tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 24723179
Tiểu thuyết
11.05.2016
Dương Hướng
Dưới chín tầng trời



CHƯƠNG 24. Vườn xưa


Nhận được quyết định ra quân để vào học trường viết văn Nguyễn Du, Hoàng Kỳ Nam leo lên chiếc xe khách chạy từ huyện lỵ miền núi về thành phố. Trước khi về Bắc, bằng mọi giá Nam phải nghé qua dinh thự Đức Cường thăm Thương Huyền. Con đường đất đỏ gập ghềnh làm chiếc xe nghiên ngả. Hành khách đứng ngồi chật các hàng ghế và lối đi trên xe, thỉnh thoảng lái xe phanh gấp làm hành khách dúi dụi vào nhau la lối om xòm. Suốt dọc đường xe liên tục dừng cho khách lên xuống khuân vác chồng chất đủ thứ hoa trái mít, dứa, chuối, chè xanh, mè, đậu phụng. Khi chiếc xe chạy tới chợ Gốc Mít thì dừng lại trước cửa hàng Bảy Hường đón khách. Nam nhảy xuống xe chaỵ vào cửa hàng Bảy Hường xem lại cái nơi Nam đã có bao kỷ niệm ngày tháng gian khổ. Cửa hàng Bảy Hường trước kia là nơi tập kết hàng hoá cuả Đơn vị Nam và đơn vị của chị Thu Cúc bây giờ đã trương lên tấm biển cửa hàng thương nghiệp huyện. Hỏi ra Nam mới biết, nhà thương gia Đức Cường đã hiến cửa hàng này cho huyện ngay từ ngày mới giải phóng. Nhân viên bán hàng chẳng còn biết ông Đức Cường là ai. Ngồi trên xe, Nam nhận ra khách toàn là những người buôn chuyến và vài ba người đi thăm người thân là lính nguỵ phải đi học tập cải tạo trên núi về. Duy nhất chỉ có mỗi mình Nam là bộ đội miền Bắc. Suốt cuộc đời làm lính, Nam đã gắn bó với miền đất này với bao kỷ niệm. Cuộc đời Nam bắt đầu từ hôm nay bước sang một trang mới, Nam không khỏi xúc động nghĩ tới Thương Huyền và con Ngọc Lan. Kể từ bữa cơm mừng chiến thắng tại dinh thự Đức Cường, Nam chưa gặp lại hai má con Thương Huyền. Mấy năm nay, mỗi lần nghĩ tới thân phận hai má con Thương Huyền, Nam lại thấy lòng không yên. Số phận Thương Huyền đã bị Đào Vương đưa đẩy vào con đường khốn cùng. Và tình cảnh Đào Vương bây gìơ còn bi đát hơn cả hai mẹ con Thương Huyền. Nhiều lúc Nam phải thừa nhận Nam yêu Thương Huyền, thương con Ngọc Lan như con đẻ, cho dù Nam đã cưới Tuyết. Số phận Nam gắn bó với gia đình nhà thương gia Đức Cường không ngờ lại chính là những sáng tác trong những ngày Nam cô đơn nằm trên trại tăng gia trên rừng. Nam đã viết một truyện ngắn có tên “Đêm chiến tranh” và một bài ký có tên“ Tấm lòng nhà thương gia Đức Cường” đăng trên báo văn ghệ giải phóng được dư luận khen ngợi. Ông Đức cường và chị Thu Cúc mấy lần nhắn Nam về chơi nhưng Nam không sao dứt ra để về được. Có lẽ tên tuổi Nam được bạn đọc biết đến và được đi học trường viết văn cũng xuất phát từ truyện ngắn và bài ký này. Mải mê về những kỷ niệm, xe đã về tới thành phố. Nam xốc lại chiếc ba lô bước xuống xe thấy người chếnh choáng, phải đứng lặng một lúc đầu óc mới tỉnh.  Từ trên rừng xuống, Nam ngơ ngác trước cảnh người đi lại nhốn nháo trong bến xe. Mấy tay xe ôm quây quanh Nam níu kéo mời lên xe nhưng Nam quyết định đi bộ về dinh thự Đức Cường. Nam vừa bước ra khỏi bến xe nghe có tiếng gọi tên mình, Nam quay lại nhận ra anh Đức Thịnh đang ngồi bán báo trên chiếc xe ba bánh.


- Cậu ngồi lên đây tôi đưa cậu về! Anh Thịnh vừa nói, tay thu những tập báo vào chiếc thùng dưới chân. Nam cảm động bước lên xe ngồi bên cạnh anh Thịnh. Tuy anh Thịnh bị cụt chân nhưng anh lái chiếc xe ba bánh thật thuần thục. Chiếc xe rùng rình chạy trên đường phố.


- Thương Huyền nó đang trông cậu về.


- Ông bà Đức Cường có khỏe không anh?


- Ba má tui chết rồi.


Nam lặng người. Chiếc xe ba bánh rồ lên chạy như điên. gío rin rít bên tai. Dinh thự Đức Cường im lìm hiện ra trước mắt Nam. Vòm cây năm xưa vẫn ngăn ngắt xanh. Nghe tiếng xe, má chị Thu Cúc chạy ra mở cổng. Bà nhận ra Nam ngồi trên xe, gương mặt bà thoáng buồn. Nam nhảy xuống xe chay tới ôm lấy má chị Thu Cúc. Anh Đức Thịnh lái chiếc xe chạy vòng ra sau nhà, con chó nhảy chồm chồm chạy theo xe anh Thịnh. Nam buông tay khỏi má chị Thu Cúc, bà chạy ra khép hai cánh cổng. Tiếng cổng sắt rít lên, Nam nghe gai gai người.


- Cậu vào thắp cho ông bà Đức Cường nén nhang. Lúc còn sống ông bà ấy cứ mong cậu hoài.


Bước tới trước ban thờ thắp hương, nhìn hai tấm ảnh ông bà Đức Cường, hai gương mặt sáng ngời phúc hậu trên ban thờ, Nam xúc động không sao cầm lòng. Bằng trực giác Nam cảm thấy cái chết của ông bà Đức Cường có gì đó không bình thường.


- Ông bà Đức Cường mất vì bệnh gì hả bà?


- Bệnh người già, tôi biết sao được.


- Chị Thu Cúc hồi này có khỏe không ạ?


- Khỏe, đã lấy chồng rồi, cả hai vợ chồng bận công tác tối ngày. Mẹ chị Thu Cúc nói, mặt u buồn nhìn ra khoảng sân. Anh Đức thịnh tập tễnh chống nạng đứng chờ Nam ở cửa phòng. Nam xin phép má chị Thu Cúc sang phòng anh Đức Thịnh. Anh Đức Thịnh lò cò nhảy loanh quanh trong nhà lấy tách chén, lục tìm trong tủ lấy lọ chè và gói bánh quy xốp đặt lên bàn.


- Tôi đi suốt ngày, con Ngọc Lan đi học nên chẳng có nước sôi. Anh Thịnh thanh minh. Cậu về thật đúng lúc, Thương Huyền nó đang mong cậu. Từ ngày ba má tôi mất, tinh thần Thương Huyền bị sa sút, không còn tin vào bất kì điều gì. Cô ấy không muốn tiếp xúc với ai.


- Sao anh Thịnh không lấy vợ? Sống độc thân mãi thế này buồn lắm.


- Hoàn cảnh tôi thế này, vợ con chi được. Anh Thịnh buồn rầu nói, gương mặt u uất hằn lên những nếp nhăn ở hai đuôi mắt trông khắc khổ. Gia đình tôi thế là mất hết cả rồi anh ạ.


- Ông bà Đức Cường mất rồi, anh là trưởng nam sao anh không dọn lên nhà trên ở trông nom hương khói cho cha mẹ?


- Tôi tàn tật thế này cần chi nhà cửa. Tôi ở dưới này tiện hơn. Với lại nhà trên ba má tôi đã cho hai má con chị Thu Cúc. Khách của chị Thu Cúc trên quận, trên thành phố đi về liên tục, tôi ở đấy làm sao được. Tôi là thằng lính Nguỵ ở trên ấy chướng lắm.


Nam nắm chặt bàn tay anh Thịnh. Anh luôn tự dày vò mặc cảm về thân phận mình. Nam đang muốn biết rõ về nguyên nhân cái chết của ông bà Đức Cường.


- Đằng nào thì ba má tôi đã mất rồi, anh Thịnh nói, điều làm tôi lo lắng nhất bây giờ là Thương Huyền. Nó cứ ru rú trong nhà mãi sẽ mắc lại căn bệnh trầm cảm như trước thì khổ. Lát nữa cậu gặp nó, cậu lựa lời nói cho nó hiểu. Tôi biết nó chỉ nghe lời cậu. Hồi cậu viết cái truyện ngắn trên báo, tôi thấy nó nhắc tới cậu hoài. Con Ngọc Lan thì luôn miệng bảo mẹ nó đi tìm ba Nam về cho nó. Tôi cứ ngỡ hai mẹ con nó lên vùng kinh tế mới thế nào cũng gặp được cậu.


- Hai mẹ con Thương Huyền không ăn chung cùng anh Thịnh sao?


- Không, tôi ngồi bán báo suốt ngày ngoài bến xe, đến bữa ăn cơm quán cho tiện. Còn cậu Vương hồi này ra sao rồi, hai cậu có còn ở với nhau không?


- Cậu ấy bị thương trên mặt trận Tây Nam rồi.


- Ôi, vậy sao, cậu ấy là người tốt. Buồn thật, hồi mới biết hai cậu, tôi không nghĩ cậu Nam lại là nhà báo, nhà văn.


- Tôi mới chỉ là người viết nghiệp dư thôi, bây giờ mới về đi học làm nghề văn chuyên nghiệp.


- Hồi bài báo cậu viết về ba má tôi, cán bộ từ phường cho đến thành phố rồi bạn bè chị Thu cúc đến thăm chúc mừng ba má tôi. Họ ca ngợi vận động ba má tôi cống hiến hết thảy tài sản của gia đình tôi cho nhà nước. Cậu không thể tưởng tượng nổi ngày ấy ba má tôi vui như thế nào đâu. Suốt ngày phóng viên báo đài phỏng vấn ba má tôi. Chính tôi cũng tự hào thấy ba má mình được mọi người trọng vọng, được đi dự hết cuộc họp này đến hội nghị kia. Tôi không ngờ cái ngày hạnh phúc ấy thật ngắn ngủi. Và bây giờ thì cậu thấy đấy.


- Có lẽ chính vì bài báo hay ho của tôi đã làm hại cả cái gia đình này.


- Cậu đừng tự trách mình thế. Cái chính là ba má tôi bị sốc khi cuối đời trắng tay, cả hai đứa con đều phải khổ. Tôi thì tàn phế thân xác, què quặt về tinh thần, phải đi bán báo rong. Còn Thương Huyền phải lên rừng rú khai hoang thì ba má tôi làm sao chịu nổi. Bao nhiêu tài sản to lớn là hai cái nhà máy ông hiến cho nhà nước thì lại bị phá sản...


Nam bước ra khỏi phòng anh Thịnh trong tâm trạng hoang mang. Bóng mẹ chị Thu Cúc ẩn hiện trước ban thờ ông bà Đức Cường như bị ma ám. Anh Đức Thịnh lọc cọc chiếc nạng gỗ đi ra sau nhà leo lên chiếc xe ba bánh của anh đựng đầy thùng báo chưa bán hết. Nam ngẩn ngơ nhìn theo anh Thịnh ngất ngư trên xe chạy ra khỏi cổng. Nam nhìn sang bên kia khu vườn phía tây, dòng sông vẫn lặng lẽ trôi như cái đêm nào Vương và Nam vượt qua khu đóng quân Đồng Hoà của địch để về dinh thự này gặp Thương Huyền. Thời gian cũng lăng lẽ trôi như dòng sông kia. Nam nhận ra từ ngày ông bà Đức Cường mất đi, trong cái dinh thự to lớn này chỉ còn lại ba cái bóng lặng lẽ là hai anh em Đức Thịnh, Thương Huyền và u già. Khu vườn hoang vắng thâm u, những dây leo cằn cỗi, rêu xanh mốc meo loang lổ bám đầy lối đi. Lá khô phủ đầy hàng ghế đá. Bước chân Nam rờn rợn, người ớn lạnh nghe như tiếng chạm cốc lanh canh, lời chúc tụng ngọt ngào của quan khách trong bữa tiệc năm nào ông bà Đức Cường tổ chức ăn mừng chiến thắng dưới vòm cây này vẫn vang váng trong tâm trí Nam. Nam choáng váng nghe u u tiếng gió rít, tiếng máy bay gầm rú, tiếng bom nổ, lửa bốc cháy ngùn ngụt mùi thuốc súng khét lẹt. Gian phía tây dinh thự này bị sập môt mảng tường trong đêm mậu Thân 68. Nam đã chứng kiến sức sống mãnh liệt tuổi hai mươi của Thương Huyền trong bom đạn chiến tranh. Và lúc nay Nam đang chứng kiến sự mòn mỏi chết dần đi của Thương Huyền trong hoà bình. Sự Suy tàn của dinh thự Đức Cường. Từ lúc trở lại dinh thự này, Nam bị ám ảnh mãi ánh mắt hai ông bà Đức cường trong bức ảnh trên ban thờ- ánh mắt nhìn thấu cuộc đời. Nỗi mặc cảm to lớn hành hạ suốt cuộc đời anh Thịnh, người phế binh của chính quyền Nguỵ Sài Gòn. Sự trái ngang của thời đại, sự tráo trở của lòng người khiến Nam kinh hoàng. Cái chết của hai ông bà Đức Cường lúc này đã đánh thức nỗi đau đớn về cái chết của ông bà nội Nam xưa. Cứ như thể trời đất xui khiến cho cả Vương và Nam cùng gặp Thương Huyền trong cái đêm bom đạn mù trời xưa. Hình ảnh người con gái trắng trong quằn quại trong vòng tay Vương. Ôi tất cả bi kịch có lẽ bắt nguồn từ đấy, từ  khoảng trống lặng yên của bom đạn chiến tranh, Vương đã chiếm đoạt lòng trinh trắng của Thương Huyền. Cho tới bây giờ, Thương Huyền vẫn lầm lẫn anh chảng giải phóng quân đã chiếm đoạt nàng chính là Nam. Thực lòng, Nam cũng đã run rẩy trước người con gái đẹp như thiên thần trong cái đêm chết chóc ấy. Và lúc này Nam phân vân không biết có nên nói ra điều bí mật này để Thương Huyền hiểu hay vẫn đóng trọn vai là kẻ đã cưỡng bức nàng. Nam biết, cho dù nàng có bị cưỡng bức nàng vẫn chấp nhận như một sự tự nguyện dâng hiến và tha thứ bởi lá thư Nam để lại cho nàng. Nàng mong Nam trở về cũng bởi con Ngọc Lan. Bao năm nay, nàng đã vẽ ra cho Ngọc Lan hình ảnh cha Nam của nó là người lính giải phóng quân mà nó đã một vài lần được gặp trên chợ Gốc Mít và trong bữa tiệc mừng chiến thắng năm nào.


Nam chếnh choáng bước lên bậc thềm định vào phòng Thương Huyền thì con Ngọc Lan đi học về, vừa nhìn thấy Nam, con Ngọc Lan đã nhận ngay ra Nam.


- Con biết thế nào ba Nam cũng về. Nó líu ríu reo lên, nó chạy lên bậc thềm đập cửa thình thình, má ơi ba Nam đã về, ba Nam đã về.


Cánh cửa bật mở, nhận ra Nam, ánh mắt Thương Huyền ngời sáng lên trong khoảnh khắc rồi tắt lịm với nét mặt buồn rượi. Nam bàng hoàng nhận ra nỗi niềm của cả hai mẹ con Thương Huyền lâu nay vẫn mong chờ Nam trở lại. Con Ngọc Lan mới ngày nào còn bé tý gìơ đã lớn ngang vai mẹ. Càng lớn nó càng giống mẹ, từ cặp mắt long lanh của nó cũng chất chứa nỗi u hoài của mẹ nó lâu nay.


- Ba đi mô mãi không về, má con mong hoài. Giọng nó nghe buồn mà dễ thương.


- Bây giờ ba đã về với con đây. Nam  ôm gọn con Ngọc Lan trong vòng tay.


- Bác Vương sao không về chơi hả ba?


- Bác Vương phải đi làm nghĩa vụ quốc tế mãi bên Căm Phu Chia  rồi con à.


- Ngọc Lan, con để ba nghỉ đã, con đi chợ mua đồ ăn, má ở nhà làm cơm mừng ba Nam về.


Con Ngọc Lan nhanh nhảu xách chiếc túi mây nhẩy tâng tâng ra cửa đi chợ. Nam đối diện với Thương Huyền. Nỗi buồn thăm thẳm trong mắt nàng nhức nhối Nam không sao tự chủ được. Lần nào đứng trước Thương Huyền, Nam đều bị ám ảnh bởi ánh mắt đen huyền đầy ma lực của nàng. Dù ánh mắt Thương Huyền có cuốn hút đến đâu Nam vẫn chưa lần nào dám vượt qua cái rào cản vô hình giữa Nam và Thương Huyền. Rào Cản bây giờ lại càng lớn hơn bởi Nam đã có vợ. Đành rằng Nam cưới Tuyết cũng là sự ràng buộc bởi cái lễ trầu cau phạt vạ từ cái vụ Nam và Vương nấp trên cây sung nhìn trộm Tuyết tắm đêm trên ao đình Đoài. Có một điều Nam cảm nhận rõ ràng, rào cản càng cao bao nhiêu, sức cuốn hút ở Thương Huyền càng lớn. Nhất là lúc này, Nam muốn nhào tới ôm ghì lấy Thương Huyền, muốn bù đắp cho nàng tất cả những mất mát Vương đã gây nên cho nàng. Cảm nhận nỗi khát khao tình cảm của nàng, Nam muốn sưởi ấm trái tim cô đơn lạnh giá của nàng lâu nay. Nàng đang run rẩy bối rối thấy Nam nhìn nàng đắm đuối. Nam nhào tới ôm Thương Huyền vào lòng.


- Thương Huyền, anh không chịu nổi nữa rồi. Anh có lỗi với hai mẹ con em.


Thương Huyền bỗng khóc nấc lên. Tiếng khóc bật từ con tim đang rỉ máu. Niềm xúc cảm cao độ Nam không kìm nén nổi.


- Anh yêu em Thương Huyền ơi, anh Thương em ngay từ cái đêm đạn bom mịt mù ấy.


- Em nghe tin chị ở ngoài ấy đã là chủ tịch xã?


- Vậy là em cũng biết cả rồi sao?


- Ba Hoàng Kỳ Trung của anh đã cố tình nhắn tin cho em qua mấy người ở đội thanh niên xung phong. Ông sợ em làm hư hỏng anh, ảnh hưởng tới uy tín gia đình anh. Em nói thế nhưng không giận ông đâu. Ông có lý lẽ của ông. Ngày ấy em đã tận mắt chứng kiến cảnh ông phải sống những ngày trong nhà giam Mỹ Nguỵ. Em vừa kinh hoàng, vừa kính nể ông có tấm lòng kiên trung với cách mạng và có sức chịu đựng phi thường trước những đòn tra tấn của kẻ thù. Ông không thể chấp nhận mối quan hệ của anh đối với em cũng là lẽ thường tình. Anh còn nhớ bữa liên hoan mừng chiến thắng ông đã đùng đùng nổi giận khi nhận ra em. Phải là những người đã trải qua những đòn tra tấn nhục hình mới căm hờn kẻ thù sâu sắc đến vậy.


- Anh không ngờ em lại có thể hiểu và thông cảm cho ba anh đến vậy. Nam xiết chặt bàn tay Thương Huyền.


- Em hiểu được ba anh bởi vì chính em cũng là nạn nhân trong cuộc chiến tranh tàn khốc này.


Nam nhân ra Thương Huyền nói đúng, cuộc chiến tranh này nó đã huỷ hoại đời Thương Huyền, huỷ hoại cả gia đình nàng. Cứ nhìn vào sự mất mát của gia đình Nam, của gia đình Thương Huyền, cũng nhận ra những lỗi lầm to lớn của của thời đại.


Con Ngọc Lan đi chợ về, không muốn quấy rầy ba má, nó lúi húi làm cơm đãi ba Nam. Thời gian trôi quá nhanh. Tiếng máy nổ tành tành ngoài cổng, anh Thịnh đã di bán báo về ngất ngư trên chiếc xe ba bánh chạy vào trong sân vòng ra sau vườn.


- Bữa nay ba Nam về nên bác Thịnh về sớm đó, con Ngọc Lan reo lên, mọi ngày tối khuya bác Thịnh mới về.


Má chị Thu Cúc ngấp ngó bên cánh cổng trông chờ chị Thu cúc. Có tiếng còi toe toe, cô gái giúp việc chạy ra mở rộng hai cánh cổng, chiếc xe mầu đen bóng loáng lao vào đỗ trước dinh thự Hoa Cúc Vàng. Chị Thu Cúc cắp cặp bước ra, chiếc xe lùi lại quay đầu lao vút ra khỏi cổng. Cánh cổng lại rít lên lành lạnh. Chi Thu Cúc bước từng bước lên bậc tam cấp vào phòng. Má chị Thu Cúc tất tả chạy vào phòng chị Thu Cúc.


- Cúc à, cậu Nam về rồi, đang ở phòng Thương Huyền.


- Má mời cậu Nam sang đây cho con.


Vẫn giọng nói quan toà lành lạnh mà lần đầu tiên Nam nghe chị luận tội nghi ngờ Vương làm gián điệp lần mò vào lán trại nữ bộ đội dò la tin tức năm nào. Nam sang phòng khách gặp chị Thu Cúc. Nam sững sờ thấy chị Thu Cúc dạo này vừa trẻ vừa đẹp khác thường. Chỉ có giọng nói cử chỉ của chị vẫn oai quyền. Chị ngước mắt nhìn Nam, những ngón tay chị liên tiếp gõ lách cách lách cách lên mặt bàn lúc nhanh lúc chậm lúc dồn dập như nhịp trống.


- Tôi cũng không ngờ cậu lại viết được báo làm được văn hay ra trò nhỉ.


- Âu cũng là do cái thời vận ngày ấy, cấp trên lo sợ bố tôi, lo sợ luôn cả tôi phản bội nên đã phải đưa tôi lên trại tăng gia trên rừng. Chị không thể tưởng tượng nổi đêm đêm nằm trong cái lán tranh giữa rừng nó buồn đến mức nào đâu. Ai vào hoàn cảnh ấy không có tâm trạng gì mới là lạ. Nếu chiến tranh còn kéo dài, tôi có thể viết cả cuốn tiểu thuyết, hoặc trở thành người rừng.


- Cũng may mà cấp trên luôn nhìn xa trông rộng giữ gìn cho cậu, nếu không cách ly cậu ngày ấy chắc gì cậu được như ngày nay. Tôi biết, thường những người có chút máu văn chương là lập trường chông chênh lắm. Tôi còn lạ gì tư tưởng yêú đuối tiểu tư sản của cậu. Cậu làm sao có được tính kiên gan như cha cậu. Cậu về đây từ một giờ chiều đến giờ mà vẫn mê mết ở trong phòng cô Thương Huyền. Nếu tôi không gọi cậu, chắc cậu ngủ luôn ở đó đến sáng mai chắc. Cậu nên nhớ cậu đã có vợ.


- Cảm ơn chị Thu Cúc đã nhắc nhở.


- Tôi giữ là giữ cho cậu thôi. Vừa qua cha cậu đã cho chúng tôi bài học quý giá về sự đề cao cảnh giác đối với những âm mưu thâm độc của bọn phản cách mạng. Cậu nên nhớ, để giành được nền độc lập chúng ta đã phải đổ bao xương máu.


- Tôi hiểu, thưa chị Thu Cúc


- Vậy từ nay xin đồng chí chấm dứt mọi quan hệ với Thương Huyền.


- Chị thông cảm, cháu Ngọc Lan là con gái tôi.


- Cho dù Ngọc Lan là con cậu thì Thương Huyền vẫn không thể là vợ cậu. Cậu tưởng cậu nhận con Ngọc Lan, và nhận luôn cả mẹ nó chắc. Mà sao cậu cứ tự làm mất nhân cách của cậu. Cậu đang có một gia đình ấm êm, cha thì anh hùng lừng danh khắp thiên hạ, vợ thì làm chủ tịch xã, thế mà cậu không biết giữ gìn cho họ. Với lại tôi nói cho cậu biết, bằng chứng đâu cậu nhận con Ngọc Lan là con. Cậu tưởng cứ thích là nhận cha con được sao?


- Thì tôi nhận cháu là con nuôi.


- Ai cho phép cậu nhận con nuôi. Cậu đang còn có vợ cậu, gia đình bố mẹ cậu. Nhận con nuôi cũng phải có phép tắc thủ tục đơn từ hồ sơ lý lịch, chính quyền gia đình cha mẹ vợ cậu đồng ý chứ đâu nhận bừa mà được sao. Cái cậu này cũng rõ là nông nổi.


Lời phán quyết của chị Thu Cúc khiến đầu óc Nam cứ căng ra từng sợi mong manh- một bên là nỗi kinh sợ chị Thu Cúc, bên là lòng yêu quý Thương Huyền. Những người lạnh lùng như chị Thu Cúc cũng rất cần trong chiến tranh, nhưng trong cuộc sống hiện nay có những người lãnh đạo như chị Thu Cúc thì cuộc sống này thật đáng sợ. Ngồi trước Thương Huyền thấy yên bình bao nhiêu, đứng trước chị Thu Cúc thấy toàn những hoài nghi hiểm hoạ. Sự đề phòng cảnh giác cao độ luôn thường trực từng giây từng phút không ngơi nghỉ, chuyện gì chị Thu Cúc cũng có thể nâng quan điểm lập trường giai cấp. Tuy chế độ Nguỵ đã bị tiêu diêt, nền kinh tế tư bản tư nhân đã suy sụp, tài sản nhà thương gia Đức Cường đã quốc hữu hoá hết, nhưng chị Thu cúc vẫn nhìn Thương Huyền như một loài độc dược, ai động vào sẽ chết. Còn anh Đức Thịnh, chị Thu Cúc vẫn luôn cảnh giác có ngày anh nổi loạn, phần tử như anh là mầm hoạ nằm sâu trong lòng đất, chờ gió mưa là đâm chồi nảy lộc . Dinh thự Thu Cúc Vàng lúc này như một căn hầm cố thủ, chị sẵn sàng nổ súng vào bất kỳ kẻ nào làm trái ý chị. Chị không chịu nổi ánh mắt sâu thăm thẳm của Thương Huyền nhìn chị đầy ẩn ý. Chị vẫn nhìn Thương Huyền như loại gái nhảy trong sở Mỹ quen ăn trắng mặc trơn, lười lao động, sống thác loạn không chí hướng. Mặt chị Thu Cúc đanh lại, giọng rít lên nhìn Hoàng Kỳ Nam mỉa mai:


- Tôi nói để cậu biết, cô ấy đã một thời làm gái nhẩy ăn trắng mặc trơn quen rồi, dính đến lao động là ngán ngẩm, lên vùng kinh tế không chịu nổi đã bỏ về. Giờ chỉ nằm ngóng đứa con lai của bọn đế quốc sài lang bên Mỹ gửi tiền về. Còn cậu Thịnh nữa, cũng phải đề phòng canh chừng cậu ta hồi này hay tụ vạ với những phần tử nguỵ quân nguỵ quyền đi cải tạo về vẫn không chịu giác ngộ nuôi âm mưu chống đối lật đổ chính quyền. Thật là chẳng còn biết phân biệt tốt xấu thì nguy.


Má chị Thu Cúc mang vào đĩa trái cây chín đủ loại chôm chôm, soài, nhãn đặt lên bàn.


- Trái cây chín tôi thắp hương ông bà Đức Cường xong rồi, mời cậu Nam hưởng lộc.


- Đấy cậu thấy, ngay đến cả má tôi dạo rầy cũng mụ mị, ngày nào cũng hương khói trên bàn thờ ông bà Đức Cường. Không tin Đảng, tin chính quyền cách mạng, lại mê muội tin vào thần thánh. Chị Thu Cúc được dịp trút cơn giận, má đã hầu hạ người ta cả đời chưa đủ khổ sao? Giờ má lại còn cầu mong cho giai cầp tư sản sống lại để được làm nô lệ nữa sao?


- Con ơi là con, sao con lại ăn nói bạc lòng đến vậy. Mắt má chị Thu cúc tối lại, cố nén giận, ai chả biết có được ngày nay là nhờ vào chính quyền cách mạng, nhưng cách mạng thành công cũng một phần nhờ vào những người như ông bà Đức Cường đây con ạ. Con phải nên biết, đời má con mình nếu không được ông bà Đức cường che chở bao năm thì chắc chi còn sống được đến ngày nay.


- Má nói năng mất cả lập trường, không phân biệt đâu là giai cấp bóc lột, đâu là giai cấp bị bóc lột. Rõ là mình bị bóc lột cả đời mà vẫn không biết mình bị bóc lột. Bi kịch...bi kịch...Thôi tôi chỉ nói thế, cậu liệu đấy mà giữ gìn. Tối nay cậu ở đây bảo má tôi mở cửa phòng khách trên lầu để cậu ngủ. Vợ chồng tôi tối nay còn bận cuộc họp không ở nhà tiếp cậu được, mong cậu thông cảm.


Chị Thu Cúc đứng dậy bước lên lầu. Căn phòng lặng đi. Má chị Thu Cúc vào ngồi xuống cạnh Nam an ủi:


- Cậu thông cảm, suốt ngày bận rộn công việc, tính tình chị Thu Cúc nóng nảy, đến như tôi là má đẻ mà cũng có bao giờ được nghe lời ngon ngọt. Cũng may từ ngày lấy chồng, chị ấy thoái mái hơn nhiều đấy, chứ như trước mà thấy cậu ở trong phòng cô Thương Huyền, chị ấy đã gọi du kích bắt trói cậu giải đi rồi.


- Khiếp quá, Chị ấy cứ làm như cháu với Thương Huyền đang hoạt động gián điệp không bằng.


- Cậu thì đi một lẽ, nhưng cô Thương Huyền rõ ràng cũng dính dáng nhiều đến kẻ thù cậu không biết sao. Dù sao cũng cần đề phòng. Cậu đã nghe cô ấy nói tới tay Hall người Mỹ đang muốn cả hai má con cô ấy sang Mỹ đấy thôi.


Chị Thu Cúc từ trên lầu cắp cặp bước xuống.


- Vợ chồng con bữa nay không ăn cơm tối ở nhà, má và cậu Nam ở nhà ăn cơm vui vẻ nghe.


Chị Thu Cúc đưa tay xem giờ, vội bước xuống bậc tam cấp thì chiếc xe mầu đen bóng của chị đã kịp đỗ xịch ngoài cổng đón chị.


- Má ngồi tiếp cậu Nam giúp con, con phải đi ngay bây chừ.


 Chị Thu Cúc vừa ra xe thì anh Đức Thịnh lọc cọc lạng gỗ bước vào nói:


- Nhân tiện có Cậu Nam về, tôi bảo hai má con cháu Ngọc Lan nấu cơm, mời u và cậu Nam sang ăn cơm cho vui.


- Chị Thu Cúc dặn tôi phải nấu cơm tiếp cậu Nam, Cậu Thịnh làm tôi khó xử quá, chị Thu Cúc mà biết thì rầy to. Nhưng thôi, cậu Nam cứ sang đấy ăn cơm rồi về bên ni nghỉ sớm, đừng để chị Thu Cúc biết là được.


Bữa cơm hiếm hoi này có canh cá lóc, cua biển, thịt heo rán, con Ngọc Lan đi chợ mua về. Anh Đức Thịnh mang sang mấy lon bia và lon nước ngọt. Nam cảm nhận rõ được tình cảm của hai mẹ con Thương Huyền và anh Đức Thịnh dành cho Nam trong bữa cơm ấm áp này. Trong niềm vui xốn xang, Nam vẫn nhận ra nét buồn chơi vơi của Thương Huyền và sự mặc cảm đáng thương của anh Thịnh. Phải là người trong cuộc mới hiểu rõ tâm trạng Thương Huyền. Từ một tiểu thư cành vàng lá ngọc bỗng nhiên trở thành con mồi của mọi âm mưu toan tính nghiệt ngã xô đẩy Thương Huyền rơi vào hoàn cảnh trớ trêu. Nam hiểu hơn ai hết chiến tranh đã chôn vùi cướp đi bao khát vọng mơ ước của một sinh viên văn khoa Sài Gòn nổi tiếng một thời như Thương Huyền.


Chỉ có Ngọc Lan là vô tư, nó líu ríu hỏi Nam đủ chuyện. Nam chăm chú nhìn kỹ gương mặt nó có nét nào giống Vương. Nó đúng là con gái Vương, tuy khuôn mặt hoàn toàn giống mẹ nhưng cặp mắt sáng, hơi đượm buồn kia là của Vương. Anh Thịnh luôn tiếp bia cho Nam. Mặt đỏ lựng men bia, anh Thịnh chân tình nói:


- Bữa nay thì tôi nói thiệt, ba má tôi và Thương Huyền có phần nào chưa tin, nhưng riêng tôi, ngay từ lần đầu tiên cậu Nam xuống hầm băng rửa vết thương cho tôi là tôi biềt cậu là người tốt. Chả phải tôi nịnh cậu, nhưng người tốt nhìn là biết liền. Cậu uống đi, bữa nay cậu phải uống hết mình với anh em tôi. Ba má tôi mất rồi, anh em tôi và cháu Ngọc Lan trông cậy vào cậu. Tôi thông cảm, hiểu rõ hoàn cảnh của cậu còn nhiều ràng buộc về gia đình, xã hội, công danh sự nghiệp, nhưng tôi chỉ mong cậu nghĩ tới cái tình với chúng tôi.


Nam cảm động trước tấm lòng thiệt tình của anh Thịnh. Anh đưa tay với chiếc nạng gỗ đứng dậy ngất ngư, giọng đầy hưng phấn nói trong cơn say.


- Con Ngọc Lan ăn xong rồi, dìu bác về nào. Mang cả sách vở sang phòng bác mà học để cho ba mà cháu nói chuyện. Bao năm nay ba má cháu không được gặp nhau. Ôi, một đời người chỉ mấy lần gặp nhau...


Nam và Thương Huyền ngồi lặng nhìn hai bác cháu Ngọc Lan loạng choạng dắt dìu nhau bước ra cửa. Vườn cây trước nhà che mờ bóng trăng. Bác Thịnh khua chiếc nạng vào bóng tối thậm thọt bước theo con Ngọc Lan ra cửa. Nam và Thương Huyền bước ra khu vườn cây lúc chiều Nam đã ngẩn ngơ trước cảnh hoang lạnh của nó. Hàng ghế đá im lìm phủ đầy lá khô. Bên kia khu vườn là dòng sông êm đềm. Trăng loang loáng nhào lặn  lúc ẩn hiện lúc lửng lơ đáy nước. Tiếng máy con tầu phành phành chạy xuôi rền vang mặt sông trong chốc lát rồi không gian lại lặng đi. Bước chân Thương Huyền bối rối, Nam nghe như tiếng dòng sông rì rào với vầng trăng đáy nước. Nam nắm chặt bàn tay Thương Huyền cảm nhận hạnh phúc tràn đầy như dòng sông đang trôi âm thầm kia. Thương Huyền lúc này là Vầng trăng trong vời vợi. Vầng trăng ấm áp lạ lùng mà bóng đêm như quỷ dữ luôn rình rập cuộc đời Thương Huyền.


- Bao năm nay em mới lại có những giây phút này.


Tiếng Thương Huyền nhỏ nhẹ như hơi thở bên tai Nam. Một cơn gió mơn man lan toả mùi thơm của mái tóc, mùi thơm thân thể Thương Huyền. Đã bao lần Nam muốn nói ra sự thực về Ngọc Lan không phải là con anh, nhưng đứng trước Thương Huyền anh không sao nói được. Bất chợt Thương Huyền nắm chặt lấy bàn tay Nam kéo amh vào lòng.


- Em biết giữa anh và em là một vực sâu ngăn cách qua lớn, không sao lấp đầy. Anh yên tâm đừng lo cho em. Em sẽ không gục ngã đâu. Em đã có con Ngọc Lan, nó là cả cuộc đời em.


Có tiếng lá khô lạo xạo vỡ vụn trong mảnh vườn phía tây. Dưới lùm sầu riêng lấp ló bóng người thoắt ẩn thoắt hiện chập chờn như bóng ma. Bất ngờ cái bóng lao thẳng tới đứng sững trước mặt Nam và Thương Huyền. Vẫn cái giọng quan toà của chị Thu Cúc:


- Các người làm cái trò hay ho nhỉ, không còn coi ai ra gì. Cái bóng nói, cậu Nam về phòng khách ngay, tôi có chuyện muốn nói với cậu. Còn cô Thương Huyền thật quá thể, người ta đã có vợ mà còn cố tình đem thân xác nhơ nhuốc của mình vấy bẩn mà không biết xấu hổ.


Thương Huyền lao ra khỏi lùm cây. Nam vùng chạy đuổi theo Thương Huyền ra bờ sông. Nam nhìn bóng Thương Huyền chao đảo dưới trăng. Tiếng Nam gọi Thương Huyền âm vang mãi tận trời cao. Bóng trăng trên dòng sông vỡ ra từng mảnh vụn ngập chìm trong nước. Bầu trời đêm ngàn vạn ngôi sao nhấp nháy. Ngàn vạn ngôi sao kia cũng giống ngàn vạn ngôi sao của dân làng Đoài thả lên trên bầu trời từ ngàn đời nay.


- Thương Huyền ơi! Không việc gì em phải sợ. Nam vừa gọi vừa chạy. Trên bầu trời ngàn vạn ngôi sao đang chaý rực lên. Nam chạy như bay lên. Và xa xa cái bóng Thương Huyền cũng bay lên chấp chới...


Sáng hôm sau chiếc xe zep của bố Hoàng Kỳ Nam đã đỗ trước cổng dinh thự Hoa Cúc Vàng rúc lên hồi còi tu tu. Đại Tá Hoàng Kỳ Trung từ trong xe bước ra với vẻ mặt giận dữ. 


- Báo cáo đồng chí đại tá, chị Thu Cúc trịnh trọng, tôi xin trao trả Hoàng Kỳ Nam cho đồng chí xử lý.


Nam chào má chị Thu Cúc khoác ba lô bước lên xe. Chị Thu Cúc bắt tay đại tá Hoàng Kỳ Trung.


- Tôi đã làm tròn nhiệm vụ đồng chí giao. Chị Thu Cúc nghiêm mặt nhìn đại tá Hoàng Kỳ Trung.


Chiếc xe đưa hai cha con Hoàng Kỳ Nam lao ra khỏi cổng. Từ ô cửa căn nhà phía tây, hai má con Thương Huyền đứng ngẩn ngơ nhìn hút theo làn khói xe cuộn lên. Trên bậc tam cấp gian nhà phía đông bóng anh Đức Thịnh chơ vơ bên chiếc nạng gỗ ngơ ngẩn nhìn ra dòng sông. Ngoài cổng tiếng còi xe toe toe, chị Thu Cúc nhìn đồng hồ, xách cặp đứng chờ chiếc xe lao vào sân đón chị. Chiếc xe lượn một vòng quay đầu lao vút ra khỏi cổng. Má chị Thu Cúc bước những bước chân run rẩy với tay kéo hai cánh cổng khép lại. Suốt cuộc đời người đàn bà như má chị Thu Cúc đã đóng- mở hai cánh cổng này không biết bao nhiêu lần, nhưng từ bữa đưa tang hai ông bà Đức Cường, mỗi lần nghe tiếng hai cánh cổng rít lên, bà lại thấy rờn rợn. Bà chính là người cảm nhận rõ mọi điều xảy ra trong dinh thự này. Bà đóng kín hai cánh cổng dinh thự và muốn đóng kín nỗi suy tư trong lòng bà.


 


 


 


CHƯƠNG 25. Những tấm hình


 


 


Đối với Kinh ngoài nàng Mai, chẳng có miền đất nào cuốn hút Kinh. Nàng Mai đã bỏ Kinh mà đi, Kinh muốn ra đi tìm nàng Mai. Kinh sống ở đất này mà không có nàng Mai thì chẳng còn ý nghĩa gì. Thằng Lợi trong tổ bốc vác của Kinh chẳng hiểu sao nó lại đọc rõ ý nghĩ của Kinh, nó bảo Kinh có muốn đi Hồng Kông thì đi với nó, nó có cách đi vừa an toàn lại chẳng tốn kém gì. Nó bảo chỉ cần sang được Hồng Kông, sau đó đi nước nào cũng dễ. Trong suốt thời gian làm cửu vạn trên cảng, nó tỏ ra thông thạo mọi chuyện. Nó đã để ý lịch trình của những con tầu mang quốc tịch Panama, Hồng Kông ra vào cảng thường xuyên. Chỉ cần biết đích xác giờ tầu rời bến, trữ sẵn bánh mì và nước uống mang xuống tàu, hết ca chui tọt xuống hầm neo nằm chờ tới giờ tàu rời bến.


Thống nhất được với Đào Kinh ý đồ chạy trốn đi tìm miền đất hứa, thằng Lợi tính toán như thần, đúng vào buổi nó và Kinh đi cùng ca, nó đã chuẩn bị đầy đủ mọi thứ cho chuyến đi.


- Quan trọng nhất là bánh mỳ, nước uống và túi ni nông đựng phân. Thằng Lợi nói, trong hầm tầu buồn đại tiểu tiện mà để mùi bay ra là lộ hết mọi chuyện. Vào đầu ca, vừa bước xuống hầm hàng thằng Lợi đã phán, trời phù hộ mình rồi, trông lượng hàng trong hầm tầu, mình chỉ làm tới ba giờ đêm là xong.


Theo lịch trình tám giờ sáng mai tầu rời bến. Lúc giải lao, thằng Lợi mò vào bếp thuyền viên ăn cắp được hai hộp thịt và một gói bơ dúi cho Kinh.


- Mẹ kiếp, qua mặt bọn bảo vệ nhà mình trên bến mới khó chứ lũ thuỷ thủ trên tầu này ngu như lợn. Thằng Lợi thì thào. Khi nào làm xong hàng mày lên trụ cẩu hầm mũi đợi tao. Giờ này chẳng ma nào mò lên đó đâu.


Kinh như cái máy làm theo sự sai khiến của thằng Lợi. Kinh gói mọi thứ vào chiếc áo bảo hộ mang lên mũi tầu ngồi đợi thằng Lợi. Cánh cửu vạn làm xong hàng nằm vạ vật ngủ trên boong chờ ca nô trong bờ ra đón. Đêm vắng lặng, nghe gió reo reo, những con sóng xô vào mạn tầu lép bép. Đúng theo dự tính của thằng Lợi, trong lúc bọn thuỷ thủ mải mê đóng nắp hầm hàng thì thằng Lợi bước tới kéo Kinh chui vào hầm neo. Hầm neo tối như hũ nút cách biệt với bên ngoài. Mùi tanh nồng nặc của rỉ sắt lẫn mùi sơn chống hà hăng hắc xộc lên khó chịu. Dù sao mọi chuyện diễn ra êm thấm. Quá căng thẳng trong suốt một ngày lo tính, cả Kinh và thằng Lợi đều thấm mệt ngủ thiếp đi. Trong giấc ngủ, Kinh mơ gặp được nàng Mai. Nàng Mai đã xúc động ôm riết lấy Kinh khóc nức nở. Đang trong cơn xúc động, Kinh choàng tỉnh bởi tiếng nổ rầm rầm của máy tời neo. Vậy là đã đến giờ tầu rời bến. Tiếng dây neo xủng xoảng tời những mắt nỉn chất thành đốn trước mắt Đào Kinh. Chẳng bao lâu nữa con tầu này sẽ đưa Kinh và thằng Lợi sang Hồng Kông, một đất nước tự do trong khát vọng của bao người. Con tầu rời bến nghe rõ tiếng chân vịt cuộn sôi trong nước. Tiếng sóng đập vào thân tầu ầm ào. Ra tới biển xa, con tầu ngả nghiêng. Mới chừng hơn một giờ trên biển, thằng Lợi đã nôn ra mật xanh mật vàng. Trên bờ thằng Lợi khoẻ mạnh nhanh nhẹn vậy mà lại không chịu được sóng. Suốt thời gian tầu hành trình thằng Lợi nằm ngủ mê mệt không còn nhận biết gì. Kinh không say sóng nên cảm nhận rõ nỗi cô đơn một mình trong hầm tối giữa mênh mông biển cả thấp thỏm hồi hộp chờ đợi giờ phút con tầu cập bến. Thời gian cứ trôi đi, số phận Kinh cũng đang trôi đi về đâu? Con tầu đã hành trình qua một ngày một đêm. Theo tính toán của thằng Lợi thì tầu sắp về tới Hồng Kông. Và những gì đến đã đến, tiếng còi tầu chợt rú lên ba hồi dài báo hiệu tầu cập bến. Kinh choàng dậy gọi thằng Lợi. Thằng lợi vẫn trong cơn say lả, Kinh phải véo vào đùi nó một cái rõ đau nó mới tỉnh.


- Đến Hồng Kông rồi, tự do muôn năm! Kinh reo lên khe khẽ. Thằng Lợi lười nhác vì say sóng.


- Mấy giờ rồi? Thằng lợi hỏi.


- Đã hơn sáu giờ sáng. Kinh nhìn đồng hồ nói.


- Thế thi còn phải nằm đây mười hai tiếng nữa chờ trời tối mới rời tầu được. Cứ ngủ cho khoẻ, đêm nay là đêm quyết định số phận may rủi của cánh mình đấy.


Suốt mười hai tiếng chờ đợi, cả Kinh và thằng Lợi không sao ngủ được, nó bàn tính đường đi nước bước cho tương lai.


- Bằng mọi giá phải sang được nước thứ ba, Canada hay Anh Quốc là tốt nhất. Mẹ kiếp làm thằng đàn ông mà không bay nhảy thì phí một đời trai. Phải đi cho biết đó biết đây, cứ ru rú ở xứ mình không biết đến bao giờ mở mặt ra được. Tới Hồng Kông rồi, mọi chuyện ông phải nghe tôi, tìm người tình chỉ là chuyện vặt, phải nghĩ đến tương lai lâu dài. Ông mà đắm đuối với đàn bà thì chẳng làm nên trò trống gì đâu...


Nhìn đồng hồ đã quá bẩy giờ tối, Kinh và thằng Lợi hí hửng chui ra khỏi hầm neo lần tìm đường lên bờ. Biết chắc không thể lên bờ theo đường cầu cảng bởi sự kiểm tra nghiêm ngặt của biên phòng và hải quan, Kinh và Lợi phải cởi quần áo cho vào túi ni nông buộc vào cổ bám theo đường dây neo tụt xuỗng nước.


- Mẹ kiếp nằm mãi giờ được tắm cái cũng sướng. Thằng Lợi nói. Xuống nước ông phải bám theo tôi không lạc đấy.


Lợi ôm bọc quần áo tụt xuống trước, Kinh bám vào nỉn neo tụt xuống theo. Nước mát lạnh, Kinh và Lợi bơi theo dòng chảy hết khu vực cảng thì vào bờ. Đêm vắng lặng, mùi cá tanh nồng.


- Hình như đây là một cái bến cá, an toàn rồi, Lợi thì thầm, coi như mình đi tắm đêm ha ha...


Lợi và Kinh khấp khởi lóp ngóp bò lên bờ ngồi thở chờ cho khô người rồi  mặc quần áo.


- Phải mò vào quán nào làm bát phở bồi dưỡng cho khoẻ. Lợi nói, có tiền đô đây rồi. Mẹ kiếp, nếm mùi phở Hồng Kông xem sao.


Kinh và thằng Lợi háo hức đi theo lối nhỏ từ bờ sông vào một khu phố lớn điện sáng trưng, người xe rầm rập. Nhìn những dãy nhà cao tầng, những biển hiệu trước các cửa hàng, các cơ quan công sở, cả Kinh và thằng Lợi ngỡ ngàng nhận ra nơi đây không phải Hồng Kông mà là Thành phố Hồ Chí Minh. Thằng Lợi rú lên như kẻ điên khùng. Bao công sức tính toán cho chuyến vượt biên uổng phí. Bao hi vọng tan biến trong tích tắc. Vừa uất ức lại vừa buồn cười, Đào Kinh và thằng Lợi lang thang cả tháng mới mò về đến nhà thì mất việc làm. Mất việc làm, mất cơ hội trốn theo đường tàu biển.


Mất việc làm, trong khi dân tình lại nhớn nháo tìm đường bỏ xứ ra đi, Đào Kinh nảy ra ý định tổ chức cho người trốn đi bằng đường biển. Kinh không hiểu những kẻ đói khát muốn ra đi tìm đường kiếm ăn đã đành, nhiều kẻ giàu có cũng đi, công chức nhà nước cũng đi, kẻ lại trốn vợ, bỏ chồng ra đi. Có kẻ đi một lần không thoát vào trại cải tạo ít ngày được tha lại đi tiếp. Có kẻ đi bị đắm tàu thoát chết, vừa về tới đất liền lại tiếp tục ra đi. Phố xá xao xác, người người ngơ ngác nhìn nhau lo âu. Qua một đêm, sáng mở mắt ra đã lại có tin mới giật gân, anh này chị nọ trốn vợ bỏ chồng ra đi...


Kinh đi dọc phố. Mưa lất phất bay xiên xiên dưới ánh sáng đỏ quạch của ngọn đèn đường lắt lay trong đêm thu. Trời se lạnh, Kinh rẽ vào con đường phố núi âm u. Lần đầu tiên trong đời, Kinh tự quyết định làm một việc hệ trọng. Lâu nay Đào Kinh chỉ thụ động làm theo người khác, ai sai bảo làm gì cũng làm cốt có cái đút miệng. Suy cho cùng, sướng nhất vẫn là cái thời Kinh chưa lấy vợ làm thuê cho ông bà Hoàng Kỳ Bắc, ngày đi làm tối về ngủ khò chẳng lo lắng gì. Khi lấy vợ, Kinh bắt đầu bị nàng Cam sai khiến đủ đường. Từ giặt áo quần đến việc lên giường cũng bị vợ bắt la bắt lét. Những ngày oai hùng nhất và đắng cay nhất chính là những ngày làm đồ đệ cho Trần Tăng để cuối cùng phải bỏ làng Đoài, bỏ nàng Cam Quýt Mít Dừa đi theo nàng Mai thuyền chuối. Ngỡ cuộc đời đã gặp may, ai ngờ nàng Mai cũng lại bỏ Kinh mà đi. Kinh phải bơ vơ mãi trên cái thị xã lai tạp đủ loại người tứ xứ thập phương đến lập nghiệp. Để có được cuộc sống tự do, từ nay Kinh phải tự lập, quyết không trông chờ phụ thuộc vào người khác, không tin vào bất kỳ ai. Đến như Trần Tăng, Kinh tận trung  thế, khi thất cơ lỡ vận đến cầu cứu hắn cho Kinh cái giấy phép để ra biên giới tìm kiếm nàng Mai mà y lại lạnh lùng từ chối. Đời chó má đến thế là cùng. Còn con Măng, cho dù Kinh đã có công nuôi nó, nhưng cũng chẳng hy vọng ở nó điều gì. Rồi nó cũng giống tính thằng bố Trần Tăng nó, bạc như vôi. Hơn bao giờ hết, phải tự quyết lấy cuộc sống của mình...Kinh rẽ vào con đường phố núi. Bóng núi thâm u đen sẫm chìm sâu bên bờ vịnh. Trời tối, Kinh chỉ nghe lép bép tiếng sóng vỗ vào vách núi ánh lên những đốm sáng lân tinh. Xa xa ngoài vịnh biển, ánh sáng của những con tàu từ mọi phương trời xa lạ nào đó đến neo đậu bốc dỡ hàng thâu đêm suốt sáng. Suốt thời gian làm cửu vạn trên tầu, Đào Kinh đã hiểu phần nào cuộc sống nơi này. Những con tầu kia đến rồi lại đi, ngày ngày tháng tháng cứ gieo vào mảnh đất này những lối sống khác thường- theo cách gọi của tầng lớp thị dân đó là thế giới tự do. Cái thế giới tự do ấy, lúc đầu chỉ bó hẹp trong các con tàu neo quanh vịnh, sau được mở rộng ra trong các khách sạn, nhà hàng cung ứng tầu biển dành riêng cho thủy thủ nước ngoài vui chơi giải trí. Không ngờ cái thị xã nghèo lấm láp bụi đất này lại được tiếp xúc sớm với nền văn minh của thế giới tự do. Nhờ có con Măng quan hệ rộng mới xin cho Kinh vào được cơ quan cảng làm cửu vạn- cái nghề tuy vất vả nhưng được tiếp xúc với thủy thủ nước ngoài cũng khoái. Kinh biết được đủ chuyện làm ăn mánh khóe của bọn cửu vạn, chủ hàng, nhân viên kiểm kiện. Cánh thủy thủ quanh năm lênh đênh trên biển, mắt hau háu nhìn mấy nàng kiểm kiện là tìm mọi cách mua chuộc gạ gẫm tán tỉnh. Các cô gái cũng đầy ham hố không bỏ lỡ cơ hội lúng liếng đưa tình. Có cô giả vờ đi uống nước trốn biên phòng chui vào buồng thủy thủ cho nó sờ ty một cái cũng kiếm vài gói mì chính hoặc mấy cục xà phòng Camay hay thuốc xịt hôi nách. Có cô còn học được dăm ba câu tiếng bồi, chài được thằng da trắng mũi lõ liều thân chớp nhoáng trong phòng ngủ hay trong toa lét cũng được một trăm đô, bằng lương đi làm cả tháng. Thời buổi khó khăn đói khát như Kinh, mỗi ca đi làm tàu, ăn cắp được vài ba cân gạo cân đường nhồi vào ống quần lót qua mặt bảo vệ, cũng đủ tiền cho con ăn học hoặc bán lấy tiền mua thuốc lá hay tặng cho các cô gái làng chơi vật vờ trên các xà lan đổi lấy niềm vui chốc lát. Những kẻ khôn hơn thì nhao xuống tàu mua bán những thứ dân mình không có như dầu cá, xích líp xe đạp Nhật. Nhưng tay có vốn lớn thì buôn tivi, tủ lạnh, quạt điện, xe máy nồi cơm điện đầu quay băng quay đĩa. Toàn những đồ tư bản giá trị tính bằng vàng, ngoại tệ. Bộ mặt thị xã đổi thay từng ngày. Trên phố đã xuất hiện những chiếc xe máy Nhật đời 79 thay thế xe Bavecta. Thanh niên mặc quần bò thun, áo lông Nhật màu cứt ngựa là mốt nhất. Những nhà có tiền, nhìn xa trông rộng thì góp vốn mua thuyền trốn sang Hồng Kông, Anh Quốc tìm miền đất hứa.


Kinh bám vào vách đá men theo con đường nhỏ dẫn vào khe núi hẹp chỉ vừa một người lách qua. Tới giờ hẹn, Kinh bật lửa làm ám hiệu. Ánh lửa lóe sáng, Kinh nhìn rõ vách đá đứng sững cao ngất tầng trời cứ như thể mình đang ở dưới ba tầng địa ngục. Dưới chân vách núi, có một con đường vòng vào một cái hang sâu hun hút trong lòng núi. Kinh đứng tựa vào vách núi thấy cả một khoảng mênh mông đen đặc nghe rõ tiếng dơi vỗ cánh rào rào, tiếng gió âm u không biết từ hướng nào thổi đến. Trong khoảng không mờ ảo không nhận ra lối đi, Kinh có cảm giác rờn rợn. Từ xa chợt có ánh đèn loé sáng loang loáng, tiếng bước chân lạo xạo, một người đàn ông xuất hiện ra hiệu cho Kinh đi theo anh ta vào một cái hang rộng thâm u. Mọi người trong hang đang ngong ngóng chờ Kinh. Qua ánh sáng đèn pin, vẻ mặt người nào cũng căng thẳng. Theo quy định nghiêm ngặt từ trước, tất cả mọi người chỉ được mang theo một túi xách nhỏ đựng quần áo. Lương thực, thực phẩm đã được chuyển xuống tàu từ trước. Không ai nói lời nào, nhưng ai cũng nhận ra giây phút này là giây phút quan trọng nhất trong chuyến đi đầy gian nan tìm miền đất hứa.


Giờ R đã đến- giờ khắc quyết định đổi thay số phận từng người. Thuyền trưởng khoác chiếc áo măng tô màu đen, đầu đội mũ phớt, tay cầm đèn pin, nói giọng người vùng biển với dáng vẻ tự tin ra lệnh xuất phát. Đoàn người lặng lẽ dìu dắt nhau đi từng tốp ra cửa hang.


Đào Kinh là nhân vật quan trọng trong có nhiệm vụ dẫn đường đưa được đoàn ngươi xuống tầu ra phao số 0 an toàn thì sẽ được quay về. Trước khi ra đây, Kinh đã cho cậu Tráng đưa thuyền ra khu vực phao 0 đón Kinh quay trở về. Con đường từ trong hang ra lúc này phải leo ngược lên cao rồi tụt dần xuống chân núi lần theo vách đá mới ra được bờ vịnh. Một con tàu đã đợi sẵn để đón đoàn người ra đi. Con tàu này thuộc loại tầu đánh cá Kinh mua lại của số người Hoa bỏ về nước nó có khả năng chịu sóng gió cấp bảy. Kinh dẫn đầu đoàn người lên tàu vào trong khoang lái quan sát lại một lần nữa địa hình luồng lạch. Nơi đây giống như một cái hồ nhỏ trên vịnh biển, xung quanh  núi non bao kín chỉ có một lối nhỏ đủ đê con tàu ra vào. Mặt nước im phắc không một gợn sóng. Nước và núi hòa thành một màu đen sẫm. Trên cao, một khoảng trời mờ sẫm lất phất mưa. Từng tốp người dò dẫm dắt díu âm thầm nung nấu trong lòng một mơ ước khát khao đi tìm một chân trời mới. Mỗi số phận trong đám hỗn mang kia đều có một hoàn cảnh riêng, nhưng tất cả sẽ cùng chung một số phận nếu không may tàu bị bắt hoặc bị đắm làm mồi cho cá. Thuyền trưởng là người bước lên tàu sau cùng, ông bước thật nhanh trên boong tàu lạnh lùng. Sinh mệnh bảy chục con người trong khoang tàu nằm trong tay ông. Ông nhấn chuông báo hiệu nổ máy. Tiếng máy rùng rùng, con tàu lừ lừ chui ra khỏi khe núi lao vào màn đêm trên vịnh biển theo sự chỉ dẫn của Đào Kinh. Theo kế hoạch, Kinh phải dẫn con tàu ra phao số 0. Càng ra xa sóng càng lớn, Kinh nhìn đồng hồ, tàu đã chạy được hơn một giờ. Kinh nhìn trong khoang tàu, những thân người âm thầm rũ rượi ngất ngư theo sóng biển. Đàn bà trẻ em nằm ngả ngốn mệt lả đi vì say sóng. Trong biển trời bao la sâu thẳm của màn đêm, Đào Kinh nhận ra con tàu đã đến địa phận phao số 0 liền lệnh cho thuyền trưởng giảm tốc độ cho con tầu chạy chậm lại. Kinh lấy đèn phin phát tín hiệu cho Tráng đưa thuyền đến đón Kinh về bờ. Nhận được tín hiệu của Đào Kinh, Tráng phát tín hiệu trả lời bằng đèn pha quét ba lần liên tục trên biển. Chừng mười phút sau, từ trong màn đêm đã xuất hiện chiếc thuyền cưỡi sóng lao tới cập mạn con tầu. Không một ai trong số người ra đi hiểu được tâm trạng của Kinh lúc này. Đào Kinh là người duy nhất được quay về, được chứng kiến tường tận giờ khắc của bảy chục con người, bảy chục số phận gửi gắm vào biển khơi, gửi gắm vào miền đất hứa. 


Trong giây lát, Đào Kinh vừa kịp nhảy xuống thuyền thì Tráng đã ngoặt tay lái cho thuyền tách khỏi thân tầu an toàn.


- Thật là tuyệt, Đào Kinh thốt lên, ta không ngờ tay lái của cậu cũng khá đấy. Trên đường cậu ra đây có gặp đối tượng nào không?


- Báo cáo chú, cháu không chạy theo luồng tàu chính nên không gặp  lực lượng tuần tra kiểm soát nào.


- Vậy là tốt, cả đêm tớ thức trắng rồi, cậu cầm lái để tớ chợp mắt một chút.


- Chú cứ ngủ khi nào tới bến cháu gọi.


Kinh nằm xuống cạnh Tráng nhưng mãi vẫn không sao ngủ được. Trong sâu thẳm Kinh vẫn lo cho số phận những kẻ chạy trốn liệu có được an toàn. Trằn trọc mãi, khi vừa chợp mắt được thì thuyền đã về tới bờ. Mặt trời đã vượt qua ngọn núi đá xanh, nơi đêm qua đã xảy ra cuộc vượt biển lớn chưa từng có. Đoàn người ra đi giờ này chắc đã tới hải phận quốc tế.


Suốt đêm thức trắng, về tới nhà Kinh ngủ một giấc rõ dài sau bao ngày vất vả toan tính. Tỉnh dậy Kinh thấy người rạo rực sung sướng vì kế hoạch đã thành công mỹ mãn. Mọi chuyện diễn ra đúng như dự tính. Kinh tiến đến đẩy nhích chiếc tủ ra một bên, cúi xuống lật hai viên gạch lát nền móc ra một gói ni lông còn nguyên vẹn. Kinh thận trọng đóng cửa chính cửa sổ kiểm lại toàn bộ số tiền và số vàng thu được trong phi vụ làm ăn vừa rồi. Cả đời Kinh chưa bao giờ có nhiều tiền, nhiều vàng như lúc này. Có tiền, có vàng Kinh sẽ thoát khỏi Trần Tăng. Trước mắt Kinh sẽ bán con thuyền cũ để đóng tàu mới. Thằng Tráng phải cho đi học lấy bằng thợ máy. Số Kinh cầm tinh loài cá Kình làm ăn phải vùng vẫy nơi sông nước mới may mắn. Kinh gói tiền và vàng giấu vào chỗ cũ rồi ra phố. Trời xế chiều, nắng thu vàng rực. Có tiền trong tay lúc này, Kinh thấy thương hại nhìn những kẻ đi lại trên đường phố kia ai cũng mang bộ mặt buồn rượi, nhăn nhó, ngây ngô và đần độn nữa. Kinh cảm nhận như cả thế gian này chỉ có mỗi mình Kinh là sung sướng nhất. Kinh bước những bước khoan thai nhìn thiên hạ. Lâu nay Kinh chưa từng để ý đến các biển hiệu sang trọng của các cửa hàng, cửa hiệu hai bên đường phố. Sấp tiền mới cứng lúc này nóng rẩy trong túi mách bảo Kinh nhìn lên tấm biển mê ca màu xanh có dòng chữ đỏ rực: Cơm Quốc Hương. Phải ăn một bữa cho ra trò. Kinh bước vào tiệm cơm Quốc Hương đầy tự tin gọi các món ăn đắt tiền nhất. Ngại phát âm tiếng nước ngoài nên Kinh chỉ vào chai rượu nom đẹp nhất trong quầy rượu. Tiệm cơm giờ này vắng khách, một mình Kinh ngồi lặng lẽ nhấp từng ly rượu ra vẻ một đại gia sành điệu trước sự kính nể của cô chủ tiệm. Càng uống, Kinh càng tỉnh và nhận ra hương vị thơm nồng của rượu. Rượu Tây có khác, hơn hẳn rượu cuốc lủi của mụ Ruốc làng Đoài chua như dấm. Chả chắc bọn lắm tiền cứ lao đầu vào chỗ sang trọng. Càng nhiều tiền càng khao khát kiếm tìm thứ ngon của lạ. Lúc này Kinh lại thấy căm thù đời, nhớ tới trận say rượu trên vó bè nhà mụ Sen về bị vợ nện cho một trận nằm quay lơ ra sân gạch.


 Cơm rượu no say, Kinh rút sấp tiền trả cô chủ tiệm. Cô nàng lúng liếng ánh mắt sắc lẹm nhìn Kinh. Kinh rạo rực nhìn nhứng ngón tay thon mềm điệu nghệ của cô chủ tiệm đếm tiền nhanh hơn máy, miệng líu ríu mời Kinh lần sau lại đến.


- Cám ơn cô chủ xinh đẹp. Kinh véo von chào cô chủ tiệm chếnh choáng bước ra đường.


 Kinh về gian phòng tập thể của thằng Hoà thì trời sập tối. Kinh gõ cửa, thằng Hoà quần đùi áo may ô ra mở cửa ngỡ ngàng nhìn Kinh.


- Mẹ kiếp ngủ sớm vậy hả? Kinh loạng choạng bước vào nhà miêng phả ra nồng nặc mùi rượu, mẹ kiếp buồn nôn quá.


Hoà lao vào phòng tắm lấy cái chậu nhựa để Kinh nôn thốc vào chậu. Đầu óc quay cuồng, Kinh đưa tay gạt tấm màn gió, nhào vào giường.


- Bố lại say rồi.


Kinh sững người nhận ra tiếng con Măng nằm trên giường thằng Hoà. .


- Hóa ra là mày sao? Đồ đĩ thoã.


Con Măng trần như nhộng vội vơ chiếc chăn quấn lên người, tay kéo tấm rèm nói vọng ra ngoài. Khuya rồi bố còn lại đây có việc gì?


- Còn mày lại đây có việc gì? Kinh nổi xung, con gái chưa chồng mà thế này đây.


Thằng Hoà chạy ra thanh minh.


- Chúng cháu yêu nhau mà chú! Chú ngồi xuống ghế đây. Chú say rồi.


- Thời buổi này rõ là loạn hết cả rồi. Đào Kinh cười hầng hậc. Nhưng mặc xác chúng mày. Cứ ngủ với nhau cho đã đời đi, cưới gả mà làm gì. Mẹ kiếp, suy cho cùng tao cũng chẳng có quyền ngăn cản chúng mày. Tao chỉ là thằng bố hờ mà thôi. Con Măng đấy a, mày cậy bố đẻ mày là thằng Trần Tăng nên coi thường ông. Mày tự hào bởi thằng Trần Tăng nó ngủ với con mẹ mày. Nhưng con mẹ mày lại là vợ tao. Vợ tao lại đẻ ra mày mà mày lại không phải là con tao. Rõ thật là lẩn quà lẩn quẩn thế nào mày lại không phải là con tao ha...ha...đời kể cũng lạ lùng. Hôm nay tao vui, đến đây lại gặp cảnh chúng mày cũng đang vui ha...ha...


- Bố! Bố say rồi. Con Măng đã mặc xong quần áo từ trong giường bước ra. Bố lên giường mà nghỉ, con về đây. Khuya rồi bố không được ra phố nữa đấy!


- Con này tử tế nhỉ, tao không say. Mẹ kiếp tao đến trả công chúng mày sòng phẳng đây. Có làm có thưởng, có tội có phạt. Trong thời gian qua chúng mày đã giúp tao khối việc. Kinh rút xấp tiền đặt lên bàn. Mẹ kiếp, không biết thế nào số mình lại may mắn vậy. Qua một đêm đã vơ khối tiền, cứ như thể có quý nhân phù trợ. Hoà ơi, tao cảm ơn mày đã mách cho tao cái mối làm ăn này qủa là tuyệt vời. Mày chỉ là thằng lái xe mà giỏi giang đáo để, xứng đáng làm chồng con Măng.


- Chú Kinh, chúng cháu không giám nhận tiền của chú.


- Vẽ, khách khí làm gì, tao còn nhiều, rất nhiều ha...ha...


Kinh chệnh choạng bước ra đường. Đường phố vắng lặng. Thiên hạ biến đi đâu hết chỉ còn mỗi mình ta ha...ha... Ai bảo mình say. Thằng Kinh này mà say á.


 


                                ***


 


Mục đích Nam về quê lần này lấy tư liệu, nắm tình hình “Hiện trạng nông thôn ngày nay” để có cơ sở làm luận văn tốt nghiệp. Từ ngày cưới vợ, chưa bao giờ Nam háo hức nằm ôm vợ như lần này. Dưới ánh đèn ngủ mầu xanh mờ ảo bao trùm căn phòng, gương mặt Tuyết có sức hút lạ kỳ bởi bộ quần áo ngủ mầu hồng lấp lánh kim tuyến. Đôi tay mềm mại điệu đà với những ngón tay khéo léo mở nút áo rất thành thạo. Thân hình Tuyết đầy gợi cảm. Tuyết ưỡn cong người lột bộ đồ ngủ, phô tấm thân trắng hồng lồ lộ đôi vú tròn đầy quyến rũ trước mắt Nam. Trong khoảnh khắc Nam lại nghĩ tới Thương Huyền. Hình bóng Thương Huyền luôn ám ảnh mỗi lần Nam nằm bên Tuyết. Hình bóng Tuyết và Thương Huyền lâu nay cứ nhập nhoà lẫn lộn. Nam mơ hồ nhận ra Tuyết chỉ như cái bóng vô hồn, còn Thương Huyền lại luôn là niềm khao khát trong tâm tưởng. Tuyết đang trong cơn hưng phấn nhưng đầu óc Nam lại vẩn vơ nghĩ tới bài luận văn tốt nghiệp về “Hiện trạng nông thôn ngày nay”


- Có rất nhiều người cho rằng hiện trạng nông thôn ngày nay đang dần bị huỷ hoại, bị mất đi cội nguồn gốc rễ, theo em nguyên nhân chủ yếu do đâu? Nam tỷ tê hỏi Tuyết.


- Do đâu á? do cái đầu của anh hư hỏng ngu đần thì đúng hơn. Làm thằng đàn ông mỗi cái việc ngủ với vợ cũng không xong còn làm được gì. Tuyết vùng lên như con hổ cái đưa hai cánh tay trần trắng ngần phũ phàng xô Nam ra khỏi giường. Nàng phát huy đúng vai trò của một chủ tịch xã đứng trên quan điểm lập trường giai cấp vô sản truy kích Nam tới tận cùng. Giọng Tuyết cay nghiệt, đúng là do cái đầu anh hư hỏng thật rồi. Ngày xưa đa phần người nông dân phải đi cày thuê cuốc mướn cho địa chủ, kiếm được bát cơm phải đổ mồ hôi sôi nước mắt. Đồng đất làng Đoài xưa đa phần là của ông bà nhà anh nên anh mới cảm thấy mất mát. Còn bây giờ người nông dân đã có ruộng cấy cày, có cơm ăn áo mặc làm sao lại bảo họ mất mát được. Từ chỗ cày cấy làm ăn riêng rẽ, giờ cả xã là một hợp tác, chỉ hồi kẻng là cả làng ra đồng, đêm đến nhà nhà điện sáng trưng. Căn cứ vào đâu anh dám bảo nông thôn đang bị huỷ hoại hả? Ba cái trò viết lách lăng nhăng loè thiên hạ của anh, anh tưởng qua được mắt tôi sao? Tôi thất vọng về anh. Bao năm trong quân đội, chẳng hiểu anh sống thế nào mà giờ vẫn lính trơn, đến cái “chính trị”cũng không có thì còn làm nên trò trống gì. Anh không bằng anh Vương nhà chú Kinh Cam, anh không bằng cái Na cái Mít mắt toét con ông Mật hoạn lợn chúng còn có chí tiến thủ biết phấn đấu vào đảng. Nghĩ mà xấu hổ cho anh...


Cô chủ tịch xã được dịp ôn lại những kiến thức cô học được trong chương trình trung cấp chính trị trên tỉnh. Thế là cái kế hoạch khai thác tư liệu từ vợ cho luận văn tốt nghiệp của Nam bị thất bại thảm hại.


 Buổi sáng âm u không nhìn thấy mặt trời. Gió cũng lặng thinh, hàng hoè ngoài ngõ im phắc nghe rõ cả tiếng ong bay vù vù lượn lờ kiếm tìm mật ngọt. Dáng anh Câm khấp khởi tay cầm tờ báo háo hức bước vào sân chằm chặp nhìn Nam. Anh Câm muốn khoe chuyện gì đó hệ trọng lắm.


- Anh Câm có chuyện gì mà vui thế? Mẹ Nam đon đả hỏi, anh Câm huơ huơ tờ báo lên trời diễn giải theo ngôn ngữ của người câm. Những động tác bí ẩn của anh Câm chỉ có cô Lùn là hiểu được. Tuyết xách cặp ngoắc vào gi đông xe đạp dắt ra ngõ lừ mắt nhìn anh Câm.


- Nhà này còn ít chuyện hay sao mà còn định sang đây hóng hớt hả anh Câm? Anh Câm ú ớ giận dữ muốn bổ nhào vào Tuyết.


- Thôi, cô đi đi, đừng gây chuyện nữa. Nam níu tay anh câm, nói với Tuyết.


- Tôi thèm gây chuyện với anh sao? Anh tưởng cái chuyện anh viết trên báo văn nghệ tỉnh ra hôm qua là hay ho lắm sao. Anh chẳng biết phân biệt lập trường giai cấp gì, lại thiếu tinh thần xây dựng, nói xấu chế độ, bôi bác chính quyền.


Tuyết dắt xe đi, cô Lùn ghé tai Nam:


- Cậu có hiểu anh Câm nói gì không? Những chuyện về cô Tuyết đến anh Câm còn biêt, cả làng đều biết, chi mỗi mình cậu vẫn không biết gì.


Anh Câm minh hoạ bằng cách ôm cổ cô Lùn khiến cô Lùn đỏ cả mặt. Cô Lùn đẩy tay anh Câm ra, giải thích hành động bất thường của anh Câm:


- Cậu nên hiểu anh Câm dậm chân xuống đất, chỉ tay lên trời có ý là đất làng Đoài bây giờ quyền to nhất xã là cô Tuyết. Và cô Tuyết lại ngủ với người làm to như giời ở mãi trên tỉnh cậu hiểu chưa. Giời và Đất ngủ với nhau. Dân làng Đoài kháo nhau cô tuyết ngủ với Trần Tăng nên được làm chủ tịch xã. Chuyện này cả làng biết, anh Câm biết. Có điều cả làng biết mà không ai nói. Người hay nói nhất lại chính là anh Câm. Các cụ xưa thường bảo câm hay ngóng ngọng hay nói đấy thôi.


- Chuyện này thực hư ra sao hả mẹ?


- Mẹ đã có lỗi đã ép con lấy Tuyết ngày ấy. Mẹ buồn rầu nói, cũng bởi mẹ lo sợ, mẹ lo sợ đủ thứ.


Nam hiểu mẹ, trong chiến tranh cả chồng và con ra trận, mẹ không lo sao được. Bom đạn chúng có từ ai đâu. Giờ hoà bình rồi mẹ vẫn còn lo. Thiên hạ đồn đại bao nhiêu chuyện, toàn những chuyện kinh hoàng. Một mình mẹ gánh vác danh gia dòng tộc Hoàng Kỳ. Những người được chia qủa thực hồi cải cách đã bỏ đi hết, từ vợ chồng Đào Kinh, mẹ con bà Cháo, giờ chỉ còn lại mỗi cô Lùn vẫn ở gian nhà ngang đầu ngõ. Tuyết thì bận công việc hội họp suốt ngày, bố mê mải việc quân cơ, một năm mới nghỉ phép về một lần rồi quáng quàng ra đi khẩn cấp hết chiến dịch Tây Bắc lại Tây Nam. Hoàng Kỳ Nam ra quân vùi đầu vào học, vừa học vừa viết quên cả mẹ, quên cả cô vợ ở nhà đã phấn đấu lên tới chức chủ tịch xã. Bạn bè hỏi sao Nam ít về không sợ vợ cắm sừng sao, Nam tếu táo bảo, cô ấy là chủ tịch đã có hội đồng nhân dân giám sát chặt chẽ lo gì. Nói cho vui vậy, thực ra từ sau ngày cưới, cả Nam và Tuyết đều nhận ra giữa hai người có một khoảng cách rất xa, từ quan điểm, sở thích, cách sống đều trái ngược nhau như nước với lửa. Tuyết thì mông muội, thực dụng, háo danh hãnh tiến. Từ cô bí thư đoàn xã, học qua lớp chính trị, phắt cái lên phó chủ tịch rồi chủ tịch xã. Người làng Đoài bình luận, cô chủ tịch xã Chiến Thắng mình trông rất có duyên ở đôi má núm đồng tiền, ăn nói dễ nghe lại thông minh đọc được ý  người khác, nay mai có khi còn lên huyện nữa. Nam nhận ra mẹ sợ Tuyết, sợ những toan tính của Tuyết. Tuyết bảo, thế hệ mẹ xưa chỉ chăm lo ôm giữ khư khư lấy cái đức nên chả làm được gì. Người phụ nữ muốn làm chính trị, ngoài tài đức và thời thế còn phải biết kết hợp cả cái duyên cái sắc nữa. Từ ngày lên chủ tịch, Tuyết coi Nam là kẻ sống không có chí tiến thủ, không làm nên công trạng gì, kể cả chuyện chăn gối vợ chồng cũng nhạt thếch. Sự việc xảy ra đêm qua khiến Tuyết càng căm giận Nam.


Và lúc này Tuyết không ở nhà, Nam ngồi vào bàn viết đơn ly hôn. Tâm trí Nam tê buốt bởi những từ ngữ cay đắng trong lá đơn đã kết thúc cuộc tình duyên dang dở giữa Nam và Tuyết. Viết xong đơn Nam vào giường nằm thiếp đi. Nam mơ một giấc về quá khứ thấy gương mặt ông nội ngạo nghễ cười trên chiếc xe ngựa chạy lóc cóc chở Nam và lũ trẻ chạy quanh đường làng Đoài. Gương mặt mẹ ngời ngờỉ trong đêm trung thu nhìn theo những ngọn đèn giời của dân làng Đoài thả lên trời cao gửi tới chị Hằng ngọn lửa thắp sáng những vì sao trên trời. Nam miên man về dĩ váng xa xôi, những âm thanh kinh hoàng của tiêng súng trường đanh gọn đến rợn người của đội du kích chú Kinh xử bắn ông nội Nam trên đấu trường ngoài cánh Mả Rốt. Ông nội tựa cột, áo quần nát bươm rỉ ra những vệt máu loang lổ bởi những tay súng cừ khôi của đội du kích Đào Kinh. Và tiếng súng tiếng bom trong đêm Mậu Thân 68 vang vọng trong dinh thự Đức Cường. Gương mặt Thương Huyền thánh thiện bị thằng Vương chiếm đoạt trong đêm bom pháo mù trời, còn anh Đức Thịnh bị thương nằm tuyệt vọng trong căn hầm ngoài khu vườn có lối thông ra bờ sông. Mẹ chị Thu Cúc bảo căn hầm có từ thời đánh Pháp, ông bà Đức Cường nuôi giấu cán bộ. Đêm đêm những chiến sĩ cách mạng chui từ cái ngách nhỏ ngoài sông để vào dinh thự Đức Cường nhận lương thực đưa ra vùng giải phóng. Những đêm yên bình các chiến sĩ nằm vùng còn chui ra ngoài ngồi ngắm dòng sông thao thiết trôi mãi ra biển cả...Có tiếng va đập vào tâm não, tiếng Tuyết lạnh gai người. Nam choàng tỉnh, Tuyết về từ khi nào đọc được tờ đơn ly hôn Nam đã viết để trên bàn.


- Anh định tống khứ tôi đi dễ vậy sao? Tuyết lu loa, chắc con đĩ có con lai Mỹ trong kia nó lại hút hồn rồi phải không?


Tuyết cầm tờ đơn xé vụn từng mảnh tung lên như những cánh bướm trắng bay lởn vởn trước mắt Nam. Tuyết cười hơ hớ thách thức. Khuôn mặt đẹp như con gái thuỷ thần của Tuyết có màn sương khói băng giá bao phủ. Tuyết đặt chiếc cặp lên bàn lấy ra tờ giấy đặt trước mặt Nam. Đôi mắt sắc lẹm của Tuyết nhìn Nam như đổ lửa.


- Anh đọc đi rồi ngẫm cho kỹ xem mình sạch sẽ đến mức nào.


Nam bàng hoàng nhìn dòng chữ nhảy múa trước mắt.


Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam


        Độc Lập Tự Đo Hạnh Phúc


Kính gửi: UBND xã Chiến Thắng.


UBND Quận... Thành phố...thông báo để UBND xã Chiến Thắng và gia đình anh Hoàng Kỳ Nam biết, trong những năm chiến tranh, anh Hoàng Kỳ Nam là bộ đội, thuộc đơn vị E... Quân khu 5 đã quan hệ bất chính với chị Nguyễn Thương Huyền, con gái của nhà tư bản Đức Cường. Chị Thương Huyền đã có một quá khứ không rõ ràng, có con với lính Mỹ. Để đảm bảo hạnh phúc lâu bền cho gia đình anh Hoàng Kỳ Nam, chúng tôi có trách nhiệm thông báo cho chính quyền xã và gia đình anh Hoàng Kỳ Nam biết để có biện pháp theo dõi, ngăn chặn mối quan hệ bất chính của anh Nam, bảo vệ hạnh phúc vẹn toàn cho gia đình và bản thân anh Nam.


Ngày...tháng...năm


Chủ tịch UBND Quận. Nguyễn Thu Cúc


(còn tiếp)


Nguồn: Dưới chín tầng trời. Tiểu thuyết của Dương Hướng. NXB Hội Nhà văn, 2007. Đây là bản gốc, chưa bị cắt bỏ khi xuất bản. Tác giả gửi  www.trieuxuan.info


Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Dưới chín tầng trời - Dương Hướng 16.11.2018
Bão - Ngũ Hà Miên 16.11.2018
Bến không chồng - Dương Hướng 08.11.2018
Trở lại cố hương - Thomas Hardy 07.11.2018
Nguyễn Trung Trực - Khúc ca bi tráng - Dương Linh 06.11.2018
Sông Đông êm đềm - Mikhail Solokhov 02.11.2018
Sóng lừng (VN. Mafia) - Triệu Xuân 02.11.2018
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 29.10.2018
Trăm năm cô đơn - G. G. Marquez 25.10.2018
Trả giá - Triệu Xuân 24.10.2018
xem thêm »