tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 29462513
Tiểu thuyết
24.01.2009
Liep Nicôlaievich Tônxtoi
Chiến tranh và Hòa bình

XIX


Trong khi đó thì Mátxcơva đã trống rỗng. Trong thành phố cũng hãy còn có người, một phần năm mươi trong số dân cư vẫn còn ở lại, nhưng thành phố vẫn trống rỗng. Nó trống rỗng như một tổ ong đã mất chúa đang thoi thóp chết dần.


Trong một tổ ong đã mất con ong chúa rồi thì không còn có sự sống nữa, nhưng nếu chỉ nhìn hời hợt bên ngoài thì nó cũng có vẻ sinh động như những tổ khác.


Dưới những tia nắng nóng ran của mặt trời buổi trưa, ong vẫn bay lượn thành vòng quanh cái tổ mất chúa, cũng như quanh các tổ ong còn sống. Từ xa cũng ngửi thấy mùi mật trong tổ đưa ra, những con ong thợ vẫn bay ra bay vào như cũ. Nhưng chỉ cần nghé mắt nhìn kỹ vào tổ cũng đủ hiểu rằng ở đấy không còn có sự sống nữa. Ong tuy có bay nhưng không phải như là ở các tổ còn sống, mùi mật và tiếng vo ve cũng chẳng phải là cái mùi mật và cái tiếng vo ve bình thường, khiến người nuôi ong phải kinh ngạc. Khi người nuôi ong gõ vào vách cái tổ ong có bệnh, thì không hề nghe tiếng vo ve đều đều lập tức đáp lại như trước kia, tiếng của hàng vạn con ong chổng ngược thân sau lên và phẩy cánh vù vù gây nên cái âm thanh nhẹ nhàng như hơi thở của sự sống. Ở đây chỉ có những tiếng vù vù rời rạc, mỗi tiếng một phách, từ góc này góc khác của tổ ong trống rỗng phát ra. Từ cửa tổ không còn phảng phất cái mùi thơm ngát, nồng say của mật ong và nọc ong, không còn tỏa ra cái hơi ấm của sự no đủ như trước nữa; mà trong mùi mật có lẫn cả cái mùi của sự trống trải và tan rữa. Ở cửa tổ không còn có những quân canh mẫn cán cong đít lên sẵn sàng hy sinh để bảo vệ Tổ quốc. Không còn cái âm thanh khe khẽ và đều đều như tiếng nước sôi báo hiệu công cuộc lao động rầm rộ tiến hành, chỉ nghe có tiếng ồn ào rời rạc, lạc điệu của cảnh hỗn độn. Những con ong kẻ cướp mình đen và dài bê bết những mật bay ra bay vào một cách rụt rè mà khéo léo; chúng không đốt người, mà lại lẩn tránh nguy hiểm. Trước kia chỉ có những con ong mang nhụy hoa bay vào tổ, còn những con bay ra thì bay mình không; bây giờ thì những con bay ra cũng mang mật theo ra. Người nuôi ong mở ngăn dưới của tổ ong ra xem. Trước kia những đám ong đen kịt, bụng đầy mật, yên tĩnh vì đã làm được việc nhiều, chân con này bám vào chân con kia thành chùm treo xuống tận đáy, những con ong bò đi kéo sát trong tiếng rì rào không ngớt của lao động, thì bây giờ chỉ còn thấy những con ong khô héo, ngái ngủ, vật vờ đi lang thang trên thành và trên đáy tổ. Trước kia tấm sàn phết nhựa được cánh ong quạt sạch bóng, thì nay trên sàn ngổn ngang những mảnh sáp, những mảnh cứt ong, những con ong chết dở chỉ còn khẽ cựa chân và những con ong đã chết hẳn còn bỏ đó.


Người nuôi ong mở ngăn trên ra xem. Trước kia từng dãy ong dày đặc bịt kín tất cả các ngăn mật và sưởi ấm cho trứng ong, thì bây giờ chỉ thấy cái cơ cấu tinh vi phức tạp của các ngăn sáp, nhưng không còn cái vẻ trinh bạch như cũ nữa. Tất cả đều bị bỏ lại và đã ô uế. Những con ong đen kẻ cướp lấm lét trườn đi rất nhanh trên các công trình cũ; những con ong nhà khô héo, teo tóp, uể oải như già cỗi hẳn đi, lê bước chậm chạp, không làm vướng ai, không còn mong muốn gì nữa và đã mất hết ý thức về cuộc sống. Những con ong vẽ, ong bầu, những con nhặng và những con bươm bướm bay quờ quạng húc đầu vào vách tổ. Đây đó, giữa các bánh sáp lác đác những con ong con đã chết và những đám mật, thỉnh thoảng lại nghe những tiếng vù vù bất mãn; ở đâu đấy hai con ong theo thói quen cũ đang dọn tổ, chúng cẩn thận cố sức kéo lê một cái xác ong hay một con nhặng chết ra ngoài tuy cũng chẳng biết để làm gì. Trong một góc khác hai con ong già uể oải đánh nhau, hoặc chuốt mình cho sạch, hoặc mớm cho nhau ăn, tuy cũng chẳng biết mình làm như vậy là có ý thân thiện hay thù địch. Ở một chỗ thứ ba, một đám ong xéo cả lên nhau ùa vào đánh túi bụi một con bọ cho kỳ chết. Thỉnh thoảng một con ong đã mệt lả hay bị giết chết từ từ rơi xuống đống xác chết, nhẹ như một chiếc lông tơ. Người nuôi ong giở hai bánh sáp ở giữa ra để xem tổ trứng. Trước kia hàng ngàn con ong quay lưng vào nhau bày thành những vòng tròn đen kịt bảo vệ những điều bí ẩn tối cao của sự sinh nở, thì nay chỉ thấy vài trăm cái xác ong rầu rĩ, chết dở và mụ mẫm. Chúng đã chết gần hết, mà không hay biết gì, chúng ở lại trong ngôi miếu linh thiêng mà trước kia chúng đã bảo vệ và ngày nay không còn nữa. Chúng tỏa ra một mùi thối rữa và chết chóc. Chỉ còn một vài con nhúc nhích, nhổm dậy, bay vật vờ và đậu lên tay kẻ thù, không còn đủ sức để đốt kẻ thù ấy và đồng thời tự hy sinh. Những con kia chết hẳn, chúng từ từ rơi xuống đáy tổ như những chiếc vẩy cá. Người nuôi ong đóng ngăn lại, lấy phấn đánh dấu cái tổ hỏng để sẽ đạp vỡ và thiêu hủy nó đi.


Mátxcơva cũng trống trải như vậy khi Napôlêông mệt mỏi, lo lắng và cau có đang đi đi lại lại trước bức thành của tòa Came Côleski chờ đợi cái dấu hiệu của việc tôn trọng nghi thức tuy chỉ là bề ngoài, nhưng theo quan niệm của ông ta thì rất cần thiết: đoàn đại biểu.


Trên các nẻo đường, trong các xó xỉnh của thành Mátxcơva chỉ còn những cử động một cách vô nghĩa, tuân theo những tập quán cũ và không hiểu mình đang làm gì.


Khi người ta đã báo tin cho Napôlêông với tất cả sự thận trọng cần thiết rằng Mátxcơva trống rỗng, ông ta giận dữ đưa mắt nhìn người đến báo tin rồi quay phắt đi và lặng lẽ tiếp tục đi đi lại lại.


- Đưa xe lại đây - ông ta nói.


 Napôlêông bước lên xe ngồi cạnh viên sĩ quan hành dinh trực nhật và đi vào khu ngoại ô.


"Mátxcơva không người. Thật là một sự việc khó tin"[1]. Ông tự nhủ thầm. Ông ta không đi thẳng vào thành phố, mà lại đỗ lại một quán trọ ở ô Đôrôgômilốp.


Lớp kịch đột biến đã thất bại?[2].


XX


Quân đội Nga kéo qua Mátxcơva từ hai giờ đêm cho đến hai giờ trưa, lôi cuốn những người dân phố và những thương binh cuối cùng đang rời bỏ kinh đô.


Trong khi chuyển quân, chen chúc dữ dội nhất là lúc trẩy qua các cầu Camenny, Môskơvôrétski và Yauski.


Trong khi các đạo quân trước kia rẽ đôi ra hai dòng bên thành Cremlanh đã trở lại gặp nhau trên hai chiếc cầu Camenny và Môskơvôrétski, thì một số lớn quân lính, thừa lúc mọi người đang dừng lại và chen chúc, đã lẻn về phía sau và lặng lẽ đi dọc nhà thờ Vaxili Blagienny, qua cửa Bôrôvitski, len lên dốc tiến về Hồng trường, là nơi mà họ đánh hơi thấy có thể dễ dàng lấy cắp của cải của người khác. Cũng một đám người như thế dồn vào chật ních cả cái xó xỉnh của khu bán hàng Gôstiny Đơvơ như những khi người ta kéo nhau đến mua hàng giá rẻ. Nhưng bây giờ không hề nghe thấy những tiếng mời mọc ngọt ngào và bùi tai của những người bán hàng, cũng không thấy những người bán rong và đám phụ nữ mua hàng mặc những bộ áo đủ các màu sắc - chỉ có những bộ quân phục, những tấm áo capốt của những người lính không có súng, lặng lẽ kéo nhau vào hai tay không, rồi lại lặng lẽ đi ra, mang theo những đồ lấy cắp được. Những người lái buôn và những người bán hàng (số người này rất ít) đi lại giữa đám quân lính, có vẻ như những người bị lạc, mở cửa hàng ra rồi lại đóng lại và thân hành cùng với những người phụ việc mang hàng đi đâu không rõ.


Trên quảng trường sát cạnh Gôstiny Đơvơ, mấy người lính đánh trống đã được lệnh đánh trống hiệu tập hợp. Nhưng tiếng trống không tập hợp được lũ lính tráng đi ăn trộm, mà lại làm họ lảng xa hơn. Trong các cửa hiệu và trong các ngõ hẻm, giữa đám quân lính thấp thoáng những người mặc áo Caphơtan xám, đầu cạo trọc. Hai viên sĩ quan, một người khoác một chiếc khăn san trên quân phục, cưỡi một con ngựa gầy xám thẫm, và một người mặc áo khoác dài đi bộ, đang đứng ở góc phố llinca bàn việc gì không rõ. Một viên sĩ quan thứ ba phi ngựa lại gần họ.


- Tướng quân có lệnh là phải làm thế nào đuổi ngay bọn lính ra ngoài cho kỳ được. Thật chẳng còn ra cái thể thống gì nữa! Quân lính bỏ hàng ngũ chạy trốn mất một nửa rồi còn gì!


- Mày đi đâu?... Chúng mày đi đâu?... - viên sĩ quan quát ba người lính bộ binh không có súng, đang vén vạt áo ca – pốt đi luồn qua mắt ông ta để len vào các cửa hàng - Đứng lại, đồ chó má!


- Ông cứ thử tập hợp chúng lại mà xem - viên sĩ quan kia đáp - không được đâu mà, tốt hơn là hãy hành quân cho nhanh để những đứa còn lại đừng bỏ trốn nốt, chỉ có cách ấy thôi!


- Hành quân như thế nào? Cứ chen chúc mãi ở trên cầu, có tiến lên được chút nào đâu? Hay là đặt một hàng rào lính gác để những đứa còn lại khỏi bỏ trốn.


Người sĩ quan cấp cao nhất quát:


- Kìa, thì các ông đến đấy mà đuổi chúng ra đi chứ!


Người sĩ quan quàng khăn xuống ngựa, thét gọi người lính đánh trống và cùng anh ta đi vào cổng tò vò. Một toán lính vụt bỏ chạy. Một người lái buôn, trên hai má ở chỗ gần cánh mũi mọc đầy những nốt đỏ, gương mặt no đủ biểu lộ vẻ tham lam và lì lợm xem chừng không gì có thể lay chuyển nổi những điều suy tính thiệt hơn của hắn, đang vung vẩy hai tay đến gần viên sĩ quan dáng điệu huênh hoang và hấp tấp. Hắn nói:


- Thưa đại nhân, xin ngài làm phúc che chở cho. Đây không phải là vì quyền lợi chúng tôi, kể gì chuyện vặt ấy, chúng tôi vui lòng hiến tất cả! Nếu ngài muốn, tôi xin đem dạ ra ngay, đối với một người cao quý như ngài thì biếu đến hai tấm tôi cũng vui lòng! Cái đó thì được, chứ như thế kia thì đúng là ăn cướp! Xin ngài làm phúc cho! Ngài cử cho một đội tuần tiễu đến đây thì hay quá, ít ra cũng cho chúng tôi đóng cửa với chứ...


Mấy người lái buôn xúm quanh viên sĩ quan. Một người xương xương, vẻ mặt khắc khổ, nói:


- Ê! Kêu than làm gì cho mệt. Sắp mất đầu mà lại còn tiếc ba sợi tóc. Ai muốn lấy gì thì cứ cho họ lấy! - Nói đoạn hắn khoát mạnh tay một cái và quay nghiêng người về phía viên sĩ quan. Người lái buôn lúc nãy giận dữ nói:


- Cái bác Ivan Xiđôrich này, cứ nói như bác thì dễ quá!... Xin ngài sĩ quan, xin ngài làm phúc cho.


- Thôi nói làm gì! - người lái buôn gầy gò nói, - ở đây tôi có ba cửa hàng trị giá đến mười vạn. Quân đội rút đi thì còn giữ làm sao được! Chao ơi, người đâu mà lạ...! Làm sao chống lại được ý Chúa?


- Thưa đại nhân, xin ngài làm phúc cho - người lái buôn thứ nhất nghiêng mình nhắc lại. - Viên sĩ quan đứng im một lúc, trên gương mặt lộ vẻ phân vân do dự. Rồi bỗng ông ta quát to:


- Thì việc quái gì đến ta nào! - nói đoạn ông bước nhanh về phía cửa hàng. Trong một gian hàng mở cửa nghe có tiếng người đấm đá, chửi bới nhau, khi viên sĩ quan vừa mới đến nơi thì từ trong cửa nhảy xổ ra một người đầu cạo trọc, mặc áo Caphơtan xám: hắn vừa bị người ở bên trong tống ra ngoài.


Người đó cúi lom khom chạy qua mặt mấy người lái buôn và viên sĩ quan rồi mất hút. Viên sĩ quan nhảy bổ vào đám quân lính đang lúc nhúc trong gian hàng. Nhưng vừa lúc ấy có những tiếng kêu la sợ hãi của một đám người rất đông từ phía cầu Môskơvôrétski vang lại.Viên sĩ quan vội chạy ra quảng trường.


- Cái gì thế? Cái gì thế? - Ông ta hỏi dồn, nhưng viên sĩ quan kia đã cho ngựa phi qua Vaxili Blagienny về phía có tiếng kêu la. Ông ta bèn lên ngựa đuổi theo. Khi đến gần cầu, ông ta thấy khẩu súng đại bác đã tháo ra khỏi bánh xe kéo, thấy bộ binh đang qua cầu, mấy cái xe tải đổ lăn kềnh ra đường, mấy cái mặt hoảng hốt và quân lính đang cười ha hả. Bên cạnh hai khẩu đại bác có một chiếc xe tải thắng hai con ngựa. Bốn con chó boocdôi đeo nịt ở cổ đang đứng nép vào sau xe. Trên xe là một núi đồ đạc, và ở trên cùng, bên cạnh một chiếc ghế trẻ con chổng chân lên trời, có một mụ đàn bà đang ngồi tru tréo om sòm. Viên sĩ quan được các bạn đồng ngũ cho biết rằng sở dĩ có tiếng kêu la của đám đông và tiếng tru tréo của mụ đàn bà kia vì khi tướng Yécmôlốp cưỡi ngựa chạy qua đám đông và được biết rằng quân lính bỏ chạy nghẽn cả cầu, liền ra lệnh kéo hai khẩu đại bác ra khỏi xe, giả làm như sắp bắn vào cầu. Đám đông xô ngã các xe tải giẫm đạp lên nhau la hét om sòm, chen chúc nhau ra khỏi cầu và thế là quân đội đã tiến lên được.


XXI


Trong khi đó thì ở trung tâm thành phố lại vắng ngắt như tờ. Trên các đường phố hầu như không có lấy một bóng người. Tất cả các cổng vào các cửa hàng đều đóng kín mít; đó đây các quán rượu nghe có tiếng kêu lẻ loi hay tiếng hát của người say rượu. Không có lấy một chiếc xe nào đi lại trên phố, và thỉnh thoảng lắm mới nghe tiếng bước chân của người bộ hành. Phố Pôvácskaia im phăng phắc và vắng tanh. Trong khoảng sân rộng thênh thang của gia đình Rôstốp ngổn ngang những mớ rạ và những đống phân ngựa kéo xe để lại. Không có lấy một bóng người. Trong tòa nhà của gia đình Rôstốp bị bỏ lại với toàn bộ của cải, có hai người đang ngồi trong phòng khách lớn. Đó là bác gác cổng Íchnát và chú bé Misơka, cháu nội bác Vaxilích cùng ở lại Mátxcơva với bác ta. Misơka mở đàn dương cầm ra đánh bằng một ngón tay. Bác gác cổng hai tay chống cạnh sườn đang đứng trước một tấm gương lớn mỉm cười hớn hở.


Bỗng chú bé bắt đầu dùng cả hai tay đập lên phím đàn, nói:


- Có tài không, hở bác Íchnát?


- Chà cái thằng này! Íchnát đáp (bấy giờ bác ta đang mải ngắm cái mặt cười toe toét của mình ở trong gương).


- Rõ không biết dơ! Thật là đồ không biết dơ! - phía sau lưng hai người bỗng có tiếng của Mavra Kudơminisna bấy giờ vừa lặng lẽ bước vào phòng - Kìa xem cái lão mặt mẹt kia nhe răng ra kìa. À ra các người giỏi nhỉ, dọn dẹp đã xong xuôi gì đâu? Bác Vaxilích đang nai lưng ra làm, mệt nhoài ra ngoài kia kìa. Để rồi xem!


Íchnát xốc lại thắt lưng, miệng thôi mỉm cười và mắt nhìn xuống đất, ngoan ngoãn ra khỏi phòng.


- Thím ạ, cháu đánh khẽ thôi thím nhé - chú bé nói.


- Rồi tao cho mày đánh khẽ, đồ ôn con! Mavra Kudơminisna vừa tát vừa vung tay lên doạ. - Đi mà đặt ống lò cho ông nội mày.


Mavra Kudơminisna phủi bụi trên phím đàn, đậy nắp đàn lại, rồi thở dài đánh thượt một cái, ra khỏi phòng khách và khóa cửa lại.


Ra sân, bà đứng lại ngẫm nghĩ không biết bây giờ nên đi đâu: đến phòng bác Vaxilích ở bên nhà dọc uống nước chè, hay vào nhà kho dọn nốt những đồ đạc còn để ngổn ngang.


Chợt ngoài đường có tiếng chân bước rất nhanh. Những bước chân dừng lại bên cổng; cái then cài bắt đầu kêu lách cách vì có một bàn tay đang cố mở cánh cổng ra.


Mavra Kudơminisna đi ra cổng.


- Ngài hỏi ai ạ?


- Tôi muốn hỏi bá tước, bá tước Ilya Anđrâyích Rôstốp.


- Thế ngài là ai?


- Tôi là một sĩ quan. Tôi cần gặp bá tước - người lạ mặt đáp, giọng rất dễ chịu, chắc phải là một người quý tộc Nga


Mavra Kudơminisna mở cánh cổng ra. Một người sĩ quan mặt tròn trĩnh, tuổi trạc mười tám, bước vào sân. Khuôn mặt người sĩ quan hao hao giống kiểu mặt của dòng họ Rôstốp.


- Thưa cậu, bá tước đi rồi ạ. Đi từ chiều hôm qua rồi ạ.


Người sĩ quan trẻ tuổi đứng tần ngần bên cổng như phân vân không biết có nên vào không. Chàng tặc lưỡi.


- Chà, tiếc quá! - chàng nói - Đến từ hôm qua có phải là... Chà, tiếc thật!...


Trong khi đó Mavra Kudơminisna chăm chú và ái ngại nhìn kỹ những nét quen thuộc của dòng họ Rôstốp trên khuôn mặt người thanh niên, nhìn chiếc áo khoác rách và đôi ủng mòn của chàng.


- Cậu muốn gặp bá tước có chuyện gì à? - Bà ta hỏi.


- Thôi... Chả còn biết làm thế nào được - Người sĩ quan buồn bực nói, đoạn đưa tay lên cánh cổng có ý muốn bỏ đi, rồi chàng lại đứng lại, dáng tần ngần.


- Bà ạ! - chàng bỗng nói. - Tôi là người có họ với bá tước, bá tước đối với tôi xưa nay rất tốt. Cho nên, bà thấy không (chàng mỉm một nụ cười hiền lành và vui vẻ nhìn xuống chiếc áo khoác và đôi ủng của mình), áo quần tôi rách cả, mà tiền thì chẳng còn đồng nào, cho nên tôi muốn hỏi xin bá tước...


Mavra Kudơminisna không để cho chàng nói hết.


- Cậu ạ, đợi cho một tý, một tí thôi nhé - bà nói. Và người sĩ quan vừa rời tay khỏi cánh cửa thì bà ta quay gót đi nhanh vào sân sau, về phía phòng mình bên dãy nhà dọc.


Trong khi Mavra Kudơminisna về phòng, người sĩ quan đi đi lại lại ngoài sân, mỉm cười nhìn xuống đôi ủng mòn rách của mình. "Không gặp được chú ấy thật tiếc quá. Bà già kia khôn thật! Không biết chạy đi đâu? Muốn bắt kịp binh đoàn không biết đi lối nào cho gần đây? Binh đoàn mình đã sắp đến Rôgôskaia rồi còn gì!" - Chàng nghĩ thầm. Mavra Kudơminisna gương mặt có vẻ sợ hãi nhưng đồng thời lại quả quyết, hai tay cầm một chiếc khăn kẻ ô vuông gập lại, từ góc sân bước ra. Khi còn cách người sĩ quan vài bước, bà mở chiếc khăn lấy ra một tờ giấy bạc hai mươi rúp màu trắng và hối hả đưa cho chàng.


- Giá có cụ lớn ở nhà, thế nào chỗ thân thích cụ cũng... Nhưng bây giờ... có lẽ... - Bà Mavra đâm luống cuống. Nhưng người sĩ quan không từ chối mà cũng không vội vàng, đã cầm lấy tờ giấy bạc và cảm ơn Mavra Kudơminisna. Bà ta nói tiếp, như để xin lỗi - Giá có bá tước ở nhà thì... Cầu Chúa phù hộ cho cậu tai qua nạn khỏi - bà ta vừa nói vừa cúi chào và tiễn chân người sĩ quan ra ngoài cổng. Người sĩ quan mỉm cười lắc đầu như để chế giễu mình, rồi chạy nhanh qua các phố xá vắng vẻ, về phía cầu Yauski để đuổi theo đơn vị.


Bà Mavra Kudơminisna còn đứng hồi lâu trước hai cánh cổng đóng kín, rơm rớm nước mắt, lắc đầu dáng tư lự và bỗng thấy lòng tràn ngập một tình trìu mến và xót thương mẫu tử đối với người sĩ quan trẻ tuổi không hề quen biết.


(còn tiếp)


Nguồn: Chiến tranh và Hòa bình, tập 3. Bộ mới, NXB Văn học, 1-2007. Triệu Xuân biên tập. In theo lần xuất bản đầu tiên tại Việt Nam năm 1961 và 1962 của Nhà xuất bản Văn hóa, tiền thân của NXB Văn học. Những người dịch: Cao Xuân Hạo, Nhữ Thành, Trường Xuyên (tức Cao Xuân Huy) và Hoàng Thiếu Sơn.


 


 


 







[1] “Moscou déserte. Quel événement invraisemblable!”.




[2] Le coup de théâtre avait raté.



Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
23.
24.
25.
26.
27.
28.
29.
30.
31.
32.
33.
34.
35.
36.
37.
38.
39.
40.
41.
42.
43.
44.
45.
46.
47.
48.
49.
50.
51.
52.
53.
54.
55.
56.
57.
58.Phần Thứ Mười một
59.
60.
61.
62.
63.
64.
65.
66.
67.
68.
69.
70.
71.
72.
73.
74.
75.
76.
77.
78.Phần Thứ tám
79.
80.
81.Phần Thứ sáu
82.Lời Người biên tập và Lời Giới thiệu của Cao Xuân Hạo
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Đêm thánh nhân - Nguyễn Đình Chính 11.09.2019
Jude - Kẻ vô danh - Thomas Hardy 10.09.2019
Ông cố vấn - Hữu Mai 10.09.2019
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 05.09.2019
Seo Mỉ - Đỗ Quang Tiến 28.08.2019
Sông Côn mùa lũ - Nguyễn Mộng Giác 23.08.2019
Lâu đài - Franz Kafka 21.08.2019
Trăm năm cô đơn - G. G. Marquez 20.08.2019
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 20.08.2019
Gia đình Buddenbrook - Thomas Mann 19.08.2019
xem thêm »