tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 27625934
Tiểu thuyết
24.06.2016
Nguyễn Trần Thiết
Ông tướng tình báo và hai bà vợ



25


Cũng như mọi công chức của chế độ Sài Gòn, vào những ngày của hạ tuần tháng 4-1975, ai cũng công khai bàn đến đi hay ở. Những người muốn đi tăng vọt lên từ sau khi ông già lẩm cẩm Trần Văn Hương ngồi vào ghế tổng thống. Người dân Sài Gòn kể lại cho nhau nghe về bài diễn văn từ chức mà Nguyễn Văn Thiệu đọc hồi 20 giờ 05 phút ngày 21-4-1975. Thiệu vừa khóc, vừa hậm hực chửi Mỹ: "Các ông bỏ chạy và để mặc chúng tôi làm cái việc mà các ông làm không xong. Chúng tôi không còn gì hết thế mà các ông lại muốn chúng tôi hoàn thành cái điều mà các ông không hoàn thành nổi". Thiệu bộc lộ nỗi giận dữ khi buộc tội Mỹ "Khi ký hiệp định hòa bình Pa-ri, Mỹ đã thỏa thuận trang bị trên cơ sở một đổi một. Mỹ đã không giữ lời hứa. Ngày nay, ai còn tin vào lời hứa của Mỹ nữa hay không ?


Hòa theo mọi người, Hai Lâm luôn đề cập đến vấn đề đi hay ở. Đây không phải là nguyện vọng của anh mà anh phải nắn gân từ viên tướng đến đại tá Phi Hổ và những kẻ đầy quyền hạn trong Tổng nha An ninh quốc gia. So với các cơ  quan khác, những nhân viên tại Tổng nha An ninh bình thản hơn và chú ý tới công việc hơn. Có bao việc tên tướng ra lệnh làm: thiêu hủy hồ sơ, dựng hồ sơ giả để trong két sắt, gài những điệp viên sừng sỏ chui vào hàng ngũ ta.


Hai Lâm "đọc” được những âm mưu vô cùng thâm độc của kẻ thù. Chính anh đã chứng kiến một vụ dựng hồ sơ giả công phu và hết sức tinh vi, xảo quyệt. Đồng chí Nam, một cán bộ cao cấp của ta bị địch bắt. Anh đã trải qua 11 lần hỏi cung nhưng không khai báo gì. Anh đọc khá kỹ, có sửa chữa và ký tên dưới bản cung. Trong 11 lần hỏi cung đó, địch đã thu tiếng nói của anh trong băng ghi âm. Ở cuối mỗi cuộn băng, anh đều tuyên bố là đã nghe lại từ và thừa nhận là chính anh đã nói.


Nhờ hai cơ sở trên đây, địch có trong tay ba yếu tố cơ bản về anh: chữ viết, chữ ký và tiếng nói. Muốn dựng hồ sơ giả về anh, chúng tạo ra biên bản hỏi cung lần thứ 12. Do không chịu tra tấn, do quá mệt mỏi, ốm thập tử nhất sinh, anh đã nhượng bộ để được điều trị, được ăn uống tẩm bổ. Một nữ điệp viên trẻ, đẹp đóng vai hộ lý đã quyến rũ được anh. Anh đã đồng ý hợp đồng nhận làm tay sai cho địch. Hồ sơ của anh để lẫn trong hồ sơ của những tên phản bội đã thực sự đầu hàng địch khác.


 


Hai Lâm rùng mình. Anh phải làm sao để có bằng chứng minh oan cho các đồng chí đảng viên, cán bộ trung thực, chân chính bị kẻ địch bôi nhọ danh dự và phải vạch mặt, kết tội chính xác những tên phản bội? Anh chưa thể rời Tổng nha An ninh vào lúc này. Nếu không nắm được toàn bộ "những con cáo đang hóa trang thành cừu non" địch cài lại, anh cũng phải có trong tay phần lớn danh sách bọn này.


 


Anh không ngần ngại khi trao đổi với Cẩm Nhung về tương lai của gia đình. Anh kể cho vợ nghe về mọi dự định "đi" và "ở” của những người trong Tổng nha An ninh. Có loại định giải nghệ sang Mỹ buôn bán; có số người muốn viết hồi ký riêng; có lớp người ký hợp đồng nhận lương với Mỹ, trở thành người của CIA. Sáng nay, một chuyên viên do tướng tình báo Mỹ Ti-mết tìm đến Hai Lâm thương lượng:


 


- Ông bà định chọn Nữu ước hay Oa-sinh-tơn? Người Mỹ không bao giờ quên các cộng sự của mình. Chúng tôi bảo đảm rằng cuộc sống của ông bà và các cháu sẽ không thua kém - nếu không nói là hơn gấp bội hiện nay.


 


Hai Lâm trầm ngâm:


 


- Tình thế chưa bi quan đến như thế đâu, thưa ngài. Bao giờ đại sứ Ma-tin rời khỏi đất nước này, gia đình tôi sẽ đi theo đại sứ.


 


- Tôi e rằng đến lúc đó mọi việc sẽ quá muộn! Là đồng nghiệp, tôi thành thật khuyên ông nên thu xếp đưa bà Cẩm Nhung và bốn cháu đi trước. Với ông, ông dư sức kiếm chỗ ngồi nào đó trên trực thăng chuồn ra hàng không mẫu hạm gần nhất.


 


- Cá nhân tôi, tôi xin cám ơn và ghi nhận thiện chí của ngài. Để tôi bàn với Cẩm Nhung. Có lẽ nhà tôi sẽ đưa các cháu về Pa-ri với ông Giô-dép.


 


Hai Lâm nóng lòng chờ đợi quyết định của Trung tâm. Chị Ba sẽ đưa Cẩm Nhung và Nguyễn Thanh, Cẩm Phượng, Cẩm Hạnh, Nguyễn Nam vào chiến khu và anh sẽ nghĩ cách "lặn" sao cho êm hay là anh tiếp tục sứ mạng đang đảm nhiệm? Anh nên cho vợ con sang thủ đô Hoa Kỳ cắm trên đất Mỹ hay số phận anh sẽ ra sao? Ván bài của Mỹ đang chơi ở Việt Nam chưa ngã ngũ, anh chưa thể ra đi hoặc "lặn" vào thời điểm này. Liệu Mỹ đã nhả Việt Nam chưa? Trần Văn Hương quá già, sức lực đã suy kiệt và uy tín trong dân chúng không có, không rõ lão ta sẽ chèo chống con thuyền Việt Nam ra sao? Anh lái ô tô chở theo con King đến gặp Nguyễn Cao Kỳ. Kỳ bình phẩm:


 


- Giống chó béc-giê khôn cực kỳ. Hơn chục năm không gặp nhau thế mà King và Waking nhận ra nhau ngay. Phải bán nó đi thì tức quá!


 


- Bán? Anh nỡ bán Waking và bầy chó quý của anh?


 


- Tình thế không thể đảo lộn được nữa rồi. Đến một chỗ trên máy bay phản lực cho người còn chưa xoay xở thì làm sao đưa được đàn chó đi. Tôi khuyên anh nên bán con King này đi khi còn người mua và còn được giá.


 


- Anh mà cũng tuyệt vọng như vậy sao?


 


- Moa không chịu bó tay. Moa dư sức xoay chuyển tình thế nhưng...


 


Kỳ kể cho anh nghe việc hắn đã làm. Thì ra đã từ lâu, Lầu Năm Góc đưa sang Việt Nam nhằm phá rừng làm sân bay một loại bom mới gọi là Đêtrei Cúttơ nặng tới 7500 ki- lô gam. Do sức tàn phá của loại bom chứa gần 7 tấn thuốc nổ cực kỳ ghê gớm, nên Mỹ - ngụy chưa dám cho Đêtrei Cúttơ xung trận và vì thế họ để hỏng giá đỡ bom trên máy bay. Không thể bàn với ai việc quân sự hết sức bí mật đó, tướng Mỹ Smith đến cầu cứu Nguyễn Cao Kỳ. Kỳ gặp đại tá không quân Vũ Văn Ước yêu cầu Ước trực tiếp trông coi. Chính Smith, Kỳ, Ước đã có mặt trong ngày quả bom Đêtrei Cúttơ lắp lên máy bay C130 và đã nghe báo cáo về kết quả ném quả bom đó xuống Xuân Lộc...


 


Nhận thấy loại bom Đêtrei Cúttơ không cứu vãn được tình thế, tướng Uyân và Smith quyết định cho dùng bom CBU55. Chưa có phi công ngụy nào được đào tạo để ném bom CBU55. Ở Việt Nam chỉ có một máy bay C130 duy nhất có thiết bị để "thồ" bom chùm khổng lồ CBU55, nhưng đang để bảo quản tại căn cứ quân sự của Mỹ. Được sự đồng ý của thứ trưởng Bộ Quốc phòng Mỹ Vôn Mác-bốt, lúc đó đang có mặt tại Sài Gòn, chiếc C130 đó được giao cho không quân Việt Nam, cho Nguyễn Cao Kỳ. "Chủ nhà” sẽ xịt lên thân máy bay một lớp sơn, xóa sạch vết cờ Mỹ. Không phải tổng thống Mỹ, đại sứ Mỹ tại Việt Nam kính trọng hay tin tưởng mà ngược lại những người Mỹ có chức, có quyền ở Sài Gòn luôn cảnh giác với Kỳ, thậm chí đã trực tiếp cảnh cáo Kỳ nếu viên tướng đầu sỏ này dại dột giở trò đảo chính, nhưng họ phải nhờ vả Kỳ vì chỉ có viên tướng hiếu chiến này của không quân mới ủng hộ mọi ý định dùng sức mạnh quân sự của Mỹ. Chính Kỳ đã trông coi việc xóa cờ Mỹ trên chiếc C130. Phi công Mỹ cất cánh từ sân bay Tân Sơn Nhất đã ném bom CBU55 xuống Xuân Lộc. Theo lý thuyết; sau khi bom nổ sẽ gây nên bão lửa trên mục tiêu và sẽ không còn khả năng sống sót của một sinh vật nào trong khu vực bom nổ. Nhưng mọi việc không suôn sẻ.


Nguyễn Cao Kỳ nói với Hai Lâm:


- Rất tiếc là bom CBU55 không xoay chuyển nổi tình thế ở Xuân Lộc. Moa vừa gặp Trần Văn Hương về.


- Có việc gì vậy?


- Tôi đã nói thẳng với Hương: "Xin tổng thống giao việc quân sự cho tôi. Tôi đủ sức xoay chuyển tình thế". Hương im lặng. Tôi đòi hỏi ráo riết hơn: “Xin Tổng thống bổ nhiệm tôi là Tư lệnh quân lực. Xin cho tôi một chức vụ chính thức để tôi có thể nêu cao danh dự Việt Nam".


- Hương trả lời anh ra sao?


- Ôi, lão già nhút nhát! Ông ta nói rằng "Không thể làm như vậy được. Một người đã là phó tổng thống và thủ tướng không thể đột nhiên trở lại làm Tư lệnh quân lực. Có lẽ vài ngày nữa, tôi sẽ bổ nhiệm thiếu tướng làm phụ tá đặc biệt về quân sự". Bực quá tôi gào lên: "Tổng thống không thể đợi được vài ngày đâu. Tôi không cần nghi thức. Tôi muốn lãnh đạo quân đội ngay bây giờ".


Hai Lâm thăm dò:


- Như vậy anh phải chờ?


- Tôi không chờ Hương nữa. Tôi sẽ gặp Vôn Mác-bết kiến nghị phương án phòng thủ mới của đất nước.


Theo dự kiến của Nguyễn Cao Kỳ, toàn bộ lực lượng còn lại của quân ngụy sẽ rút về phòng thủ Quân khu IV và Quân đoàn IV chờ nhận viện trợ của nước ngoài theo đường biển vào. Do lực lượng của Quân đoàn IV chưa bị sứt mẻ nên đủ sức cầm cự để có điều kiện thương lượng với cộng sản.


Chia tay với Nguyễn Cao Kỳ, anh về bàn với Cẩm Nhung:


- Em nên rời Sài Gòn sớm, đưa các con sang Pháp với ông ngoại. Anh như người trồng cây sắp tới giờ hái quả rồi nên không thể cùng đi với gia đình. Anh phải chờ lệnh của Trung tâm. Nếu anh sang Mỹ, anh sẽ về Pa-ri đón em và các con. Trường hợp anh ở lại Việt Nam, em sẽ đưa các con về.


 


Cẩm Nhung thấy cách giải quyết của chồng hợp tình, hợp lý. Chị rất muốn nhân dịp này về thăm ông Giô-dép và để các con được đến thủ đô Pa-ri hoa lệ. Chị biết việc làm của chồng. Anh không thể rời Sài Gòn vào giây phút mà chiến thắng đã gần kề. Chị bàn với anh:


 


- Ta cứ giữ anh bồi và cô sen ở lại để sinh hoạt trong gia đình không xáo trộn..


 


- Em đừng lo cho anh. Anh bồi và cô sen rất có công với gia đình ra. Anh sẽ cấp vốn để anh và chị ấy về quê sinh sống. Nếu họ đi rồi, anh sẽ ăn ở khách sạn.


 


- Liệu anh ngủ ở nhà một mình có an toàn không? Hay là ta đừng bán con King.


 


- Không nên! Với các bạn bè ở Tổng nha, anh phải tỏ rõ quyết tâm ra đi, bám theo chủ cũ. Anh không có lý do gì để ở lại Việt Nam. Viên tướng cũng không yêu cầu anh "chui vào hàng ngũ Việt Cộng". Vì thế, ta không thể không bán con King.


 


Cẩm Nhung lo lắng lắm. Gần 20 năm làm vợ anh, chị đã giữ trọn vẹn điều bí mật của anh vì chị quá yêu anh. Chị không thể đem tâm sự của mình trao đổi với các con vì các con chị chưa đủ trưởng thành để hiểu điều hệ trọng mà ba của chúng đã làm, đang làm. Chị trao cho anh đôi hoa tai:


- Anh giữ lại vật kỷ niệm này. Má em, ông Ưng Toàn và các em em đã bay sang Nhật rồi.


Chị nhìn anh đắm đuối:


- Anh! Anh không lường hết tâm trạng của em đâu. Em muốn sang Pháp với ba, lại có ý định bám theo má. Xin lỗi anh, em không muốn Việt Cộng thắng trong cuộc chiến này để cuộc sống gia đình ta không xáo trộn. Anh! Em yêu anh. Không ai đánh đổi anh với bất cứ thứ gì trên đời này đâu. Anh có tin em không?


- Rất tin.


- Bằng bất cứ giá nào, năm mẹ con em sẽ về với anh, gia đình ta sẽ sum họp.


- Anh tin điều đó.


Trong lúc hai vợ chồng trò chuyện, cả Nguyễn Thanh, Cẩm Phượng và hai em đều vui vì sắp được sang Pháp nên cả bốn đều lăng xăng chuẩn bị cho chuyến bay của mình.


Tiễn vợ con đi rồi. Hai Lâm vào việc. Anh đã làm hết sức mình để nắm được kế hoạch hậu chiến của Tổng nha An ninh và đã thực sự gỡ được nhiều chuyện rắc rối cho các đồng chí chúng ta sau chiến thắng. Đúng vào giây phút căng thẳng nhất, anh nhận được lệnh phải “lặn" ngay. Anh theo chị Ba rời khỏi Sài Gòn, ngồi ô tô về Lộc Ninh và bay ngay ra Hà Nội. Anh đến Thủ đô đúng ngày 01-5-1975, một ngày sau khi chế độ Sài Gòn sụp đổ.


 


26


- Chị Thoa! Chị Thoa ơi!


Sau năm 1954 từ ngày nhận họ hàng bên nội, chị dâu cả Phạm Thị Thoa chưa bao giờ thấy chú Dũng, em út của chồng chị có vẻ bất bình tĩnh như vậy. Từ trong bếp, chị hỏi vọng ra:


- Chị ở đây. Có chuyện gì vậy chú Dũng. Chờ chị ru cháu ngủ đã.


Hạnh đã sinh con thứ hai nên bà ngoại không còn thời gian rảnh rỗi vì phải bận lo cho hai cháu. Chú Dũng chạy vào bếp, nói oang oang:


- Chị! Anh về rồi.


- Chú đùa chị làm gì vậy? Chị chờ anh chú hai mốt năm còn được...


- Em nói thật đấy. Anh đang ở Hà Nội.


Chị Thoa vẫn bình thản.


- Trưa hôm qua mới giải phóng Sài Gòn, anh chú dù có là Tề Thiên Đại Thánh cũng không thể đằng vân ra Hà Nội như vậy được. Chị không mắc lừa chú đâu.


Dũng nắm hai bàn tay chị dâu:


- Khổ quá, chị ơi. Em nỡ lòng nào lừa chị chuyện hệ trọng như thế này. Em cũng có trái tim, có lương tâm nên em rất thông cảm với chị.


Trông thấy vẻ chân thành của em chồng, chị Thoa rất vui:


- Thật vậy à, em? Chú đã gặp anh chưa? Anh ra Hà Nội bằng cách nào? Anh có khỏe không? Tóc anh đã bạc chưa? Anh mặc quân phục hay thường phục?


Dũng cười:


- Em làm sao trả lời được hàng loạt câu hỏi của chị. Em chưa gặp anh. Em chỉ nói chuyện với anh qua điện thoại thôi. Anh nói chị Cẩm Nhung và bốn cháu gửi lời thăm chị. Từ năm giờ chiều nay, anh không ở trong thành mà sẽ ra ở nhà khách Bộ Quốc phòng.


- Vậy à, chú? Chú Dũng này! Chú có biết anh Bình là cán bộ tình báo không?


- Có ai nói cho em biết đâu? Vợ chồng em chỉ đoán già đoán non về anh nhưng chúng em chưa bao giờ nghĩ rằng anh hoạt động trong lòng địch. Cẩm Nhung là ai vậy chị?


Chị cố gắng nở nụ cười nửa miệng:


- Chị và anh chú cùng công tác ở Nha Công an, Giám đốc Nha Công an là anh Nguyễn Tạo làm chủ hôn cho anh chị. Anh nhờ chú chuyển ám hiệu tới chị. Chú không được nói với ai về chuyện này nhé!


- Vâng ạ!


 


- Bây giờ chú sang nhà máy in, xin phép cho cháu Thanh nghỉ vài ngày. Hai chú cháu đạp xe đạp về Hà Nội trước, chị đi ô tô buýt về sau. Chị sẽ bảo vợ chồng Hạnh đưa cả cháu về thăm ông ngoại.


 


- Vâng ạ!


 


Chị Thoa ra bến xe. Hành trang của người vợ đi gặp chồng sau hai mươi mốt năm cách biệt chả có gì. Chị lên xe ngồi vào ghế trong. Chị không say xe song chị muốn yên tĩnh, không thích khách lên xuống cắt đứt dòng suy nghĩ của mình. Tại sao anh Bình lại nhắc đến Cẩm Nhung và bốn cháu nhỏ? Vì thông tin cho chị ư? Vô lý. Chuyện anh lấy vợ hai chị giữ kín như bưng không hề hé răng nói với bố chồng hoặc mẹ đẻ chị biết, tại sao anh lại công khai vụ việc này? Chị nên xử lý ra sao khi gặp anh? Khi tiễn anh đi, chị mới ba mươi tuổi. Chị đồng ý cho anh cưới nàng quận chúa vì chị tin tưởng rằng anh chỉ ra đi có hai năm, anh cần "tấm bình phong" để hoạt động trong lòng địch. Chị đâu có ngờ anh xa chị tới hai mươi mốt năm, anh với Cẩm Nhung đã có với nhau tới bốn mặt con. Bây giờ thì anh không thể "hất tấm bình phong" và dù anh có nuôi ý định đó, chị cũng không đang tâm để anh làm việc bất nhân như thế. Người ta là vợ, là chồng, ăn ở với nhau hai mươi mốt năm, nhiều gấp ba lần thời gian chị làm vợ, gần anh và nhiều gấp hơn ba mươi lần chị ở trọn đêm bên anh. Nên giải bài toán này như thế nào? Không nên đẩy việc khó xử về phía anh bằng cách đề ra câu hỏi: "Giữa tôi, vợ chồng cái Hạnh, thằng Thanh và hai cháu ngoại với cô Cẩm Nhung cùng bốn đứa con của cô ta, anh chọn ai, anh nói dứt khoát đi cho mẹ con tôi nhờ".


 


Đặt giả thiết anh là chàng trạng nguyên Tống Trân, anh thiên vị Cúc Hoa, ngả hẳn về phía người vợ thuở còn hàn vi, chị không thể đành lòng nhìn cảnh bốn đứa con mất cha, Cẩm Nhung mất chồng. Hay là cùng chung sống trong đại gia đình? Không được! Hiến pháp nước ta quy định một vợ, một chồng, nghiêm cấm tệ nạn đa thê, tại sao chị lại dồn anh vào thế phạm pháp?


 


Chị đã năm mươi tư tuổi, đã lên chức bà ngoại, đã sống cảnh chăn đơn gối chiếc hai mươi mốt năm qua quen rồi. Chị đã già. Ngồi trên xe, chị không tiện lấy gương soi nhưng chị biết mái tóc mình đã có tới một phần tư sợi bạc rồi vì vậy chị nên tự nguyện rút lui. Chị thở dài. Không phải chị không nuối tiếc hai mươi mốt năm chờ đợi anh song còn có phương án nào hay hơn đâu? Chỉ một mình chị thiệt thòi, chỉ một mình chị mất anh nhưng có bao người khác hạnh phúc: Cẩm Nhung vẫn còn chồng; bốn đứa con của cô ấy không mất cha và vợ chồng Hạnh, thằng Thanh có thêm bố. Chị đã là bà già, chị "tặng" luôn anh cho người ấy là việc rất nên làm. Có được quyết định rồi, lòng chị thanh thản lắm. Bây giờ chị là người ngoài cuộc, không phải là vợ đến với chồng mà là quan tòa trước vụ án đã qua xét xử. Chị sẽ đến với anh như thế nào? Chị sẽ chào anh, trò chuyện bình thường với anh không vồ vập thân tình cũng không lạnh nhạt. Khi chỉ còn hai người, chị sẽ nói rõ ý định của mình. Chị sẽ không ở qua đêm với anh, không ân ái, ăn nằm với anh: Đây quả là đòn trừng phạt, đau đớn đến xé lòng vì chị vẫn rất yêu anh, vẫn thèm được ngả vào vòng tay anh, được anh ôm ấp, hôn hít, nghe anh thì thầm ba từ không bao giờ nhàm chán "Anh yêu em". Không, chị cần phải cự tuyệt anh. Chị sẽ không tìm kế hoãn binh, viện cớ là "em bị mệt" hay "em đang…” để né tránh anh vì biện pháp đó chỉ là tạm thời.


Chị vào Nhà khách Bộ Quốc phòng. Chị đưa mắt vào căn phòng gần đó. Thanh đang nói chuyện với bố. Anh mặc quân phục mùa hè, đeo lon trung tá. Anh khỏe và trẻ hơn chị nhiều tuy anh hơn chị một tuổi. Hai bố con rất tâm đắc, tiếng cười của anh, của các bạn anh luôn rộ lên sảng khoái.


 


Chị bước vào phòng. Anh ngước lên, nói như reo: "Em, Thoa!". Chị cũng thốt lên lời đang nghẹn trong cổ họng: "Anh! Anh Bình!" rất may là lúc đó có Thanh và các bạn anh nên chị mới "giữ vững được lập trường". Chị hỏi :


 


- Hai bố con nói chuyện gì mà rôm rả vậy?


 


Anh cười :


 


- Mấy ông tướng này bắt anh đóng kịch. Anh tự nhận là bác Đạo, bạn của bố Nguyễn Thanh Bình. Thanh ngồi chờ bố đi họp về, kể đủ mọi chuyện về em, vợ chồng Hạnh và hai cháu của cậu.


 


Chị quay lại phía sau:


 


- Thanh! Thanh đâu rồi?


 


Chị hướng về phía anh, trách:


 


- Lẽ ra anh không nên đùa như vậy. Khi anh đi, con mới hơn một tuổi. Lúc anh về, Thanh là chàng trai hai hai tuổi rưỡi nhưng làm sao nó biết ai là bố nó. Anh đã chạm tới tình cảm thiêng liêng của con.


 


- Anh xin lỗi. Anh đi tìm con đây.


 


Anh lao ra cửa nhanh nhẹn, hoạt bát. Anh chưa có dáng dấp của tuổi già vì đàn ông trẻ lâu hơn phụ nữ hoặc vì cuộc sống của anh quá phong lưu, dư thừa? Chị vào phòng, chào khách. Chị ngồi xuống ghế. Các bạn của chồng chị đưa mắt cho nhau, rồi ý tứ đứng dậy, cáo từ. Ngồi một mình trong phòng, chị thừ ra bất động. Chị rà lại quyết định của mình. Chị có quyền giằng anh khỏi tay Cẩm Nhung không? Xét về tình, về lý, chị đều đúng. Chị có giấy giá thú làm tại Nghệ An sau ngày cưới vào dịp đầu năm 1947. Chị có giấy khai sinh của hai cháu Hạnh, Thanh ghi rõ tên bố là anh, tên mẹ là chị; chị được họ hàng đôi bên nội ngoại công nhận. Chị có hai mươi mốt năm thủy chung, chờ đợi, được bố chồng và họ hàng nhà chồng thừa nhận. Chị có nên tận dụng cái quyền này không? Không! Quyết định của chị là đúng. Chị sẽ trả các con đã trưởng thành cho anh.


 


Anh đã quay về:


 


- Anh không tìm thấy Thanh. Em yên tâm, anh sẽ có cách dàn hòa với con.


 


Anh cười rất tươi với chị. Chao ôi, nụ cười ấy, khuôn mặt ấy, giọng nói ấy chị mong đợi hai mươi mốt năm mà giờ đây phải dứt bỏ tất cả ư? Đành vậy thôi. Phải can đảm lên, không được phép lùi bước đâu, Thoa. Chị định vào đề, nói rõ mọi suy nghĩ của mình với anh, anh đã giơ tay ngăn lại:


 


- Em! Anh là chồng em, anh yêu em nên anh đoán biết bằng linh tính, bằng tình cảm, bằng thái độ dè dặt, ngập ngừng của em khi gặp anh, những điều em sẽ nói. Em cho anh trình bày trước đã rồi tùy em phân xử.


 


Anh là như vậy. Anh luôn chủ động trong ứng xử, buộc chị lâm vào thế bị động. Chị còn cưỡng lại sao nổi? Chị im lặng chờ đợi. Anh vào phòng trong, mở ba lô lấy ra chiếc hộp nhỏ. Anh trao cho chị:


 


- Anh đã làm đúng điều em căn dặn. Anh và Cẩm Nhung đã trân trọng gìn giữ đôi hoa tai này.


 


Anh đưa tiếp tờ giấy đã cũ:


 


- Em đọc đi!


 


Chao ôi, chị không còn tin ở mắt mình nữa. Đây là hôn thú giữa anh và cô Cẩm Nhung do chính quyền Ngô Đình Diệm cấp. Ơ này, tại sao mãi năm 1957 hai người mới làm đám cưới? Tại sao Cẩm Nhung chấp thuận ghi trong hôn thú là vợ kế?


 


Anh chu đáo quá! Anh đã hiểu chị đến tận chân tơ, kẽ tóc. Chị đặt tờ hôn thú lên mặt bàn, áp đôi hoa tai vào ngực mình, mắt hướng về phía anh, cầu khẩn:


 


- Anh cho em ngồi riêng một lát. Anh đi tìm và làm lành với con trai đi.


 


Khi anh vừa ra khỏi phòng, chị khép cửa, gài phía trong. Chị say sưa ngắm đôi hoa tai, tặng phẩm của mẹ, kỷ vật vô giá đã rời khỏi tay chị hai mươi mốt năm về trước. Mẹ! Mẹ ơi! Biết bao năm Mẹ mong gặp gỡ, trò chuyện với con rể, đến giây phút hấp hối mẹ vẫn nhắc đến tên chồng con. Mẹ! Anh Thanh Bình không đi theo linh cữu, tiễn đưa Mẹ đến nơi an nghỉ cuối cùng song ở nơi xa, anh luôn nâng niu kỷ vật Mẹ cho con. Mẹ. 21 năm, gồm tới 7665 ngày mà anh luôn nâng niu đôi hoa tai này. Mẹ! Con nên cư xử với anh ra sao? Anh đã làm tròn lời hứa với con. Điều kiện con đưa ra với anh trước lúc chia tay, anh đã thực hiện chu đáo. Con thông cảm với anh. Anh không thể buộc cô Cẩm Nhung ghi trong hôn thú nhận là vợ lẽ, vợ hai mà đã dành cho cô ấy vị trí: vợ kế! Vợ kế có nghĩa là người chồng đã có đời vợ trước song vợ anh ta đã chết, đã khuất núi hoặc đã ly hôn. Cô Cẩm Nhung đồng ý nhận là vợ kế và chính cô đã giữ kỷ vật này vậy chị nên xử sự ra sao?


 


Có tiếng gõ cửa. Hạnh ùa vào phòng trước:


 


- Mẹ! Con nhận được ba đấy. Ba với em Thanh giảng hòa rồi.


 


Thanh thanh minh:


 


- Ba xin lỗi con rồi. Bao năm con không có ba thế mà ba nỡ lừa con.


 


Anh cười:


 


- Ba có lỗi. Gặp các con, ba rất muốn ôm hôn con, gọi con. Ba đóng kịch không đúng lúc vì ba vui quá. Chiều nay cả gia đình ta ăn bữa cơm đoàn kết sau hai mốt năm xa cách. Hồi ba đi, hai con cũng nhỏ như hai cháu ngoại của ba hôm nay.


Cả anh và các con đang vui, đang tràn trề hạnh phúc nên chị không nỡ đề cập đến một chi tiết: sao chúng nó không gọi anh là "bố" mà lại gọi anh là "ba"? Chắc là anh đã thuyết phục các con. Từ thuở lọt lòng, hai con chị chỉ tiếp xúc với anh lúc chúng chưa biết nói - khi Hạnh biết nói lại không rõ anh là bố - nên chúng chưa hề gọi người đàn ông nào là thầy, là bố, là ba, là cha. Khi anh xưng "ba" với chúng, chúng lặp lại theo anh. Các con chị vô tư và vì không biết chuyện Cẩm Nhung nên chúng không mảy may thông cảm với nỗi đau nhói lên trong chị.


 


Chị ngồi im ngắm nhìn bốn bố con. Chồng của Hạnh vốn ít nói, giờ đây lại giữ ý vì mình là con rể nên chỉ im lặng, Hạnh ngồi cạnh ba. Cô giống cha hơn em trai. Cô hót như khướu kể đủ mọi chuyện về gia đình bên nội, bên ngoại, về những ngày ở nông trường, về cuộc sống hiện tại. Thanh không đẹp trai bằng ba, không đeo kính cận như ba. Có lẽ Thanh vẫn đang tức vì bị lừa nên chuyện Thanh kể không rôm rả như thường ngày. Tuy vậy, qua ánh mắt, nụ cười đều toát lên vẻ tự hào, lòng khâm phục, hãnh diện của người con trai bỗng nhiên có bố là trung tá tình báo. Làm sao chị nỡ gây cho anh nỗi đau, chia rẽ bốn bố con, khiến cho anh day dứt, bị lương tâm cắn xé trong suốt những năm tháng còn lại của cuộc đời?


 


Tối hôm đó, khi chỉ còn lại hai vợ chồng trong phòng hạnh phúc, anh đắm đuối nhìn chị:


 


- Em! Anh nhớ em vô cùng!


 


Anh đặt tay lên vai chị, định kéo chị vào lòng mình nhưng chị đã nhẹ nhàng gỡ tay anh:


 


- Anh! Em muốn bàn chuyện gia đình với anh.


 


- Có chuyện gì vậy em?


 


Chị đặt đôi hoa tai và tờ giấy hôn thú lên bàn, hỏi:


 


- Hai mốt năm qua, từ ngày rời tặng phẩm của mẹ, em luôn nghĩ về anh và cô Cẩm Nhung. Em không rõ anh đã thực hiện điều kiện em đặt ra như thế nào? Anh kể tỷ mỉ, chi tiết cho em nghe được không?


 


Anh đoán được có điều gì đó không bình thường, rất hệ trọng qua giọng nói của chị. Đàn bà thường cả nghĩ, nghĩ sâu. Anh chợt nhớ đến lần chị báo tin chị có mang mà anh chỉ có một sáng kiến duy nhất: đặt tên con là Thanh. Anh đơn giản quá! Đâu phải vợ chồng đã xa nhau tới hai mốt năm thì gặp lại chỉ đơn thuần tay bắt, mặt mừng, vồ vập, ôm ấp lẫn nhau cho thỏa lòng mong ước? Anh ngồi nghiêm chỉnh, từ tốn kể cho chị nghe cặn kẽ từng ý nghĩ, từng việc làm của anh. Anh thổ lộ:


 


- Chính anh đã đặt tên con đầu lòng của anh với Cẩm Nhung là Thanh để bất cứ giây phút nào anh cũng nhớ tới con trai của chúng ta và kỷ niệm việc anh đặt tên cho con.


 


- Cô ấy có biết chuyện này không?


 


- Lúc đầu Cẩm Nhung không biết. Khi anh trao hoa tai cho cô ấy, anh đã nói hết sự thật. Khi sinh con thứ ba, chính Cẩm Nhung đề nghị đặt tên con là Hạnh.


 


Chị Thoa thực sự cảm động. Hình như những nàng công chúa đều có chung đặc điểm là kênh kiệu, khinh người, tại sao cô Cẩm Nhung lại biết cách cư xử đúng mực, tế nhị như vậy? Đến lúc này, chị đành phải đưa ra câu hỏi mà chị ngại đề cập đến:


 


- Anh tính thu xếp việc nhà như thế nào?


 


Anh thở dài:


 


- Anh đâu ngờ chuyện riêng của gia đình ta lại phức tạp khó dàn xếp như hiện nay. Anh và em đều không muốn lâm vào tình trạng này. Anh không tự động lấy vợ hai. Chính tổ chức gợi ý và em bằng lòng cho anh làm việc này. Anh nghĩ rằng chúng có có thể song song tồn tại, nếu em chấp thuận.


 


Một thoáng suy nghĩ lướt qua óc chị. Chị có nên nghe theo lời anh không? Nếu như thế, chị sẽ là vợ cả, vợ cái con cột; sẽ là bà chủ chính thức của gia đình, sẽ lo gánh vác toàn bộ công việc nhà chồng. Nếu chị khéo cư xử, chị sẽ được chồng, có thêm người em (dù không ở mức tâm đầu, ý hợp cũng không đến nỗi ghét bỏ nhau), thêm bốn đứa con. Liệu chị có cáng đáng nổi không? Nếu chị không đủ bản lĩnh, luôn giữ thói ghen tuông giữa vợ cả, vợ lẽ thì trước hết chị sẽ làm cho anh đau khổ, ngày nào cũng phải xử kiện và tiếp đó là gây thù oán với Cẩm Nhung và sau đó là cả gia đình tan nát vì sáu đứa con cùng cha, khác mẹ sẽ không nhìn mặt nhau nữa. Nên giải quyết như thế nào? Chị kể hết mọi suy nghĩ của mình với anh và gợi ý:


 


- Em đã năm tư tuổi. Em nuôi hai con đã trưởng thành. Em xin trả con cho anh...


 


Anh hoảng hốt:


 


- Không nên như thế, em. Anh yêu em. Em mãi mãi là vợ anh.


 


- Vâng. Em là vợ anh trên danh nghĩa. Chúng ta không ly thân, không ly dị nhưng không giữ quan hệ vợ chồng với nhau nữa.


 


- Sao lại thế, em? Anh không thể mất em?


 


- Em vẫn còn nhưng không thuộc về anh trong thực tế. Làm như thế anh sẽ được một vợ, sáu con.


 


- Em! Anh ra đi không phải để không còn em là vợ nữa. Em không yêu anh sao?


 


Chị nhìn thẳng vào mắt anh bằng cặp mắt sáng trong của mình, thú nhận:


 


- Em yêu anh hơn bất cứ ai trên trái đất này. Không vì tình yêu của chúng ta, em làm sao sống nổi trong bao năm xa cách với bao nỗi cực nhọc. Em vượt qua tất cả, bỏ qua mọi dư luận ác ý vì em luôn nghĩ tới anh. Anh là niềm tin, là nguồn hy vọng, là lẽ sống của em. Giữa tình cảm và lý trí, ta chỉ có quyền chọn một, khi hai điều này đối nghịch nhau. Năm năm tư em tiễn anh đi vì lý trí đã thắng tình cảm. Năm bảy nhăm này, em tự nguyện xa anh cũng vì lý do như thế.


 


Anh bỗng ôm choàng lấy chị, áp đầu chị vào ngực mình. Chị không cưỡng lại. Rõ ràng là tình cảm anh bị dồn nén đã bật lên như chiếc lò xo không thể chế ngự nổi. Anh nói trong hơi thở hổn hển:


 


- Em yêu! Đời anh được như hôm nay là do nhiều nguyên nhân, trong đó có hai người đàn bà đã đến với anh, đi vào đời anh.


 


Khác với mọi người chồng có hai vợ thường nói xấu hoặc ít ra là chê người này trước mặt người kia, còn anh, anh muốn nói lên sự thật. Anh khen cả hai. Anh không ngại chị giận mà tin rằng chị hết sức thông cảm với anh. Anh tiếp bằng giọng dịu dàng, truyền cảm:


 


- Em! Em đã hy sinh cả tuổi thanh xuân vì anh và Cẩm Nhung đã săn sóc anh, bảo đảm mọi bí mật để anh hoạt động. Anh không thể xa em và cũng không có ý định rời bỏ Cẩm Nhung. Em nỡ lòng nào để trái tim anh rớm máu?


Chị khóc! Chị thương anh lắm. Chị muốn ghì chặt lấy anh, hôn anh song chị kịp nén lại được. Anh thổ lộ:


 


- Anh không phải kẻ tham lam hoặc đam mê sắc, dục. Em và Cẩm Nhung đã gắn liền với đời anh, anh không dứt bỏ ai được. Dù không cùng lý tưởng, Cẩm Nhung đã là vợ anh mười tám năm qua, đầu gối, tay ấp, ngọt bùi, đắng cay chia sẽ và tuy biết rõ anh là Việt Cộng, Cẩm Nhung đã bảo vệ anh, che chở cho anh. Anh nỡ nào chia tay với Cẩm Nhung khi cô ấy đã có với anh bốn mặt con? Với em, anh càng không thể mất em.


 


Anh đứng dậy, đi đi, lại lại trong phòng. Chị im lặng, tôn trọng dòng suy nghĩ của anh. Rõ ràng anh đang có đấu tranh trong nội tâm dữ dội lắm. Anh làm sao thuyết phục được chị? Anh chị không còn trai trẻ ở lứa tuổi mười tám, đôi mươi mà đã vượt quá ngũ tuần rồi, lại trải qua hai mốt năm cách biệt nên có ngỡ ngàng, mặc cảm, chen lẫn với điều phạm luật hôn nhân nhưng điều cơ bản là anh chị rất hiểu nhau. Anh ngồi xuống phía đối diện với chị:


 


- Em yêu! Anh là đảng viên cộng sản. Điều lệ Đảng không cho phép anh làm điều này nhưng anh buộc lòng phải thú nhận với em. Anh được thưởng bẩy huân chương, được đề nghị tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang, nhưng nếu mất em thì cuộc đời còn nghĩa lý gì với anh nữa.


 


- Trời! Sao anh phải dùng lời lẽ nặng nề như vậy? Em tự hào về anh lắm chứ! Có anh cùng đi hoặc ít nhất có ảnh anh mặc quân phục chụp ảnh chung với em, các con, các cháu là lời cải chính đanh thép nhất cho bao năm làm vợ gián điệp của em. Em muốn ngẩng cao đầu, hãnh diện với bạn bè chứ! Em chỉ kẹt về chuyện hiến pháp nước ta quy định một vợ, một chồng.


 


Anh ngồi xuống cạnh, đưa hai tay nắm hai vai chị xoay về hướng mình. Anh nhìn thẳng vào mặt chị, thì thào:


 


- Em ơi! Nếu em không còn là vợ anh nữa, anh sẽ sống những chuỗi ngày sắp tới trong dằn vặt, đau khổ. Nếu em không còn yêu anh nữa, em hãy thương lấy anh, thương các con. Cuộc sống của anh sẽ trở nên vô nghĩa nếu không có em là vợ. Trả lời anh đi, em còn yêu anh không?


 


"Anh!". Lần đầu tiên trong đời, chị chủ động ghì lấy anh hôn anh tới tấp. Chị yêu anh mãnh liệt. Tình cảm bị dồn nén trong hai mốt năm và đặc biệt từ khi hai người ở cạnh nhau, nghe những lời bộc lộ chân thành của anh, đã trỗi dậy. Chị khóc. Chị bộc lộ nỗi lòng qua tiếng thổn thức.


 


- Anh! Anh không thể đo được tình yêu của em đối với anh đâu. Em rất sợ mất anh nhưng em không giữ anh. Em xua đuổi anh ngoài miệng nhưng trong lòng cay nghiệt hơn xát ớt.


 


- Anh hiểu! Anh hiểu! Em là người đàn bà cao thượng nhất mà anh đã gặp. Em luôn sẵn sàng hy sinh hạnh phúc cá nhân cho người thân của mình. Em đừng băn khoăn nữa. Trong lý lịch đảng viên của anh, anh ghi rõ ngày cưới em. Em đã là vợ anh hai tám năm rồi. Ôi, nếu tính đất ngón tay, anh và em chung sống với nhau khó được nửa năm. Hai chúng ta chưa có nhà riêng.


 


- Tại chiến tranh anh ạ! Vì độc lập, tự do của Tổ quốc, em tự nguyện hy sinh hạnh phúc riêng.


 


- Từ hôm nay, em cần nghĩ tới hạnh phúc riêng vì nước nhà có hòa bình rồi. Em yêu anh chứ?


 


- Vâng.


 


Chị đáp nhỏ nhẹ, e thẹn. Anh kéo chị vào lòng. Chị gục đầu vào ngực anh, nghe tiếng tim anh đập nhịp nhàng, rộn rã. Anh dìu chị lại gần giường. Chị ngỡ ngàng quá. Đúng là anh với chị làm đám cưới năm 1947, chia tay nhau năm 1954 nhưng bảy năm đó, hai vợ chồng gần nhau được bao ngày? Những năm ở Thanh Hóa, anh buộc chị phải "kiêng" để tôn trọng phong tục tập quán của địa phương và đến thời kỳ gặp nhau ở Hà Nội, anh đến nhà chị Loan vụng trộm, lén lút để gặp chị trong vòng một, hai giờ để rồi chia tay nhau hai mốt năm đằng đẵng.


 


Sáng mùng 2 tháng 5, chị thức dậy sớm. Chị ngồi im, ngắm nhìn anh. Anh phương phi quá. Anh còn trẻ hơn chị nhiều, tóc mới chớm bạc. Chị phải làm gì giúp anh? Ở đây chị không có kim chỉ và quần áo anh không rách, cúc áo anh không đứt để chị may. Chả lẽ chị ra phố mua cho anh gói xôi cái bánh mì, bát phở hay cốc cà phê nhưng tiêu chuẩn của Nhà khách Bộ Quốc phòng phục vụ anh khá cao và quá ngon. Hay là chị kiếm cái nhíp nhổ cho anh mấy sợi tóc bạc? Chị cảm thấy tràn trề hạnh phúc. Bao năm qua, khi đã quá tuổi ngũ tuần, chị mới có một đêm trọn vẹn bên chồng, không thấp thỏm, lo âu. Ba ngày tiếp theo trôi qua rất nhanh. Anh, chị cùng các con về thăm quê nội, quê ngoại. Cả hai đều thống nhất sẽ không nói với ai về Cẩm Nhung.


 


Một buổi chiều, anh chị cùng các con đến thăm tổ ấm cũ. Chị Loan góa chồng từ sáu năm qua. Chị đến gần Thanh Bình:


 


- Cậu Đạo. Chị mang mối hận cậu suốt bao năm qua. Chị gọi cậu là thằng Sở Khanh, kẻ lừa đảo, tên bội bạc. Chị đâu có ngờ... Cậu tha lỗi cho chị nhé!


 


- Em luôn luôn biết ơn chị!


 


Vợ chồng Hạnh và Thanh ngơ ngác. Bác Loan không nói đùa. Chính bác đã mắng ba như vậy à? Tại sao bác gọi ba là Đạo? Chị Loan nắm tay "bé" Thanh, kéo vào gian chái nhà:


 


- Đây là tổ ấm của bố mẹ cháu. Cháu lọt lòng mẹ ở đây. Bố cháu đã có vợ, lén lút quan hệ với mẹ cháu. Khi mang thai cháu, mẹ cháu nhận là chửa hoang. Thương tình, bác phải nhận mẹ cháu là em dâu, chồng mẹ cháu là em ruột bác.


 


Vợ chồng Hạnh và Thanh như tỉnh, như mê, như người đang nghe truyện cổ tích mà các nhân vật đang đứng ngay bên cạnh. Thanh hướng về người cha:


 


- Có đúng như vậy không, ba? Tại sao suốt bao năm qua mẹ giấu con?


 


Chị vỗ nhẹ lên bàn tay con trai:


 


- Làm sao mẹ nói điều đó được khi ba các con đang hoạt động trong lòng địch, tính mạng như ngàn cân treo sợi tóc? Mẹ hứa là sẽ kể hết cho các con nghe.


 


Hạnh chen vào:


 


- Bác Loan kết tội ba là Sở Khanh, lừa đảo, bội bạc, sao ba không cải chính?


 


- Vì những điều bác Loan nói đều đúng hoặc dưới mức sự thật. Chỉ duy nhất có một mình mẹ con và sau đó là bà ngoại, ông nội hiểu và thông cảm với ba. Bác trai đã cấm cửa ba. Nếu gặp ba trước ngày ba bỏ mẹ con vào Sài Gòn, hai bác đã có thể giết ba.


 


- Sao ba không nhận con? Con có phải con gái ruột của ba không?


 


Bác Loan lên tiếng:


 


- Bố mẹ các cháu giấu hai bác đủ mọi chuyện. Bác là bạn rất thân của mẹ cháu, mọi điều tâm sự đều san sẻ với nhau, thế mà bác không biết điều bí mật của chàng và nàng. Bác có mắt như mù, có tai như điếc, cứ mặc kệ cho "ma ăn cỗ" ngay tại nhà mình. Chỉ đến khi bố cháu đã vào Sài Gòn, mẹ cháu mới khoe là mình đã có con gái và hai người chính thức là vợ chồng.


(còn tiếp)


Nguồn: Ông tướng tình báo và hai bà vợ. Truyện của Nguyễn Trần Thiết. NXB Quân đội Nhân dân, 2003.


Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Ông cố vấn - Hữu Mai 16.06.2019
Thế giới những ngày qua - Stefan Zweig 10.06.2019
Seo Mỉ - Đỗ Quang Tiến 07.06.2019
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 01.06.2019
Cõi mê - Triệu Xuân 21.05.2019
Chiến tranh và Hòa bình - Liep Nicôlaievich Tônxtoi 21.05.2019
Đông Chu liệt quốc - Phùng Mộng Long 13.05.2019
Đường công danh của Nikodema Dyzmy - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 09.05.2019
Làng tề - Đỗ Quang Tiến 08.05.2019
Kim Vân Kiều Truyện - Thanh Tâm Tài Nhân 07.05.2019
xem thêm »