tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 24747833
07.10.2018
Phan Khoang
Việt sử Xứ Đàng Trong (4)



Chuyện thi cử vào thế kỷ 17-18


Bài đã post từ 04-12-2016, nay update!


Các chúa Nguyễn không lập trường đại học công mà để dân gian tùy ý lập trường tư dạy học, chính quyền chỉ tổ chức các kỳ thi.


Những khoa thi quan trọng


Đời chúa Hy Tông, năm Nhâm Thân (1632), bắt đầu thi hành phép duyệt tuyển, và mỗi kỳ duyệt tuyển thì ra lệnh cho học trò từ huyện đến các dinh để khảo thí một ngày. Kỳ thi ấy gọi là “quận thí mùa xuân”. Phép thi có một bài thơ, một đạo văn sách, dùng Tri phủ, Tri huyện làm sơ khảo, Ký lục làm phúc khảo, người thi đỗ gọi là Nhiêu học, được miễn thuế sai dư 5 năm. Sau cuộc thi viết chữ Hoa văn (Hoa văn tự thể), người nào trúng thì được bổ làm việc ở 3 ty: Xá sai, Tướng thần lại, Lệnh sử.


Đời chúa Thần Tông, năm Bính Tuất (1646), định phép thi Hội mùa thu “Thu vi hội thí” 9 năm mới mở 1 kỳ, mở hai khoa thi Chính đồ và Hoa văn tại phủ chúa ở Phú Xuân. Chính đồ thi 3 ngày, ngày thứ nhất thi tứ lục, ngày thứ hai thi thơ phú, mỗi thể một bài, ngày thứ ba thi văn sách một bài, dùng Văn chức, Tri phủ, Tri huyện làm sơ khảo; Cai bộ, Ký lục làm phúc khảo; Nha úy làm giám khảo; Nội tả, Nội hữu, Ngoại tả, Ngoại hữu làm Giám thị. Danh sách người thi đỗ nạp lên chúa, chia làm ba hạng giáp, ất, bính. Hạng giáp là Giám sinh được bổ làm Tri phủ, Tri huyện; hạng ất là Sinh đồ được bổ làm Huấn đạo, hạng bính cũng là Sinh đồ bổ làm Lễ sinh, hoặc cho làm Nhiêu học suốt đời. Hoa văn thi 3 ngày, mỗi ngày viết một bài thơ. Người trúng cũng chia làm ba hạng, bổ làm việc ở 3 ty, và cho làm Nhiêu học.


Đến năm Ất Mão (1675), chúa Thái Tông lại đặt thêm khoa thi Thám phỏng. Khoa này thi 1 ngày, hỏi về tình trạng binh, dân và việc Lê, Trịnh. Người trúng được bổ vào Xá sai ty.


Đến năm Giáp Tý (1684), chúa Thái Tông bãi bỏ phép thi Nhiêu học ở tuyển trường và bỏ thi Hoa văn, chỉ giữ lại khoa thi Chính đồ mà thôi. Bọn Cai bộ Cẩm Lãnh, Thủ bộ Đông Triều bẩm rằng: “Nhà nước mở khoa cử đều dùng nho, lại, họ đều tán phụ mới thành công lớn, há cũng chỉ dùng một mình nho mà thôi đâu, vậy xin theo thể chính, hóa của tiên vương, cho sĩ tử Hoa văn được ứng thi”. Nhưng chúa không nghe. Chúa Anh Tông năm Kỷ Tỵ (1689), trong dịp duyệt tuyển, thi hành lại chế độ cũ, ra lệnh cho các học trò Chính đồ và Hoa văn tới tuyển trường để ứng thí.


Năm Ất Hợi (1695), chúa Hiển Tông bắt đầu đặt khoa thi Văn chức và Tam ty ở sân phủ chúa. Thể lệ thi Văn chức, kỳ đệ nhất thi tứ lục, kỳ đệ nhị thi thơ, phú, kỳ đệ tam thi văn sách. Thi Xá sai ty thì hỏi về số tiền thóc xuất, nhập và việc ngục tụng xử quyết trong một năm; thi hai ty Tướng thần và Lệnh sử thì viết một bài thơ.


Đời chúa Thế Tông, năm Canh Thân (1740), định lại phép thu thí và quyền lợi của các người trúng cách: kỳ đệ nhất thi tứ lục, ai trúng gọi là Nhiêu học tuyển trường, được miễn tiền sai dư 5 năm, kỳ đệ nhị thi thơ, phú, kỳ đệ tam thi kinh nghĩa, ai trúng thì gọi là Nhiêu học thí trúng, được miễn sai dịch suốt đời, kỳ đệ tứ thi văn sách, ai trúng gọi là Hương cống, được bổ Tri phủ, Tri huyện, Huấn đạo.


Hai kỳ thi gặp cảnh bất thường


Đời chúa Hiển Tông, có hai kỳ thi gặp cảnh bất thường. Năm Quý Tỵ (1713), thu thí thi Chính đồ, kỳ đệ nhị có 130 người, khảo quan bất hòa đánh hỏng cả, duy thi Hoa văn và Thám phỏng thì lấy trúng cách được hơn 10 người. Chúa cho rằng khảo quan quá hà khắc, nên ra lệnh thi lại. chúa ra đề thi, lấy trúng cách 1 sinh đồ, bổ làm Huấn đạo, 7 Nhiêu học bổ làm Lễ sinh, còn những người đỗ Hoa văn và Thám phỏng trên kia đều được bổ làm việc ở Tam ty. Năm Quý Mão (1723), thi Nhiêu học lấy trúng cách 77 người, dư luận học trò rất sôi nổi, chúa ra lệnh họp tất cả ở Chính dinh để chúa cho thi tứ lục và thơ phú, mỗi thể một bài. Sĩ tử không làm nổi, bỏ ra, chúa truất bỏ cả, không lấy một người nào.


Xem trên ta thấy phép thi cử của Nam Hà chưa được hoàn bị bằng ở Bắc Hà. Lại có các khoa mà ở Bắc không có, như Hoa văn, Thám phỏng, Tam ty và ở khoa Thu thí, số người trúng cách Hoa văn, cũng đông gấp mấy lần số trúng Chính đồ. Ba khoa Hoa văn, Thám phỏng, Tam ty cốt chọn những quan lại giỏi và những người am hiểu vấn đề mà Nam Hà đương bận tâm đối phó là vấn đề Lê, Trịnh. Chắc là vì đương ở trong giai đoạn khai sáng, kiến thiết, lại chiến tranh với Bắc Hà, rồi với Chiêm Thành, Chân Lạp, nên các chúa Nguyễn chú trọng đến phương diện thực tế trong việc dụng nhân hơn.


Lê Quý Đôn trong Phủ biên tạp lục viết: “Họ Nguyễn chuyên giữ một phương, chỉ mở thu thí (tức thi Hương), chuyên dùng lại tư, không chuộng văn học, nên ít thu hái được người tuấn dị. Khảo thí thì lấy học sinh Hoa văn nhiều gấp 5 Chính đồ. Những nơi quyền, yếu thì ủy người họ hàng coi giữ, mà cho người đậu Hoa văn làm phụ tá. Người đậu thu thí bắt đầu làm Tri phủ, Tri huyện, chỉ coi việc kiện tụng, rồi làm Ký lục thì coi việc thu thuế khóa; những kế lớn, mưu lớn không được hỏi han đến; còn bọn hậu học, tiểu sinh cũng không thấy nuôi dưỡng, tác thành. Thế mà văn mạch ở đất này dày đặc không đứt, thật là đáng khen”.


Buôn bán ở Hội An


Hội An trong bức họa Giao Chỉ quốc mậu dịch độ hải đồ của thương gia Nhật Chaya Shinroku vẽ đầu thế kỷ 17


Hội An chiếm vị trí giao thương quan trọng vì Quảng Nam là trấn giàu trong xứ, phần nhiều sản vật quý đều do đất ấy sản xuất, lại ở gần Quy Nhơn, nên dễ tập hợp những sản vật mà thuyền buôn ngoại quốc cần dùng.


Tập trung thương khách để tiện việc kiểm soát


Lý do chính trị: Đại Việt đã cùng với Trung Quốc giao thương từ đời Tiền Lê, Lý, Trần, Lê. Vì sợ người ngoại quốc giả mạo thương nhân để do thám, nên triều nào cũng chỉ cho phép họ tụ hợp lại những nơi nhất định, gọi là “bạc dịch trường” để buôn bán và cấm họ đến kinh đô. Đời Lý lập “bạc dịch trường” ở đảo Vân Đồn (Quảng Ninh), thuyền tàu ngoại quốc đến buôn bán chỉ được vào hải cảng ấy và thương khách cư trú tại đó. Đến đời Lê, vua Thái Tổ chỉ định thêm mấy nơi nữa, ngoài Vân Đồn, cho thương khách làm nơi cư trú, cấm người Trung Quốc ra vào Thăng Long. Thời Nam Bắc phân tranh, ngoài Vân Đồn ra, chúa Trịnh tập trung thương khách Trung Quốc và Âu châu tại Hiến Nam (phố Hiến, Hưng Yên ngày nay), cho họ lập phố xá để tiện việc kiểm soát và vẫn cấm họ ra vào Thăng Long. Chúa Nguyễn ở Nam Hà đối với Hoa thương và thương khách ngoại quốc cũng áp dụng chính sách ngăn ngừa, như ở các triều đại trước, nên Hội An xa cách Phú Xuân, được chọn làm nơi tập trung của họ, cũng như Vân Đồn, Hiến Nam đối với thương khách ở Bắc Hà phải ở xa Thăng Long vậy.


Thương cảng Hội An càng ngày càng phồn thịnh, số thu nhập rất nhiều, vả lại trấn Quảng Nam còn để trấn áp phương Nam, là trấn quan trọng, nên các chúa thường để một công tử làm trấn thủ. Trấn thủ Quảng Nam có nhiệm vụ trực tiếp thương, xuất, nhập cảng. Người ngoại quốc, giáo sĩ cũng như du khách, thương nhân muốn ra vào đất Nam Hà, phải do cửa Đà Nẵng, Hội An, đến ra mắt Trấn thủ Quảng Nam trước, vì vậy họ thường gọi xứ Đàng Trong là nước Quảng Nam (Quảng Nam quốc).


Thu nhiều thuế từ hội an


Giáo sĩ Christoforo Borri (Ý) đã cư trú tại Hội An năm 1618 tả thành phố này: “Thành phố rộng rãi, nên có thể nhận ra hai khu vực, một khu vực do người Trung Hoa ở, khu vực kia người Nhật Bản ở. Mỗi khu vực đặt riêng người làm khu trưởng và y theo phong tục, tập quán riêng mà sinh sống...”, và “người Trung Quốc và người Nhật Bản là những thương nhân chủ yếu của chợ phiên này, năm nào cũng mở và kéo dài 4 tháng. Người Nhật thường đem bạc, người Trung Quốc thì đi một thứ thuyền buồm đem lại nhiều tơ lụa tốt và sản vật đặc biệt của họ. Ở chợ này, quốc vương thu được số tiền thuế lớn, toàn quốc cũng được nhiều lợi ích”.


Hằng năm vào khoảng tháng 12, tháng giêng dương lịch, tàu ngoại quốc từ Trung Quốc, Nhật Bản đến bán sản vật của họ, mua sản vật của Đại Việt, sau 4, 5 tháng thì họ đi. Người Nhật Bản ngoài việc bán mua tại Hội An, còn gián tiếp mua hàng Trung Quốc mang về Nhật nữa. Các nhà cầm quyền Nhật khuyến khích thương gia phái thuyền đến Quảng Nam, Tiêm La, Phi Luật Tân để buôn bán trao đổi với các thương thuyền Trung Quốc, mua những hàng hóa, vật liệu của Trung Quốc mà Nhật Bản cần dùng. Đến hậu bán thế kỷ thứ 17, vì cuộc thay đổi triều đại và các chính biến xảy ra ở Trung Quốc, việc buôn bán ở Hội An thịnh vượng thêm lên. Thương cảng này đã tiếp nhận nhiều người Trung Quốc lưu vong hoặc di thần triều trước sang lánh nạn, định cư, trở nên đông đúc hơn.


Từ sau khi nhà Thanh vào Trung Quốc, hạ lệnh dân Trung Hoa cạo tóc gióc bím, đã có nhiều người Trung Hoa di cư đến Hội An được chúa Nguyễn cho phép cư trú. Họ lập nên xã Minh Hương, chúa Nguyễn áp dụng chính sách đồng hóa, đã thừa nhận xã ấy, cho thuộc hộ tịch miền Nam. Vì nhà Thanh hoàn toàn làm chủ Trung Quốc, số người này ra đi không hẹn ngày về. Cũng như những người trước kia, họ đã đến Hội An đông hơn các nơi vì Quảng Nam giàu có, việc làm ăn dễ dàng, chính sách đối với Hoa kiều của nhà cầm quyền tương đối rộng rãi.


Năm 1695, thương nhân Anh là Bowyear đến Hội An thuật lại rằng: “Faifo gồm một con phố trên bờ sông và hai dãy nhà, có khoảng 100 nóc nhà của người Hoa, cũng có 4, 5 gia đình người Nhật Bản. Xưa kia, người Nhật làm cư dân chính và làm chủ việc thương mại ở hải cảng này, nhưng số ấy đã giảm bớt và của cải của họ cũng sút kém; sự quản trị công việc đã rơi vào tay người Hoa. Mỗi năm có độ 10, 12 chiếc thuyền từ Nhật, Quảng Đông, Tiêm La, Cao Miên và Batavia (Jakarta ngày nay) đến...”.


Trong sách Hải ngoại kỷ sự, Thích Đại Sán - vị hòa thượng đã đáp lời mời của chúa Hiển Tông (chúa Minh) đến Thuận Hóa năm 1695, có ghé Hội An, viết: “Hội An là một mã đầu lớn, nơi tập hợp của khách hàng các nước; thẳng bờ sông có con đường dài ba, bốn dặm, gọi là Đại đường nhai, hai bên đường hàng phố ở liền nhau khít rịt, chủ phố đều là người Phúc Kiến vẫn ăn mặc theo lối tiên triều (nhà Minh), phần đông phụ nữ coi việc buôn bán. Khách trú ở đây hay cưới vợ người bản xứ, cho tiện việc thương mại. Cuối đường là cầu Nhật Bản, tức Cẩm Phô, cách bờ biển kia là Trà Nhiêu, nơi đình bạc của tàu ngoại quốc, nhân dân đông đúc, cá tôm rau quả, tập hợp buôn bán suốt ngày. Thuốc bắc hay các món hàng khác, tìm mua ở Thuận Hóa không có thì người ta vào mua ở đây...”.


Phan Khoang


Việt sử: Xứ Đàng Trong 1558 - 1777 (Cuộc Nam tiến của dân tộc Việt Nam), NXB Khoa học Xã hội, 2016.


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Nhà văn Nguyễn Mộng Giác trả lời phỏng vấn tháng 9-2000 - Tư liệu 01.11.2018
Tỉnh Quảng Ninh, Huyện Vân Đồn & Đầm Hà - Tư liệu 30.10.2018
Cảng Cái Mép - Thị Vải có thể nộp ngân sách 24.000 tỷ đồng/năm - Bảo Ngọc 26.10.2018
Vấn đề ngoại giao Việt - Pháp, Việt - Mỹ dưới triều Nguyễn - Lê Nguyễn 25.10.2018
Rượu ở Trung Quốc - Tư liệu sưu tầm 22.10.2018
Mao Đài Tửu và 10 nhãn hiệu rượu hàng đầu Trung Quốc - Tư liệu sưu tầm 22.10.2018
Những cái chết bi tráng của Gia Định tam hùng: Đỗ Thanh Nhơn, Châu Văn Tiếp và Võ Tánh - Lê Nguyễn 16.10.2018
Việt Nam, nước sản xuất và xuất khẩu Hồ tiêu hàng đầu thế giới - Nguyễn Văn Lạng 15.10.2018
Phan Thanh Giản - Tiến sỹ Khai khoa của Nam Kỳ - và chuyện ông được giải oan - Phan Huy Lê 13.10.2018
Nhà giàn DK1 kiên cường trụ vững trước Bão Biển Đông - Nhiều tác giả 09.10.2018
xem thêm »