tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 28225703
Tiểu thuyết
08.08.2016
Đỗ Quang Tiến
Làng tề



Lão Mấu lảo đảo đi xuống xóm Đình. Đằng xa, ánh một ngọn đèn chai lắc lư chiếu vào trong ngõ. Lão ta thấy bóng một người đàn bà đang đi đến. Ai đấy! Mụ Soạn, vợ hai lý Mực.


Mụ Soạn trước kia làm cô đầu trên phố huyện. Mụ không xinh nhưng được cặp môi ướt rượt, đôi mắt lẳng tít và cái thân hình phây phây. Mụ ăn nói lại có duyên. Những lần lên huyện về việc quan, lý Mực thường đua anh đua em vào hát nhà mụ. Ít lâu sau, hắn làm nhà, xây sân, tậu thêm mấy mẫu ruộng rồi đón mụ về.


Có đến mười mấy năm rồi. Bây giờ mụ Soạn đã đứng tuổi và chưa sinh nở lần nào. Tuy vậy, lý Mực vẫn mê mụ hơn mụ vợ cả, hơn cả cô vợ ba còn trẻ măng. Lúc đó, mụ Soạn vừa đi bắt nợ ở dưới xóm Chùa về. Tay mụ cầm khư khư bộ quần áo nâu bạc màu. Ánh ngọn đèn chai đã rẽ sang ngõ khác. Lão Mấu vẫn hấp háy mắt nhìn bóng người đàn bà mặc áo cánh bông, thấp thoáng trước mặt. Lão ta loạng choạng vịn vào hàng rào, đứng lại thở đánh phào một cái. Mụ Chóp đi đâu thế này? Chắc mụ lại đi đỡ đẻ hay đi hú vía ở đâu về. Nghi vậy, lão ta gãi đầu, gãi tai, toét miệng cười một mình. Hơi rượu như bốc cả lên mặt khiến mắt lão ta đỏ như miếng tiết vữa. Vừa khi ấy, mụ Soạn đi tới. Lão giang tay ôm chặt lấy mụ:


- Đi đâu đấy? Ra đằng kia nói chuyện một lúc cho vui.


Mụ Soạn vừa giằng ra vừa kêu thét lên:


- Ới làng nước ơi, thằng Mấu nó hiếp tôi đây này! Lão Mấu bè nhè.


- Làm mình làm mẩy thế? Đùa một tí đã kêu toáng lên. Sợ cái đếch!


Lão Mấu vẫn lẵng nhẵng nắm lấy tay mụ Soạn. Mụ giãy giụa, kêu khản cả tiếng. Chó sủa ran tứ phía. Bọn dõng đang đi tuần các ngả, nghe thấy tiếng kêu, huýt còi, chạy xô lại. Lý Mực đang uống nước ở trong nhà, vứt chén, đâm bổ ra đường. Xóm Đình bỗng chốc nhộn nhạo.


Bọn dõng ập đến, vây quanh lão Mấu. Lúc bấy giờ lão ta mới biết mình nhầm. Lão ta ngồi xệp xuống đất, mặt đuỗn ra, râu ria lõng thõng. Lý Mực hốt hoảng chạy lại. Mụ Soạn đứng nép ngay vào cạnh chồng, làm bộ run cầm cập. Mụ vừa thở vừa nói đốc thôi đốc hồi:


- Ối trời ôi! Một tí nữa thì nó hiếp tôi. Nó là quân đầy tớ mà sao nó dám láo thế kia chứ. Ông mà không diệt cho nó một trận, tôi đến đâm đầu xuống sông, tôi chết thôi. Cha tiên nhân nhà nó, tưởng cứt cũng như rươi, ba bốn mười cũng hai tiền à!


Lao Mấu gãi râu, ấp úng trong miệng:


- Say quá... tôi... tôi lại cứ ngỡ là bà Chóp.


Thì ra chỉ là cái chuyện "đũa mốc định tròi mâm son" chứ không phải chuyện gì ghê gớm! Lý Mực hoàn hồn. Song thấy mụ Soạn bù lu bù loa, hắn điên lên. Mặt hắn tím bầm lại, mắt long sòng sọc.


Lão Mấu vừa dứt lời, lý Mực hầm hầm túm tóc lão ta, quật xuống đất. "Này ngỡ này! Này ngỡ này! Mẹ cha mày, lại dám láo với ông à!" Hắn vừa chửi vừa giang thẳng cánh ních vào bụng, vào mạng mỡ lão ta. Mấy phút sau, lão Mấu ằng ặc, mắt trợn lòng trắng.


Lý Mực đứng dậy chỉ vào mặt lão Mấu, thét:


- Ông truyền đời cho mày, nội nhật đêm nay phải bán cái sới này đi chỗ khác! Sáng mai, ông còn trông thấy mặt mày, ông cho dõng gô cổ mày lại, quẳng xuống sông cho đi "mò tôm"!


Giữa lúc ấy, bất ngờ mụ Chóp đi đến. Nghe thủng câu chuyện, mụ xấu hổ chín dừ cả mặt. Mục liền lẩn vào một nhà ở đầu ngõ. Lý Mực và bọn dõng tản ra các ngả. Chó thôi sủa. Xóm Đình trở lại im ắng.


Lão Mấu vẫn nằm rên ư ử dưới đất. Mặt xám ngắt, dãi dớt xều ra hai bên mép. Chiếc áo cánh nâu bã và cái quần lính nhảy dù lấm bê bết. Trận đòn thừa sống thiếu chết đã làm lão ta tỉnh hẳn rượu. Lão ta cố ngồi lên lại nằm vật xuống. Và lão ta lại tên hừ hừ. Mụ Chóp ở trong nhà đi ra. Nghe thấy tiếng rên, mụ ta động lòng thương. Dù sao cũng vì mụ, lão Mấu mới bị trận đòn. Trong bóng tối, mụ rón rén lại gần, xốc nách lão Mấu đứng dậy:


- Thôi về mà đi ngủ! Từ rày nốc ít rượu chứ. Đã thấy nhục chưa?


Lão Mấu chẳng nói chẳng rằng đưa tay quệt ngang mồm. Rồi chuệnh choạng lần về miếu thổ thần. Về đến nơi lão ta nằm lăn ra ổ rạ. Bên ngoài đang cả gió. Lá cây đa đập vào nhau loạt xoạt. Cánh cửa miếu rít ken két. Tiếng sóng rì rào ngoài sông, thuận chiều gió, nghe rõ mồn một. Lão ta lịm đi giữa các tiếng động lộn xộn, buồn bã. Một lúc lâu lắm, các chỗ đau mới dịu dịu. Lão ta tỉnh lại. Đầu óc nhức buốt, chân tay rã rời, mình mẩy ê ẩm.


Từ nãy đến giờ, lão Mấu vẫn nằm thẳng đừ, tay vắt trên trán, mắt nhìn lền trần miếu. Trong đêm tối, cặp mắt lờ đờ mở to dần và đỏ xọng lên. Lão ta bỗnh nhớ lại cái hồi làm lính lệ trên huyện. Khi ấy, lý Mực mới ra phó lý. Thấy lão ta gần cận quan, phó lý Mực sợ một phép. "Trông thấy mình là nó một điều "ông lệ", hai điều "ông lệ"... Thế mà bây giờ thất thế phải "xuống bò", làm đầy tớ nó cũng không xong!" Lão ta trở mình. Mình mẩy lại đau như dần. "Hừ, phen này cái làng Phượng Lâu, người ta coi mình bằng mẻ! Mà đã chắc gì ở được cái làng với nó. Lúc nãy, nó chả nói ra mồm là nội nhật đêm nay phải bán sới đấy à?" Nhưng đi đâu bây giờ? Đi đâu cho có ngày hai miếng cơm chín với cút rượu? Lão ta thở hộc lên. Căm thằng lý Mực, căm quá!


Bỗng dưng tay lão Mấu chạm phải mấy vết sẹo trên trán. Lão ta lấy ngón tay, miết miết. Các vết sẹo sần sùi gồ lên, ẹp xuống, hút lấy ngón tay. Mắt lão ta lừ lừ, đoạn vằn lên như mắt trâu điên. Tia mắt đảo đi đảo lại rồi xoáy vào chuôi con dao găm gài đằng sau thành mè, trên mái miếu. Lão ta nín thở. Cặp mắt đỏ đọc mỗi lúc một ong lên, điên cuồng và man dại. Bất chợt lão ta vùng dậy, rút con dao cầm lăm lăm ở tây. Con dao bắt được ở ngoài đồng từ năm ngoái. Có lẽ của bọn dõng đi tuần đánh rơi. Lão ta bôi vôi vào lưỡi dao cho khỏi rỉ và giấu ở đấy. Đến lúc này lão ta mới nhớ ra.


Lão Mấu cạy lượt vôi đóng ở lưỡi dao, mắt lơ đãng nhìn qua khe cửa ra bên ngoài. Những đám ruộng, nước xâm xấp và đục ngầu như gạch cua đang ánh lên những vững sáng mập mờ. Bóng đêm tụ lại, những đóng đất xếp ải in từng mảng đen sẫm trên cánh đồng. Gió vẫn thổi vù vù và dội vào cây đa. Trời rét buốt. Nhưng trán lão Mấu vẫn nhớt nhát mồ hôi.


Bất thình lình lão Mấu đút con dao găm vào túi cái quần lính nhảy dù, đứng phắt lên. Rồi hầm hầm đẩy cửa đi ra. Đi được mấy mặt ruộng lão ta tần ngần đứng lại. Không hiểu nghĩ ngợi thế nào, lão ta khặc khừ quay về, nằm phục xuống ở rạ. Chưa ấm chỗ, cặp mắt đỏ kè lại trợn ngược tưởng chừng đến đứt kẽ mắt. Lão ta lại ngồi bật dậy, mở cửa đánh xầm một cái, biến vào bóng đêm.


Ông Điền nghiêng người lách khe phên liếp đi vào. Ông ghé vào tai cụ Chữ, nói thầm.


- Tôi vừa đi dẻo các xóm, ra tận bờ đê một lượt nữa về đây. Chúng nó vẫn đi tuần rình rịch khắp các ngả. Nhất định bộ đội lại vừa diệt bốt nào rồi, chúng nó mới tuần giờ cẩn mật thế. Mấy lần tối suýt chạm trán chúng nó.


Cụ Chữ cắn môi, mặt thần ra:


- Bây giờ làm thế nào hở ông?


- Cụ cứ để tôi nghe ngóng một lúc nữa xem sao. Giá anh ấy khoẻ mạnh thì đẽ, đằng này anh ấy lại bị thương, phải cẩn tắc lắm mới được.


- Hay là để tối khác?


- Để tối khác thì lại nhỡ công việc của anh ấy. Việc quân sự không thể trì hoãn được. Với lại anh ấy bị thương cũng nặng, phải thuốc thang cho anh ấy ngay. Cụ cứ bình tâm để lúc nữa xem sao. Thế nào đêm nay tôi cũng đưa anh ấy đi lọt. Tôi đảo về nhà một tí đã.


Ở trong buồng, nghe thấy tiếng kẹt cánh liếp, Tự ngồi nhỏm lên. Chắc ông Điền vừa đi vào! Đến lúc có tiếng thì thào ở nhà ngoài chị đoán ông Điền đang nói chuyện với cha mình. Tình hình ra sao? Khắc đã đi được chưa? Chị áp mặt vào khe cửa, lắng nghe. Không nghe rõ câu gì cả. Chị càng băn khoăn. Chợt lại có tiếng động phên liếp và tiếng chân đi ra hè. Chắc ông Điền đi về, chị chú ý nghe xem cha chị có gọi không. Ở nhà ngoài, ông cụ vẫn ngồi yên, nhìn ra sân. Chị nóng ruột toan đi ra hỏi nhỏ ông cụ rồi lại thôi.


Tự đi lại bên cửa sổ, ngó ra ngoài. Bóng đêm chập chờn, có lúc như loãng ra, nhưng một thoáng sau lại tụ dầy. Đọt cau, rặng rào cúc tần đứng co ro, mỗi khi gió lộng, lại thít lên khe khẽ. Đêm nay, Khắc có đi được khong? Nếu đi, liệu có vượt qua được mấy làng tề không? Bóng đêm như tối sầm lại, thấm vào người chị. Chị buông xập mảnh liếp che cửa sổ, quay vào giường.


Thình lình lại có tiếng kêu thất thanh ở phía xóm Đình. Tiếng kêu xói lên xóm Giếng. Tự vội vàng bước ra nhà ngoài.


- Có tiếng kêu ở đâu ấy thầy ạ.


- Nghe như ở xóm dưới. Động hoả ở đâu chắc? Giờ này mà động hoả thì đến mất cả xóm.


Cụ Chữ xô cánh liếp, bước ra sân. Tự theo ra. Hai cha con nhìn về phía xuôi. Vòm trời vẫn âm u. Tán cây, mái nhà lẫn vào đêm tối.


- Không thấy có ánh lửa thầy ạ.


- Hay dập được rồi?


- Con chắc không phải cháy nhà.


- Hay là trộm đạo ở đâu chăng?


Tiếng kêu mỗi lúc một giật giọng. Hình như có cả tiếng khóc chu chéo. Ngoài ngõ, tiếng chân chạy rầm rập, đổ xuối xuống xóm Đình. Và tiếng còi huýt lanh lảnh như xé bóng đêm.


Bỗng ông Điền hớt hải chạy sang. Cụ Chữ, Tự theo ông đi vào nhà. Bà cụ ở trong buồng bước ra, tay buông thõng, nét mặt nhớn nhác. Bà cụ hỏi qua hơi thở hổn hển.


- Động rạng ở đâu thế ông Điền? Chết chứ chả sống được. Từ tối đến giờ, mấy lần có tiếng kêu rồi. Khép cửa lại. Tự! Đêm hôm mà cửa ngõ cứ thông thống như nhà hoang thế này...


Cụ Chữ cau mặt:


- Thì để xem động rạng ở đâu đã nào!


Ông Điền vừa nói vừa thở:


-- Lý Mực bị đâm chết rồi! Trông ghê quá...


Cụ Chữ ngắt lời ông Điền,


- Ai đâm?


- Lão Mấu.


- Chết rồi à?


- Đâm đến năm sáu nhát lút con dao găm vào bụng, vào ngực lại chả chết. Đâm ngay ở cổng nhà lý Mực. Trông rợn tóc gáy lên.


Nét mặt mọi người cùng bộc lộ một niềm vui mừng đột ngột. Duy chỉ có bà cụ Chữ là mặt mày tái xanh tái xám. Run rẩy, bà cụ ngồi xuống bậu cửa,


Cụ Chữ hỏi ông Điền:


- Thế lão Mấu đâu rồi? Lão ta có còn ở đấy không?


- Lão ta vẫn đứng ở đấy, tay lăm lăm con dao găm đỏ lòm, trông đến tợn. Bọn dõng cũng đứng cả ở đấy. Thằng nào thằng ấy run nhong nhóc, chả đứa nào dám xông vào bắt lão ta cả. Thôi, để tôi đi xem binh tình ra sao đã - ông Điền ghé tai cụ Chữ - May ra thì đi êm đấy, cụ ạ!


Dứt lời, ông Điền chạy vụt ra cổng. Bà cụ Chữ thoáng nghe thấy, ngẩn mặt hỏi chồng:


- Đi... đi đâu hở ông? Đêm tối thế này thì đi đâu? Cụ Chữ bực mình phát gắt:


- Đi đâu? Đi ra bãi tha ma ấy à? Cái gì cũng hay hỏi. Thôi bà đi ngủ đi, không có lính bốt kéo sang bây giờ đấy.


Bà cụ cau mặt, lẳng lặng đi vào buồng.


Một lát sau, ông Điền chạy về. Ông kéo cụ Chữ, Tự xuống bếp, thì thầm:


- May quá! Tốp lính bốt đi tuần ở bờ sông, đổ đến nhà lý Mực rồi. Dân làng cũng đang ở đấy. Chị Tự xuống hầm bảo anh ấy lên ngay đi. Đang lúc nhốn nháo thế này, phải đi ngay mới được.


Tự lao ra bụi tre, nâng nắp hầm, trườn người xuống.


- Anh Khắc! Anh Khắc! Lên đi, nhanh lên! Tự nói vội.


Khắc đang ngồi dựa vào vách hầm, đợi Tự. Nghe thấy tiếng Tự, anh vội hỏi.


- Đi ngay bây giờ hở chị?


- Đi ngay bây giờ. Nhanh lên anh!


- Có việc gì mà chị hốt hoảng thế?


- Nhanh nhanh lên anh!


Giọng Tự vẫn hoảng hốt. Khắc kinh ngạc, nhưng không dám hỏi thêm. Anh vội vàng với cái nạng, nhoài ra cửa hầm. Vết thương bất thần bị chạm mạnh, đau tấy lên óc. Bất giác anh kêu "ối" một tiếng khe khẽ. Tự tái mặt:


- Anh lại đau à? Chết, thế thì đi làm sao được?


- Khắc nghiến răng cố dằn cơn đau tê dại khắp người: Không sao. Đau một tí thôi tôi đi được chị ạ.


Tự đỡ Khắc chui lên. Khắc còn đang lúng túng, ông Điền đã cúi xuống nâng anh ra khỏi cửa hầm. Tự lập cập bước theo lên.


- Anh đi với tôi! - ông Điền bảo nhỏ Khắc.


Không khí khoáng đãng và những ngọn gió giá lạnh táp vào người, làm cho Khắc tỉnh táo hẳn. Trong bóng tối, anh đảo mắt nhìn quanh một lượt, tay để vào chốt lựa đạn. Tự cầm gói thức ăn dúi vào tay anh, giục:


- Anh đi với ông Điền! Thôi anh đi đi! Nhanh lên! Khắc bàng hoàng nhìn Tự. Sao Tự lại hoảng hốt đến thế? Anh còn đang bối rối, ông Điền đã quay lưng lại, kéo tay anh:


- Để tôi cõng anh một quãng, anh bấu vào vai tôi, nhanh lên!


Khắc vừa quàng tay, ông Điền đã xốc anh lên vai, lao ra phía bờ sông. Anh ngoái lại nhìn. Cái bóng dáng nhỏ nhắn đã lẫn vào hàng cây.


Tự nấp sau bụi tre, ngó theo. Bóng ông Điền, Khắc đã chìm trong bóng đêm. Chị vẫn ngây người nhìn. Tất cả những việc vừa xẩy ra, nhanh chóng, đột ngột như: ánh chớp giật, một đêm tối trời. Niềm xúc cảm đến dồn dập, hỗn độn tới đỗi chị tưởng chừng đang sống trong giấc mê. Khắc còn ở dưới hầm hay đi rồi? Bỗng một cơn gió lạnh ngắt phả vào người chị. Chị bừng tỉnh và nhớ ra việc đó. Khắc đi rồi! Bất giác chị nhíu mắt nhìn vọng ra phía bờ sông. Chắc hai người đã ra đến bãi đê. Khắc đang chống nạng, cùng ông Điền mải miết đi xuôi về phía Nhân Hoà. Đột nhiên tim Tự đập mạnh. Chị có ấn tượng chính mình đang men theo con đê cánh cung, dò từng bước trong bóng đêm. Và tiếng cái nạng tre trỗ xuống đất đội lên. Chị ấp bàn tay vào ngực. Trống ngực chị vẫn đập thình thịnh.


Đằng trước ngõ, chợt có tiếng nói lao xao. Tự rảo bước đi về. Đi được mấy bước bất thần chị đứng lại. Nắp hầm đã đậy chưa? Chị quay ra bụi tre. Nắp hầm chưa đóng. Mùi rạ mới ngai ngái xông ra cửa hầm. Mồ hôi vã ra trên mặt chị lập cập cúi xuống đậy lại, rải đống lá khô lên trên. Rồi chạy về nhà.


Bà cụ Chữ đã vào buồng nằm, nhưng tâm trí vẫn để cả ở cái đám giết người. Bà cụ đang run lên, thở không ra hơi. Cụ Chữ ngồi ngóng ở đầu hè, Nhác thấy Tự, cụ gọi lại, hỏi gọn:


- Đi chưa?


- Rồi ạ.


Cụ Chữ bẻ đốt ngón tay, thở một hơi dài:


- May ra thì êm.


Cụ quay vào nhà, leo lên giường ngồi. Rồi nhẩn nha kéo điếu, hút thuốc. tanh tách. Đám khói dầy đặc, phủ lên khuôn mặt trầm lặng, khắc khổ. Chợt ánh đèn pha quét một vệt sáng quắc vào trong làng. Tiếp đó, liên thanh nổ một tràng dài. Đạn bay ríu ríu qua bờ sông, bãi đè, mái nhà. Mấy phút sau, lại lặng như tờ. Và chỉ còn tiếng sóng lao xao ở ngoài sông vọng về.


Tự đi ra nhà ngoài, băn khoăn hỏi cụ Chữ:


- Chúng nó bắn cái gì thế hở thầy?


- Chắc trên bốt biết tin thằng lý Mực bị đâm chết, chúng nó bắn thị uy.


- Không biết ông Điền với anh Khắc có việc gì không?


Bất chợt cụ Chữ cũng thấy bấn dứt trong lòng:


- Không hiểu chúng nó bắn về phía nào. Thầy lo quá, chả biết anh ấy có đi thoát không, hay lại mắc mớ giữa đường thì khốn. Lại còn ông Điền, nhỡ có thế nào, thật người ta chết thay cho nhà mình.


Tự lại lo lắng. Chị bước ra hè, nhìn vọng sang bên bốt. Đường đạn vừa rồi bay về ngả nào? Chị đưa mắt ngó quanh. Tia mắt chị dừng lại ở quãng đê phía Nhân Hoà. Quãng đê vòng cung hẳn một vệt mờ mờ phía xa. Rồi tất cả lại lẫn vào bóng đêm. Bồn chồn chị đi vào nhà.


Bà cụ Chữ ở trong buồng dò ra, ngồi nép vào bên cửa. Rồi lẩm bẩm một mình:


- Cụ Mấu tính nết truyềnh toàng, ruột để ngoài da thế mà dám giết người. Phen này thì đến sát nhân giả tử chứ chả không. Gan bằng sắt thật!


Cụ Chữ quay lại, mắt gườm gườm nhìn vào bóng tối:


- Thằng ấy không chết thì chết thằng nào? Nó không chết về tay lão Mấu cũng chết về tay người khác. Từ ngày có cái bốt, một tay nó hạnh hại bao nhiêu người rồi. Bất nhân bạc ác!


Bà cụ cả cẩm:


- Trời đất này mà lúc nào ông cũng bạ đâu nói đấy. Nhỡ đến tai người ta thì sống hay chết?


- Đến tai ai? Đến tai thằng lý Mực ấy à? Nó xuống âm phủ với bố nó là thắng chánh tổng Phả rồi, còn tai với họng gì? Bà thì lúc nào cũng như người mất hồn. Chết ngay bây giờ đấy!


Bà cụ đứng lên rón rén đi vào buồng.


Tự quay vào đến bên cửa sổ. Bỗng có ánh đèn pin loang loáng ngoài bờ đê. Chị nâng mảnh phên, nhìn ra. ánh đèn đang tiến vào làng. Tiếng chân nghe rõ dần. Chắc lính bốt sang. Chúng nó sang về việc lý Mực vừa bị đâm chết. Chị chắc chỉ có việc ấy. Nghĩ vậy, mà chị vẫn hồi hộp.


Nhà ngoài, cụ Chữ đang ngây người ngó ra cổng. Cụ đã nghe thấy tiếng giầy lạo xạo của bọn lính bốt. Và cụ cũng đang lo ngại. Cụ mấp máy môi toan gọi con, rồi lại đứng yên, tay vịn vào cánh liếp.


Tiếng giầy lộm cộp đã đến đầu xóm Giếng. Rồi tản ra các ngõ. Bất chợt có ánh đèn rọi nhà cụ Chữ. Sau đấy, hai tên lính bốt vạch rào, sấn sổ bước vào sân. Tự choàng người, chạy vào nằm ép xuống giường. Ánh đèn lướt một vệt sáng xanh lên cánh liếp. Chị nín thở. Chị lắng nghe tiếng giầy vòng đầu nhà ra sau vườn. Chúng nó đi đâu thế? Chị còn đang run sợ thì có tiếng một thằng nói ở phía sau:


- Chắc có cán bộ cầm đầu, lão ấy mới dám giết. Thả sức một mình lão ta, có mà giết chai rượu với quả chuối xanh chấm muối ớt.


Thằng kia làu bàu:


- Chắc thế. Nhưng nó chuồn rồi, chỉ mệt lính thôi chứ bắt thế đếch nào được nó. Sục với sạo, lại mất mẹ nó cả đêm!


Đúng vẫn việc lý Mực! Tự hoàn hồn. Thình lình lại có tiếng xôn xao ở ngoài ngõ. Và ánh đền chai thấp thoáng ở hàng rào. Chị chưa hiểu việc gì đã có tiếng cụ Chữ lẩm bẩm ở nhà ngoài:


- Lính giải lão Mấu lên bốt hay sao ấy?


Cánh liếp kẹt một tiếng. Tiếp đến tiếng chân cụ Chữ lần ra ngõ. Tự chạy theo. Chị ra đến đầu ngõ thì đám đông đi tới. Lão Mấu đi giữa bốn tên lính bốt cầm ngang khẩu súng cắm lưỡi lê, kèm hai bên. Lão ta bước lỉu rỉu, đầu gập xuống ngực hai tay bị trói giật ra đằng sau. Gương mặt lão ta lì lợm như những lúc hả hết hơi rượu. Máu ở cái áo cánh nâu và cái quần lính nhảy dù nhỏ giọt đất. Gió đánh thốc mùi máu tanh lợm. Tự rùng mình, vội ngoảnh mặt đi. Rồi chạy về nhà. Ánh đèn lấp ló sau rặng rào mờ dần, đoạn tắt lặng.


Tự nằm xuống giường. Bóng lão Mấu hình như đang đứng sững ở xó buồng. Và mùi máu vẫn xộc lên lợm giọng. Chị kéo chiếu, đắp lên mặt.


Đêm chếch về sáng. Xóm Giếng chợp chờn trong giấc ngủ. Tiếng chó đôi lúc lay động bóng tối trong giây phút, giờ đây đã in bặt. Ngoài sông, tiếng sông reo đều đều, triền miên trong đêm tói, nghe không thành một tiếng động nữa. Bóng đêm sâu thẳm


Tự vẫn trằn trọc Bây giờ tất cả những cảm giác khủng khiếp đã lắng xuống chị lại nghĩ đến Khắc. Khắc đi rồi. Lúc này có lẽ anh đã đến Nhân Hoà. Nhân Hoà cũng là làng tề ác như Phượng - Lâu. Qua được Nhân Hoà, còn phải vượt qua mấy làng tề ác nữa mới đến khu du kích. Đường còn dài. Rất dài. Bất giác Tự lại lo. Cảm giác gai lạnh sống lưng lạnh buốt, thái dương nhức nhối lại chụp xuống người chị.


Tự nằm yên dõi theo từng tiếng động. Vẫn chỉ có tiếng gió lùa vào đầu hồi, tiếng sóng rì rầm từ bờ sông vọng về. Ngoài kia, chốc chốc con chó con lại gừ gừ mấy tiếng. Một con nhái lại nhảy tõm xuống ao. Trên ngọn gạo, con cú rúc từng hồi ngắn và đều. Tiếng rúc khô như tiếng mõ. Trong bóng tối mênh mông, những tiếng động như lọt đi, tan ra rất nhanh, không để lại một dư âm nào. Xóm Giếng im lịm.


Mệt lả, Tự ngủ thiếp đi lúc nào không hay. Gà gáy lần thứ hai. Gà gáy lần thứ ba. Tay ấp lên ngực, chị vẫn ngủ li bì. Gà gáy giục. Tiếng gáy vang động khắp các xóm. Chị choàng dậy.


Nhà ngoài, cụ Chữ đã thức giấc từ lúc lâu. Cụ ngồi bó gối trên giường, nhìn vọng ra ngõ, nếp trán gấp lại. Cụ toan kéo điếu hút thuốc, chợt có tiếng động chân trong buồng.


- Dậy rồi đấy à, Tự? - Cụ Chữ khẽ đánh tiếng.


Tự khẽ đáp:


- Con dậy rồi ạ.


Cụ Chữ hạ thấp giọng:


- Sang bên ông Điền xem... À! mà thôi... thôi.


Thốt nhiên Tự lại nhớ đến Khắc. Đêm qua, Khắc có đi thoát không? Ông Điền đã về chưa? Sao không thấy động tĩnh gì cả? Chị đến bên cửa sổ, dòm sang. Bên kia hàng rào, tịnh không một tiếng động. Túp nhà co ro trong cái bóng tranh tối tranh sáng. Chắc ông Điền chưa về. Chị càng bồn chồn. Mấy lần chị định lẻn sáng rồi lại thôi. Cụ Chữ vẫn ngồi trên giường, vẻ mặt đăm chiêu.


Tự đăm đăm nhìn ra cổng. Bống tối đang nhạt dần, xám lạnh sương đêm. Rặng cúc tần viền một đường xám sẫm trên nền dân. Trời sáng.


Nhà ngoài, chợt có tiếng kẹt cánh liếp. Tiếng động nghe sắc và gọn. Tự ngoảnh lại. Ông Điền! Ông Điền vẫn vận bộ quần áo nâu, chiếc khăn quàng bằng vải thô phủ kín đầu, hai tai như tối hôm qua. Nhưng hai ống quần thì lấm đất và ướt sũng. Trống ngực Tự đập mạnh. Ông Điền đi thẳng lại giường cụ Chữ. Tự rón rén quay vào buồng áp tai vào bức vách.


Tiếng cụ Chữ thì thào:


- Ông về bao giờ thế?


Tiếng ông Điền khẽ đáp:


- Tôi vừa về đến đây


- Thế nào? Có êm không?


Tự nín thở. Bên kia tấm liếp, có tiếng ông Điền nghe nhẹ nhõm.


- Êm rồi. Đi vất quá. Mấy làng dưới, chúng nó tuần giờ cũng rát lắm. Cứ đi một quãng lại phải nằm ẹp xuống khe bờ ruộng. Mấy lần chúng nó suýt bắt gặp. Được một cái anh ấy tỉnh trí, nên cũng đỡ sợ.


- Ông đưa anh ấy đến đâu?


- Đi đến địa phận khu di kích rồi, tôi còn đi với anh ấy một khúc nữa, tôi mới quay về.


Khắc đi thoát rồi! Tự trút một hơi thở dài...


Giá như mọi lúc, cụ Chữ đã lại vặc ngay với vợ. Nhưng lúc này, nỗi vui mừng còn đang tràn ngập trong lòng nên cụ dịu giọng đáp:


- À, ông ấy hết thuốc, sang xin mấy điếu về hút đấy mà.


Nói đoạn, cụ Chữ đứng dậy đẩy phên liếp bước ra sân. Bà cụ lấy làm lạ, hỏi:


- Ông đi đâu mà mò đi sớm thế?


- Tôi ra vường ngắt nắm chè, chứ đi đâu. Bà xuống gẩy hộ cái bếp, tôi đun ấm nước uống cho vui. À, nhát nữa bà chịu khó đi bắt nắm cua về nấu bát riêu ăn cho mát ruột. - Giọng cụ Chữ vẫn nhẹ nhõm.


Cụ Chữ lần ra vườn. Bà cụ ngước cặp mắt dăn dúm nhìn theo. Có lẽ đã lâu lắm, ông cụ mới lại nói với vợ những câu âu yếm như vậy. Bà cụ lẳng lặng đi nhóm bếp.


Trong buồng, Tự ngả lưng nằm xuống giường. Khắc đã thoát khỏi mấy làng tề và đã về đến nơi an toàn. Không khí trong gia đình lúc này lại êm ấm khác thường. Tự thong thả thở từng hơi dài. Người Tự bỗng dưng thanh thản như những ngày nắng gió tây, đi gánh đường trường, được cất cái gánh nặng trĩu trên vai.


Bên ngoài, trời đã sáng rõ. Cụ Chữ hút thuốc, tiếng nõ điếu rít dòn tan. Bà cụ ngồi đối diện chồng, nâng chén nước chè xanh bốc, nhấp từng hớp nhỏ. Ngoài sân, đàn chim sẻ ngủ trên đọt cau, thức dậy, kêu chách chách liến thoắng. Ở rặng rào, con chim dẻ quạt xoè đuôi, nhún nhẩy múa. Nhác thấy con, cụ Chữ sực vui sướng trong lòng, cụ cất tiếng gọi. Tự đứng lại:


- Thầy gọi gì con?


Bấy giờ cụ mới nhớ ra vợ đang ngồi trước mặt. Cụ loàng choàng:


- À... à... cái mảnh ruộng chằm ngoài rộc, dọn xong rồi đấy. Vất đáo để, Nhưng dọn xong được cũng mừng.


Tự cúi mặt đáp khẽ:


- Con biết rồi ạ.


- Sáng nay, ra tát nốt cái đám sào hai đi để trưa, thầy với ông Điền ra bừa một thể.


- Vâng


Tự quay đi. Bà cụ ngạc nhiên hỏi chồng:


- Cái mảnh ruộng chằm dọn bao giờ mà xong rồi?


Cụ Chữ ngớ ra:


- Ồi dà, chưa xong thì tôi với ông Điền dọn một buổi là xong chứ mấy.


Hai ông bà già lại im lặng. Đoạn bà cụ đi tết chổi. Ông cụ lấy nan ra đan rá. Những tiếng động nhỏ, xột xoạt, lách cách... nghe ấm lạ.


Rửa mặt xong. Tự vác gầu ra đồng.


Mặt trời lấp ló ở chân dãy núi màu xanh lơ. Dãy núi vàng rực như giát một lượt kim nhũ. Dòng sông Trà - lý chảy đận đà. Tiếng sông trầm trầm reo lên mặt sông.


Lòng Tự rộn ràng. Tự cúi xuống cắm cọc, buộc dây gầu. Ánh nắng sớm mai ấm dịu rải lên đám cỏ gà, sương đậu óng ánh trên ngọn. Thì thòm... thì thòm...! Tiếng tát nước bỗng vẳng lên vang động cánh đồng.




Đến cửa buồng giam, bốn tên lính áp giải lão Mấu đứng lại, rập gót giầy đánh cộp một cái, người cứng ngắc như cây gỗ. Lão Mấu giật bắn người, ngẩng đầu lên; cặp mắt đỏ kè gấp gay tựa hồ còn đang ngái ngủ. Cai Luận phưỡn bụng, ậm è ra lệnh. Bọn lính liền khám lão Mấu, nắn từ tràng áo đến gấu quần một lần nữa. Lão ta vẫn ngơ ngác, mặt bự ra, tuồng như chưa hiểu chuyện gì. Bỗng bọn lính lôi lão ta xềnh xệch vào buồng giam, cởi trói, xích chân lại.


- Bố già cứ yên trí nằm ở đây, đừng có tơ tưởng đến bà Chóp nữa nhá!


Lão Mấu lặng ngắt. Cánh cửa buồng đóng xập lại, ổ khoá kêu lách cách. Lão ta đưa cặp mắt dấp dim nhìn quanh quất. Bấy giờ lão ta mới nhận ra cái buồng giam.


Buồng giam chỉ rộng bằng hai cái miếu thổ thần của lão Mấu. Tường xây bằng đá hộc; cánh cửa bằng gỗ lim sơn hắc ín. Trên cao, cái khung cửa sổ tròn, to bằng cái rá, trong như con mắt chột đang mở thao láo nhòm ngó vào gian buồng. Tất cả đều câm lặng và lạnh toát.


Lúc đó, ở góc buồng chỗ kia, ông lão mù đang nằm còng queo trên manh chiếu trải dưới sàn gạch.


Ông lão mù người bên kia sông. Ông lão hỏng mắt đã đến mươi năm nay. Từ ngày mắt mũi kém cỏi, ông lão làm nghề hát sẩm ở bến đò Bình-lâm. Ngày nào cũng vậy, sáng rõ mặt người là ông lão cắp cây đàn bầu và cái chậu thau rách, dò dẫm bước xuống chiếc đò ngang. Rồi ông lão ngồi nép trong khoang, đàn hát cho khách qua sông nghe. Chập choạng tối, ông lão lần về ngủ nhờ ở nhà ông lái đò bên bờ sông. Ông lão có một thân một mình và sống với con đò từ ngày ấy.


Mấy tháng nay, tự nhiên ông lão mù bỏ cái bến, bỏ con đò ngang, lần đến các chợ, kiếm ăn. Và ông lão hay hát bài " Đêm khuya, nhớ chồng đi lính trên bốt", không biết ông lão vừa học truyền khẩu được ở đâu. Mỗi khi ông lão cất cao tiếng hát, giọng buồn rã rượi, đệm tiếng đàn bầu não ruột, y như rằng tiếng ồn ào trong chợ lắng xuống. Bọn lính đi diễu chợ cũng vây quanh ông lão, ngẩn mặt nghe. Tiền thưởng rơi vào cái chậu thau rách loảng xoảng. Ông lão mù càng cất cao giọng hát. Chẳng bao lâu, bà con đi chợ ai nấy đều thuộc lòng bài hát "Đêm khuya". Và trên bót, đã có dăm chú lính bảo an vứt súng ống, trốn về làng.


Một hôm, ông lão át sẩm bị bắt lên bốt. Vừa vào tới nơi, đội Tế xông lại tóm chòm râu ông lão, kéo ngửa mặt lên, hỏi:


- Đứa nào dạy mày hát bài Nhớ chồng đi lính?


Ông lão bị mù bình tĩnh đáp:


- Một người qua đường dạy tôi.


- Nó ở đâu? người nó thế nào?


- Khốn nạn tôi mắt mũi thế này, còn biết ai vào với ai.


Đội Tế hầm hầm xoắn chòm râu ông lão, giật:


- Sao phiên chợ nào, mày cũng hát bài ấy?


- Tôi hay hát bài ấy vì bà con đi chợ thích nghe, thưởng nhiều tiền. Ông đèn giời soi xét cho, như cái thân tôi, chỗ nào có nhiều tiền là tôi kiếm miếng ăn, chứ còn biết điều hay lẽ phải gì nữa.


Đội Tế động lòng, mặt tím lại. Hắn hầm hè lôi ông lão mù vào phòng tra, đánh một trận, Rồi hắn giam ông lão vào căn buồng ấy. Ông lão nằm co quắp một tật, tứ cố cô thân, đội Tế không buồn tra hỏi nữa. Ông lão thì cũng điềm nhiên nằm ở cái xó buồng đó.


Thoạt bước chân vào buồng giam, ánh đèn pin của bọn lính lia đi lia lại, lão Mấu đã nhận ra ngay ông lão hát sẩm ở bến đò Bình-lâm. Hai người chả quen biết nhau từ lâu. Song phần thì lo sợ, phần thì bực tức, lão Mấu không buồn gạ chuyện.


Bọn lính đi được một lát, ông lão mù chống tay ngồi lên, đánh tiếng:


- Ai vừa bị bắt vào đây đấy nhỉ?


Lão Mấu còn đang cáu kỉnh, chủng chẳng đáp:


- Tôi.


- " Tôi "; À! Ai thế nhỉ? Tôi xấu mắt chả nhận ra ai cả.


- Lão Mấu đây.


- Cụ Mấu ở Phượng-lâu phải không?


- Phải.


Gặp được người quen, ông lão mù mừng rỡ nói như reo lên:


- Cụ Mấu đấy à? Lão Nhâm ở Cát-lăng đây!


- Biết rồi! - Lão Mấu vẫn đáp nhát gừng một cách lạnh nhạt.


- Làm sao cụ lại phải vào đây?


- Giết người chứ còn làm sao nữa.


Ông lão mù kinh ngạc, mở to cặp mắt đục như cùi nhãn, hỏi vội:


- Chết! Cụ giết ai thế?


- Thằng lý Mực.


- Lý Mực ở Phượng - Lâu ấy à?


- Thằng lý Mực, con thằng chánh Phả, ở Phượng - lâu chứ còn ai.


- Sao cụ lại giết hắn?


Lão Mấu bạnh hàm, gân cổ nổi lên, giọng chững chạc:


- Nó láo với tôi thì tôi cắt cổ nó đi, chứ lại chịu nó à?


Ông lão hát sẩm lại giương cặp mắt đờ dại như ý muốn nhìn gương mặt lão Mấu lúc này. Nét mặt ông lão bỗng thuỗn ra, ngạc nhiên vô cùng. Cái lão lệ Mấu, ba chén vào là nát rượu, lại có gan giết lý Mực kia à? Ông lão mù lại ngả lưng xuống chiếu.


Gian buồng giam trở lại vắng lặng. Hơi đá ở bốn bức tường toát ra lạnh ngắt.


Bỗng chốc kẻng trên chòi gác gióng một tiếng lanh lảnh, âm vang rùng rùng một giây lâu trong khoảng không. Tiếng kẻng rè rè nghe như tiếng lệnh đám ma. Đêm tịch mịch, tiếng kim khí âm i, quẩn vào người như cơn gió rít. Lão Mấu bắt rùng mình. Và lão ta buồn rười rượi.


Phút sau, lão Mấu nghển cổ hỏi ông lão hát sẩm:


- Cụ Nhâm ơi! Từ hôm vào đây, cụ đã bị đánh trận nào chưa?


Ông lão mù đang nghĩ vẩn vơ về lão Mấu, chợt nghe tiếng lão ta hỏi, liền nghếch đầu đáp:


- Mới bị một trận hôm mới vào, cụ ạ.


- Thế nào, có đau không cụ?


- Đòn săng-tan lại chả đau. Tôi phải nằm liệt mất một ngày một đêm mới ăn uống được.


Lão Mấu ngả đầu nằm yên, hàm râu rậm ri phờ ra. Lão ta ngẫm nghĩ trận đòn săng-tan của ông lão mù. Chúng nó đả thế nào mà khiếp thế? Một ngày một đêm không ăn uống gì được! Bất giác lão ta rủn người.


- Thế cụ khai ra sao? - Lao Mấu lại nhỏm dậy hỏi.


- Cụ tính có cái quái gì mà khai. Họ cứ tra hỏi tôi là ai dạy bài hát "Đêm khuya nhớ chồng đi lính trên bốt"; tôi mắt mũi thế này, còn biết cái người dạy ở đâu, mặt mũi ra sao được. Mà có biết đi nữa cũng chả khai. Tôi đồng tuế với cụ, trên dưới sáu mươi tuổi đầu rồi, sống được bao lăm nữa mà sợ chết. Có gan làm, có gan chịu; trai trẻ người ta còn chả sợ. Huống hồ cái tuổi gần kề miệng lỗ như anh em mình, phải không cụ?


Câu nói của ông lão hát sẩm bất ngờ nghe lọt tai lão Mấu. Máu trong người lão ta bỗng nóng phừng phừng. Lão ta ngồi bật dậy:


- Cụ nói chí phải. Có gan làm, có gan chịu, sợ cái đếch! - Lão Mấu đấm vào ngực - Chính tay thằng này đâm thằng lý Mực năm nhát đấy! Ai hỏi, tôi nói ngay không thèm chối. Đời con người ta ai cũng một lần chết, phải không cụ? Sống mà để dân làng chê cười thì còn ra cái trò gì. Cụ không biết chứ thằng lý Mực, một tay nó làm hại bao nhiêu người làng tôi, không khử nó đi, làng tôi còn là nhục với nó.


- Thế đầu đuôi câu chuyện ra sao hở cụ?


- Có gì đâu. Thằng lý Mực nó vu cho tôi... tôi ghẹo con vợ hai nó. Con vợ hai nó là cái con nhà thổ trước ở phố huyện, đít bằng cái lồng bàn, hai vú bằng hai cái ấm dành ấy mà. Tôi lại thèm tơ tưởng cái đồ giang hồ ấy à! Ấy thế mà nó dám vu cho tôi, cụ tính thế nó có láo không? - Lão Mấu trợn mắt - tôi điên lên, xả cho mấy nhát cho nó hết láo.


Lão Mấu hùng hổ nằm xuống. Một lát, tia mắt lão ta dịu đi và lão ta lại hỏi nhỏ:


- Họ đánh có đau lắm không cụ?


- Đánh như đòn thù lại chả đau. Nhưng mà đánh mãi cũng dạn đòn, người ê ẩm đi không biết đau nữa.


Lão Mấu ho khan mấy tiếng, cố nén cơn hoảng sợ và làm ra vẻ thản nhiên. Nhưng cái giọng ho vẫn gượng gạo và mặt mũi lão ta vẫn dài ra. Được một cái, lúc này lão ta chưa hả hết hơi rượu, cái "máu hoàng bào" vẫn giật giật trên thái dương, nên rồi lão ta lại quên khuấy đi. Và lão quay ra đánh một giấc như chết giả.


Tờ mờ sáng hôm sau.


Lão Mấu cựa mình, cái xích sắt quấn ở chân kêu loạch xoạch. Thế là lão ta thức giấc. Trong lúc mơ mơ màng màng, lão ta không biết mình đang nằm ở đâu và lúc này là lúc nào. Bất thần lão ta co chân; vòng xích sắt mập như con đỉa trâu kêu loảng xoảng; hai bàn chân tê buốt đi. Giây phút sau, lão ta mới nhớ ra mình đang nằm ở buồng giam. Bất giác lão ta nhớ cái ổ rạ ấm áp ở miếu thổ thần. Nhớ một cách lạ. Và lão ta ghê sợ cái nền gạch lạch toát, gồ ghề dưới sống lưng. Bây giờ lão ta đã tỉnh rượu hẳn. Trí nhớ lão ta lại minh mẫn như những lúc hơi rượu của mụ Luyến đã toát ra theo tiếng ngáy chuyển cả cái miếu, suốt một đêm. Lão ta vươn vai rồi thở dài đánh sượt một cái.


Đêm qua, lúc ở miếu đi ra, thực tình lão Mấu chỉ định lấy con dao găm rạch mấy nhát vào trán. Rồi lão ta lăn kềnh ra ăn vạ ở nhà lý Mực. Lão ra nghĩ cũng đã chín. Dân làng nghe thấy tiếng kêu, tất nhiên sẽ kéo đến. Trước mặt mọi người, lão ta sẽ đóng sống cho lý Mực đã cầm dao chém lão ta. Lý Mực vốn dĩ mềm mỏng, khôn khéo, sợ tai tiếng khó bề làm ăn. Như vậy, thế nào hắn cũng phải kiếm lời ngọt nhạt nói lại với lão ta. Thế là lão ta rửa mặt được với dân làng. Và rồi ngày ngày, lão ta lại vác cái loa sắt tây dỉ đi các xóm, tối đến, lại sà vào hàng mụ Luyến đánh cút rượu, nhắm quả chuối xanh. Thế là ổn rồi!


Tính toán rành rọt như vậy rồi, song đến cổng nhà lý Mực, bất chợt lão Mấu nhớ đến trận đòn vừa nãy. Cái trận đòn ghen mà đến lúc ấy, lão ta vẫn còn thấy nhoi nhói ở mạng mỡ và ê ẩm khắp người. Lão ta đâm chột dạ. Bây giờ mà mò vào, nhỡ Lý Mực nó cậy thế trên bốt, diệt cho một trận nữa thì làm thế nào? Vả lại, mấy năm nay làng Phượng-lâu đã bỏ hẳn cái lệ rạch đầu ăn vạ. Mà cũng không ai buồn nhắc đén ba cái sẹo của bếp Tái, bốn cái sẹo của lão ta nữa. Thời buổi bây giờ, nó không như ngày trước, Rầy thế! Nghĩ vậy, lão Mấu tần ngần đứng lại. Bất đồ đàn chó đánh hơi thấy, đâm xổ ra cắn. Lão ta cuống cuồng ngồi thụp xuống. Đàn chó càng sủa già. Lý Mực thấy động chạy ra; lão Mấu hoảng hồn toan tháo chạy. Lý Mực nhanh tay túm lấy ngực áo lão ta. Lão Mấu vừa sợ vừa căm. Trong lúc rối trí, bất giác lão ta rút dao đâm một nhát. Lý Mực bị thương nặng, kêu rống lên, tay càng xoắn chặt ngực áo lão Mấu. Lão Mấu giằng ra không được càng hoảng sợ. Thuận tay, lão ta đâm luôn mấy nhát nữa. Lý Mực gục xuống bờ giậu, thở thoi thóp, tay vẫn nắm chặt mảng áo ngực của lão Mấu.


Nhớ đến đây, lão Mấu hốt hoảng ngồi nhỏm lên. Cái xích sắt lại kêu loảng xoảng trên nền gạch; mùi máu tanh lợm xộc lên mũi. Mồ hồ lão Mấu vã ra như tắm.


Nghe thấy tiếng động, cụ Nhâm đánh tiếng:


- Cụ Mấu dậy rồi đấy à?


- Vâng - Lão Mấu đáp qua hơi thở khò khè


- Đêm qua rét quá cụ nhỉ?


- Vâng - Lão Mấu gãi đầu - À... thế hôm xưa, họ tra tấn cụ như thế nào hở cụ?


Cụ Nhâm chép miệng:


- Ái dà, đủ các lối! Đấm đá chán, lại ngâm vào bể nước, treo ngược lên xà nhà, dí điện vào người rồi lại đánh...


Lão Mấu há hốc mồm:


- Đánh thế thì chết chứ sống làm sao được?


Cụ Nhâm hấp háy mắt, nếp trán dăn lại:


- Thế mà cũng chả chết đâu. Nghe nói lắm người còn bị họ đánh đến mười mấy trận, còn không chết nữa là mới một trận. Với lại, đã vào đến chỗ này, ta phải cầm chắc cái chết, cụ ạ. Cụ đã giết được thằng lý Mực, đỡ khổ cho dân làng thì cụ đừng nghĩ ngợi gì nữa. Trước sau mình cũng phải chết với họ, cụ cứ bình tâm, đừng nôn nao mà họ khinh bụng.


Nghe ông lão hát sẩm nói, tự nhiên lão Mấu trấn tĩnh lại được. Lão ta nằm xuống, vắt tay lên trán. Vào đến đây, phải cầm chắc cái chết! Lão ta đang nghĩ vậy và bỗng dưng lão ta thấy nhẹ nhõm cả người.


Chợt có tiếng mở khoá loạch xoạch. Lão Mấu giật mình ngồi phắt dậy.


- Có người vào hay sao ấy, cụ Nhâm ạ


- Mới sáng ra đã vào, chắc lại gọi cụ hay tôi lên hỏi cung đấy. - Cụ Nhâm đáp.


- Thật à?


- Chắc thế. Nhưng cứ bình tâm, cụ ạ


Cửa buồng giam bật mở. Lão Mấu còn đang ngơ ngác, hai tên lính đã xộc vào mở xích sắt, dẫn lão ta lên buồng đội tế.


Lúc đó, đội tế đang ngồi xếp chân chữ ngũ trên giường. Trước mặt hắn có một mâm rượu sắp rất tươm tất. Nom thấy lão Mấu líu ríu bước vào, đội Tế vồn vã:


- Ngồi xuống đây, cụ Mấu! Đêm qua lạ nhà, chắc cụ khó ngủ nhỉ?


Lão Mấu vẫn nhớ rành rẽ những câu nói "chí phải" của ông lão hát sẩm, vậy mà trông thấy đội Tế, lão ta vẫn hoảng lên. Lão ta xoa hai tay vào nhau, môi mấp máy rồi đứng đờ ra.


Đội Tế kéo lão Mấu ngồi xuống giường:


- Cụ cứ tự nhiên. Anh em mình cùng làm việc dân việc nước cả, có phải xa lạ gì mà ngại. Tôi bận quá thành thử chẳng có lúc nào ngồi chơi với cụ được. may có cái dịp này, anh em mình mới ngồi được với nhau, uống chén rượu cho vui. Tôi biết tính cụ hay rượu, phải chuốc kỳ được chai rượu này. Rượu nước đầu đấy. Uống một chén bằng uống cả chai. Bà Luyến bà ấy nể tôi lắm mới bán cho đấy.


(còn tiếp)


Nguồn: Làng tề. Tiểu thuyết của Đỗ Quang Tiến. NXB Văn học, 1962. Bản điện tử của nhà báo Đỗ Quang Hoàn - con trai tác giả - gửi cho www.trieuxuan.info


 


 

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Đi tìm hiện thực của những ước mơ - Hạ Bá Đoàn 18.07.2019
Thế giới những ngày qua - Stefan Zweig 17.07.2019
Seo Mỉ - Đỗ Quang Tiến 12.07.2019
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 08.07.2019
Đất thức - Trương Thị Thương Huyền 01.07.2019
Ông cố vấn - Hữu Mai 29.06.2019
Ma rừng - Phùng Phương Quý 28.06.2019
Kim Vân Kiều Truyện - Thanh Tâm Tài Nhân 19.06.2019
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 01.06.2019
Cõi mê - Triệu Xuân 21.05.2019
xem thêm »