tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 31269202
Tiểu thuyết
02.01.2020
Henryk Sienkiewicz
Trên sa mạc và trong rừng thẳm


Chương 39


Toàn bộ dân làng đưa tiễn khá xa Mdimu Tốt và rơi lệ từ biệt cô, cố nài nỉ cô lúc nào ghé thăm M'Rua và hãy nhớ tới lũ làng của ông. Staś  ngần ngừ một lúc, không hiểu có nên chỉ cho những người da đen cái khe núi, nơi chôn giấu những thứ hàng hóa và thức ăn dự trữ được thừa hưởng của ông Linđe hay không − những thứ mà vì thiếu người mang vác nên em đành phải bỏ lại. Nhưng nghĩ rằng việc sở hữu những kho báu như thế có thể làm bùng lên trong họ lòng hằn học và ganh ghét nhau, đánh thức sự tham lam và làm vẩn đục cuộc sống vốn đang thanh bình của họ nên em bỏ ý định ấy. Ngược lại, em bắn hạ một con trâu to và để thịt của nó lại cho họ làm bữa tiệc tiễn chân. Nhìn thấy một lượng thịt lớn như thế, họ rất vui sướng.


Trong ba ngày tiếp theo đó, cả đoàn lại đi qua vùng hoang mạc. Ban ngày thì nóng nực, nhưng ban đêm lại lạnh vì vùng này nằm ở độ cao lớn, đến nỗi Staś  phải bảo Mêa bọc Nel trong hai lần chăn. Giờ đây bọn trẻ thường phải vượt qua những khe núi, có khi chỉ là những khe núi trơ trụi đầy sỏi đá, nhưng đôi khi lại là những khe đầy cây cối, phải cố gắng lắm mới vượt qua nổi. Trên bờ những khe núi ấy, bọn trẻ thường nhìn thấy những con khỉ lớn, nhiều khi cả sư tử và báo, bọn này làm tổ trong các hang đá. Staś  bắn hạ một con báo theo yêu cầu của Kali, sau đó cậu bé da đen khoác ngay tấm da báo của nó vào người để dân da đen có thể biết ngay rằng họ đang được tiếp xúc với một người dòng dõi hoàng tộc.


Sau những khe núi đó, trên một bình nguyên nằm ở độ cao lớn, lại bắt đầu xuất hiện những cái làng của người da đen. Một số làng nằm cạnh nhau, một số cách nhau tới một hai ngày đường. Tất cả các làng đều có hàng rào cọc gỗ bao bọc để chống lại sư tử, những hàng rào này được phủ đầy dây leo, đến nỗi nhìn xa trông chúng cứ như một cụm rừng nguyên thủy vậy. Chỉ đến khi trông thấy khói bốc lên từ bên trong mới có thể biết được rằng trong đó có người sinh sống. ở mọi nơi, đoàn người được tiếp đón gần giống như ở làng của ông M'Rua, nghĩa là thoạt tiên có nhiều phần lo sợ và nghi ngờ, sau đó kinh ngạc và tôn kính. Chỉ có một lần xảy ra chuyện: Khi vừa trông thấy con voi, con Saba, ngựa và những người da trắng, cả làng bỏ chạy vào khu rừng cạnh đó, đến nỗi không còn ai để nói chuyện nữa. Tuy vậy không có một ngọn giáo nào được sử dụng để chống lại đoàn. Vì người da đen − trước khi đạo Hồi truyền cho họ lòng căm thù những người không theo đạo và sự tàn bạo − vốn là những người hiền lành và nhút nhát.


Cho nên thường thường là Kali “ăn một mẩu” của vị vua bản địa, vua bản địa “ăn một mẩu” của Kali, rồi sau đó quan hệ hai bên vô cùng thân thiện. Khắp nơi người ta bày tỏ lòng thành kính và thần phục đối với Mdimu Tốt dưới dạng gà mái, trứng và mật ong thu được từ những cái kèo gỗ treo bằng những sợi dây dừa trên những cành cây lớn. “Ông lớn” − chủ nhân của con voi, của sấm sét và của những con rắn lửa, thường gây nên sự sợ hãi, tuy nhiên sự sợ hãi đó nhanh chóng biến thành lòng biết ơn, khi người ta hiểu được rằng tính hào phóng của Staś  sánh ngang với sức mạnh của em. Nơi có các làng ở gần nhau thì sự tới thăm của các vị khách khác thường này được người ta báo trước cho nhau bằng trống, vì người da đen biết cách truyền đạt tất cả mọi điều bằng cách gõ trống. Cũng có trường hợp toàn thể cư dân ra đón tiếp bọn trẻ ngay từ đầu đã đối xử với chúng hết sức thân thiện.


Trong một làng có chừng nghìn đầu dân, vị thủ lĩnh của làng − vừa là vua vừa là phù thủy, đồng ý chỉ cho bọn trẻ “đại linh vật” − vật thờ cúng được giữ gìn, được tôn kính và sợ sệt vô cùng, đến nỗi dân chúng không dám tới gần cái khám thờ bằng gỗ mun phủ da tê giác mà chỉ dám đến dâng lễ vật ở cách đó khoảng năm mươi bước chân. Vua kể rằng vật thiêng liêng này rơi xuống từ mặt trăng cách đây không lâu, nó có màu trắng và không có đuôi.


Staś  tuyên bố rằng chính em, theo lệnh Mdimu Tốt đã phóng vật ấy lên trời. Nói như thế, em hoàn toàn không sai sự thật chút nào, vì hóa ra cái “linh vật” nọ chỉ là một trong những cái diều mà bọn trẻ đã thả từ núi Linđe. Staś  và Nel vui sướng nghĩ rằng, nếu gió thuận, những chiếc diều khác có thể còn bay xa hơn, và chúng quyết định tiếp tục thả diều từ trên cao nguyên này. Ngay buổi chiều hôm ấy, Staś  đã làm ngay một cái và thả lên trời, điều đó khiến cho dân da đen tin rằng Mdimu lẫn ông lớn da trắng là những vị thần từ mặt trăng xuống, và không thể chỉ kính trọng những vị thần ấy thôi là đủ.


Tuy nhiên, điều khiến Staś  vui sướng hơn những biểu hiện của sự tuân phục và thành kính ấy là tin tức cho biết hồ Bassa Narok chỉ cách đây chừng mười ngày đường. Những cư dân mà cái làng hiện nay bọn trẻ đang dừng chân nói rằng, thỉnh thoảng họ còn đổi rượu vang làm bằng cây cọ đum để đổi lấy muối do những người từ phía đó mang lại. Vua bản xứ cũng nghe nói tới vua Phumba, đó là thủ lĩnh của một dân tộc tên gọi là “Đôcô”, và Kali thừa nhận rằng những người láng giềng xa hơn nữa thường gọi người Vahima và người Xamburu bằng tên gọi ấy. Tin tức ít đáng mừng hơn là tin cho biết trên bờ con nước lớn ấy đang có chiến tranh, và để tới được Bassa Narok, phải vượt qua những ngọn núi rất hoang vu, những khe núi rất dốc đầy dã thú. Song đối với các loại dã thú thì Staś  đâu có lo ngại gì, còn nói về núi hoang vu thì em cón thích hơn là những vùng đồng bằng trũng, vì nơi đó có ma sốt rét, thường xuyên rình rập những nhà bộ hành trẻ tuổi này.


Thế là bọn trẻ vui vẻ tiếp tục lên đường. Sau cái làng đông đúc cư dân ấy, chúng chỉ còn gặp có một điểm cư dân nữa, nhưng rất nhỏ bé, giống như một cái tổ chim cheo leo trên bờ vực. Sau đó bắt đầu vùng đồi chân núi, thỉnh thoảng bị những cái khe sâu cắt ngang. Về phía đông nhô lên một dãy đỉnh núi mờ mờ, trông từ xa như có màu đen thẫm. Đó là một vùng đất lạ chưa một ai biết đến. Trong khi hướng tới đó, bọn trẻ không thể lường trước được những gì chúng có thể gặp phải ở đó, trước khi tới được lãnh thổ của vua Phumba. Không thiếu cây cối trên những trảng trống mà chúng đi qua, nhưng trừ những cây bồng bồng và xiêm gai mọc đơn độc, tất cả các loài cây khác đều mọc thành khóm, tạo nên những lùm cây dày đặc. Những người bộ hành thường dừng chân trong những lùm cây ấy để ăn uống, nghỉ ngơi và lấy bóng mát của chúng.


Trong những lùm cây có vô số loài chim chóc. Rất nhiều loại bồ câu rừng, những con chim rõ to mà Staś  gọi là chim tucan, sẻ rừng, sáo sậu, chim cu đất và hằng hà sa số những con chim bengalix ríu ra ríu rít trong vòm lá, bay từ khóm cây này sang khóm cây khác, từng con hoặc cả đàn, biến hóa như những chiếc cầu vồng. Nhìn từ xa, một số cây như đầy những bông hoa màu hồng vậy. Nel đặc biệt thích những con chim bắt ruồi thiên đường và những con chim màu đen to lớn có điểm trên bộ lông những vệt màu hồng, có tiếng hót nghe như tiếng sáo mục đồng. Những con chim trảu tuyệt đẹp, trên lưng màu hồng, dưới bụng màu thanh thiên nhạt, quay lộn trong ánh sáng mặt trời, tóm gọn những con ong đang bay cùng những con châu chấu. Trên ngọn cây léo nhéo tiếng những chú vẹt xanh, đôi khi điểm thêm những tiếng kêu trong trẻo như chuông bạc, tiếng của những con chim nhỏ màu xanh xám, ẩn kín dưới lá cây ađauxôni đang chào hỏi nhau.


Trước bình minh và sau khi mặt trời lặn có hàng đàn chim sẻ của vùng này bay ngang qua, đông đến nỗi giá như không có tiếng kêu và tiếng đập cánh của chúng thì có thể tưởng đó là những đám mây. Staś  đoán rằng chính những con chim mỏ trắng này kêu lên những tiếng như chuông bạc ấy, khi chúng dàn ra trong các lùm cây về ban ngày.


Nhưng bọn trẻ ngạc nhiên nhất khi trông thấy những con chim khác bay thành từng đoàn nhỏ, và hót hay như một dàn nhạc thật sự. Mỗi đàn gồm năm sáu con mái và một con trống có lông lóng lánh như kim loại. Chúng thường đậu trên những cây xiêm gai đơn độc, con trống đậu trên ngọn cây, những con mái đậu phía dưới, và sau những thanh âm đầu tiên dường như phát ra để lên dây lại cổ họng, con trống bắt đầu hót, còn những con mái im lặng lắng nghe. Khi con trống dứt tiếng hót, lũ chim mái liền họa theo câu cuối cùng trong khúc hót của con trống. Sau khi dừng nghỉ một lúc ngắn, con trống lại tiếp tục, rồi lại kết thúc để lũ chim mái hòa theo, cả đàn bay đi theo một đường bay lượn sóng sang cây xiêm gai khác gần đấy, và dàn nhạc gồm một lĩnh xướng và dàn đồng ca lại lặp lại trong sự tĩnh mịch ban chiều. Bọn trẻ nghe mãi không biết chán. Nel nhớ lại giai điệu của dàn nhạc ấy, và cùng với dàn đồng ca của những con chim mái, cô bé cất giọng thanh thanh của mình hát lên những thanh âm cuối cùng nghe như những tiếng lặp đi lặp lại rất nhanh: “Tui, tui, tui, tui, tui−ling, ting, ting!”.


Một lần, mải lần theo những nhạc sĩ có cánh, bọn trẻ đi từ cây nọ sang cây kia và bỏ cách xa trại tới khoảng một cây số, để lại ba đứa bé da đen, con King và con Saba, bởi vì Staś  không muốn dắt theo con chó để nó khỏi sủa làm lũ súc vật hoảng sợ, dọc đường em muốn đi săn luôn thể. Khi đàn chim rời cây xiêm gai mọc sau chót để bay sang bờ bên kia một khe núi rộng, cậu bé dừng lại và bảo:


− Bây giờ anh đưa em về chỗ con King, rồi anh đi xem thử xem trong khoảng rừng trên cao kia có linh dương hay ngựa vằn không, Kali nói là thịt khô không còn đủ cho hai ngày nữa đâu.


− Em lớn rồi mà. − Nel đáp, cô bé lúc nào cũng muốn chứng tỏ rằng mình không còn là một đứa trẻ con nữa. − Em quay về một mình cũng được. Từ đây trông thấy trại rõ thế kia, cả khói nữa kìa.


− Anh sợ em lạc mất thôi.


− Lạc sao được! ở trong rừng rậm thì có thể em lạc đấy,


nhưng ở đây, anh xem, cỏ thấp thế này kia mà!


− Thế nhỡ con gì vồ em thì sao?


− Chính anh bảo ban ngày sư tử và báo không săn mồi đấy thôi. Thêm nữa, con King đang rống lên vì nhớ chúng mình đấy, anh có nghe thấy không? Sư tử làm sao lại dám săn mồi ở chỗ có tiếng con King được.


Và cô bé bắt đầu khăng khăng giữ ý mình.


− Anh Staś , em đi một mình như người lớn cho coi!


Staś  ngần ngừ một lát, nhưng rồi em cũng đồng ý. Quả thực, có thể trông rõ cái trại và làn khói đang bốc lên. Con King nhớ Nel, chốc chốc lại rống lên. Đi trong cỏ thấp thì không thể lạc đường được, còn sư tử, báo và linh cẩu thì chẳng phải nói tới làm gì, vì những loài thú này chỉ săn mồi ban đêm mà thôi. Cậu bé cũng biết rằng không gì làm cô bé vui sướng hơn là việc chứng tỏ cô không còn bé nữa.


− Thôi được rồi. − Cậu bảo. − Em đi một mình cũng được, nhưng phải đi thẳng một mạch về, đừng tha thẩn dọc đường đấy nhé!


− Thế em hái hoa có được không? − Cô bé vừa hỏi vừa chỉ vào những cây hoa khổ tô phủ vô số những đóa hoa màu hồng.


− Được.


Nói rồi, cậu bé quay người Nel lại, chỉ cho cô thấy một lần nữa cho yên dạ cái lùm cây nơi khói trại đang bốc lên, nơi phát ra tiếng rống của con King, rồi em lẩn vào trong những lùm cỏ mọc cao kín bờ khe.


Nhưng chưa bước được một trăm bước, em đã cảm thấy lo lắng: “Mình thật là ngu ngốc.” − Em nghĩ. − “Đã để cho Nel đi một mình trên đất Phi châu này. Ngu, ngu! Nó còn bé thế kia! Mình không được rời nó một bước, trừ khi nào có con King. Ai biết được sẽ gặp chuyện gì? Ai biết được dưới gốc cây hoa màu hồng ấy lại không có một con rắn, một con vượn nào đó có thể từ dưới khe nhô lên tóm lấy nó hay cắn nó thì sao? Lạy Chúa! − Mình đã làm một việc quá ngốc!”.


Sự lo lắng biến thành nỗi tự giận mình, trở thành một nỗi sợ hãi thắt ruột. Không nghĩ ngợi gì thêm, em quay ngoắt lại, dường như có một điềm gở báo trước vậy. Em đi vội vã với sự thành thạo đã có được do những chuyến đi săn bắn hàng ngày, súng sẵn sàng nhả đạn, em đi giữa những bụi cây trinh nữ không một tiếng động, cứ như một con beo ban đêm đang lần mò tới chỗ đàn linh dương vậy. Một lát sau, em nhô đầu ra khỏi những đám cỏ cao, nhìn − và sững người lại.


Nel đang đứng gần bụi cây khổ tô, hai tay đưa ra phía trước mặt, những đóa hoa màu hồng mà cô bé để rơi xuống trong cơn kinh hoàng đang nằm ngổn ngang dưới chân, còn ở cách đấy chừng hai mươi bước chân, một con thú to màu vàng xám đang trườn lại phía cô bé trong đám cỏ thấp.


Staś  trông rõ cặp mắt xanh lét của con thú đang nhìn chòng chọc vào bộ mặt trắng như phấn của cô bé, cái đầu nhỏ với đôi tai mỏng dính, những cái xương bả vai của nó nhô cao lên do đang ở tư thế bò trườn rình mồi, cái thân mình dài và cái đuôi còn dài ngoẵng hơn nữa, chót đuôi đang ve vẩy nhẹ nhàng như mèo. Một giây nữa thôi − chỉ một cái nhảy và thế là Nel hết đời.


Nhìn cảnh ấy, trong chớp mắt cậu bé đã được tôi luyện và quen với hiểm nguy hiểu ngay rằng nếu như em không bình tĩnh ngay lập tức, nếu như em không tỉnh táo, nếu như em bắn không thật trúng đích mà chỉ làm cho con vật bị thương − dù có bị thương nặng đi nữa − thì cô bé sẽ chết. Song em đã quen với việc chế ngự bản thân mình đến độ, với những ý nghĩa đó, tay chân em bỗng trở nên bình tĩnh dẻo dai như chiếc lò xo bằng thép. Chỉ một thoáng nhìn, em đã trông thấy một cái đốm sẫm màu ở gần mang tai con vật, và bằng một cử chỉ nhẹ nhàng, em chĩa ngay nòng súng vào đó và nổ liền.


Tiếng súng nổ, tiếng kêu thét lên của Nel và một tiếng gào khàn khàn cụt lủn của con vật bật lên gần như đồng thời. Staś  nhảy vọt tới chỗ Nel, lấy mình che cho em, và chĩa ngay súng vào con thú một lần nữa.


Nhưng phát đạn thứ hai không cần thiết nữa, vì con mèo rừng kinh khủng đã nằm bẹp gí dưới đất như một miếng giẻ rách, mũi nó chạm đất, móng cấu chặt vào cỏ, không động đậy. Viên đạn ria đã phá nát toàn bộ cái gáy và xương sống nó. Những vòng óc màu trắng đẫm máu giập nát chườm ra trên mắt nó.


Cậu bé thợ săn và Nel đứng thừ người nhìn con thú bị giết, nhìn nhau một hồi lâu không nói được nên lời. Rồi sau đó diễn ra một chuyện thật lạ lùng. Chính Staś , vừa mới đây dường như vẫn còn ngạc nhiên về sự tĩnh trí và bình tĩnh như những người thợ săn giàu kinh nghiệm nhất trên thế giới, giờ đây bỗng nhiên lại tái nhợt người đi, chân run lẩy bẩy, mắt ứa lệ, rồi hai tay ôm chặt lấy đầu lắp đi lắp lại mãi:


− Ôi, Nel! Nel! Giá mà anh không quay lại!...


Và bị chế ngự bởi nỗi kinh hoàng, bởi cơn tuyệt vọng muộn màng, đến nỗi mỗi đường gân thớ thịt trong người em như đều run lên hệt như em bị sốt rét vậy. Sau một giây căng thẳng thần kinh và thể xác đến tột độ là giây phút yếu mềm và dịu nguội. Mắt em như thấy cảnh con thú dữ đang nằm nghỉ với cái mõm đẫm máu trong một cái hang tối tăm nào đó, cùng cái thi thể nát nhừ của Nel. Điều đó có thể xẩy ra như thế và chắc chắn sẽ phải xảy ra như thế, nếu như em không kịp quay trở lại. Chỉ một chút nữa thôi, chỉ một giây nữa thôi là đã quá muộn. Em không thể chịu đựng nổi cái ý nghĩa ấy.


Và mọi chuyện kết thúc bằng cách Nel lại an ủi Staś  sau khi cô bé đã bớt sợ. Cái sinh linh nhỏ bé và tốt bụng này quàng hai tay lên cổ Staś , và vừa khóc vừa gọi em thật to, dường như muốn đánh thức em dậy:


− Anh Staś , anh Staś  ơi! Em có làm sao đâu! Anh nhìn này, em không bị làm sao cả! Anh Staś ! Anh Staś  ơi!


Nhưng phải một lúc lâu sau Staś  mới định thần và bình tĩnh lại được. Ngay sau đó, Kali đến, cậu bé nghe thấy tiếng súng ở gần trại và biết rằng không bao giờ bvana kubva bắn súng để chơi, nên nó dẫn theo con ngựa để chở thú săn được. Nhìn thấy con vật bị bắn chết, cậu bé da đen bỗng giật lùi, mặt nó xám ngoét đi ngay lập tức.


− Vôbô! − Nó thét lên.


Mãi đến giờ, bọn trẻ mới bước lại gần cái xác đã cứng lại. Cho đến lúc này, Staś  vẫn chưa biết loài thú gì đã bị em bắn hạ. Mới nhìn qua cậu bé ngỡ rằng đó là con mèo rừng xứ Cáp loại lớn[1], nhưng nhìn kĩ hơn em nhận ra rằng không phải như thế, vì con thú bị giết còn lớn hơn cả báo. Lớp da màu xám hoe vàng của nó điểm những chấm lốm đốm màu hạt dẻ, nhưng đầu nó lại nhỏ hơn đầu báo, vì thế trông nó hơi giống chó sói, chân cũng cao hơn, bàn chân rộng hơn, mắt to tướng. Một con mắt đã bị đạn bắn cho lồi hẳn ra ngoài, con mắt còn lại vẫn đang nhìn bọn trẻ, một con mắt không đáy, bất động và khủng khiếp. Staś  đi đến kết luận rằng đây hẳn là một loài báo mà khoa động vật học chưa hề biết đến, cũng giống như hồ Bassa Narok mà khoa địa lí chưa biết đến vậy.


Kali vẫn đang vô cùng kinh hoàng nhìn con vật nằm thẳng cẳng, lắp bắp bằng giọng khe khẽ, dường như nó sợ làm con vật thức dậy.


− Vôbô!... Ông lớn bắn chết cả vôbô!


Staś  quay lại đặt tay lên mái đầu cô bé, dường như muốn xem lại cho chắc chắn rằng con vôbô không vồ được em, rồi em nói:


− Nel, em thấy chưa, dù cho em có lớn hoàn toàn rồi đi nữa, em cũng không được phép đi một mình trong rừng!


− Đúng thế, anh Staś  ạ. − Nel đáp với vẻ nhún nhường. − Nhưng với anh hay với King thì em có thể đi được chứ, phải không anh?


− Em kể xem nào. Em có nghe thấy tiếng nó mò lại gần không?


− Không... mãi đến khi có một con ruồi vàng thật to từ trong hoa bay ra, em quay lại nhìn theo mới thấy nó đang từ trong khe núi trườn ra.


− Rồi sao nữa?


− Nó dừng lại, nhìn em.


− Nhìn lâu không?


− Lâu lắm, anh Staś  ạ. Mãi tới khi em buông thả những bông hoa xuống đất và lấy tay che mắt thì nó mới bắt đầu trườn đến phía em...


Staś  chợt nghĩ ra rằng, giá như Nel là một cô bé da đen thì chắc hẳn đã bị con thú vồ ngay rồi, cô bé thoát được cũng là do con thú ngạc nhiên không hiểu phải làm gì, vì lần đầu tiên nó mới được trông thấy một loài sinh vật lạ.


Một cơn lạnh chạy khắp xương cốt cậu bé.


− Ơn Chúa! Ơn Chúa là anh đã quay lại!... Rồi em hỏi tiếp:


− Thế lúc đó em nghĩ gì?


− Em muốn gọi anh... nhưng không gọi được... nhưng...


− Nhưng sao?


− Nhưng em vẫn nghĩ rằng anh sẽ bảo vệ em... Bản thân em cũng không biết nữa...


Vừa nói thế cô bé vừa quàng tay ôm lấy cổ Staś , còn cậu bé vuốt vuốt tóc cô.


− Em không sợ nữa chứ?


− Không.


− Mdimu của anh! Mdimu của anh! Em đã thấy thế nào là Phi châu chưa nào?


− Thấy rồi, nhưng anh sẽ giết chết mọi con thú đáng ghét phải không anh?


− Giết hết!


Cả hai lại nhìn kĩ con vật ăn thịt một lần nữa. Staś  muốn giữ tấm da của con vật làm kỉ niệm nên bảo Kali lột da, nhưng cậu bé sợ có một con vôbô nữa từ khe núi lại mò đến chăng, nên nói xin bọn trẻ đừng để nó ở lại đây một mình. Trả lời câu hỏi rằng nó có sợ vôbô hơn sợ sư tử không, nó nói:


− Sư tử chỉ rống ban đêm mà không nhảy qua hàng rào,


còn vôbô nhảy qua ngay cả ban ngày, giết nhiều người da đen ngay giữa làng, rồi bắt một người đem đi ăn thịt. Cả giáo lẫn cung nỏ đều không thể giết nổi vôbô đâu.


− Nói bậy. − Staś  nói. − Cậu hãy nhìn xem nó có chết không kìa?


− Ông lớn da trắng giết được vôbô, người da đen không giết được! − Kali đáp.


Rốt cuộc bọn trẻ lấy dây buộc con mèo khổng lồ nọ vào mình ngựa, ngựa kéo nó về trại. Nhưng Staś  không giữ được bộ da của nó vì con King, hình như hiểu được rằng vôbô định vồ cô chủ của nó, nó bèn nổi cơn giận dữ đến nỗi mệnh lệnh của Staś  cũng không ngăn nổi nó. Nó lấy vòi túm chặt con vật bị giết, tung lên không hai lần, rồi ra sức quật vào thân cây, cuối cùng dùng chân giày xéo, biến xác nó thành một khối bèo nhèo không còn hình thù gì nữa, trông cứ như mứt nấu nhừ. Staś  chỉ kịp cứu lấy cái quai hàm, em đặt quai hàm cùng với phần đầu còn lại của con vật trên đường kiến đi, và chỉ trong một tiếng đồng hồ, lũ kiến đã khiến cho xương sạch đến nỗi không còn sót lại trên đó một nguyên tử nào của máu thịt hết cả.


 


(còn tiếp)


Nguồn: Trên sa mạc và trong rừng thẳm. Tiểu thuyết của Henryk Sienkiewicz – Nobel văn học 1905. Nguyễn Hữu Dũng dịch từ nguyên bản tiếng Ba Lan. NXB Văn học in nhiều lần. NXB Hội Nhà văn in lần thứ 25 kỷ niệm 100 năm ngày tác giả từ trần (1916-2016).


www.trieuxuan.info




 







[1]  Nguyên văn: Serval − một loại thú màu xám, to bằng con mèo rừng.




Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Anh em nhà Karamazov - FYODOR Mikhailovich Dostoyevsky 17.02.2020
Trăm năm cô đơn - Gabriel Garcia Marquez 17.02.2020
Đẻ sách - Đỗ Quyên 15.02.2020
Ông cố vấn - Hữu Mai 13.02.2020
Hòn đất - Anh Đức 13.02.2020
Dòng đời - Nguyễn Trung 06.02.2020
Kim Vân Kiều Truyện - Thanh Tâm Tài Nhân 06.02.2020
Cõi mê - Triệu Xuân 30.01.2020
Cơ may thứ hai - Constant Virgil Gheorghiu 30.01.2020
Chuyện kể năm 2000 - Bùi Ngọc Tấn 15.01.2020
xem thêm »