tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 27828017
24.04.2016
Ngô Vĩnh Bình
Trần Huy Liệu và Sài Gòn, Nam Bộ



 Trần Huy Liệu - một trong những yếu nhân của thời lập quốc (Phó Chủ tịch Uỷ ban Dân tộc giải phóng), người được giao soạn thảo bức Quân lệnh số I trong Tổng khởi nghĩa giành chính quyền Tháng Tám năm 1945, vị Trưởng đoàn của Chính phủ lâm thời nước Việt Nam mới (cùng Nguyễn Lương Bằng và Huy Cận) vào kinh đô Huế tước ấn kiếm của vua Bảo Đại trong lễ thoái vị của hoàng đế Việt Nam cuối cùng (30 tháng 8 năm 1945) và …kết cuộc, trước khi mất (27/ 7/1969, trong lúc đang diễn thuyết về ngày Thương binh - Liệt sĩ) là Viện sĩ Viện trưởng Viện Sử học. Không thể dửng dưng còn bởi những chuyện xung quanh cuộc đời một “con người của thế kỷ XX” - thế kỷ có thể nói là có nhiều biến cố nhất trong lịch sử dân tộc Việt Nam: nho tàn, nước mất, những người cộng sản đứng lên giành chính quyền, 30 năm khói lửa…, “không dễ tìm hiểu, hiểu rồi không dễ viết ra, viết ra rồi vẫn khó xuất hiện ở dạng toàn vẹn” - nói theo nhà văn Trần Chiến – con trai ông


                                  Như nhiều thiếu niên “con nhà tông” khác ở tổng Hào Kiệt, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định xưa (mảnh đất đã sinh ra những Văn Cao, Văn Ký, Vũ Cao, Vũ Tú Nam và… cả Bà chúa Liễu Hạnh!), từ nhỏ Trần Huy Liệu đã phải gánh trên vai sứ mạng “báo thư cừu” tức là trả mối hận đèn sách cho cha và anh. Việc không thành, ông phải bỏ cuộc trong kỳ thi Hương cuối cùng năm Ất Mão 1915 vì một lý do rất không đâu vào đâu ngay ở trường thi Mỹ Trọng!... Rồi lấy vợ đẻ con ở cái tuổi non “anh”, già “thằng”. Không thể sống cuộc sống của một anh giáo làng tù túng và đói nghèo nơi đồng chiêm nước đọng ông đã giã biệt vợ con “hành phương Nam” bắt đầu cuộc đời làm báo, viết báo vừa kiếm ăn vừa thực thi lý tưởng của mình, cụ thể hơn là vừa kiếm kế sinh nhai vừa làm một cuộc “nhận đường” xuyên thế kỷ, cuộc nhận đường của một người trước sau vẫn chỉ là “người dân tộc trong căn cốt, dù là trong phong trào Thanh Niên, Quốc dân đảng hay là người Cộng sản” với đầy những tù đầy, bắt bớ, nghèo túng, chia ly, chết hụt (68 năm, 4 lần là suýt làm mồi cho cá biển lúc thiếu niên, ngã hang ở Côn Đảo, máy bay địch đuổi dưới chân đèo Kháng Nhật và một lần chết lâm sàng); thậm chí là cả “lên voi xuống chó”. Nhưng đó là một cuộc đời đáng để người đời sau chia sẻ, ngưỡng mộ, noi gương.


        Năm 1923, Trần Huy Liệu  theo thầy – nhà giáo Bùi Trịnh Khiêm – một nhà nho cấp tiến rời quê hương vào Sài Gòn bắt đầu cuộc “ hành phưng Nam”. Năm 1923, dời đất Bắc vào Nam, năm 1934 bị trục xuất khỏi Sài Gòn ra Bắc. Vậy là Tần Huy Liệu ở Sài Gòn, ở Nam Bộ có vẻn vẹn mười năm. Nhưng với thời gian ấy ông đã để lại nơi vùng đất này biết bao dâu ấn mà cho đên hôm nay non nửa thế kỷ đã qua còn chửa phai mờ.


      Sớm được tiếp xúc và thấu hiểu cuộc sống khốn khó của người dân lao động nghèo, chàng trai trẻ đã luôn khao khát tìm cho mình một con đường lập thân. Con đường ấy chỉ trở nên rõ ràng hơn khi Trần Huy Liệu có cơ hội được tiếp xúc với “nền học mới”. Đó chính là con đường cách mạng, cứu dân, cứu nước. Thời ấy, để nói lên tâm trạng của mình trước thời cuộc, phương cách tốt nhất là viết báo. Nhưng phải mất gần một năm, sau khi phải bươn chải đủ nghề để kiếm sống, tháng 6/1924, Trần Huy Liệu mới được giới thiệu vào làm chủ bút cho tờ Nông cổ mím đàm - một tờ báo ra đời ở Nam Kỳ từ năm 1901- do Lâm Hiệp Châu làm chủ nhiệm. Bằng Nông cổ phím đàm, Trần Huy Liệu đã làm “cuộc cách mạng” khi chuyển hướng tờ báo từ chuyên bàn về nghề nông sang bàn về chính trị với bài bình về tiếng bom yêu nước của liệt sỹ Phạm Hồng Thái ở Quảng Châu trong bài viết nhan đề “Tiếng bom Sa Điện ở Quảng Châu”, ký bút danh Đẩu Nam... Cái tên Đầu Nam bị thực dân kiểm duyệt gắt gao, soi rất kỹ Trần Huy Liệu lấy bút danh Côi Vị... và nhiều bút danh khác cho đến ngày tờ báo bị thực dân Pháp đình bản. Tiếp  Nông cổ mím đàm, Trần Huy Liệu cùng một số đồng nghiệp xuất bản tập  Ngòi bút sắt. Trên tờ báo này, ông bắt đầu tập trung tố cáo chính sách bóp nghẹt báo chí và quyền tự do ngôn luận của thực dân Pháp. Vừa ra được một số, thì tờ Ngòi bút sắt  lại bị thực dân Pháp cho đình bản. Cuối năm 1924, do mến mộ Trần Huy Liệu, Chủ nhiệm tờ Đông Pháp thời báo mời ông về làm chủ bút. Và với vai trò mới ông góp phần biến Đông Pháp thời báo thành trung tâm của phong trào yêu nước, đòi tự do dân chủ ở Nam Kỳ. Chính Trần Huy Liệu cùng tờ báo này đã cổ động tích cực cho phong trào để tang Phan Chu Trinh, đón rước Bùi Quang Chiêu, đòi thả Nguyễn An Ninh... rầm rộ trong những năm 1925 – 1926.


      Đầu năm 1927, Trần Huy Liệu sáng lập tờ Pháp Việt nhất gia  do chính ông làm chủ bút. Pháp Việt nhất gia đã góp phần tích cực chống chủ nghĩa “Pháp Việt đề huề” của  Đảng lập hiến  do Bùi Quang Chiêu cầm đầu. Tờ báo ra được lại  bị đình bản. Chủ bút bị bắt và bị kết án 6 tháng tù tại khám lớn Sài Gòn. Đầu năm 1928, ra khỏi tù, Trần Huy Liệu lại sáng lập Cường học thư xã, chuyên xuất bản những sách mang nội dung yêu nước, góp phần giúp cho nhiều thanh niên được giác ngộ cách mạng, thổi luồng gió mới vào phong trào yêu nước đầu thế kỷ XX...   


    Cuối năm 1929, thực dân Pháp đàn áp các tổ chức cách mạng, Trần Huy Liệu bị kết án 5 năm tù cấm cố, đày ra Hòn Cau (Côn Đảo). Chốn địa ngục trần gian vẫn không ngăn nổi người cách mạng duy trì niềm đam mê của mình. Trong tù, Trần Huy Liệu vẫn viết báo với bút danh Hải Khách; làm chủ bút tờ Hòn Cau và Tiếng sóng bể. Trong những năm bị tù ở Côn Đảo, ông đã tiếp thu Chủ nghĩa Cộng sản, tuyên bố ly khai Quốc dân Đảng, tự nguyện đứng vào hàng ngũ những người Cộng sản. Từ đây, ông có nhiều đóng góp cho cách mạng , cho sự nghiệp báo chí cách mạng Việt Nam cũng như cho nền sử học nước nhà. Ra tù năm 1934, bất chấp lệnh quản thúc, bất chấp mọi thủ đoạn mua chuộc, dụ dỗ, đe dọa của thực dân Pháp, Trần Huy Liệu lại lao ngay vào mặt trận báo chí, xuất bản.


      Ở Sài Gòn, ở Nam Bộ - nhất là thười gian ở tù Côn Đảo, Trần Huy Liệu không chỉ làm báo, ông còn làm thơ, học ngoại ngữ, tích lũy kiến thức, tư liệu...Người thân ông kể: “Vào Nam Kỳ, xứ thuộc địa của Pháp, sinh sống, thực hành chí hướng đều bằng chữ nghĩa”, cái đức “mọt sách bẩm sinh” của Trần Huy Liệu được bộc lộ, phát huy rất rõ. Vào tù, ra khám ông vẫn học. Dám chắc, ai cũng phải ngả mũ trước Trần Huy Liệu khi được biết chuyện, nhân vợ một mã tà về Sài Gòn, ông nhắn vợ là bà Tý (vợ cả của Trần Huy Liệu) đang bán rau ở chợ Bến Thành gửi cho một quyển từ điển Larousse. Thay cho những mảnh báo tiếng Tây, Trần Huy Liệu có hẳn một người bạn nhỏ dày cộp, cầm nặng tay, có điều giấu giếm khó. Một chương trình nghiêm ngặt được đặt ra: mỗi ngày học 200 từ với đầy đủ nghĩa đen, nghĩa bóng, nghĩa rộng. Gốc dừa, vườn chuối, bãi cát là vở, mẩu gạch, khúc tre làm bút, đâu đâu cũng chi chít chữ viết. Trong một tháng, Trần Huy Liệu học được 6000 chữ…Hai năm ở Hòn Cau, vốn tiếng Pháp của ông tăng vùn vụt. Anh em tù phục lăn, gọi ông là pho tự vị sống.      


     Cũng như ở Thủ đô Hà Nội, ở Nam Định quê hương ông và nhiều nơi trên cả nước tên tuổi Trần Huy Liệu đã được gắn với nhiều đường phố, tường học, công viên...ở Sài Gòn – TP Hồ Chí Minh. Đường Trần Huy Liệu là một con đường lớn năm ở quận Tân Bình. Nơi đây không chiir nổi tiếng bởi nhưngc cao ôcas, nhứng khách sạn nhà hàng, quán càphê sang trọng nổi tiếng mà còn là “phố sách”.  Mật độ cửa hàng sách cũ ở Trần Huy Liệu không dày đặc nhà nối nhà mà chỉ tầm 5-6 cửa hàng rải rác phần đầu con đường. Tuy nhiên, mỗi cửa hàng sách cũ lại chứa một lượng sách báo phong phú và chất lượng. Hàng trăm quyển sách với màu giấy ngả vàng xếp gọn gàng trên kệ. Những người chủ tiệm sách ở đây thường thu mua các đầu sách hay hoặc sách hiếm, chính vì vậy ngay cả khi bạn lọt thỏm giữa bốn bức tường sách, bạn vẫn có nhiều cơ may tìm được quyển ưng ý. Nếu chịu khó lùng sục vài tiếng, bạn có thể tìm thấy những quyển triết lý hay, sách chuyên ngành hoặc các quyển truyện tranh bị thất lạc. Đường sách cũ Trần Huy Liệu, quận Phú Nhuận, là một làn gió nhẹ nhàng ở Sài Gòn dành cho những người mê sách.


     Công viên Lê Văn Tám là một công viên tại phường Đa KaoQuận 1, Thành phố Hồ Chí MinhViệt Nam. Công viên nằm giữa bốn tuyến đường là Hai Bà Trưng, Điện Biên Phủ, Võ Thị Sáu và Phan Liêm. Đây là nơi luyện tập thể dục thể thao quen thuộc của người dân. Khu vực công viên được bố trí cây xanh, vườn hoa hài hòa và một số trò chơi dành cho trẻ em.


       Thời Pháp thuộc, nơi đây là nghĩa địa dành cho người Pháp nên được gọi tên là Đất Thánh Tây. Một thời gian nghĩa trang này được gọi là nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi. Năm 1983, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân thành phố Hồ Chí Minh ra chỉ thị 17/CT-UBND yêu cầu di dời nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi khỏi thành phố để lấy đất xây Cung văn hóa Thiếu nhi.  Sau đó, khu vực này được giải toả và xây dựng thành công viên, đặt tên là Lê Văn Tám – một nhân vật có liên quan đến Trần Huy Liệu


     Theo giáo sư sử học Phan Huy Lê thì cái tên Lê Văn Tám là không có thật, và được Trần Huy Liệu, lúc đó là Bộ trưởng Bộ Tuyên truyền và Cổ động của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa dựng lên. Tuy nhiên ông cũng nói thêm: giáo sư Trần Huy Liệu không hề hư cấu sự kiện kho xăng Pháp ở Thị Nghè bị đốt cháy. Chiến công này là có thật nhưng không rõ là của ai. Trên cơ sở sự kiện có thật đó, để tiện cho việc thông tin, Trần Huy Liệu đã đặt tên cho người chiến sĩ vô danh đó là Lê Văn Tám.Trong một cuộc họp báo vào tháng 2 năm 2005 tại Hà Nội, giáo sư Phan Huy Lê có nói đại ý: “Tôi còn một món nợ với anh Trần Huy Liệu mà đến nay chưa trả được. Ðó là lúc anh Liệu làm Bộ trưởng Bộ Tuyên truyền (sau Cách mạng tháng Tám 1945, Trần Huy Liệu làm Bộ trưởng Bộ Tuyên truyền và Cổ động),  anh Trần Huy Liệu tự viết về nhân vật Lê Văn Tám, một thiếu nhi tự tẩm xăng vào người và chạy vào đốt kho xăng giặc Pháp ở Thị Nghè. Lúc sáng tác ra câu chuyện Lê Văn Tám, anh Liệu có nói với tôi rằng: “Bây giờ vì nhiệm vụ tuyên truyền nên tôi viết tài liệu này, sau này khi đất nước yên ổn, các anh là nhà sử học, các anh nên nói lại giùm tôi, lỡ khi đó tôi không còn nữa”. Giáo sư Lê nhấn mạnh là GS Trần Huy Liệu không hề “hư cấu” sự kiện kho xăng địch ở Thị Nghè bị đốt cháy mà trên cơ sở sự kiện có thật đó, chỉ “dựng lên” (theo cách nói của GS Lê), chuyện thiếu niên Lê Văn Tám tẩm xăng đốt cháy kho xăng địch.


      Biểu tượng “ngọn đuốc sống Lê Văn Tám” thực sự đã được quảng bá rộng rãi, đi sâu vào tâm thức của nhân dân, tiêu biểu cho tinh thần hi sinh anh dũng, ý chí xả thân vì nước của quân dân ta trong buổi đầu của Nam Bộ kháng chiến và suốt những năm kháng chiến gian khổ hy sinh sau đó của dân tộc. Lời dặn của GS Trần Huy Liệu là đến lúc đất nước yên ổn, cần phải nói lên sự thật về câu chuyện Lê Văn Tám.  Là thế, tôi nói: Trần Huy Liệu, sau trước vẫn là một nhân vật lịch sử, một sử gia có nhân cách lớn!


Thập Tam Trại, tháng Tư năm 20016


NVB.


Tác giả gửi www.trieuxuan.info


 









 


 


bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Đến già mới chợt tỉnh (3) - Tống Văn Công 22.06.2019
Đến già mới chợt tỉnh (2) - Tống Văn Công 22.06.2019
Đến già mới chợt tỉnh (Trích: 1) - Tống Văn Công 22.06.2019
Hòa bình khó nhọc - Nguyên Ngọc 17.06.2019
Người Trung Quốc xấu xí (9, kỳ cuối) - Bá Dương 12.06.2019
Người Trung Quốc xấu xí (8) - Bá Dương 11.06.2019
Xong cả - Võ Phiến 07.06.2019
Một thời thanh xuân - Châu La Việt 04.06.2019
Nhớ Hoàng Tiến - Vũ Thư Hiên 27.05.2019
Ghi chép trong chuyến đi Mỹ - Nguyễn Quang Thiều 26.05.2019
xem thêm »