hàn lâm


Thế là ông hàn đã làm được ra ngô ra khoai.


Ông đọc bài bá cáo cho bà hàn nghe liên tiếp bốn lần trên tờ báo hàng ngày. Rồi ông đắc chí vừa cười vừa nói mãi:


- Mất có tám đồng bạc mà cả nước biết tin con mình đỗ tú tài. Bà tưởng mưu mẹo tôi có thánh không?


Và ông rất lấy làm tự phụ về cái mưu của ông.


Nhưng cách đó mấy hôm, ông sửng sốt đọc ở cùng trang, cùng khổ, trong bốn tờ bao hàng ngày một bài bá cáo việc riêng sau này của chính con ông, Nguyễn văn Tốt:


BÁ CÁO VIỆC RIÊNG


Cha tôi đã đăng báo nói xấu tôi. Sự thực tôi có đỗ tú tài phần triết học, nhưng đỗ bình hạng cơ. Còn như cha tôi bảo tôi trẻ người non dạ thì đó là một điều vu cáo. Tôi xin bá cáo cùng các ông các bà biết cho rằng tôi đã trưởng thành và đủ tư cách để vay tiền các ông các bà vì cha mẹ tôi giàu có tới năm sáu chục vạn mà tôi lại là con một của cha me tôi.


Kính cáo


Nguyễn văn Tốt


Tú tài triết học


Ông hàn cầm tờ báo đọc lại cho bà hàn nghe, rồi cười nói:


- Con hơn cha, nhà có phúc, bà ạ.


Độc giả tưởng câu chuyện “bá cảo việc riêng” tới đây kết liễu? Tưởng thế thì xoàng! Câu chuyện chưa kết liễu được. Vì một lẽ rất giản dị này: đã có hai bài thì phải có ba. Vậy bài “bá cáo việc riêng” thứ ba như sau này:


BÁ CÁO VIỆC RIÊNG


Tôi, bà phủ Ba, giàu ít ra cũng gấp hai ông hàn Kiểm. Tôi chỉ có một người con gái tên là Kim Liên năm nay mươi bảy tuổi rất xinh đẹp, nết na và thông minh, nhưng tôi không hề ngỏ lời thông gia với ông hàn Kiểm như ông ta thường khoe khoang. Vậy xin bá cáo để các ông cử, ông nghè triết học, văn chương khoa học nào chưa vợ mà muốn làm rể tôi thì cứ việc thân đến trình diện tôi và con tôi, hễ con tôi ưng và con tôi không chê là tôi gả liền.


Kính cáo.


Bà phủ Ba


Sau bài “bá cáo việc riêng” trên này hẳn phải đánh dấu chấm hết, độc giả hỏi thế?


Vẫn chưa hết, thế mới chết chứ. Vì đọc xong mấy văn phẩm “bá cáo” tuyệt tác kia trong óc một nhà trào phúng, bỗng nảy ra một ý kiến hay hay. Tức thì gửi đăng báo bài sau này:


BÁ CÁO VIỆC RIÊNG


Tên tôi là Trần Văn, ngoài ba mươi tuổi, xin bố cáo để các thân bằng cố hữu và những người dưng nước lã của tôi biết cho rằng tôi đã chết được ba hôm nay, chết để khỏi phải đọc những bài bá cáo việc riêng chẳng riêng tây một tí nào của người mình hằng ngày đăng trên các báo.


 


Đi ra thôi


Ăn cơm xong họ ra sân ngồi uống cà-phê. Trời tối, có thể nói như mực được. Một bà khách nhìn ra cổng hỏi bà chủ:


- Ở đây có sẵn cái số ấy không nhỉ?


Bà chủ hình như đang theo đuổi cùng một ý nghĩ, nên hiểu ngay và trả lời:


-Thưa chị, ở đây sẵn trộm lắm, đêm nào chúng nó cũng vào sân...


- Ồ! Tôi có cách đuổi trộm tài tình lắm.


Ai nấy lắng tai chờ nghe. Và một bà sốt ruột hỏi dồn:


- Cách gì? Cách gì thế anh? Anh làm thế nào?


Ông chủ chậm rãi nói:


- Tôi để sẵn cái đàn ở đầu giường, hễ nghe thấy động rạng, tôi lại vớ lấy gẩy vài tiếng như để bảo anh trộm: “Tôi vẫn thức đây mà!” Thế là anh ta hiểu và sẽ để mình được ngủ yên.


Khách cất tiếng cười, có người vì thấy cách đuổi trộm hơi ngộ nghĩnh, nhưng cũng có người vì khoa xã giao cười để câu chuyện của chủ nhân đỡ nhạt.


Một ông không cười, ngồi như suy nghĩ, rồi chờ ai nấy im lặng, ông ta nói:


- Kể cách đuổi trộm của anh cũng khá đấy. Nhưng chưa thấm vào đâu với cách của tôi.


“Dạo ấy, nhà tôi mất trộm luôn xoành xoạch. Mất cũng chả đáng là bao, lần thì vài cái quần áo cũ ngâm trong châu để mai giặt sớm; lần thì vài cái bát đĩa rếch mà người nhà tôi lười biếng quẵng bên vại nước, chưa kịp rửa. Có lần không lấy được gì, anh trộm nậy cả một mẩu ống máng, hay bẻ một đoạn ống chì bọc dây điện thoại. Lần cuối cùng anh ta chặt ống dẫn nước nhưng quên không khóa compteur thành thử nước vọt mạnh vào mặt, làm anh ta sợ hãi bỏ chạy. May lúc bấy giờ đã gần sáng nên số nước bị thiệt hại cho tôi cũng chẳng đáng là bao.


Tôi bực mình lắm. Vẫn biết anh trộm kia là một tay trộm đói, bạ cái gì cũng lấy, chẳng nề hà vật nhỏ mọn, nhưng anh ta coi nhà tôi như nơi không người, mặc sức hành động thì tôi chịu sao nổi. Vợ tôi giục trình cẩm. Tôi không nghe theo. Không phải tôi ngờ vực sự mẫn cán, sự tài giỏi của sở cảnh sát, tôi chỉ thấy việc đó là một việc làm phiền cho tôi. Trình cẩm, rồi hôm sau xem báo sẽ thấy đăng tên mình với các đồ mất trộm đáng giá độ hai ba đồng bạc chẳng hạn. Còn gì khôi hài bằng! Vả - không phải tôi đạo đức rởm đâu nhé! - Vả tôi thấy cái cách dùng oai quyền với mấy anh trộm đói nó thế nào ấy. Tôi gàn, phải không? Nhưng tôi gàn thực thì còn biết làm thế nào?...”


Mọi người phá lên cười. Họ đều thấy câu chuyện hay hay, ngồ ngộ. Và họ đua nhau hỏi:


- Thế rồi sao? Anh làm thế nào?


- Tôi rình.


- Anh rình bắt trộm?


- “Phải, tôi giận lắm. Tôi cáu quá rồi. Nhất là tôi không bằng lòng cái cách làm việc của anh trộm một tí nào. Sao có người ngu ngốc đến thế? Định lấy trộm một khúc ống chì đáng giá vài hào bạc để làm phí đến dăm thước khối nước của người ta. Nước lại vừa tăng giá! Anh ta chẳng chịu suy trước nghĩ sau. Vì thế tôi nhất đinh cho anh ta một bài học.


Tôi rình. Tôi rình luôn hai hôm. Và chẳng lâu la gì, ngay đêm thứ hai, vào khoảng bốn giờ sáng, tôi tóm được...”


Bà chủ nhà vui mừng vội hỏi:


- Anh bắt được?


- “Lúc ấy tôi thoáng nghe có tiếng động ở cổng. Tôi chỗi dậy, rón rén đứng ở cửa sổ trên gác ghé nhìn xuống. Đích thị cu cậu rồi. Hai cậu. Một cậu quần áo trắng bốp và chững chạc lắm, đĩnh đạc đi bách bộ trên dìa hè; còn cậu quần áo nâu thì tò mò nhìn qua cổng vào vườn rồi mới đặt chân lên chấn song sắt, trèo.


Cái cổng nhà tôi cũng không cao, nhưng ở phía trên chằng chịt có cành cây leo hoa tím, khiến anh trộm phải khó khăn mới lách được cái đầu lọt vào phía trong cổng.


Vợ tôi cũng thức dậy và toan kêu. Tôi thì thầm:


- Hãy thong thả!


Tôi để anh trộm trèo hẳn vào phía trong vườn đã rồi mới ôn tồn, rất ôn tồn gọi.


- Anh trộm ơi!


Anh trộm sợ hãi ngẩng lên. Tôi suýt bật cười, vì tôi cứ chờ câu trả lời của anh ta: ‘Ông hỏi gì ạ?’ Nhưng anh ta lặng thinh, tôi nói luôn: ‘Anh trộm ơi, nhà tôi chả có gì đâu, anh ra thôi, để khi khác...’ Tôi cũng không hiểu lại sao tôi lại nói câu ấy, vì quả tôi không có ý muốn khôi hài với ông khách vào chơi một cách quá tự do. Nhưng anh trộm thì có lẽ anh ta hiểu. Hoặc giả anh ta muốn chiều ý tôi. Anh ta lại trèo ra, và cũng thong thả, nhẹ nhàng như lúc trèo vào, nhất là cũng khó khăn lách cái đầu trọc từ phía trong ra phía ngoài, rồi từ từ bước xuống đường.


Tôi cố trang nghiêm nhưng nhà tôi thì không sao giữ được lâu nữa, thét lên cười. Tôi quay lại bảo, như có ý trách:


- Sao mình lại cười anh ấy thế?


Trong khi đó hai anh trộm, một anh quần áo trắng, một anh quần áo nâu, thủng thỉnh bước một trên hè như đi chơi mát, không thèm lưu ý đến chúng tôi đương đứng nhìn theo”.


Cử tọa cười lên một loạt. Một người nói:


- Tưởng anh tóm được cơ chứ!


Người kể chuyện mỉm cười đáp:


- Thế thì anh xoàng. Tôi tóm được anh trộm rồi đấy, tóm được linh hồn anh ta, như thế còn chắc chắn bằng mấy mươi tóm được thân thể anh ta.


- Anh lấy gì làm bằng cớ?


- Bằng cớ đã hiển nhiên: trong một năm nay, không có một đêm nào trộm trèo vào nhà tôi.


 


Cây thần tiên


Tòa nhà đã hoàn thành. Kiến trúc sư đến ngắm lại lần cuối cùng và lấy làm ưng lắm. Chỉ phàn nàn một điều là mấy cây xương rồng trồng trong bốn chiếc chậu vuông men xanh hơi cao một chút. Đó là giống xương rồng mặt nguyệt vừa đẹp vừa dài. Kiến trúc sư muốn nó phải lùn và tròn. Ông liền ngỏ ývới chủ nhân.


Nhưng chủ nhân là một người không thích chơi cảnh lại không sành khoa kiến trúc và khoa mỹ thuật. Ông ta chỉ biết là có nhiều tiền bỏ ra thuê kiến trúc sư vẽ kiểu rồi xây dựng nhà, thế thôi. Bốn cây xương rồng vẽ trong kiểu, ông ta cũng nhận thấy rằng đó là loại tròn và lùn nhưng ông ta cho xương rồng nào mà chẳng được, hơi đâu phải cầu kỳ kén chọn, nhất xương rồng lại chẳng phải là một giống cây quý. Thà rằng lan hay cúc hay mẫu đơn cho cam! Vì thế, trúc sư tả cái cây xương rồng cần phải mua để trồng thay vào hai đôi chậu thì ông chỉ ừ hử cho xong chuyện rồi bỏ đấy.


Nhưng kiến trúc sư nhất định phải có thứ xương rồng lùn và tròn, nếu không, cái lan can của ông sẽ “đổ” - đó là nói theo nghĩa bóng, cố nhiên. Sau một tuần lễ đi đi lại lại trước tòa nhà để ngắm nghía cái công trình của mình, kiến trúc sư quả quyết làm theo ý muốn. Ông thân lên Nghi Tàm đến nhà một người bán cây quen biết và có tiếng để hỏi mua cho bằng được bốn cây xương rồng quý; ở đấy hẳn thế nào cũng có.


Ở đấy không có. Người bán cây sau khi nghe kiến trúc sư tả cây, sau khi nhìn theo ngón tay kiến trúc sư vẽ hình nó xuống mặt đất, liền sửng sốt:


- À, cây “thần tiên”? Thưa ông, đó là cây “thần tiên”.


- Cây thần tiên? - Kiến trúc sư hỏi lại.


- Vâng, cây thần tiên. Cây này quý lắm và hiếm lắm, không đâu có bán. Nói khi không phải xin ông tha lỗi cho, cây này trừ khi ông và tôi đi “xoáy” thì không tài nào có được.


Kiến trúc sư chau mày nhìn người bán cây lấy làm khó chịu về ngôn ngữ quá tự do, quá hỗn xược của hắn. Nhưng hình như hắn chẳng lưu tâm đến điều đó, cứ vừa cười vừa nhắc đi nhắc lại mãi câu nói mà có lẽ hắn cho là hóm hỉnh đặc biệt. Thấy vẻ mặt giận dữ của mình không có công hiệu ngăn cản nổi sự bất nhã hồn nhiên của đối phương, kiến trúc sư liền đấu dịu và ôn tồn nói:


- “Xoáy” hay mua tùy ý, thế nào chiều mai cũng đem đến cho tôi bốn cây xương rồng...


- Thần tiên. - Người kia vội thêm.


- Bốn cây thần tiên. Hết bao nhiêu tiền tôi sẽ trả.


Người bán cây có vẻ ngần ngại:


- Tôi không dám hứa trước, vì tôi đã nói câu ấy, trừ khi ông và tôi đi “xoáy” thì không tài nào có được. Hiện giờ chỉ nhà người khách Khâm Thiên là sẵn. Để tôi xem có thể nào “xoáy” nổi không đã.


Kiến trúc sư mỉm cười:


- Được rồi, xoáy cũng không sao, quý hồ có đem bán cho tôi. Vậy mai nhé?


Người bán cây cười to:


- Mai! Ông làm như xoáy dễ lắm đấy! Nhà người ta tường cao, cổng kín lại chó dữ, làm thế nào mà xoáy dễ dàng thế? Cần phải lập mưu lập mẹo chán.


- Vậy ba hôm, bốn hôm nhé?


- Thôi, xin ông một tuần lễ.


Hai tuần lễ sau, người bán cây trịnh trọng đem đến bốn cây “thần tiên” tí hon trong bốn cái chậu sành da đỏ. Vẻ mặt hắn ta vừa bí mật như vẻ mặt người mới làm một việc ghê gớm, vừa rạng rỡ như vẻ mặt ông nguyên soái mới thắng trận trở về. Hắn ta lặng lẽ - những người làm nổi việc lớn thường không thích khoe khoang, nhiều lời. - Kiến trúc sư vui vẻ bắt đầu:


- Vậy xoáy được?


Người bán cây khẽ gật. Mãi sau hắn ta mới kể, bằng một giọng nhũn nhặn và giản dị và vắn tắt! Hắn ta đã tốn nhiều công phu, mưu trí mới xoáy nổi bốn cây thần tiên của người khách. Sau hai phen thuê tay bợm trèo tường vào lấy trộm không xong, hắn ta phải thân gánh mấy cây phong lan quý giá đến bán rẻ cho người khách, trong khi người ấy hý hửng treo phong lan lên giàn, hắn ta đã nhanh nhẹn bỏ được bốn giò “thần tiên” giấu vào túi áo.


Kiến trúc sư chẳng hà tiện lời khen. Rồi hỏi thẳng:


- Vậy lấy tôi bao nhiêu?


Người bán cây thẳng thắn đáp:


- Tôi không dám bán, vì đó là cây cảnh đi xoáy, tôi chỉ xin biếu ông. Nhưng ông cho lại các khoản phí tổn, nào thuê bợm - phải đưa tiền trước đấy ạ - nào bán rẻ phong lan. Tất cả vào khoảng chục bạc thôi. Như thế tưởng cũng không đắt vì mới có hai đồng rưỡi một cây. Hai đồng rưỡi một cây “thần tiên”! Tôi đố ông mua đâu được.


Kiến trúc sư trả tiền, rồi đem cây đến tòa nhà mới biếu cho chủ nhân, để thay vào bốn cây xương rồng mặt nguyệt. Ông ta phàn nàn nghĩ:


- Hơi nhỏ một chút, nhưng không sao, sang năm nó to lên thì vừa vặn.


Cách đó vài hôm, kiến trúc sư vào chơi chợ Đồng Xuân. Qua dãy hàng cây, kiến trúc sư kinh hoảng vì vừa thoáng trông thấy có đến hai chục cây “thần tiên” vừa to hơn, vừa tròn hơn, vừa đẹp hơn bốn cây mà người bán hoa đã khó nhọc xoáy cho mình. Ông ta cười ngất vì suýt buột miệng hỏi người hàng hoa: “Bác đã ‘xoáy’ những cây này ở đâu thế?” Song ông ta cũng mặc cả để biết giá:


- Bao nhiêu một đôi thần tiên?


Nhà hàng hỏi lại.


- Ông bảo cây gì ạ?


- Cây “thần tiên”. - Vừa nói kiến trúc sư vừa trỏ vào mấy chậu xương rồng.


Người hàng cây mỉm cười:


- A, cây xương rồng múi khế này? Xin ông sáu hào một đôi.


Kiến trúc sư trả đùa một câu:


- Thôi ba hào.


Và mua được ngay không cần phải đi xoáy.


(còn tiếp)


Nguồn: Đội mũ lệch. Tập truyện ngắn của Khái Hưng. NXB Đời nay, Hà Nội, 1941.


 


 


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Người cha anh hùng của nữ thủy thần Undine - Heinrich Böll 11.09.2019
Mùi vị bánh mì - Heinrich Böll 11.09.2019
Cuộc đời trôi nổi của cái tách không quai - Heinrich Böll 11.09.2019
Chuyện đời của một trí thức - Vũ Hạnh 11.09.2019
Người chồng của vợ tôi - Vũ Hạnh 11.09.2019
Ăn Tết với một người điên - Vũ Hạnh 11.09.2019
Cho nó có đạo đức - Lê Mai 06.09.2019
Nhốt gió - Bình Nguyên Lộc 22.08.2019
Cái bẫy - Đỗ Trường Leipzig 11.08.2019
Ngoại tình tuổi 50 - Vũ Ngọc Tiến 30.07.2019
xem thêm »