tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 28869783
Tiểu thuyết
08.05.2019
Đỗ Quang Tiến
Làng tề



Giọng đội Tế ngọt như mía lùi. Trong bụng lão Mấu cũng đỡ lo. Lão ta lom khom ngồi ghế xuống cạnh giường. Đội Tế rót chén rượu, đưa tay cho lão ta:


- Uống đi cụ! Tính tôi dễ, cụ cứ lấy tự nhiên. Rượu thật đậm mà lại không cay, không xốc một tí nào mới tài chứ!


Ngửi thấy hơi rượu, lão Mấu thèm rỏ rãi. Nhưng lão ta vẫn chưa dám uống. Đội Tế lại giục. Lão Mấu rụt rè cầm chén rượu tợp một hớp.


Đội Tế cười nhạt:


- Thế nào, câu chuyện đêm qua ra sao mà cụ lại bạo tay thế? Chỗ anh em, cụ cứ nói thật, tôi sẽ gỡ cho.


Lão Mấu xanh mắt đặt vội chén rượu xuống giường:


- Bẩm ông đội, tại... tại ông lý ông ấy đánh tôi một trận đau quá; lúc ấy tôi lại quá chén... thành ra quá tay, hối bất cập.


- Ông lý mực có nóng, chót đánh cụ mất mấy cái thật, nhưng tôi chắc không phải vì thế mà cụ đâm chết ông ấy. Xưa nay cụ không phải là người táo gan đến thế. Hai nữa, cụ với ông lý Mực là tình thầy trò, chém nhau bằng sọng, chứ không bao giờ chém nhau bằng lưỡi. Tôi biết, cái này cụ nghe dại chúng nó thôi. Những đứa nào cầm đầu việc này, cụ cứ khai rõ, đã có tôi, không sợ. Cụ có khai ra những đứa thủ xướng, tôi mới có cách gỡ tội cho cụ được... Lấy thức nhắm đi cụ! Ta vừa chén vừa nói chuyện.


Lão Mấu bẻ ngón tay khùng khục:


- Bẩm... không có ai cầm đầu cả. Quả thật tôi quá chén.


- Tôi biết, nhất định có đứa cầm đầu, cụ mới dám xuống tay.


- Bẩm ông, thực tình không có ai cầm đầu. Tôi mà nói man, xin là...


Đội Tế vằn mắt cướp lời lão Mấu:


- Có khai không thì bảo? Nói ngọt lại không nghe, tưởng ông nói đùa phải không?


Lão Mấu líu lưỡi:


- Bẩm.. bẩm ông đội... thật quả không có ai xúi giục tôi.


Đội Tế nhảy phắt xuống đất, túm tóc lão Mấu kéo sang buồng tra:


- Sang đây khác phải khai! Mẹ kiếp, cái mặt mày lại gan được với ông à? Đến gan làm quai guốc được, ông tấn cho còn hết gan nữa là cái thứ mày!


Lão Mấu lê xền xệt dưới đất, mặt nhợt nhạt như cái xác chết trôi. Vào đến buồng tra, đội Tế buộc hai chân lão ta treo lên xà nhà rồi đánh. Nhớ lời cụ Nhâm, lão Mấu nghiến răng chịu đòn. Nhưng chỉ một lát, lão ta mê đi.


Non trưa, lão Mấu tỉnh lại. Người lão ta gắn xuống sân gạch, chân tay mềm nhũn. Lão ta đưa mắt nhìn ngơ ngác. Bất chợt lão ta nhận ra ông lão mù ngồi bên cạnh, cặp mắt dại đang nheo lại.


- Cụ Nhâm ngồi đấy à?


- Vâng. Cụ tỉnh hẳn chưa?


Lão Mấu phều phào nói không ra hơi:


- Tỉnh rồi. Mẹ bố nó! Nó đánh tôi đau quá cụ ạ.


Cụ Nhâm lặng ngắt, mi mắt động đậy như muốn nhìn những vết đòn thâm tím trên khuôn mặt lão Mấu. Cụ hỏi, giọng bùi ngùi:


- Họ đánh đau lắm hở cụ?


- Đau lắm cụ ạ. Tôi vào đến nơi đã thấy có mâm rượu bày ở giường. Nó rót rượu mời tôi. Tôi cứ ngỡ nó nghĩ tình thầy trò nên nó đối xử tử tế. Không ngờ tôi vừa mời nhấp một hớp, nó đã dở mặt ngay. Cụ tính quân nó thế có chó má không?


- Thế cụ khai ra sao?


- Có thế nào, tôi khai thế, chứ có ai xúi bẩy tôi mà bảo tôi khai cho người ta. Phúc đức để đâu mà lại đi đổ vấy cho người khác để mình nhẹ tội.


Ông lão hát sẩm chớp chớp mắt, vẻ cảm động.


- Cụ nghĩ thế là phải. Mình làm mình chịu, gắp lửa bỏ bàn tay người khác còn ra cái giống gì.


Lão Mấu hả dạ, lom dim đôi mắt xưng húp nhìn lên trần nhà. Cái đau âm ỉ trong người dịu đi. Hơi đá ở bốn bức tường toát ra và gió ở mặt sông thốc vào vòm cửa sổ treo lơ lửng trên cao, khiến cái nền gạch lạnh như đổ nước. Bất giác lão Mấu lại nhớ đến cái ổ rạ ở gian miếu thênh thang giữa đồng và cái góc giường ấm cúng ở hàng rượu nhà mụ Luyến. Lão ta thở dài:


- Đến bỏ xác ở đây mất thôi, cụ ạ. Rét mướt thế này, lại không có hớp rượu đổ vào mồm, chúng nó chả phải đánh cũng không sống được.


- Cụ cứ bình tâm rồi khác quen hết. À, có cơm đấy, cụ ăn đi chả đói.


Cụ Nhâm vừa nói vừa gói cơm đưa lão Mấu.


Lão Mấu đỡ gói cơm, để ra một bên. Giọng lão ta vẫn buồn rã rượi:


- Tôi không đói đâu, cụ ạ. Giờ tôi chỉ thèm hớp rượu cho đỡ nhức xương nhức cốt thôi. Đa mang chén chè chén rượu, nhục thế đấy. Mỗi ngày, không có cút rượu thì như ròi nó đục các khớp xương, sống cũng như chết. Cụ vào đây lâu rồi, có cách nào tảo được hớp rượu uống cho nó ấm bụng một tí không cụ?


- Chả làm thế nào mà tảo được đâu, cụ ạ. Cụ cố nhịn vài bữa khác quen.


Lão Mấu thở dài sượn sượt. Ông lão mù chán ngán lần về xó buồng, nằm. Lát sau, lão Mấu thiu thiu rồi ngủ thiếp đi.


Trời về chiều. Rồi tối xập xuống. Trong bốt đã sáng đèn. Kẻng đổi gác đổ một hồi dài. Lão Mấu choàng dậy.


Giữa lúc ấy, có tiếng chìa khoá quay loạch xoạch ngoài cửa. Lão Mấu nhớn nhác:


- Có ai mở cửa hay sao ấy, cụ Nhâm ạ?


Cụ Nhâm cũng đang lắng tai nghe tiếng động. Cụ cau mày đáp:


- Chắc có người vào.


- Tối rồi còn vào làm gì thế hở cụ?


- Ở đây người ta tra hỏi luôn, có kể gì sáng với tối.


Lão Mấu không còn hồn vía nào nữa. Toàn thần lão ta run lên, cái xích sắt đạp lách cách xuống sàn gạch.


- Hay là nó lại gọi tôi lên, đánh, hở cụ?


Ông lão mù nằm yên không đáp. Ông lão khinh bụng, nhưng cũng ái ngại cho lão Mấu. Lão ta chỉ khổ vì chén chè chén rượu!


Chợt hai tên lính bước vào. Chúng lẳng lặng tháo xích, lôi lão Mấu đi. Lão Mấu bước không được, hai chân mềm oặt cứ ríu vào nhau. Hai tên lính xốc nách lão đi qua sân, đến một căn buồng. Vẫn căn buồng ban sáng. Lão Mấu không còn hột máu mặt; Cặp mắt đỏ kè dại đi.


Tiếng đội Tế lảnh lên:


- Thế nào, sáng ngày thằng già xơi trận đòn đã sặc gạch ra chưa?


Lão Mấu lắp bắp:


- Bẩm ông... ông đánh con đau quá.


- Thế thì khai đi! Những đứa nào bảo mày đâm chết lý Mực? Muốn sống thì khai ra!


Lão Mấu vươn cổ nuốt nước rãi:


- Bẩm ông... quả là...


Đội Tế trừng mắt:


- Ông nói cho mà biết, cái mặt mày chỉ uống rượu được thôi. Không có thằng cầm đầu, bố bảo mày cũng không dám giết người. Có khai hay không thì bảo?


- Bẩm ông, thật quả là con quá chén, chứ không có ai xui con cả. Con mà nói man, con xin chết một đời cha ba đời con.


Đội Tế cười khẩy:


- Mầy tứ cố vô thân, chả trách dám thề độc gớm. Được! Ông tẩn cho mày một trận nữa cho sặc son ra, xem này có gan được không - Đội Tế xăm xăm bước tới - Mời người anh em vào đây nói chuyện! Tiên sư mày, thân lừa chỉ ưa nặng!


Lão Mấu bước giật lùi, chắp tay vái như tế sao:


- Bẩm ông, để con xin khai. Sáng ngày, ông đánh con đau quá rồi, con không chịu được nữa.


Đội tế gật đầu:


- Được, ông cho khai! Những đứa nào cầm đầu? Có thằng Chữ, con Loát vợ thằng Hoạt, con Gấm vợ thằng Quân, con Duyên vợ thằng Mộc không?


Lão Mấu gãi đầu gãi tai:


- Bẩm ông, xin ông cho con cút rượu. Uống xong, con xin khai hết. Không có rượu, con lú lấp ruột gan không nhớ gì cả.


Đội Tế cười nhạt:


- Được rồi. Cái gì chứ cái ấy thì có ngay. Ông cho uống một bữa bằng thích. Uống xong, phải lên đây khai rành mạch. Dấu dở, ông tẩn cho mất mạng nghe không!


Đội tế quay lại bảo hai tên lính:


- Cho nó về buồng giam!


Lão Mấu chắp tay vái độ tế, đoạn len lét đi theo hai tên lính. Ra đến sân, bất giác lão ta ngước mặt nhìn lên ngọn cây gạo. Các cành cây khòng khoeo gạch những nét gãy góc, đen sẫm lên nền trời tối mù mờ. Mảng bóng tối nứt rạn, các nét gạch hoắm xuống như những vết nẻ trên đám ruộng hạn. Mắt lão Mấu hoa lên. Bỗng chốc cái gốc gạo, vỏ sần sùi, hiện lên trước mặt lão ta. Và có một bóng người trói chặt ở gốc cây, tóc xoã xuống trán, ngực bê bết mấu, đang ngó lão ta trừng trừng.


Lão Mấu đưa tay áo quệt giọt mồ hôi cay sè vừa đổ xuống mắt.


*


* *


 


Lão Mấu ngắm nghía chai rượu. Đúng chai rượu, ban sáng, đội Tế rót ra mời lão ta. Lão ta còn nhớ rõ cái vỏ chai cổ rụt, màu xanh ve, đậy nút bấc. Lão ta đưa tay vuốt nhẹ một cái một cách âu yếm như người mẹ vuốt lên cái má bụ sữa của đứa con. Bàn tay lão ta cứ ấm ran lên. Hơi ấm như từ chất rượu toát ra ngoài vở chai, thấm vào gan bàn tay rồi chuyển ra khắp người.


Lão Mấu rót một chén đầy cắn chỉ, nhưng không rớt ra ngoài lấy một giọt. Đoạn lão ta xoa tay, khẽ nâng chén rượu lên miệng tợp một hơi. Lão ta chẹp chẹp miệng và đưa lưỡi liếm giọt rượu vừa láng trên cặp môi tái thâm. Mặt lão ta đờ ra, mắt trợn ngược như khi say điếu thuốc lào lúc sáng sớm. Chết chết! Rượu riếc ra thế nào! Quả như lời đội Tế nói lúc sáng ngày. Rượu không cay, không xốc, mà lại bốc, sán, uống vào đến đâu lịm đi đến đấy. Tài thế chứ lại! Ban sáng, lão ta đã được uống một hớp, song lúc ấy hồn vía còn để ở ngọn đa, ngọn đề, lão ta chưa thưởng thức được hết mùi vị cái tang rượu nước đầu. Lão ta đưa chén rượu lên mũi hít hít và tợp một hơi nữa hết sạch. " Gía có quả chuối xanh với tí muối ớt thì chết được! " Lão ta lẩm bẩm một mình.


Lão Mấu thong thả rót một chén nữa, để trước mặt. Nhìn chén rượu, mắt lão ta sáng ngời. Chợt lão ta nhớ đến ông lão mù đang nằm cuộn tròn như con sâu cho đỡ rét ở xó buồng. Lão ra gọi, giọng đĩnh đạc:


- Cụ Nhâm ơi!


Ông lão hát sẩm nghển cổ, cặp mắt loà hướng về phía lão Mấu:


- Gì thế cụ?


- Cụ dậy uống với tôi chén rượu cho vui.


Ông lão biết thừa có tên lính vừa đi vào, đưa cho lão Mấu chai rượu, nhưng vẫn vờ như không biết. Ông lão hỏi:


- Rượu ở đâu thế cụ?


- Ấy, tôi vừa mới tảo được một chai xong. Rượu khớ lắm. Dậy đi cụ?


- Cụ cứ uống tự nhiên, tôi có biết uống rượu đâu.


Lão Mấu khịt mũi, vẻ mặt ân cần:


- Ấy, tình thực mời cụ đấy mà? Biết cụ là tay rượu, tôi mới dám mời. Hồi còn mồ ma cụ Đảng, tôi sang Bình-lâm ăn giỗ, chả ngồi uống rượu với cụ mấy bận là gì? Tửu lượng của cụ lại không gấp đôi tôi ấy à? Dậy đi cụ! Làm vài chén cho ấm bụng thôi mà. Những một chai bố, mình tôi uống sao hết?


- Chả giấu gì cụ, ngày trước đua anh đua em cũng uống được dăm ba chén thật, nhưng từ ngày xấu mắt, tôi không uống nữa. Bây giờ kiếm được ngày hai miếng cơm chín còn khó, nữa lại chén chè chén rượu.


Lão Mấu đứng lên kéo tay ông lão hát sẩm:


- Dậy đi cụ! Chả uống nhiều thì uống lấy một chén vậy. Lâu lắm anh em mình mới hạnh ngộ ở đây, chả nhẽ mời nhau chén rượu không đắt à?


- Cụ cứ mặc tôi. Đã đến mươi năm nay, tôi có uống nữa đâu.


- Cụ chả uống thì lại ngồi nói chuyện với tôi cho vui vậy. Anh em mình là cái năm xung tháng hạn cả mới phải thế này, không chuyện trò với nhau cho khuây thì để nằm mà nghĩ cho thối ruột ra à? Sự đời, nghĩ mãi cũng đến thế, nhược bằng được ngày nào, ta cứ say sưa ngày ấy.


Ông lão mù nể lời, đến ngồi đối diện lão Mấu. Lão Mấu uống xong chén rượu, rót luôn chén khác.


- Cái anh rượu nước đầu tài thật. Làm mấy chén là đứng nghiện ngay. Có đến mười mấy năm, tôi mới lại được uống cái tang này. Mẹ bố con mẹ Luyến! Nó uống toàn cái tang rượu này, thảo hèn người nó cứ béo trắng ra.


Cụ Nhâm đận đà hỏi:


- Rượu ở bốt cho, phải không cụ?


Biết không giấu được, lão Mấu ậm ừ đáp:


- À... ông... ông đội Tế ông ấy cho đấy.


- Thế lúc nãy cụ lên, ông ây bảo thế nào?


Lão Mấu hẹ hèm, đưa tay vuốt râu thủng thẳng đáp:


- Bảo ban gì đâu. Ông ấy lại hỏi tôi là ai xui giết lý Mực. Tôi thực tình khai như ban sáng. Ông ấy không tin, định dọt tôi trận nữa. Tôi hãi quá, đành phải lạy van xin ông ấy bữa rượu, uống xong thì khai.


- Cụ định khai thế nào?


- Thì biết khai thế nào? Là cái dát đòn, hai nữa, cũng thèm rượu quá thì khất liều thế thôi.


- Nhưng mà thế nào lúc nữa cụ chả phải khai.


Lão Mấu lại đánh một hơi hết chén rượu.


- Ối dà! Được đến đâu hay đến đây, cụ ạ. Đời con người ta sống được bao lăm mà nghĩ chuyện đường trường.


Ông lão mắt mù lắc lư đầu, nét mặt có vẻ tư lự:


- Cụ nên liệu lời mà khai. Xảy chân còn lấy lại được chứ xảy miệng không lấy lại được đâu.


Lão Mấu ôm chai rượu vào lòng, nói lúng búng trong miệng:


- Lúc nữa hãy hay, giờ hãy cứ lo cái việc nhỡn tiền này đã.


Nếp trán cụ Nhâm bỗng xít lại, mắt nhấp nháy như muốn nhìn mặt lão Mấu để dò tình ý. Lão Mấu mân mê chai rượu. Thấy lão ta ngồi yên, ông lão hát sẩm lừ thừ đứng dậy:


- Cụ uống rượu, tôi đi nằm một tí chả đau lưng.


- Vâng, mời cụ đi nghỉ


Ông lão mù dò dẫm quay về chỗ góc buồng. Ông lão nằm xuống, vắt tay lên trán. Hình như ông lão đang nghĩ ngợi chuyện gì. Lão Mấu thì vẫn nhẩn nha uống hết chén này đến chén khác. Lão ta không nói một câu nào nữa.


Căn buồng giam im phăng phắc. Chỉ còn tiếng cái cổ chai khẽ chạm vào miệng chén. Và tiếng lão Mấu tợp rượu một cách khoái trá. Chai rượu đã vợi đi già nửa. Mắt lão Mấu bắt đầu ngầu ngầu, da mặt đỏ lựng lên, gân cổ nổi chằng chằng. Rượu sểu ra mép, ròng xuống hàm râu hoa râm. Tay lão ta run run, chén rượu sóng sánh rớt ra ngoài.


Một lát sau, lão Mấu bỗng đặt chén rượu xuống, rít giọng:


- Mẹ kiếp, chuyến này ông cho cả làng Phượng - lâu đi tù! Ông khai bằng hết. Nhà lão Đẩu thì thằng Quân đi bộ đội này; nhà lão Chữ, thằng con giai cũng đi bộ đội Việt-minh này; nhà con mẹ Sáo thì thằng chồng đi cán bộ trên tỉnh này; nhà lão Quỹ thì thằng Mộng đi chiến khu từ năm lấy huyện này... Có bao nhiêu nhà, ông khai hết thì thôi.


Ông lão mù ngồi bật dậy, lần lại chỗ lão Mấu. Ông lão kinh ngạc hỏi:


- Cụ Mấu! Cụ say rồi à?


Lão Mấu líu lưỡi:


- Không, tôi... tôi có say đâu. Hết chai này, có say... mới say...


- Cụ vừa nói cụ khai bằng hết cái gì?


Lão Mấu gật gù, đầu đã hơi ngoẹo sang một bên:


- À... tôi khai bằng hết những nhà có chồng con đi cán bộ, đi bộ đội Việt-minh. Tôi khai là... đêm qua, sau khi thằng lý Mực đánh tôi, họ đến miếu hội họp rồi nói khích tôi, đưa cho tôi con dao găm, bảo tôi đi giết thằng lý Mực. Tôi không nghe, họ doạ tôi, nếu không giết nó, họ sẽ giết tôi... Tôi sợ quá phải đi giết lý Mực. Tôi cứ thế tôi khai, sợ cái đếch!


Ông lão hát sẩm mở to cặp mắt dại:


- Thế ra dân làng bắt cụ đi giết lý Mực thật à?


Lão Mấu ngớ mặt:


- Không, có ai bắt tôi đâu.


- Thế sao cụ lại khai cho dân làng như vậy?


Lão Mấu vươn cổ ghé vào tai ông lão mù, thì thầm:


- Cụ thật thà qúa! Phải đổ vấy cho họ, mình mới nhẹ tội chứ. Để một mình mình chịu thì sát nhân phải giả tử đứt đuôi đi, chứ sống được với chúng nó.


Ông lão mù quờ quạng nắm lấy tay lão Mấu. Và tay ông lão run bần bật:


- Cụ Mấu, cụ lại say rồi! Làm thế thì phúc đức để đâu hở cụ?


Lão Mấu gạt tay ông lão mù, mắt trợn trừng:


- Tôi say à? Cứ bán cái say của tôi đi mà ăn! Cụ bảo tôi không khai thế thì để ông đội Tế ông ấy đánh chết tôi à? Con chó còn muốn sống ăn cứt nữa là con người? Cụ thử ngẫm mà xem, từ lú tôi phải bắt vào đây, cả làng Phượng-lâu có đứa nào cho tôi được hớp rượu không? Giá không được chai rượu này, tôi đến mốc mép ra chứ lại. Còn sáng hôm nay nữa, tôi phải trận đòn nhữ chết, thế mà có đứa nào hỏi thăm tôi được một câu không? Nay mai tôi có chết chém, chắc cũng chả có đứa nào hỡi ơi được một tiếng đâu. Mẹ kiếp! Chuyến này gọi là tôi cho chúng nó đi tù bằng hết. Đứa nào thương tôi mà tôi thương chúng nó? Cứ thế mà khai, sợ cái đếch!


Lão Mấu ngừng lại. Mắt lão ta đỏ ửng như mắt cá chày, gân cổ nổi lên bằng chiếc đũa một. Qua ánh đèn từ ngoài sân hắt vào khung cửa sổ, lão Mấu thấy ông lão mù nghếch mặt, cặp mắt đục căng lên nhìn trân trân vào mặt lão ta. Da mặt ông lão sắt lại, hàm râu động đậy, lộ vẻ lo buồn. Có đến một giây lâu như vậy. Bỗng chốc cặp mắt ông lão mù như sáng ra và quắc lên, nét mặt rắn đanh trông tợn tạo khắc hẳn mọi lúc. Bất giác lão Mấu trờn trợn. Lão ta vội nhìn lảng ra chỗ khác.


- Cụ Mấu, cụ định khai thế thật à? - Giọng ông lão mù gằn lên.


Lão Mấu đưa tay bứt sợi râu cho đỡ ngượng rồi lẩm bẩm:


- Không khai thế thì để chúng nó đánh chết à?


Ông lão mù ngồi xích lại, hạ giọng:


- Chỗ bạn già với nhau, cụ nghe tôi, đừng làm thế. Cụ có nói với tôi, thằng lý Mực đã làm hại bao nhiêu người. Như thế , nó chết là phải. Giá dân làng có xui cụ thật chăng nữa, cụ cũng không nên khai. Vì một mình mình chết, nhưng cứu sống được bao nhiêu nhân mạng. Đằng này tự ý cụ làm, sao cụ lại để khổ cho dân làng? Phúc đức của cụ để đâu, mà cụ đi làm cái việc thất đức tầy dình như thế?


Lão Mấu làm thinh, mi mắt sụp xuống. Ông lão mù nói tiếp, giọng ôn tồn:


- Cụ đổ vấy cho dân làng, nhưng cụ có chắc là cụ được trơn tru không, hay là cụ vẫn phải tù tội? Họ dỗ ngon dỗ ngọt cụ thế thôi, chứ họ không tha cụ đâu. Mà cụ có được tha, liệu cụ có dám về làng nhìn mặt bà con xóm mạc nữa không? Cụ nghe tôi, chớ làm thế. Con người ta ai cũng một lần nhắm mắt, hai tay buông xuôi. Đừng có làm cái gì thất đức để lúc nằm xuống, dân làng đóng cọc vào mả, nguyền rủa cho.


Lão Mấu vẫn nín lặng. Lão ta rót rượu, uống luôn mấy chén. Nét mặt lão ta bự ra, mắt lừ đừ nhìn vào bóng tối đã lan kín căn buồng giam. Đoạn lão ra trút từng hơi như thở hắt ra. Hình như lương tri đang trở về với con người nghèo khổ, tuy rượu chè be bét song vẫn còn biết đôi điều phải trái. Lão ta ngồi yên, đầu gục xuống đầu gối một lúc lâu lắm. Thỉnh thoảng lão ta lại rên lên, tiếng rên khò khè mắc ở cổ họng. Trông lão ta lúc này thật thiểu não.


Lão Mấu bỗng ngẩng đầu lên, tia mắt phờ phạc. Lão ta bảo cụ Nhâm:


- Phen này chắc tôi chết mất, cụ ạ.


Ông lão mù ái ngại:


- Cụ đừng nghĩ thế.


- Tôi nghĩ chín rồi, cụ ạ. Lúc quẩn thì nói xằng nói bậy thế, chứ người hay giống khuyển mà lại đi khai man để làm hại dân làng. Thật tình, dân làng chẳng ai tệ với tôi. Mà dân làng có ăn ở với tôi chẳng ra gì, tôi cũng không đành bụng gắp lửa bỏ bàn tay như thế đựoc. Làm thế thất đức quá. Mà không khai, thế nào chúng nó cũng đánh đến chết. Đường cùng rồi, cụ Nhâm ạ!


Ông lão mù cố nuối tiếng thở dài. Lồng ngực ông lão găng lên và da mặt hơi tái đi. Ông lão mấp máy môi định nói một câu gì để an ủi lão Mấu, nhưng rồi ông lão lặng ngắt. Biết nói câu gì bây giờ? Con đường lão ta đang đi quả là con đường cùng.


Lão Mấu để tay lên đùi cụ Nhâm, giọng rầu rĩ:


- Thôi cụ đi nghỉ chẳng mệt. Tôi uống nốt chỗ này tôi cũng đi nằm. Sự đời nó đã ra cái nhẽ thế, tôi cũng chả nghĩ ngợi gì nữa.


Rồi lão ta lập cập rót chén rượu đi vào tay cụ Nhâm:


- Cụ uống với tôi chén rượu.


- Cụ cứ xơi tự nhiên, tôi không uống đâu.


- Cụ xơi với tôi một chén thôi. Anh em mình tình cờ gặp nhau ở đây rồi mỗi người lại đi một đường, biết bao giờ lại được ngồi uống với nhau chén rượu. Cụ xơi một chén cho đỡ tủi tay tôi.


Ông lão hát sẩm xúc động cầm chén rượu uống một hơi.


- Thôi cụ đi nghỉ đi, khuya rồi đấy! Lão Mấu giục cụ Nhâm.


Ông lão mù quay về chỗ xó buồng, lặng lẽ nằm xuống manh chiếu rách.


Ngoài sông, tiếng sóng vỗ rì rào. Gió hun hút lùa qua cửa sổ vào trong buồng. Chốc chốc tiếng kẻng lại lảnh lên, âm vang dội vào bốn bức tường đá hộc. Tiếng chân đi đi, lại lại, giẫm lên sỏi rệu rạo. Qua các tiếng động, ông lão mù vẫn nhận ra tiếng lão Mấu thở dài sườn sượt, tiếng nốc rượu ừng ực và tiếng cổ chai va vào miệng chén lách cách. Đêm về khuya. Các tiếng động cứ rộ lên, khiến gian buồng càng vắng lặng.


Lát sau, căn buồng giam chỉ còn tiếng muỗi kêu vo ve và tiếng chân chuột lạo xạo trên nền gạch. Chắc lão Mấu đã say mềm. Ông lão mù thiu thiu ngủ. Thốt nhiên một tiếng động gọn và sắc như tiếng thuỷ tinh tan vỡ làm ông lão hát sẩm choàng dậy. Ông lão lấy làm lạ liền đánh tiếng;


- Cụ Mấu thức hay ngủ đấy?


- Tôi còn thức đây.


- Có cái gì vỡ hay sao ấy cụ ạ.


- À... tôi vừa chạm tay phải cái chai. Thôi, ta ngủ đi không sắp sáng rồi đấy.


Ông lão mù lại quay ra ngủ. Trong lúc còn đang chập chờn, ông lão nghe tựa hồ có tiếng vật vã khe khẽ. Rồi thôi. Gian buồng lại im ắng. Phút sau, lại có tiếng vật vã. Rồi lại thôi. Lần này thôi hẳn. Gian buồng lặng đi, không còn một tiếng động nhỏ. Ông lão kinh ngạc, lại cất giọng hỏi:


- Cụ Mấu thức hay ngủ?


 Không có tiếng đáp.


- Cụ Mấu ngủ rồi à?


Chỉ có tiếng thở khò khè, hồng hộc. Ông lão mù đem lòng nghi ngại. Sao lại có cái tiếng thở lạ thế? Ông lão ngồi lên, quờ quạng mò lại chỗ lão Mấu vừa ngồi uống rượu. Tay ông lão bất thần chạm phải người lão Mấu nằm co quắp ở xó tường.


- Cụ Mấu say lắm à? Ông lão vừa hỏi vừa khẽ lay lão Mấu.


Lão Mấu không động đậy. Ông lão mù rờ tay lên người lão ta. Tay ông lão bỗng run cầm cập. Cổ lão Mấu đứt ngang một miếng bằng ngón tay. Vết đứt sâu hoắm và máu đang xối ra. Dòng máu âm ấm, sực hơi rượu. Ông lão hát sẩm áp má vào ngực lão Mấu. Đoạn ông lão thở dài, lẩm bẩm một mình: 'Tắt thở rồi!"


Ngoài sông, sông vẫn vỗ rì rầm. Và gió vẫn hun hút lùa vào căn buồng giam.


*


* *


Mụ Chóp đã về gần đến gốc gạo. Bước chân mụ đang nhanh thoăn thoắt bỗng dưng chậm lại. Trời chạng vạng tối. Những tia nắng xiên khoai đã tắt từ lâu sau dãy núi đằng xa. Gió từ mặt sông Trà-lý cuốn lên răn rở những tầu lá khô rơi lác đác trên con đê đất đỏ. Tiếng đàn vạc đi ăn đêm cắt ngang tiếng sóng triền miên và đọng lại một giây lâu trong không gian mới tan đi.


Bỗng chốc mụ Chóp đứng lại nhìn sửng sốt. Trong bóng chiều xám ngắt, đầu lâu lão Mấu cắm vào cái cọc, cao ngang tầm người, trông nhang nhác như chính lão ta đang đứng tựa lưng vào gốc gạo, trông về làng. Cái đầu lâu im phăng phắc, mái tóc bù xù rũ xuống trán, mi mắt mở he hé như những lúc lão ta ngà ngà say. Suốt một ngày phơi ra nắng hanh, trên con đê gió lộng, gương mặt lão ta đã xám đen đi và vặn vẹo như chiếc vỏ đỗ. Chợt một cơn gió thổi bay mớ tóc dầy cợ và hàm râu rậm rì. Phút chốc, đầu lâu lão Mấu như khẽ lắc lư và thốt nhiên, trông lão ta như vẫn còn sống.


Mụ Chóp lên làng trên đỡ đẻ từ tối hôm qua. Lúc trưa mụ ta nghe thấy người làng nói chuyện lão Mấu lấy mảnh chai cắt cổ tự tử. Và xếp Duật, đội Tế tức điên người, đã sai lính cắt đầu lão ta, đóng cọc bên ở gốc gạo. Vậy mà lúc này, nhác thấy đầu lâu lão Mấu, mụ ta vẫn bàng hoàng, vừa kinh sợ vừa thương hại. Bụng mụ ta thì cũng như bụng dân làng. Ai chứ thằng lý Mực, nó chết đáng đời. Duy chỉ thương lão Mấu, đến lúc chết vẫn không yên thân. Mục Chóp lầm rầm trong miệng rồi bước đi.


Tối đã nhọ mặt người. Con đê vắng tanh. Dòng sông tối sẩm, rộng ra và tràn lên bãi đê. Đầu lâu lão Mấu lẫn vào bóng tối.


Mụ Chóp rẽ xuống bờ ruộng, đi về nhà.


Giờ đây mụ Chóp ngồi một mình trong buồng. Mụ ta đang vẩn vơ nghĩ đến lão Mấu. Lúc còn mồ ma, lão ta ngang ngược, ăn nói bốp chát, nhiều khi mất mặn mất nhạt. Nhưng được cái lão ta không có tâm địa nào. Mấy năm nay, ra làm môn hạ lý Mực kiếm miếng cơm ăn, lão ta cũng không ỷ thế hà hiếp, hạnh hại một ai. Dân làng không ai oán ghét. Nhiều người còn mến cái nết bộc trực, nhanh tay mau miệng của lão ta. Thế mà lúc chết, chẳng ra gì. Lúc sống, một tay lão ta khâm liệm, chôn cất cho bao nhiêu người. Đến bây giờ nằm xuống thì không một ai dám khâm liệm, chôn cất lại cho lão ta. Thật dao sắc không gọt được chuôi! Nghĩ đến đấy, mụ Chóp càng thương hại lão Mấu.


Mụ Chóp nghĩ lan man đến cả cái tình cảu lão Mấu đối với mình. Mấy lần lão ta ngỏ ý, muốn cùng mụ Chóp rổ rá cạp lại. Thật ra, mụ chỉ chê lão ta mỗi một cái chén chè chén rượu. Những không, mụ ta cũng bằng lòng. Cùng túng đói, cùng một mình một bóng, giá lấy được nhau cũng đỡ vất vả. Nhưng lão Mấu chết mất rồi. Phút chốc trong lòng mụ Chóp, cái thương hại dường như có lẫn cả cái nhớ tiếc.


Tối đã một lúc lâu. Mụ Chóp đứng dậy đi ra cổng. Rồi mụ ta đến thẳng hàng nhà mụ Luyến. Tối nay, hàng rượu thưa khách. Trong nhà chỉ có mấy tên lính bảo chinh đoàn bù khú với con gái mụ ta.


Thấy mụ Chóp hé cửa bước vào, mụ Luyến đon đả:


- Đi đâu tối thế, bà Chóp?


Mụ Chóp ngập ngừng:


- Bà bán cho tôi... cút rượu với một thẻ nhang.


- Hôm nay trở giời hay sao mà bà mọ lại mua rượu uống đấy?


- À... mai nhà tôi chả có cái giỗ dúi, chứ tôi có biết uống rượu đâu.


Mụ Chóp thu cút rượu vào bọc, đi một mạch về nhà. Vừa về đến nơi, mụ ta ngửa cổ nốc một hơi hết nửa cút. Vốn dĩ không bết uống rượu, nên vừa uống khỏi mồm, mắt mụ ta đã đổ hoa cà hoa cải. Và người mụ ta nóng sực lên.


Mụ Chóp vác cuốc, tay cắp cái rổ trong có thẻ hương, lảo đảo đi lên bờ đê. Con đê vẫn vắng ngắt. Tiếng sóng rộ rạt nghe như tiếng hú. Gió phả vào người, bốc hơi rượu lên mặt. Mụ Chóp chuệnh choạng muốn dụi xuống bờ ruộng.


Đến gốc gạo, mụ Chóp nhìn ngược nhìn xuôi. Không thấy ai, mụ ta vội vàng nhấc đầu lâu lão Mấu đặt vào cái rổ, hớt hải đi và bãi tha ma. Vừa đi, mụ ta vừa ngoái lại nhìn. Chợt mụ trông thấy có mấy bóng người lố nhố ở gần gốc gạo. Người làng lẻn đến lấy trộm đầu lâu lão Mấu đem chôn cất, hay lính bốt đi tuần? Chắc là người làng. Nhưng mụ Chóp vẫn hoảng lên; mụ ta ôm chặt cái rổ, cắm đầu chạy.


Bãi tha ma cũng vắng tanh vắng ngắt. Mấy con đom đóm đực bay lừ lừ. Những vệt sáng xanh lè nhỏ và dài ánh lên đám mả lô nhô. Mụ Chóp vã mồ hôi, người lạnh toát. Mụ lập cập vung cuốc, cuốc vội mấy nhát. Đoạn mụ đặt cái rổ xuống, lấp đất. Rồi mụ châm thẻ hương, cắm lên trên. Gió hay hẩy, bó hương cháy chập chờn.


Mụ Chóp lại cắm đầu cắm cổ chạy. Về đến nhà, mụ ta ngửa cổ tu nốt nửa cút rượu rồi nằm vật ra giường.




Ngày và đêm nối tiếp nhau trôi đi. Sáng sớm, ánh dương nhô lên đỉnh dẫy núi màu xanh lơ đằng xa và chiều đến, chìm khuất sau luỹ tre lưa thưa viền một đường mờ mờ phía chân trời. Dòng sông Trà - lý vẫn chảy lờ đờ. Những đêm giá lạnh, sương muối giăng dầy, dòng nước đông kên dường như ngừng lại và những đám bọt nước đặc sệt như rãi trâu xoáy tròn một chỗ. Tiếng sóng vẫn triền miên, hiu hắt và đơn điệu.


Bên kia sông, cái bốt Phượng-lâu vẫn đứng sững giữa những hàng dây thép gai lởm chởm. Những chiều nắng quái, lô-cốt, ụ súng, nòng khẩu đại bác vẫn ngạo nghễ soi bóng xuống mặt nước. Và màu vôi xám trên những bức tường đá hộc sẫm lại, trông càng ghê rợn.


Nhưng rồi mùa đông tàn. Mùa xuân trở về trên dòng sông. Phù sa đọng dưới đáy sông vẩn lên, nhuộm đỏ dòng nước trong xanh. Trên bờ đê, những bông hoa gạo cuối mùa, đỏ như máu, đang trút xuống và nát ruỗng dưới gốc cây. Lá lộc trổ xanh rờn trên các cành khẳng khiu. Lúa chiêm cũng đã trổ đòng. Mỗi lúc gió ở dưới sông đưa lên, cây lùa dập dờn và thoảng mùi sữa cốm.


Một đêm, Tự đang ngủ, bất thần có tiếng nổ bên kia sông. Tiếng nổ chuyển trời chuyển đất. Cái xóm giếng rùng lên. Tự choàng dậy. Tiếng súng nổ ran, xối xả, tới tấp như cơn mưa hạt trút vào vườn chuối. Tự hất chiếu, chạy lại bên cửa sổ, đẩy mảnh liếp nhìn ra. Những tia lửa xanh đỏ đan vào nhau, trông như những vết dao chém rớm máu trên vòm trời.


Trong nhà, ngoài đường, xóm trên, xóm dưới, chó sủa rộ. Lợn hồng hộc húc đầu phá gióng chuồng. Gà nhớ thì, vừa cất tiếng gáy nửa đêm đã lại im bặt. Còi rúc nhớn nhác. Tiếng chân chạy rình rịch.


Tiếng súng mỗi lúc một ken dầy. Đường đạn xanh đỏ nối tiếp nhau rạch lên nền trời những vệt lằng nhằng như những tia chớp giật. Không khí thoảng mùi thuốc súng khen khét. Tiếng gió, tiếng sóng ở ngoài sông nghe không rõ nữa. Chỉ còn tiếng súng nổ, tiếng đạn bay hỗn độn và khủng khiếp.


Nhưng chỉ mấy phút sau, tiếng súng ngớt dần, thưa dần rồi tắt lặng. Tiếp đó, có tiếng reo như thét lên từ đầu làng đến cuối làng:


- Diệt được bốt rồi! Diệt được bốt rồi!


Cái bốt đóng bên kia sông như cái đinh đóng vào tròng mắt làng Phượng - lâu ba bốn năm nay bị diệt rồi! Thằng xếp Duật chết gục bên chai rượu khai vị trong cái buồng, ánh đèn đỏ màu máu. Thằng đội Tế tan xác trong lô cốt. Thằng cai Luận trúng đạn vào bụng, ngắc ngoải. Lính bảo chính đoàn, lính bảo an sống sót giơ tay hàng răm rắp.


Nỗi vui mừng xốn xang trong lòng Tự. Tự đứng nhìn ánh đuốc đỏ rực bên kia sông một giây lâu không chớp mắt.


Từ đêm ấy đến nay, thấm thoát đã mấy tháng rồi. Lúa chiêm đã gặt hái đoạn. Khói cơm mới thơm ngậy. Xóm Giếng, xóm Đình, xóm Chùa, nhà mọc lên san sát. Cây gạo đã đốn xuống; quãng đê đất đỏ như rộng ra, ôm lấy khúc sông chảy cuồn cuộn. Tối đến, tiếng du kích Phượng-lâu luyện tập vang trên bờ đê mãi tới khuya.


Một buổi trưa, Tự đang làm cỏ ngô ở ngoài bãi thì Gấm vác cuốc đi đến.


- Tự chưa về à?


- Em đang làm nốt mấy luống nữa cho xong.


- Thôi về đi, muộn rồi đấy.


Tự bước ra, đi bên cạnh Gấm.


Con đường vắng vẻ. Dưới sông, tiếng sóng reo trầm trầm. Đôi lúc, một cơn gió thổi về. Những cánh hoa bí vàng rộm khẽ động đậy và mấy con chuồn chuồn ớt giật mình bay lảng xa xa. Tiếng "nghé ngọ" thơ dại của một con nghé hoa ở đâu đó chợt vẳng lên. Bãi đê êm đềm. Những tia nắng ấm rải trên bước chân.


Hai người lặng lẽ đi bên nhau. Bỗng Tự nói:


- Bộ đội về diệt bốt đã ba tháng rồi chị Gấm nhỉ?


- Ờ, mới đêm nào, thế mà đã ba tháng rồi. Chóng thật.


Giọng Tự như lắng xuống.


- Làng ta giải phóng rồi mà sao anh Quân vẫn chưa về thăm chị?


- Chắc anh ấy chuyển đi xa rồi. Bộ đội người ta như con chim, nay đây mai đó, có được ở lâu một chỗ đâu.


Giây lát sau, Tự lại hỏi:


- Thế chị có nhận được tin tức gì của anh ấy không?


- Không. Đến mấy tháng nay, chị không nhận được tin tức gì của anh ấy. Đang lúc bom đạn thế này, thư từ cũng khó. Với lại, các anh ấy bận công bận việc, chứ lại rỗi rãi như mình đâu mà đánh thư về luôn được.


Thế rồi im lặng. Gấm thần mặt dường như đang mải nghĩ chuyện gì. Tự bâng khuâng vừa đi vừa cúi xuống nhìn tựa hồ nhẩm đếm từng bước chân. Xóm Giếng êm ả. Chỉ có tiếng ru con vời vợi và tiếng võng đưa kẽo kẹt.


- Bao giờ thì anh ấy về chị nhỉ? - Tự lơ đãng hỏi.


Gấm choàng người:


- Ai kia?


Tự lúng túng:


- À... anh Quân.


- Không biết.


Hai người đã đi về đến xóm Giếng. Tự rẽ vào trong ngõ:


- Chị Gấm về nhá!


- À! Tự này, tối nay họp du kích đấy!


- Vâng.


Tự bước xuống cầu ao rửa chân tay rồi đi thẳng vào bếp. Thầy Tự vừa đi họp. U Tự đi chợ mua lợn giống chưa về. Căn nhà vắng lặng.


Bất giác Tự đưa mắt nhìn cái nồi đồng vá, cái vỏ rạn, cái trạn bát, khóm chuối ở đầu bếp... Tự sực nhớ, nhớ như in những đêm Khắc ở dưới hầm. Lòng Tự nao nao.


Tự đứng lên, thẫn thờ đi ra sau nhà.


Ra gần đến bụi tre, Tự bồi hồi đứng lại. Một cơn gió từ ngoài bãi đê bỗng chốc xô về. Luỹ tre vặn mình kèn kẹt. Đám lá khô phủ dầy ở gốc cây con lên, chạm vào nhau loạt xoạt. Mùi đất ớm nắng dưới bóng cây bốc lên ngai ngái. Cơn gió tắt dần; tiếng gió vẳng ra xa. Bụi tre trở lại im lìm. Đám lá khô đã nằm ẹp xuống, lẫn vào màu đất.


Tự bước bước một đi vào. Được mấy bước, chợt Tự quay gót đi thẳng ra bụi tre. Tự cúi xuống gạt đống lá khô, nâng nắp hầm. Nắp hầm vừa hé mở, mùi hôi mốc, ẩm ướt ép trong lòng hầm xộc lên mặt. Tự choáng váng vịn vội vào gốc tre. Rồi Tự từ từ trườn xuống.


Ánh nắng xiên qua lùm cây, rắc những chấm sáng lốm đốm cửa hầm. Tia nắng hắt vào, lòng hầm sáng hoe lên. Tự ngồi xuống, tựa lưng vào tường. Hơi đất ẩm lạnh thấm vào lưng khiến Tự rùng mình. Khoảnh hầm phút chốc như rét tấy lên, giống những đêm Khắc ẩn nấu ở đây.


Tự sờ tay vào đống rạ. Ổ rạ đôi chỗ đã nát mủn, đóng bánh lại và dán xuống đất. Nhưng các cuộng rạ vẫn vẳng lên những tiếng xột xoạt khe khẽ; và hơi rạ vẫn nóng ẩm bàn tay Tự. Mắt Tự bỗng hoa lên. Qua ánh sáng nhờ nhờ, dường như Tự trông thấy Khắc đang ngồi trên ổ rạ, cái chân gãy quấn chiếc áo trấn thủ, ruỗi thẳng đờ. Khắc đang đận đà bốc cơm ăn. Vừa ăn, Khắc vừa nhìn Tự, tia mắt trong sáng và hiền lành. Bất chợt Tự bàng hoàng. Bỗng dáng Khắc mờ dần rồi biến đi.


Khắc đi rồi! Giờ đây, Khắc ở đâu? Khắc đang chiến đấu ở Việt-bắc, ở Tây-bắc hay ở biên giới, hay ở vùng biển? Đất nước rộng quá, biết Khắc đang in dấu chân ở nẻo đường nào!


Tự ngước mắt nhìn bức tường trước mặt. Đột nhiên các nét gạch nổi lên rõ từng nét. Tự đưa ngón tay miết. Những nét gạch sâu và thẳng hàng hút lấy ngón tay Tự. Tự lần lượt miết lên từng nét gạch. Năm nét! Khắc đã náu dưới hầm này năm đêm. Và Tự cũng đã chăm sóc Khắc năm đêm.


Khắc đi rồi! Nhưng thế nào Khắc cũng sẽ trở lại! Tự tin chắc thế. Bỗng nhiên tim Tự đập mạnh, hơi thở rộn ràng. Và tay Tự lại miết miết lên các nét gạch.


Bên ngoài, trời vẫn nắng. Ánh nắng một ngày mùa xuân trong trẻo và ấm dịu lạ lùng.


Mùa đông 1961


Hết


Nguồn: Làng tề. Tiểu thuyết của Đỗ Quang Tiến. NXB Văn học, 1962. Bản điện tử của nhà báo Đỗ Quang Hoàn - con trai tác giả - gửi cho www.trieuxuan.info


 


 


 


 

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Trăm năm cô đơn - G. G. Marquez 20.08.2019
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 20.08.2019
Lâu đài - Franz Kafka 19.08.2019
Gia đình Buddenbrook - Thomas Mann 19.08.2019
Đêm thánh nhân - Nguyễn Đình Chính 19.08.2019
Ông cố vấn - Hữu Mai 19.08.2019
Đẻ sách - Đỗ Quyên 19.08.2019
Thế giới những ngày qua - Stefan Zweig 16.08.2019
Sông Côn mùa lũ - Nguyễn Mộng Giác 13.08.2019
Seo Mỉ - Đỗ Quang Tiến 13.08.2019
xem thêm »