tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 29387284
Truyện ngắn
26.05.2017
Khái Hưng
Tập truyện ngắn Đội mũ lệch (1)



Đội mũ lệch gồm hơn chục truyện ngắn, có truyện rất ngắn, có truyện như vở kịch ngắn, NXB Đời nay, Hà Nội, 1941.


Ăn miếng trả miếng


Mấy người đi làm về, giữa đường gặp mưa chạy vào ẩn trong một nhà hàng phố: nhà ông thầy bói. Trên ghế ngựa, sau bức mành bên cái cháp sơn đen, thầy bói ngửa mặt như nhìn ra đường. Một nụ cười bất tuyệt hé cặp môi tươi của thầy tưởng thầy đương vui thú điều gì. Hay thầy gặp ai trong giấc mộng liên miên!


Bỗng nụ cười trên môi thầy biến mất. Thầy lắng hết tinh thần nghe những câu bàn tán léo nhéo của mấy người trú mưa, nhất là những câu bàn tán ấy lại liên can đến thầy và nghề bói toán của thầy. Một người nói:


- Đã mù thì còn biết sao việc của kẻ khác.


Một người khác trả lời:


- Bói liều chứ có nhìn đâu mà cần phải mắt sáng.


Người thứ ba kể một câu chuyện để chứng thực rằng bọn thầy bói toàn nói dựa. Rồi ba người thi nhau ôn lại những chuyện cổ tích, hay khôi hài để riễu cái nghề nhắm mắt nói mò. Cố nhiên là họ không nói bỏ sót trong ký ức mấy câu lục bát bông lơn:


Số cô có mẹ, có cha.


Mẹ là đàn bà, cha cô đàn ông...


Họ thích chí cất tiếng cười vang, khiến thầy bói chau mày căm tức. Vì tuy trời mưa rào và câu chuyện nói không to, nhưng người mù vẫn thính tai, nên nghe rõ mồn một.


Bọn kia cười chán rồi bảo nhau xem một quẻ đùa chơi. Thầy bói biết ý lẩm bẩm “Được rồi! Tao sẽ cho chúng mày một bài học khôn”.


Ba người đến gần giường thầy bói ngồi. Một người cố lấy giọng lễ phép nói:


- Thưa thầy, chúng tôi muốn xem một quẻ bản mệnh, cầu tài, gia sự, tật bệnh. Vậy thầy lấy bao nhiêu tiền?


Thầy bói mỉm một nụ cười ý nhị đáp lại:


- Cái đó tùy! Như các quan lớn thì tôi lấy một, hai đồng cũng nên. Nhưng thầy là người đi làm việc ở một sở buôn thì tôi chỉ xin thầy một hào; không hay trả lại liền. Còn hay mà thưởng thêm thì tùy.


Người kia nghe chừng hơi cáu hỏi vặn:


- Sao thầy biết tôi làm việc ở sở buôn?


Thầy cười tự đắc:


- Nghe tiếng nói đủ biết chứ!


Người đặt quẻ khai tên tuổi.


Thầy bói khấn khứa gieo mấy đồng trinh trong cái đĩa lá trúc, sờ soạng xem sấp ngửa rồi nói những câu... những câu trái ngược hẳn với lời tán tụng. Hình như bao nhiêu những quẻ xấu của thầy, thầy đem ra trút cả lên đầu người xem từ cung bản mệnh cho đến cung tật bệnh, nào những số này thì ngày sau đi ăn mày, nào những sẽ bị ốm nặng, vợ sẽ chết, con sẽ chết...


Hai người đã toan tát cho thầy bói mấy cái nhưng người thứ ba ngăn lại thì thầm bảo: “Cứ mặc cho nó nói sướng mồm”. Người ấy lại đế thêm: “Vâng, chịu thầy, thầy nói rất đúng”.


Xem xong quẻ, người ấy bảo thầy bói:


- Thầy nổi tiếng quẻ đích đáng. Cái quẻ thầy vừa xem cho tôi hay lắm, hợp với số tử vi của tôi lắm. Trông bộ thầy thông minh thế kia không trách được. Thưa thầy, bói thì tôi không biết, nhưng tướng số thì nhờ trời tôi cũng khá. Thầy có muốn tôi xem cho thầy không?


Thầy bối đoán chừng anh chàng muốn sỏ lại mình đây, nhưng ăn miếng trả miếng cần gì; mình từ chối có lẽ không quân tử. Liền bằng lòng.


Người kia xem trán, xem tay, xem tai thầy bói rất cẩn thận, rồi cất giọng thông thái nói:


- Trán cao: thông minh lắm. Tay trái có thắp bút: khoa bảng. Ngón tay út dài quá hai đốt rưỡi ngón tay đeo nhẫn: tài hoa. Chỉ tiếc trời xanh ghen ghét kẻ có tài, chứ nếu thầy không mù thì đã trạng nguyên, bảng nhãn rồi, hay ít ra cũng làm đến đường quan chứ chẳng chơi...


Lòng tự phụ của thầy bói ngùn ngụt bốc lên. Thầy hối hận, hối hận quá về cái quẻ bói ác nghiệt của thầy. Ngập ngừng, thầy nói:


- Tôi xem ra ông học rộng và thông minh lắm: biết xem cả tướng số. Trong nghề bốc phệ chúng tôi có khi hấp tấp cũng nhầm, vậy ông để tôi xem lại.


Tức thì thầy bói trịnh trọng gieo tiền, rồi thầy thốt ra một quẻ... một quẻ trái ngược hẳn với quẻ trước. Hình như bao nhiêu những điều hay nhất, thầy dồn cả ra để tạ lại tấm ơn tri ngộ của khách hàng.


Thầy còn nói, còn nói khá nhiều, nếu ba dịp cười không làm lấp tiếng thầy. Và tức thì ông thầy tướng tạm thời để cho lòng căm tức của mình bùng lên, lòng căm tức đã cố nén trong nửa giờ đồng hồ.


- Này thầy bói! Tôi không biết tướng số gì đâu. Chẳng qua tôi phỉnh thầy mấy câu hão huyền đó mà thôi. Chứ thầy là một thằng mù sống về nghề nói láo, thì còn làm nên vương tướng gì.


Dứt lời, ba người vừa cười vừa đi ra.


 


Tiệc tranh


 


Lãn Sinh, phóng viên đặc biệt báo Mỹ Thuật Thanh Thanh, còn nhớ và sẽ nhớ mãi buổi khánh thành phòng triển lãm của hội họa Nguyễn Quân.


Hôm ấy, con mắt sành mỹ thuật và ngọn bút không thiên tư của phóng viên đã làm việc lung lắm, và đã thêu nên một bài phẩm bình nồng nàn như sâm banh, ngọt ngào như chiếc bánh đường, mặn mà như chiếc bánh mì kẹp thịt ướp muối, dịu dàng thom tho như chén trà mạn ướp sen.


Là vì lúc Lãn Sinh ngồi bóp trán nắn ra những lời cẩm tú để đăng báo tán dương, thì men rượu, mùi bánh, hương trà, vừa được họa sĩ thết hãy còn man mác trong tâm hồn, phảng phất trong hơi thở, sôi nổi trong dạ dầy... Than ôi! Ngờ đâu ngũ vị lại có liên lạc mật thiết với mỹ thuật và văn chương đến như thế? Không trách thi sĩ Tản Đà ví văn chương giỏi với chả chim, với mâm gỏi, thực đã chí lý lắm vậy.


Hôm nay, hồi tưởng đến bữa tiệc xem tranh Lãn Sinh ngồi mỉm cười ngẫm nghĩ: “Giá các nhà hội họa cứ thi nhau mở phòng triển lãm thì cũng hay hay. Mà nếu các nhà văn lại thi nhau mở hàng triển lãm văn thì càng hay lắm. Như thế, mình sẽ có nhiều dịp biểu lộ cái tài phê bình của mình ra”.


Giữa lúc ấy, Tô Giang, bạn chàng, đến vỗ vào vai mà bảo rằng:


- Mời anh chiều nay bảy giờ rưỡi đến xem tranh nhé!


Lãn Sinh giật mình hỏi lại:


- Xem tranh?


- Vâng, xem tranh.


- Anh mở phòng triển lãm?


Tô Giang nhún nhường:


- Anh nói to tát quá!... Nghĩa là tôi bày ít tác phẩm ở phòng vẽ riêng của tôi, mời anh em bạn đến xem mà dạy cho biết những chỗ vẽ còn vụng.


Lãn Sinh cười:


- Anh cũng nói to tát! Chúng tôi dạy sao nổi anh. Vậy anh mời có đông không?


- Chỗ anh em quen biết cả, và mấy nhà báo, tất cả độ bốn chục người trở lại thôi.


Lãn Sinh mỉm cười có ý nhị:


- Vâng, thế nào chiều nay tôi cũng xin đến.


Nhưng chợt nghĩ: “Ta phải hỏi cho biết chắc chắn bữa tiệc tranh có những thực phẩm gì để xem nên ăn cơm trước rồi hãy đến”. Chàng liền nói đắn đo:


- Anh mở phòng triển lãm như thế chắc cũng tốn phí nhiều lắm đấy nhỉ?


- Chẳng tốn mấy! Chỉ có tiền đóng khung và sơn tường là đáng kể. Nhưng cũng chẳng là bao.


Lãn Sinh hơi chột dạ:


- Xem tranh, thế có thấy tranh sâm banh không?


- Có, sao anh biết?


Lãn Sinh vui vẻ, khôi hài:


- Tranh sâm banh thì thực tuyệt, chẳng còn tranh mầu mỡ, nồng nàn bằng? Hẳn có cả tranh hoa quả, tranh nước chè!


- Có cả thực. Quái, tôi giấu kín không cho ai hay, thế mà sao anh tò mò biết trước được. Lạ thực!


Chủ trân trọng tiễn khách ra tận cổng rồi quay vào dặn vợ:


- Chiều nay tôi không ăn cơm nhà.


Vợ cau có đáp:


- Lại đã tiệc tùng gì thế?


- Tiệc tranh.


- Tiệc xem tranh? Hay mình nói dối để đi hát đấy?


Lãn Sinh gắt:


- Chỉ nói bậy! Người ta đi về việc nhà báo!


Bảy giờ mười lăm phút, Lãn Sinh đã có mặt tại nhà riêng của Tô Giang. Họa sĩ mời chàng ngồi chơi ở phòng khách. Hồi mỗi lần có người đến lại một lần chủ nhân giới thiệu đôi bên.


Lãn Sinh đưa mắt nhìn quanh phòng: tranh chẳng có mà tiệc cũng không. Chỉ thấy mời sơi nước chè với hút thuốc lá hoài.


Một người hỏi chủ nhân:


- Tác phẩm của họa sư trưng ở đâu? Cho chúng tôi xem nào.


- Thưa, ở trên gác.


Lãn Sinh nghĩ thầm “À, ra tiệc bày trên gác”.


Nhưng khi lên gác xem tranh cũng chẳng thấy bóng cái bàn dài phủ trắng trên bày những chai rượu lớn và những cốc pha lê trong. Lãn Sinh lại nghĩ thầm: “Chắc ở bên buồng ăn”.


Đồng hồ treo đánh chín giờ. Tiếng chuông trong trẻo ngân nga như hát. Song mỗi tiếng là một nhát vồ nện vào dạ dày của Lãn Sinh chứa đầy nước chè và khói thuốc lá.


Lãn Sinh đứng dậy cáo từ, nhưng Tô Giang khẩn khoản cố giữ. Vả anh em chuyện trò đương vui mà một mình vội về cũng không tiện, đành phải gượng cười và giấu những cái ngáp dài, rán ngồi lại với cái bụng rỗng không, thầm kêu đói. Oán tức Tô Giang đã lừa dối mình nói dối mình nói có sâm banh, bánh ngọt, đủ thứ, mà kỳ thực, chẳng có gì, chàng thề độc với chàng rằng sẽ “phết” cho một bài phê bình nên thân làm cho họa sĩ “tiêu hết sự nghiệp”.


Bỗng một người hỏi chủ nhân:


- Thưa ngài, mấy bức tranh tĩnh vật đã ai nhận mua chưa?


- Thưa chưa.


- Vậy tôi xin ngài để cho tôi một bức.


Tô Giang vui vẻ:


- Thưa ngài muốn lấy bức nào? Bức vẽ hoa quả hay bức vẽ chai sâm banh và mấy cốc pha lê, hay là bức vẽ đĩa bánh ngọt?


Lãn Sinh vụt hiểu:


“À ra thế! À, ra ‘bức tranh sâm banh’ thực!”


 


Bảng công ty


Tập và Luyến đến chơi người bạn làm thầy thuốc. Thấy trong phòng khách có ba người đương ngồi đợi, vì chủ nhà đi vắng, hai chàng toan quay về thì vừa gặp vợ bạn ra khẩn khoản mời mọc, nói chồng mình đi thăm bệnh nhân sắp về. Chẳng đừng được, hai người đành phải ở lại tiếp chuyện ba ông khách ốm hộ bạn. Nhờ trời, hai ngài cũng lắm chuyện, mà chuyện nói lại có duyên, nên thính giả rất chú ý lắng tai nghe. Được thể, một ngài - hình như Tập - càng nói, nói tràn, nói nữa, nói mãi, nói nhiều đến nỗi Luyến phải đưa mắt mỉm cười, rồi ngắt lời, hỏi:


- Bảng công ty đấy chứ?


Cố nhiên ai nấy hỏi lại “Bảng công ty nghĩa là gì?” thì người nói chuyện có duyên kia cũng sẵn lòng giảng cho vỡ nghĩa. Chàng hắng giặng lấy giọng rồi kể rằng:


- Bảng chỉ là tên ông chủ một cửa hiệu bán sơn và tranh ảnh, nhưng chữ Bảng đã trở nên đồng nghĩa với chữ “nói tài”...


Luyến ngắt lời:


- Thì cứ nói thẳng là nói khoác có được không?


- Khô... ông! Nói điêu chứ! Vâng cứ câu chuyện tôi sắp thuật đây, thì ở đời cũng ít khi gặp được một người nói điêu có tài như ông Bảng đó.


“Một hôm Phiệt qua hiệu Bảng thấy bày ở tủ kính bức tranh rất đẹp mà Tân Tử đã vẽ tặng mình tháng trước. Anh nghĩ thầm: ‘Quái! Tân Tử gửi bán tranh ở đây chăng? Mà sao bán một bức thứ hai giống hệt bức tranh thứ nhất đã vẽ cho mình?’


Nhưng nhìn kỹ đó chỉ là những nét bút vụng dại của một anh thợ vẽ tầm thường. Phiệt bỗng chợt nghĩ ra. Hai tuần lễ trước anh có đem bức tranh của anh lại hiệu Bảng thuê lồng kính. Thì ra bác chủ hiệu thấy tranh đẹp, mà lại là tác phẩm của một dạnh họa, liền xoáy luôn, - xoáy nghĩa là vẽ lại một bức khác y như hệt bức kia, y như hệt cả cái tên ký Tân Tử.


Đùng đùng nổi giận, Phiệt tiến vào hàng, cố lấy giọng dịu dàng hỏi mua bức tranh giả hiệu. Nhưng anh vẫn không có được vẻ mặt dịu dàng, nhất anh lại luôn mồm nói làu nhàu.


Thấy biến và chừng nhận được mặt chủ nhân bức tranh đưa lồng kính, Bảng đã bỏ tiền - giá tiền bức tranh - vào ví, lại vội lảng vào trong nhà. Mấy phút sau hắn ra. Theo ra hai người lực lưỡng. Giữa lúc ấy, Phiệt không giữ được bình-tĩnh nữa, buột miệng nói lớn: ‘Rồi mày sẽ biết tay tao!’


‘Biết tay ngài lắm’. Đó là câu trả lời của Bảng. Tức thì hai người lực lưỡng giữ ghì lấy tay Phiệt - Biết tay thực! Trong khi ấy Bảng ấn bừa hai đồng bạc vào túi anh, rồi đập tan xé nát bức tranh ra... cho mất tích.


Xong xuôi, hắn ta hô buông Phiệt ra rồi dõng dạc nói: ‘À, anh đến đập phá hiệu tôi có phải không?’


Đã toan nói điện thoại gọi cẩm, nhưng hắn lại thôi, bảo người nhà quét dọn sạch sẽ và lấy bức tranh khác đặt vào chỗ bức cũ, coi như đã không xảy ra một việc cỏn con gì hết.


Còn Phiệt thì chạy tuốt đi gọi ba người bạn đến giúp sức, rồi đứng ngoài đường cởi áo ngoài ra, vén tay áo sơ-mi lên, mà thách ra rằng:


- Mày có giỏi ra đây.


Bảng cũng chẳng vừa, cũng cởi áo ngoài ra, vén tay áo sơ-mi lên mà thách lại:


- Mày có giỏi vào đây.


Thế là người ở ngoài nói vào, người ở trong nói ra đến gần nửa giờ, nhưng chẳng ai dám ra, mà cũng chẳng ai dám vào. Mãi khi thấy Bảng gọi điện thoại, Phiệt mới cùng bạn bè chuồn nhẹ lên sở cẩm kiện Bảng.


Trước mặt ông cẩm, Bảng khai trắng trợn rằng: Phiệt đến nhờ hắn vẽ một bức tranh, nhưng hắn không vẽ, nên lôi thôi với hắn.


Không bằng cớ, sở cẩm xử hòa, và mời hai ngài nên đem việc hai ngài ra tòa án.


Ra đường, lúc chỉ còn hai người đứng trước mặt nhau, Phiệt xừng xộ hỏi Bảng:


- Tôi nhờ anh vẽ tranh bao giờ?


Bảng cũng xừng xộ trả lời lại:


- Anh chẳng nhờ tôi vẽ tranh là gì, bây giờ lại còn chối.


Phiệt thấy kẻ tình địch của mình, lúc không cần nói điêu nữa mà vẫn cứ nói điêu thì không thể nhịn cười được. Từ đó, hễ gặp ai nói điêu hay nói khoác, hay nói bịa, anh đều liệt vào hạng ‘Bảng công ty’ cả”.


Tập ngừng kể, ai nấy cười vang. Một người vui vẻ hỏi:


- Vậy ngài có biết mặt Bảng không?


- Ấy, tôi chính là một người trong ba người bạn đến giúp sức cho Phiệt. Tôi trông rõ mặt hắn ta lắm. Thằng cha khá quá, mặt cứtoen hoẻn, mà cái mồm nó thì không ai theo kịp.


Giữa lúc đó, ông thầy thuốc về, giơ tay bắt tay mọi người và giới thiệu ba ông khách với hai bạn:


- Ông Bảng, chủ hiệu bán sơn và tranh ở phố Tràng Tiền.


Bảng lễ phép ngả đầu láu lĩnh đỡ lời chủ nhân:


- Thưa... Bảng công ty ạ.


 


Phá cỗ


Thời ấy, con gái Hà thành còn đua nhau bày cỗ để khoe cái tay khéo nặn con giống, khéo gọt tỉa các thứ hoa bằng thu đủ. Nhất là những cô gái đến tuổi có cặp má dễ ửng đỏ trước đôi làn dương điện thì lại càng cần khoe lắm.


Ngày nay ta tự do hơn, trai gái thường được gặp nhau trò chuyện thì sự đo đắn cân nhắc trí thức của nhau có khó gì. Nhưng mười lăm, mười sáu năm về trước, các tiểu thư còn thẹn thò trong chốn phòng khuê, các công tử còn phải nhờ đến đến tay mụ mối để “dắp dành bắn sẻ” thì một bàn cỗ lộng lẫy hôm rằm tháng Tám gần như đứng ra giới thiệu cho hai bên.


Người con gái bày cỗ sẽ đem óc thông minh, tài mỹ thuật ra bài trí, người con trai sẽ ngắm cỗ bày mà đoán được trí tuệ của người kia đến bực nào. Ấy là chưa kể đôi bên còn được tự do (tự do trong hai đêm thôi, mười tư và rằm) trao đổi một vài ý kiến, một vài tư tưởng, ở trước mặt cha mẹ người con gái.


Năm ấy chúng tôi một bọn đương tuổi vui đùa, nghịch ngợm, tối hôm rằm tháng Tám rủ nhau đi phá cỗ. Xin nói ngay để những ai chưa từng nếm cái diễm phúc đi phá cỗ hiểu cho rằng đó không phải là thủ đoạn của bọn côn đồ vác gậy gộc đi phá phách, nhưng là cử chỉ rất tao nhã của bọn văn nhân, thi sĩ nhờ về tài biện luận (nói tán tỉnh cũng không sai nghĩa lắm) mà được hưởng cỗ của các cô trước khi có cái hy vọng chiếm trái tim các cô. Nói thế không phải là cổt để khoe rẳng chúng tôi là văn sĩ hay thi sĩ. Thực ra, chúng tôi chỉ là lũ học sinh “lém luốc”.


Nghe tiếng ở phố T..., nhà ông N..., một nhà giàu ngốt, có gái kén chồng, làm cỗ to ghê gớm (tôi nói cỗ đẹp), chúng tôi liền kéo nhau đến.


Quả lời đồn không sai. Nhà ông lang, một nếp nhà cao rộng đã biến thành một động... một động viên. Bao nhiêu các vị thuốc xấu xí nhường chỗ cho hàng trăm bông hoa đua nở trong hàng chục ngọn đèn điện.


Cố nhiên là chúng tôi khen. Trong bọn chúng tôi có anh Hướng, con nhà văn chương, khéo tìm được những câu cẩm tú để làm cho lời khen của anh thêm đậm đà, thêm có duyên. Cảm động, ông chủ cùng cô con gái ông mời chúng tôi phá cỗ, nghĩa là ông mời chúng tôi uống chè mạn sen và xơi bánh ngọt, xơi kẹo mứt chính tay “cháu” đã làm (hay mua ở phố hàng Đường thì cũng thế).


Giá tôi cứ lặng yên mà nuốt cho trôi cỗ thì cũng xong. Nhưng tôi lại muốn đền ơn cô em bằng những câu ca tụng không đâu khiến Hướng luôn luôn phải đưa mắt bảo tôi im đi.


Một lần tôi vừa nhai kẹo sìu vừa trỏ một chậu hồng mà khen rằng: “Chậu hồng này, cô làm khéo quá!” Cô kia đỏ ửng má lên mà nguýt dài tôi một cái, vì cho là tôi nói lỡm. Anh Hưởng hiểu ngay rằng tôi lầm lỡ trông chậu hồng thực hóa giả, liền chữa thẹn cho tôi:


- Thế mới biết cô có đại tài, bày hoa hư hư thực thực như Gia Cát Lượng dàn thế trận trong đời Tam Quốc.


Cô ả và ông bố phổng mũi, cười. Từ đó, cô ta đem lòng yêu thầm anh Hưởng và ghét tôi một cách độc địa. Dù tôi pha trò có duyên đến đâu, cô cũng giữ vẻ mặt nghiêm trang, còn anh Hướng chưa nói, cô đã chúm chím cặp môi son và lắng tai nghe rất là âu yếm, đến nỗi tôi sinh cáu và cố tìm dịp báo thù Hướng. Dịp ấy tôi tìm thấy, than ôi, lúc đã từ biệt ông lang và đã ra đến ngoài phố. Tôi bảo Hướng rằng:


- Cách bày cỗ của nhà ông lão lang và cô ả quả có vẻ thực thực hư hư như lời anh khen. Những hoa hồng giả làm khéo đến nỗi tôi tưởng là hoa thực. Nhưng là một đóa hoa giả, gọt khéo nhất thì anh quên nên không khen: đóa hoa ấy là cô con gái với bộ mặt bự phấn của cô ta. Thiết tưởng phải là hạng người ngu ngốc lắm mới tán tỉnh được, người thục nữ ấy.


Nói xong, tôi sung sướng hả cơn giận.


Rõ trẻ con: Mà trẻ con thực.


 


Trong kỳ thi sơ học yếu lược


Giỏi


Thầy giáo - Anh hãy tìm những chữ đồng nghĩa với chữ giỏi.


Cậu học trò nhỏ (mười một tuổi) - Thưa thầy tài.


Thầy giáo - Tài được, gì nữa?


Cậu học trò (ngẫm nghĩ) - Thưa thầy, khéo.


Thầy giáo - Khéo. Được lắm. Nhưng gì nữa?


Cậu học trò (chau mày răng hàm trên cắn lên môi dưới, mắt nhìn cái bút chì ở tay thầy giáo) - Thưa thầy thưa thầy... tài.


Thầy giáo - Phải tài, nhưng anh đã nói rồi. Một người tài giỏi là một người... một người gì?


Cậu học trò - Một người... một người cừ.


Thày giáo - Hừ, hừ! Cừ là tiếng thổ ngữ ta nên tránh. (giọng tự phụ) Chữ cừ chính nó ở một chữ nho mà ra và thường đi đôi với một chữ nho nữa (thầy nghĩ đến chữ “cự phách”). Vậy giỏi nghĩa là... nghĩa là...


Học trò - Tài.


Thầy giáo - Anh nói mãi chữ tài.


Học trò - Gân.


Thầy giáo - Lại dùng thổ ngữ rồi!


Học trò, ngơ ngác chẳng hiểu thổ ngữ nghĩa là gì...


Thầy giáo - Vậy anh chỉ biết có thế thôi ư?


Học trò, sợ bị “nốt” xấu, nói vội - Bợm mà.


Thầy giáo (mỉm cười) - Gì nữa?... Những tiếng đi đôi, nghĩa là có hai chữ ghép lại nhau.


Học trò - Khéo léo, gân guốc, xừng kền.


Thầy giáo (vừa cho điểm, vừa nói) Hừ! Chỉ có mấy chữ cự phách, lạc lỗi, siêu quần, bạt chúng bạt tụy, có thế mà không biết!


Bưu chính


Cô giáo (trẻ tuổi) - Nhà bưu chính là nhà gì?


Thí sinh (mười tuổi, giọng quả quyết) - Thưa cô, nhà bưu chính là nhà đẻ.


Cô giáo (mỉm cười) - Sao em lại biết là nhà đẻ?...


Thí sinh, vẫn giọng quả quyết - Thưa bưu nghĩa là bừu.


Cô giáo (nghe ngộ nghĩnh, hay hay) - Nhưng bừu sao lại đẻ?


Thí sinh, tưảng mình nói trúng rồi - Thưa cô, vì bừu nghĩa là “phình” ra, có bừu ra nghĩa là có chửa có nghén.


Truyện con khẹc


Cô giáo (vẫn cô giáo trên) - Em hãy giảng nghĩa chữ liu điu.


Những người lớn đứng xem ở ngoài cửa sổ, ngay gần chỗ dự thi, bảo nhau: Hỏi gì lại hỏi khó thế! Đừng nói thẳng bé mười một mười hai tuổi nữa, ngay chúng mình cũng chẳng biết cái con khẹc là gì. (tiếng con khẹc đọc hơi to).


Thí sinh (tưởng có người nhắc) - Thưa cô liu điu là con khẹc ạ!


Cô giáo đỏ mặt ngượng với những người đứng xem cho bảy điểm thật rõ ràng, để ai ai cũng trông thấy - Thôi được!


Có lẽ cậu học trò nhỏ từ đấy yên trí rằng liu điu là con khẹc.


Trăng suông


Hôm ấy tôi đến thăm một người bạn cũ ở một làng nhỏ, làng Đoan Hạ thuộc huyện Thanh Thủy, tỉnh Hưng Hóa. Dân cư chỉ có bề dài chạy theo nẻo tả ngạn sông Đà. Bên kia sông Đà. Bên kia sông và xế về phía Đông nam núi Ba Vì đứng sững, đồ xộ, nguy nga.


Lúc bấy giờ đã gần tối. Mặt trời vừa lặn khuất ngọn Lưỡi Hai, bóng nằm dài, bắc qua sông. Tôi đi ven dòng nước, chỉ chực trượt chân vì trời nhá nhem mà bờ sông, đất phù sa, vừa cao vừa lở nhiều chỗ.


Đến cổng nhà bạn, một cái cổng tre xinh xắn, trông ngay ra sông, tôi lên tiếng thì một thằng bé con khoảng mười hai tuổi con vận tang phục chạy ra nói cha nó sang bên làng Hoàng Xa tử sáng và có lẽ hôm sau mới về.


Tôi buồn rầu, thất vọng, đứng ngẫm nghĩ, thì thằng bé, vẻ mặt thông minh, linh lợi, bàn với tôi một câu:


- Hay mời ông nghỉ lại nhà con một tối, mai thế nào thầy con cũng về.


Tôi hỏi:


- Bà Nhất có nhà không, em?


Nó ngơ ngác nhìn tôi rồi đáp:


- Mẹ con mất năm ngoái.


Tôi nhớ đến tang phục của nó.


Thằng bé đưa tôi lên nhà trên, rót nước mời tôi uống. Tôi mở va-li lấy tiền nhờ nó đi mua dùm vài cái bánh chưng ăn cho đỡ đói...


Mới vào khoảng chín, mười giờ làng xóm đã im phăng phắc. Thằng bé, con bạn tôi, cũng đã xuống nhà ngang ngủ từ lâu, một mình tôi ngồi đối ngọn đèn dầu tù mù xem sách.


Lúc mới đến, tôi đã để ý tới cái tủ sách sơn quang dầu của bạn đặt trên bàn thờ người vợ bày ở gian giữa. Tôi kéo cánh tủ lên thì mấy ngăn xếp chặt ních những sách cũ, đã bị mọt đục, dán nhấm nhiều chỗ; nào Đường thi, cổ văn, Tam quốc, Bắc sử, lại cả sách thuốc nữa.


Tôi toan đóng cửa tủ lại thì một con “ba đuôi” lớn chạy ẩn vào trong một quyển sách bìa đã nhàu, và bốn góc như bị dao cùn xén nham nhở. Tôi liền rút quyển sách ấy ra để giết chết loài rắn hại kia mà tôi vẫn ghét và sách của tôi ở nhà bị lũ đồng chủng của nó nhấm nát.


Rồi tôi tò mò mở sách ra xem thì đó là một bộ “Liễu trai chí dị” mười sáu quyền đóng làm một.


Hết một chuyện lại một chuyện, tôi đọc không biết chán, tuy chữ nhỏ khó xem và đèn tù mù. Tôi mê mải sống với bọn đạo sĩ, yêu tinh trong chuyện, hưởng những cuộc tình duyên mơ mộng, giữa những cảnh thần tiên êm đềm...


Tiếng gà gáy nửa đêm làm tôi giật mình, gập sách lại, tắt đèn toan đi ngủ. Nhưng lòng còn bâng khuâng nhớ cô Lý, cô Liên trong vườn Liễu, tai tôi còn vang dịp cười ròn rã của cô Ninh bên khóm bạch đào trổ bông tươi tốt. Thành thử tôi băn khoăn không sao yên giấc được.


Tôi liền chỗi dậy chống cái phên che cửa sổ chấn song tre, và ngồi đó nhìn ra sông. Trăng tròn có tán đã lên quá đỉnh đầu, và chiếu xuống trần gian một làn ánh sáng như có như không. Một làn sương mù chạy dài phủ khắp mặt nước như tấm lụa trắng hung bất tuyệt. Tiếng lá lau cọ vào nhau nghe lạt xạt. Bên kia sông, chòm núi Ba Vì nổi lềnh bềnh trên mây, ba ngọn nhọn hoắt và như bạt theo chiều gió.


Ngắm cảnh trăng suông, tôi mơ màng tưởng còn đương sống với những chuyện vừa đọc và tôi yên trí rằng không thể nào lại không có những cô yêu tinh diễm lệ chờ đợi, hẹn hò khách văn nhân đa tình, đa cảm.


Một con thuyền đi qua như lướt trong không. Ngọn lửa vàng nhợt nhạt chọc thủng màn sương. Phải chăng đó là thuyền đưa tiên tử xuống trần?


Thân thể mỏi mệt vì thức khuya, tôi đóng cửa sổ lên giường nằm. Song mắt tuy nhắm mà trí vẫn theo đuổi mộng dài đêm xuân.


Có lúc tôi thiếp đi độ mười phút, tức thì tôi thấy hiện ra trong ánh trăng suông đủ các nhân vật Liễu trai chí dị. Nhưng tôi tỉnh ngay và tự cười thầm cái lòng mơ mộng hão huyền của mình.


Bỗng nghe có tiếng động ở bàn thờ, như ai se sẽ lôi một vật gì.


Tôi nghĩ ngay đến cái tủ sách cũ mà có lẽ tôi quên chưa đóng cửa. Sợ chuột rủ nhau đến phá phách, tôi liền dậy đánh diêm thắp đèn xem lại...


Vừa soi xuống dưới bàn thờ, thì trong đó chui ra một người con gái, vận nâu sồng, đầu tóc bù rối. Người ấy đứng trân trân nhìn thẳng vào mặt tôi. Tôi đờ người ra, lưỡi díu lại, lắp bắp không ra hơi!


- Yêu tinh!


Cô kia mỉm một nụ cười bí mật, nửa như đùa, nửa như sợ, làm cho tôi rợn tóc gáy, rồi vừa lùi, vừa nhìn tôi sòng sọc, mắt không chớp, cặp mắt to đen láy, phản chiếu ánh đèn lấp lánh như mắt con cáo trắng, con bạch hồ ly.


Thật trong đời tôi chưa lần nào tôi kinh hãi như cái phút lặng lẽ ấy, và bây giờ kể lại chuyện, tôi còn trông thấy cái miệng cười huyền ảo, cặp mắt yêu quái nhìn đăm đăm.


Tôi ngây ngất, mướt mồ hôi, đứng như chôn chặt xuống đất. Cây đèn dầu cầm nghiêng ở tay đã tắt tự bao giờ mà tôi vẫn không hay.


Mãi nửa giờ sau, tôi mới hơi hoàn hồn và nghĩ đến thắp đèn. Tay tôi run lẩy bẩy đánh đến mười que diêm mới châm được bấc đèn cháy.


Một cánh cửa hé mở...


Và cái ví tiền để trong va-li, tôi không tìm thấy đâu nữa.


Bàn việc làng


Vừa có mấy người nộp đám, tất cả được hai trăm bạc, làng họp nhau bàn định để đem dùng món tiền ấy.


Liếc qua nơi sân đình, ta thấy hiện ra một cảnh tượng rất trang nghiêm. Ở giữa (trung đình) các cụ chức sắc ngồi xếp bằng chỉnh chệ. Oai phong như hội viên hội đồng chính phủ; còn hai bên đông đình, tày đình chia nhau thứ vị những thầy khóa, thầy lý, thầy khán, anh nhiêu, anh xã.


Sau khi hút điếu thuốc lào, nhai bỏm bẻm miếng trầu, ông tiên chỉ (tri phủ trí sĩ) hắng đặng hai ba tiếng rồi khai mạc hội đồng:


- Cái khoản hai trăm ấy, ứ... ừ... ừ... ừ... ta nghĩ sao đây?


Ông Tú nhanh nhẩu đáp:


- Bẩm, trên có cụ lớn, cùng các quan, dưới có anh em kỳ lý dân làng, chúng tôi xin bàn nên dùng món tiền ấy để lót gạch nốt quãng đường còn bỏ xót. Bẩm trên có cụ lớn, cùng các quan dưới có anh em kỳ lý, việc hương đảng là việc trọng thưa có phải không ạ...


Bên đông đình, một người ghé tai bảo nhỏ người ngồi cạnh:


- Ông ta bàn thế là vì quãng đường ấy ở ngay trước cổng nhà ông ta.


Ông hàn Kết mỉm cười, nghĩ thầm: “Không được, ta phải phá”.


Ông tú Ba nói tiếp:


- Vậy tôi xin vì hương đảng đứng lên cáng đáng việc ấy.


Ông Kết sừng sộ hỏi:


- Ông người thôn nào? (vì làng có bốn thôn)


Ông tú chưa kịp đáp, ông ta lại hỏi dồn:


- Có phải ông cùng thôn với tôi không? Vậy thì trước khi ra việc làng, ông phải qua việc thôn đã chứ. Ông hãy đem việc lát đường ra trình thôn đã chứ, nhất là quãng đường sắp lát lại thuộc về thôn mình. Nay ông chưa xin phép thôn mà đã dám đứng nhận thầu, thì thật làm mất hết tôn ti trật tự, mất cả thể thống việc hàng thôn.


Rồi ông ta quay lại nói với ông tiên chỉ:


- Bẩm, vậy việc lát đường xin cụ lớn cùng các quan hãy cứ để đấy xem sao nào. Chẳng lát đường thì đã chết ai!


Ông kép Nhạ cười nhạt:


- Phả...ải, từ thượng cổ đến giờ, các cụ ta đi đường đất còn được cơ mà, các cụ chỉ chống cái gậy trúc đi đôi guốc cao mà cũng ra được đến đình bàn việc hương đảng.


- Vâng chính thế. Ngày nay chúng ta chỉ bày vẽ lát với liếc. Để món tiền ấy còn chán việc ích lợi hơn.


Bên tây đình, một anh xã bảo thầm một anh nhiêu:


- Để vào túi các cụ!


Ông tú Ba từ đó ngồi im không bàn thêm nửa lời.


Cụ tiên chỉ có vẻ bằng lòng lắm:


- Việc làng phải tòng cổ. Trước các cụ thế nào sau vẫn phải thế mà theo.


Rồi cụ rung đùi vuốt râu ngâm nga:


- Việc như thế, thế thì vẫn thế.


Ông hàn chữa:


- Bẩm việc như thế, thế thì cứ thế.


Ông kép Nhạ mỉm nụ cười kiêu căng:


- Bẩm, vẫn với cứ đều không đúng. Nguyên vế câu đối ấy của cụ Ngô thời Sĩ là: “Việc như thế, thế thì hãy thế”.


- Không, văn cụ Ngô Thời Sĩ khi nào lại non thế. Hãy không được, quả không được.


Ông giáo Tá hỏi:


- Cụ Ngô Thời Sĩ đời hậu Lê, phải không, thưa các cụ?


Ông hàn nhìn khinh bỉ, vì xưa nay vẫn miệt ông giáo tây không biết chữ nhất là một:


- Cụ Ngô Thời Sĩ làm quan thời Tây Sơn.


- Cụ làm Tổng đốc Lạng Sơn.


- Tuần phủ Lạng Sơn chứ!


- Không, ngày ấy làm gì đã có Tổng đốc, Tuần phủ, cụ làm Bố chánh.


- Không phải cụ làm Ngự sử.


Cãi cọ lung tung ai cũng cho lý mình là phải. Giữa lúc ấy bên gian đông đình, bác khóa Nhàn đứng dậy, khúm núm gãi tai nói nhỏ nhẻ, chậm chạp:


- Bẩm... bẩm... bẩm... trên có cụ lớn, có các quan, dưới có các thầy khóa, anh em kỳ lý, cùng dân làng, chúng tôi xin phép thưa một điều.


Người bên cạnh kéo áo thì thầm:


- Chết! Ngồi xuống.


Ông hàn Két trân trân nhìn bác khóa như nhìn một vật lạ:


- Anh là gì mà dám nói leo? Hử? Hử?


Nhưng cụ tiên chỉ muốn tỏ rằng mình rộng lượng.


- Được, thì cứ để anh ta bàn xem sao nào.


Bác khóa Nhân càng khúm núm, giọng nói càng nhỏ nhẽ, lú nhú, rời rạc:


- Bẩm... bẩm... bẩm... trên có cụ lớn cùng các quan, dưới có các thầy khóa, anh em kỳ lý dân làng, chúng tôi thiết tưởng về câu đối ấy của cụ Ngô Thời Nhậm chứ không phải của cụ Ngô Thời Sĩ, mà là: “Việc gì thế, thế thì phải thế”...


Ông tú Nhạ mắng át:


- Bậy, chỉ nói láo! Học hành chữ nghĩa được mấy dúm dám khoe môi múa mỏ hử?


Ông hàn Kết tiếp luôn:


- Chấp gì anh đồ gàn! Anh ta vẫn điên đấy mà.


Cụ tiên chỉ, sau một cái ngáp dài, liền giải tán hội đồng:


- Thôi thế là việc làng xong xuôi, chúng ta đi về.


Phàn nàn


Trong làng tổ tôm ở nước Nam dễ không mấy ai tránh hẳn được sự phàn nàn. Tôi kể cả một ông vua, vua Tự Đức. Còn dân tổ tôm nào không nghe kể đi kể lại ít ra vài chục lần câu chuyện ngài phàn nàn: “Thiên hạ bất như tứ vạn” khi bị ông Cao Bá Quát phỗng mất cây bài ăn tốt?


Tôi có một bà bạn, tính nết rất nhu mì, hiền lành, vui vẻ, khéo léo, nhanh nhẹn vân vân... không còn một tính tốt gì mà bà không có... khi nào bà không đánh tổ tôm.


Vì vào bàn tổ tôm bà ấy đổi khác hẳn, trở nên một người cảu nhảu, gắt gỏng, nhất là hay phàn nàn. Tôi vẫn nói đùa với bạn rằng, giải quán quân về cái đức tính phàn nàn đã bị bà ta chiếm mất, khó lòng sau này sẽ có người phá được cái kỷ lục rất cao mà bà hiện còn đương giữ.


Bị phỗng, mở hụt cây bài ăn tốt, mất ù, đánh lầm, đánh thấp, gặp người ăn đánh hơi chậm, thì phàn nàn, cũng còn tha thứ được. Bà bạn tôi có nhiều dịp phàn nàn khác thường hơn. Nào ngồi phải chỗ đen, nào bị hãm cánh trên bị hãm cánh dưới, nào bị người đứng xem bài, vía chẳng ra quái gì.


Nhiều lần vừa lên xong phần mình, bà ném phịch hai mươi cây bài vô tội xuống sập mà làu nhàu than thở: “Thế thì có ác không, trắng toát xen mỗi một cây thang thang”. Rồi bà đặt cây bài đó xuống chiếu, lấy ngón tay trỏ miệt mãi vào mặt nó mà mắng: “Séo đâu không séo hử, dẫn đến nhà tao làm gì?”


May mà mình đã biết tính bà bạn rồi, nếu không, mình đã ngờ vực rằng bà đuổi mình. Sự rủi ro đó không phải đã không xảy ra: một ông hết hội, đứng dậy xin về, mời thế nào cũng không chịu đánh nữa. Ông khách mếch lòng vì câu nói vô tình của bà chủ nhà.


Ấy thế mà hễ ai có can đảm, hơi đụng chạm đến cái tính khó chịu của bà bạn tôi là bà giận liền và cãi cho bằng được rằng bà không phàn nàn bao giờ.


Biết vậy một lần vừa bắt đầu vào cuộc, tôi liền đặt ra một lệ rất mới lạ trong làng tổ tôm: là người nào phàn nàn một câu bất cứ có lý, vô lý đều phải bỏ vào chỗ tiền góp hội của làng một hào. Ai nấy bằng lòng ngay, vì ai cũng cho rằng mình không có cái đức tính khó chịu kia. Hội đầu, tiền làng gần gấp rưỡi và tuy góp có một đồng mà bà bạn tôi phải bỏ ra đến đồng tám.


Sang hội thứ hai, mọi người đã biết giữ gìn, nên ít ai vấp phải sự phàn nàn. Bà bạn tôi mặt mày khó đăm đăm, có vẻ tức tối, buồn bực lắm. Chẳng khác người say sưa ngồi trước chai rượu mà không được uống, người nghiện thuốc phiện đến cơn nghiền mà bị cấm không cho hút.


Bỗng xong một ván, trong khi một người hạ ù bà bạn tôi vất một hào vào chỗ tiền góp, rồi mới bày bài xuống sập và nói lớn:


- Bài thế này mà không cho người ta phàn nàn thì thà cứ giết ngay người ta đi thôi. Mở đúng cây xuyên tư ăn thập thành, bạch định, bị phỗng!


Chừng bà nghĩ đã mất một hào thì nói cho bõ, nên cứ một câu, bà phàn nàn đi phàn nàn lại mãi.


Mưu cao


Cụ đốc Nguyễn là một người rất vui tính. Những buổi tối, nằm bên khay đèn thuốc phiện, cụ thường thuật cho bọn hậu sinh nghe những câu chuyện ngộ nghĩnh hay khôi hài đã từng xảy ra trong đời lịch duyệt của cụ. Dù bất cứ chuyện gì ở đời dù trang nghiêm trọng đại đến đâu đối với khối óc triết lý của cụ cũng chỉ trở nên có những tính cách hý hước hay trào lộng.


Hôm ấy tôi chỉ có cái hân hạnh được cụ lắng tai chú ý đến câu chuyện thầy cãi Pathelin của tôi. Khi tôi ngừng kể, cụ suýt sặc thuốc, vì vội phá lên cười. Rồi chẳng thèm giữ vẻ đạo mạo của nhà túc nho, cụ bắt chước anh chàng Agnelet mà kêu “bée” om lên, vừa kêu vừa cười ha hả:


- Bée... bée... khá lắm! Câu chuyện hài kịch tây của ông lại làm tôi nhớ đến câu chuyện hài kịch ta, mà chính tôi đây đóng một vai, cái vai khó khăn của ông thầy cãi. Nhưng đây thì anh khách hàng của tôi không biết kêu Bée vì anh ta rất thành thực và thật thà.


- Thời ấy, tôi làm đốc học Hà Nam, nhưng vì đã bỏ thi chữ nho, và việc học Hán tự không còn nữa, nên ông đốc học, tuy người ta vẫn gọi là quan đốc, kỳ thực vẫn là một ông thương tá giúp việc quan tuần phủ, tổng đốc cũng như ở phủ, huyện, những ông huấn đạo, giáo thụ đã nghiễm nhiên trở nên những viên trợ tá giúp việc cai trị. Đáng lẽ khi nào ông tuần giao làm việc gì, bất cứ việc gì, thì mình làm việc ấy nghĩa là ít khi phải làm việc gì hết.


Cụ đốc ngừng vài giây để cười một cách khoái lạc rồi lại kể tiếp:


- “Nhưng vì hồi đó ông chánh án ở Hà Nam hơi có tính khó chịu, càu nhàu, gắt gỏng, hay ngờ vực, nên cụ tuần giao hẳn cho tôi cái chức trách làm bồi thẩm tại tòa án đệ nhi cấp, nghĩa là cái địa vị ngồi ngáp và ngủ gật bên cạnh một ông chánh án gầm hét và một người thông ngôn láu lỉnh, hách dịch mắng dân luôn mồm. Thỉnh thoảng ông chánh án lại đánh thức mình dậy để hỏi một vài ý kiến. Thường thường thì tôi trả lời ông ta một câu cho yên chuyện: “Tùy quan lớn”. Nhưng một đôi khi tôi cũng máy miệng bàn vơ tán vẩn cho vui và đỡ buồn ngủ, bàn tán để xem ông chánh án làm án ngược hẳn với ý kiến của mình. Ông ta vốn đã không ưa gì mình thấy mình hoặc chểnh mảng với phận sự, hoặc mờ mịt với luật pháp lại càng ghét lắm. Có khi ông ta đã khen với tôi rằng cụ tuần là ban ngày, chừng muốn bảo ngầm rằng tôi là ban đêm.


Có lẽ dân sự cũng thấu rõ tình hình trong tòa án và biết rằng mình chỉ là một pho tượng gỗ, chẳng có chút oai quyền gì nên chẳng ma nào nó thèm nghĩ đến mình. Nhiều thằng, khi được tha trắng án, chỉ biết vái chào và cảm ơn ông chánh án mà thôi còn mình họ cho là thừa.


Nhưng một hôm, một anh dân chẳng hiểu sao lại vào dinh quan đốc học mà khấn khứa với mình. Anh ta bị chị dâu kiện về tội hành hung, và lăng mạ, có chứng cớ rõ ràng. Tôi dọa phủ đầu: ‘Tội anh ít ra là một năm tù’. Anh kia lạy van khóc lóc, coi bộ khổ sở lắm. Về sau công việc ngã ngũ ra như thế này: Nếu tôi giúp anh ta được trắng án, anh ta sẽ lễ tôi trăm bạc, còn nếu anh ta bị phạt ba tháng tù án treo thôi thì anh ta cũng chịu tạ tôi năm chục. Tôi chắc mẫm ít ra cũng xơi ngon được năm chục của anh ta. Anh ta nhà giàu có thừa tiền thì dẫu có mất cho mình dăm chục đã sao. Ấy là lúc đó tôi tự an ủi và tự tha thứ bằng một tư tưởng sáo.


Tôi chắc thế là vì tôi đã có cách cứu chữa cho khách hàng của tôi một cách rất hiệu nghiệm.


Đến phiên tòa. Hỏi xong chứng tá, ông chánh án quay lại phía tôi mỉm một nụ cười chê nhạo:


- Việc tên An đánh chửi chị dâu, quan lớn định tội ra sao?


Tôi dõng dạc đáp:


- Việc này có quan hệ đến nền Khổng giáo Á Đông, vì dân Á Đông trọng tam cương, ngũ thường. Nay tên An rất mực vô lễ đánh chửi chị dâu, phạm vào ngũ luân, vậy ta nên làm tội thực nặng để răn kẻ khác.


Ông chánh án lim dim cặp mắt, mai mỉa hỏi lại:


- Thực nặng là bao nhiêu?


- Một năm ít ra là một năm tù.


Ông chánh án giơ hai tay lên trời kêu:


- Trời! một năm tù. Sao quan lớn nghiệt dữ thế?


Tôi sung sướng biết ông ta mắc mưu mình rồi, vì tôi thấy ông ta mắt càng lim dim, đầu thì gật gù, cặp môi đã mỏng bị một nụ cười bí mật căng thẳng ra càng trở nên mỏng thêm. Chắc hẳn ông ta đương nghĩ thầm: ‘Lão này ăn tiền bên nguyên nên mới kết án nặng một cách vô lý như thế!’ Rồi ông ta hỏi tôi:


- Phạt nó độ ba tháng thôi có được không?


- Không thể được, sáu tháng cũng nhẹ quá chứ đừng nói ba tháng vội.


- Vậy thì tôi xin tha nó trắng án.


Thế là khách hàng tôi được trắng án.


Buổi chiều anh ta vào dinh tôi, vào không phải để nộp tôi món tiền đã hứa, cũng không phải để kêu ‘bée’, như anh chàng trong hài kịch gì đó, mà để trách móc tôi: Tôi giảng nghĩa cho anh ta hiểu mưu cao của tôi, nhưng anh ta nhất định không chịu hiểu. Tôi bực mình tống cổ anh ta ra, rồi ngồi lại một mình tôi cười, cười mãi”.


Dứt lời, cụ đốc cất tiếng cười vang nhà. Tôi cũng không thể nhịn cười được.


- Nhưng sao trước khi ra tòa, cụ không bảo cho anh kia biết rằng mưu mẹo của cụ là thế?


- Nếu vậy đã không có chuyện! Vả tôi muốn giữ kín cái mưu cao của tôi cho được có hiệu nghiệm.


(còn tiếp)


Nguồn: Đội mũ lệch. Tập truyện ngắn của Khái Hưng. NXB Đời nay, Hà Nội, 1941.


 


 


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Người cha anh hùng của nữ thủy thần Undine - Heinrich Böll 11.09.2019
Mùi vị bánh mì - Heinrich Böll 11.09.2019
Cuộc đời trôi nổi của cái tách không quai - Heinrich Böll 11.09.2019
Chuyện đời của một trí thức - Vũ Hạnh 11.09.2019
Người chồng của vợ tôi - Vũ Hạnh 11.09.2019
Ăn Tết với một người điên - Vũ Hạnh 11.09.2019
Cho nó có đạo đức - Lê Mai 06.09.2019
Nhốt gió - Bình Nguyên Lộc 22.08.2019
Cái bẫy - Đỗ Trường Leipzig 11.08.2019
Ngoại tình tuổi 50 - Vũ Ngọc Tiến 30.07.2019
xem thêm »