tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 24292104
Tiểu thuyết
28.12.2015
Dương Linh
Nguyễn Trung Trực - Khúc ca bi tráng

Trong khu phố chợ Rạch Giá.


            Nghe tiếng súng nổ phía thành Sơn Đá dân chúng giật mình choàng dậy, mặt mũi ngơ ngác hoảng sợ nhìn nhau không biết chuyện gì đã xảy ra. Bỗng có người vừa chạy vừa la lớn: – “Bà con ơi! Thành Sơn Đá bị đánh rồi. Bà con ơi, ra coi kìa, thành Sơn Đá bị đánh rồi! Sướng quá bà con ơi!”. Phút chốc cả khu chợ nhốn nháo hẳn lên. Nhiều nhà mở ra đường nhìn về hướng thành Sơn Đá, nơi còn có tiếng súng nổ. Nét mặt mọi người – kể cả người già và trẻ con – đều tỏ vẻ phấn khởi vì đối với họ đồn Sơn Đá như cái gai chọc vào mắt mỗi khi ra đường.


            Nhà cai tổng Ngươn. Nghe tiếng súng nổ, lão choàng thức dậy, nét mặt hốt hoảng, tay làm dấu thánh giá: – “Ôi lạy Chúa! Chuyện gì đã xảy ra đây?”. Lão lay bà vợ to béo nằm bên cạnh: – “Mình! Mình! Dậy đi!”. – “Dậy sớm làm gì? Trời chưa sáng mà!” – Giọng bà vợ còn ngái ngủ hỏi. – “Nghe tiếng súng nổ ở thành Sơn Đá, nghi tên Trực phiến loạn đó đánh đồn… Dậy đi mình, để còn kịp chạy chớ!” – Lão cai tổng thúc bà vợ. – “Chắc gì cái tên phiến loạn ông nói nó dám đánh, mà nếu đánh chưa chắc đã thắng – giọng bà vợ vẫn chưa muốn thức – Thôi, để tôi nằm thêm chút nữa nghe ông”. Đúng lúc đó gã em vợ hốt hoảng la lớn phía bên ngoài: – “Anh Ba ơi! Tên Trực đã chiếm được đồn Sơn Đá rồi!”. – “Đó, bà nghe chưa bà? – lão cai tổng lại làm dấu thánh giá – Ôi lạy Chúa! Con biết làm sao bây giờ?”. Đến lúc này bà vợ lão cai tổng đã choàng thức dậy hẳn. Vừa bới lại đầu tóc xoã ra lúc ngủ, bà vợ lão cai tổng bước ra mở cửa. Gã em vợ vọt vào mình mẩy ướt như chuột lột. – “Cậu đi đâu mà ướt hết thế này?” – Bà vợ lão cai tổng hỏi em. – “Em đi đánh bài – gã em vợ vừa run vừa đốt thuốc vừa nói – Chúng nó gầy sòng cả đêm. Bất ngờ đang chơi thì nghe tiếng súng nổ. Sau đó nghe tiếng la chỏi lỏi – “Đồn Sơn Đá bị đánh rồi. Lão Chánh Phèn bị chặt đầu rồi bà con ơi”. Em nghe hết hồn vội chạy về đây báo cho anh chị biết để liệu đi An Biên ngay cho kịp, kẻo quân phiến loạn sẽ lùng bắt những người cộng tác làm quan cho bọn Tây dương như anh Ba đây, chị nhá!”. – “Trời ơi! Tình hình nguy khốn đến mức này sao?” – Bà vợ tên cai tổng kêu lên hoảng sợ. – “Hôm trước em đã báo với ảnh rồi: tận mắt em trông thấy bọn phiến loạn ấy tập võ nghệ trong rạch Tà Niên, nhưng anh Ba tỏ vẻ không tin lắm – gã em vợ nói tiếp sau khi nhả một đụn khói thuốc thỏa mãn – Nay cơ sự thế này thì phải đi ngay mới kịp. Chị gọi người nhà dọn đồ xuống ghe đi, nhưng không lấy thứ cồng kềnh, mất thì giờ lắm”. Bà vợ lão cai tổng quýnh quáng chạy vào nói với lão cai tổng trong hơi thở: – “Thằng Bình nó vừa nói…”. – “Tui nghe hết rồi – lão cai tổng Ngươn chặn lại – Bây giờ lo đi cho kịp. Bà mang theo thứ gì thì lấy ngay đi. Trời sắp sáng rồi đó!”. Bọn gia nhân đứa xách đứa vác đồ đạc xuống ghe đậu dưới bến, chạy lên chạy xuống như con thoi, nhưng vẫn nghe tiếng quát của bà vợ lão cai tổng: – “Mau lên! Mau lên! Chết tới nơi rồi mà còn chậm như rùa!”. Chất đồ đạc xong, chiếc ghe chở nguyên gia đình lão cai tổng từ từ rời bến ra biển hướng về vùng An Biên. Lúc ấy, trời mới rạng sáng…


 


            Ở thành Sơn Đá. Ba tên lính Pháp lợi dụng cảnh hỗn loạn và đêm tối chạy thoát được ra ngoài. Hai tên chạy trước theo hướng ngoại ô. Đang chạy, chúng chợt thấy có một đầm sen, chung quanh có nhiều lau sậy. Tên chạy trước quay lại nói: – “Ta trốn ở đây thôi”. – “Đồng ý!” – Tên chạy sau gật đầu. Hai tên vội nhảy xuống núp vào bụi lau um tùm, cao khỏi đầu người. Mặt mũi chúng còn đầy vẻ hoảng hốt thất thần trước cuộc tập kích bất ngờ đúng vào lúc đêm mưa và chúng đang ngủ say. Tên lính Pháp chạy sau không biết hai tên trước biến đâu mất, hắn cắm đầu cắm cổ chạy miết về hướng có bóng nhà khuất sau hàng cây bên đường. Nghe tiếng súng nổ hướng thành Sơn Đá, ông già người Miên thức giấc lo sợ. Nhà ông đơn chiếc, chỉ có một mình. Ông bước ra ngoài hàng hiên nhìn về hướng thành Sơn Đá. Với khoảng cách không xa lắm, ông còn nghe vẳng lại tiếng náo loạn của trận đánh lẫn vài tiếng súng lẻ tẻ... Ông rất lo sợ không biết chuyện gì đã xảy ra, thì thấy có bóng người cao lớn chạy tới. Tiếng giày nện thình thịch mặt đất. Đó là tên lính thổi kèn Duplessis, tên chạy sau cùng. Thấy ông già Miên, hắn khựng lại nói vài tiếng Việt lơ lớ trong hơi thở dồn dập: – “Đồn bị đánh... Cho trốn... có thưởng... Hiểu chưa?” – Hắn lục trong túi lấy đồng bạc trắng, đưa cho ông già người Miên. Ông già cầm đồng bạc đưa lên miệng cắn một cái, rồi gật đầu nắm tay hắn đưa vào nhà, đóng sầm cửa lại.


            Trong thành Sơn Đá cuộc chiến đã kết thúc. Anh em nghĩa quân trói thúc ké năm tên giặc Pháp, trong số này có tên Chôm phiên dịch dẫn đến trước Trực: – “Tính sao với bọn này, anh Hai?”. – “Giam chúng lại. Không nên giết tù binh!” – Trực ra lệnh ngắn gọn. Hai người nghĩa quân chĩa tầm vông vạt ngọn thúc vào đám lính Pháp bị bắt, nạt lớn: – “Đi theo tao!”. Tuy không biết tiếng Việt, nhưng qua cử chỉ của người lính nghĩa quân, chúng cũng hiểu, lủi thủi đi về hướng buồng giam. Ba Ky chạy lại vẻ mặt còn tức tối: – “Sao không giết hết chúng đi, anh Hai?”. – “Nó chịu bị bắt thì không nên giết. Để dân chúng xử nó sau, tốt hơn”. Trực nhìn Ba Ky với ánh mắt thông cảm vì tính nóng như lửa của anh. – “Ta treo cờ lên thành chớ, anh Hai?” – Ba Ky hỏi. – “Phải đó! Để dân chúng biết thành Sơn Đá đã bị hạ rồi!” – Trực nói. Ông Ky gọi ông Tư đứng gần đó: – “Anh cho kéo cờ mình lên nóc thành đi anh Tư!”. – “Thằng Kiểng nó giữ cờ. Không biết nó đâu rồi – ông Tư nhìn quanh nói – Để tôi tìm nó”. Nói xong, ông Tư chạy đi. Gặp một nghĩa quân tay quấn băng trắng, ông hỏi: – “Có thấy thằng Năm Kiểng ở đâu không?”. – “Nó trúng đạn hy sinh rồi anh à! Nằm ở góc kia kìa!” – Ông Tư chạy tới lật ngửa Kiểng. Lá cờ đại bái xếp gọn buộc chặt trước ngực. Máu từ trên đầu Kiểng chảy xuống ướt đẫm lá cờ. Ông Tư gọi lớn: – “Anh em đâu! Khiêng thằng Kiểng ra ngoài. Lấy chiếu đắp lại cho nó. Còn tất cả theo tôi lên nóc thành treo cờ”. Hai nghĩa quân vẻ mặt đau xót cúi xuống khiêng Kiểng ra ngoài thành, kiếm chiếu đắp cho người tử sĩ. Mấy nghĩa quân khác chạy theo ông Tư lên nó thành treo lá cờ còn đẫm máu của người nghĩa quân tên Kiểng hy sinh.


 


            Trời rạng sáng. Trên nóc thành Sơn Đá, lá cờ tam tài bị hạ xuống. Lá cờ đại bái của nghĩa quân được kéo lên trong tiếng reo hò của nghĩa quân. Và ở khu phố chợ Rạch Giá, khi thấy lá cờ đại bái nghĩa quân tung bay trước gió, dân chúng reo lên ầm ĩ. Lá cờ đại bái đẫm máu của người nghĩa quân hy sinh tung bay trước gió trong nắng sớm, báo hiệu nghĩa quân dưới quyền chỉ huy của người anh hùng Nguyễn Trung Trực đã chiến thắng oanh liệt, giải phóng thị xã Rạch Giá khỏi tay giặc Pháp chiếm đóng.


            Một bác nông dân có tuổi, chít khăn đầu rìu ra đồng sớm. Nét mặt bác vẫn còn vẻ phấn khởi trước chiến thắng của nghĩa quân. Khi đi ngang qua khu vực đầm sen, bác chợt nghe có tiếng ho trong bụi lau của tên lính Pháp, có lẽ do nó dầm mình dưới nước lâu nên bị cảm lạnh. Bác dừng lại quan sát. Và bác nhanh chóng phát hiện hai tên giặc đang trốn trong đám lau. Bác vừa chạy vừa kêu lớn: – “Bà con ơi! Có hai thằng Tây dương trốn ở đầm sen đây nè”. Nghe tiếng kêu của bác nông dân, nhiều người trong xóm vác gậy, chĩa ba, mác vót và cả mã tấu chạy lại: – “Nó đâu? Nó đâu?”. – “Ở chỗ bụi lau kia kìa!” – Bác nông dân chỉ vào chỗ hai tên Pháp trốn. Nghe tiếng chân đông người xông vô chỗ mình ẩn nấp, một tên Pháp giương súng lên bắn. Nhưng “cạch” một cái, đạn ướt không nổ, chỉ nghe tiếng cơ bẩm khô khốc. Cả hai tên Pháp mặt mũi tái nhợt bị dân chúng lôi ra. Chúng quỳ mọp lạy nói líu lưỡi xin tha tội. Nhưng lòng căm thù giặc sâu sắc đã khiến người dân ở đây không tha thứ mà nghiến răng cho mỗi tên một nhát mã tấu, kết thúc đời những tên xâm lược từng gây nhiều tội ác với nhân dân.


 


            Đồng bào kéo nhau mang đủ thứ quà bánh đến ủy lạo nghĩa quân. Tiếng cười nói râm ran inh ỏi trước thành Sơn Đá. Khi Trực bước ra chào đồng bào thì cả đám đông ào lại công kênh Trực lên trong tiếng reo hò vang dội…


            Hôm đó là ngày 16-6-1868. Ngày này được ghi vào sử sách như một ngày bi thảm nhất của đội quân viễn chinh của Hoàng đế Napoléon đệ tam nước Pháp khi sang xâm lược Nam Kỳ nửa sau thế kỷ XIX. Thành Sơn Đá bị hạ, gần 100 tên giặc bị tiêu diệt, tên Chánh Phèn và 5 võ quan Pháp cùng bọn ma ní, Việt gian... nghĩa quân thu gần trăm súng và đạn dược. Đây cũng là ngày đánh dấu một chiến công oanh liệt nữa của người anh hùng Nguyễn Trung Trực trên đất Kiên Giang lịch sử…




CHƯƠNG MƯỜI


-—–-


            Một buổi sáng.


            Trong dinh Soái phủ quân đội viễn chinh Pháp ở Sài Gòn. Đô đốc Ohier nét mặt giận dữ ném bức điện cho viên đại tá tham mưu trưởng: – “Ông đọc đi. Đúng là một lũ ăn hại!”. Viên đại tá chăm chú đọc bức điện của thiếu tá Ansart chỉ huy quân Pháp ở Vĩnh Long báo tin: “Đồn Kiên Giang đã bị tiêu diệt đêm 16-6-1868. Quân khởi nghĩa do Nguyễn Trung Trực chỉ huy đã chiếm thị xã Rạch Giá, làm chủ tình hình ở đó. Đề nghị cho quân cứu viện”. – “Thật là kinh khủng!” – Viên đại tá lắc đầu, mặt tái nhợt, đưa trả bức điện cho Ohier, nói tiếp – “Tôi không thể tưởng tượng nổi một đồn được xây dựng kiên cố đến vậy, có cả một lực lượng hùng hậu trú đóng, lại có thể bị tiêu diệt quá dễ dàng trong một trận đánh, thưa đô đốc. Hay là có một nguyên nhân bí ẩn nào đó mà ta chưa được biết đã gây nên thảm họa này, thưa ngài?”. – “Không có nguyên nhân bí ẩn nào hết – Ohier nhìn vào mặt viên đại tá, nói giọng gay gắt – Ông có nhớ bảy năm trước đây, chiếc pháo hạm Espérance bị đốt cháy vào giữa trưa ở vàm Nhựt Tảo và đồn lính mã tà trên bờ cũng bị tiêu diệt, do ai chỉ huy trận đánh đó không?”. – “Đó là tướng Nguyễn Trung Trực, thưa đô đốc” – Viên đại tá lễ phép đáp. Trong đầu óc viên đại tá này việc lập được chiến công vang dội như vậy thì người chỉ huy phải là cấp tướng mới làm được. – “Và bây giờ chính tên Trực đó chỉ huy trận đánh đồn Kiên Giang – Rạch Giá. Đó là một tướng giặc hết sức nguy hiểm mà lâu nay chúng ta đã bỏ sót, không theo dõi mọi hoạt động của hắn, cho nên chúng ta phải trả giá!” – Ohier tỏ ra bực dọc nói. – “Thưa đô đốc, bây giờ chúng ta phải hành động thế nào để cứu vãn tình hình?” – Viên đại tá nhìn Ohier với ánh mắt thăm dò. – “Ông là tham mưu trưởng mà hỏi phải hành động thế nào để cứu vãn tình hình à? – Ohier nói với vẻ mặt khó chịu. – Đây là một thảm họa của đạo quân viễn chinh Đại Pháp mà lẽ ra có thể tránh được. Nhưng sự thể đã xảy ra như vậy rồi thì phải nhanh chóng chiếm lại Rạch Giá bằng bất cứ giá nào, ông hiểu chớ?”. – “Vâng, tôi hiểu, thưa đô đốc” – Viên đại tá gật đầu. – “Phương án tái chiếm Rạch Giá thế nào, ông nói đi”. Ohier nhìn viên tham mưu trưởng bằng ánh mắt chờ đợi. Dù sao, trong mắt Ohier, viên đại tá này cũng được đào tạo chánh quy và cũng có kinh nghiệm chiến trường. Viên đại tá bước lại tấm bản đồ treo trên vách, lấy gậy chỉ vùng Rạch Giá. – “Đây là khu vực địa hình phức tạp, giao thông chủ yếu bằng đường thủy. Đường bộ gần như chỉ có con đường độc đạo từ Hà Tiên đến Rạch Giá. Thị xã này nằm sát biển thuận tiện cho việc đổ bộ. Theo ý tôi, ta điều quân ở Vĩnh Long, Long Xuyên theo kênh đào tiến xuống và có thể đổ quân bằng đường biển tạo thành thế gọng kềm thì việc chiếm lại Rạch Giá không phải là bài toán khó, thưa đô đốc”. – “Ông có tính đến khả năng phòng thủ của tên Trực chưa? Nếu chúng đắp đập cản trên kênh đào sẽ là trở ngại cho việc dùng tàu chuyển quân của ta. Ông chưa nói đến trang bị võ khí của đạo quân phiến loạn này?”. Ohier cầm gậy chỉ lên con kênh đào Long Xuyên – Rạch Giá hỏi viên tham mưu trưởng. – “Theo chỗ tôi biết, thưa đô đốc, thì quân phiến loạn gần như chỉ có võ khí thô sơ như gậy gộc, gươm, giáo... Còn nếu võ khí đồn Rạch Giá bị họ chiếm được thì việc sử dụng cũng rất hạn chế vì đạn dược có hạn mà họ không có xưởng chế tạo đạn để bổ sung. Riêng súng lớn của họ nếu có, thì... thưa đô đốc, sức mạnh của nó ta đã biết từ lâu rồi, không thể chống lại hoả lực của ta”. – “Vậy theo ông có thể cử ai chỉ huy cuộc hành quân chiếm lại Rạch Giá?”. – “Có thể thiếu tá Ansart đang ở Vĩnh Long là thích hợp nhất, thưa đô đốc” – Viên tham mưu trưởng nói. – “Sao ông gọi là thích hợp nhất?” – Ohier hỏi. – “Vì ông ta rất thông thạo địa hình sông nước ở miền Tây Nam Kỳ, và hơn nữa từ Vĩnh Long đến Long Xuyên rồi xuống Rạch Giá là thuận lợi hơn các nơi khác, thưa đô đốc” – Viên tham mưu trưởng giải thích. – “Ông có lý – Ohier gật đầu suy nghĩ rồi nói tiếp – Nhưng mục tiêu của chúng ta là không phải chỉ chiếm lại Rạch Giá...”. – “Vậy đâu là mục tiêu chính trong cuộc hành quân này, thưa đô đốc?” – Viên tham mưu trưởng tỏ vẻ ngạc nhiên nhìn Ohier. – “Mục tiêu chính là Nguyễn Trung Trực. Phải tiêu diệt hay bắt sống hắn. Tên tướng giặc hết sức nguy hiểm này còn sống ngày nào thì công cuộc bình định xứ Nam Kỳ này không yên được với hắn. Sau thảm hoạ Rạch Giá sẽ còn nơi nào nữa, chỉ có Chúa mới biết được! Nhưng để diệt được tên Trực phải sử dụng đến lực lượng bản xứ đã quy thuận nước Pháp như Lãnh binh Tấn, Tổng đốc Phương, Trần Bá Lộc... Vì chỉ có người Việt mới hiểu được tính cách tên Trực, chỗ mạnh cũng như chỗ yếu của hắn, mới hy vọng diệt hắn được!”. Ohier nhấn mạnh mấy câu sau cùng, rồi đột nhiên hắn thở dài nói tiếp: – “Nay mai tin thất thủ Rạch Giá đến tai hoàng thượng, chắc chắn chúng ta sẽ bị ngài khiển trách, bởi năm võ quan Pháp bị giết trong một trận đánh đồn là điều không thể chấp nhận được đối với uy danh quân đội viễn chinh Đại Pháp... Cho nên bằng mọi giá, phải tiêu diệt tên Trực, quyết không để xảy ra một thảm kịch nào nữa. Ông hiểu chứ?”. – “Vâng, tôi hiểu, thưa đô đốc” – Viên đại tá gật đầu. – “Ông thảo lệnh điều động hành quân ngay đi!” – Ohier nói. – “Xin tuân lệnh!” – Viên đại tá rập chân đứng nghiêm chào rồi tất tả đi nhanh ra.


 


 


            Nhà riêng Huỳnh Tấn ở Gò Công. Đó là một ngôi nhà mới khang trang, có sân gạch với những chậu cây cảnh quý hiếm. Đó là quà tặng của những hương chức, hội tề các làng xã để lấy lòng khi Tấn được phong chức lãnh binh vì có công đầu trong việc sát hại Trương Định bình định vùng Đám lá tối trời, nguyên là căn cứ của nghĩa quân chống Pháp do Trương Định lãnh đạo. Tấn đang đùa giỡn với đứa con trai khoảng hai, ba tuổi ở phòng khách. Trông Tấn bây giờ có vẻ mập ra so với mấy năm trước. Mỗi lần Tấn xốc nách đứa bé lên cao, đứa bé lại cười khanh khách khiến vợ Tấn – tức thị Liễu, cháu của biện Chín – đang ngồi thêu gần đó, phải lên tiếng: – “Tướng công. Nhẹ tay một chút. Nó mới vừa ăn xong đó. Không khéo lại ộc ra hết bây giờ!”. – “Phu nhân đừng lo. Thằng này là con nhà tướng mà! Nào, bay lên nữa nghe con!” – Tấn lại xốc nách thằng bé giơ lên cao. Nó lại nhe mấy cái răng cười khanh khách có vẻ khoái cái trò chơi này. Vừa lúc ấy, có tên lính hầu ở ngoài vào. – “Bẩm đại nhân...” – Tên lính hầu ngập ngừng khi thấy Tấn đang đùa với con. – “Có chuyện gì đó?” – Tấn hỏi. – “Dạ. Bẩm đại nhân, có thơ hoả tốc của Soái phủ Sài Gòn gởi đại nhân”. Tên lính kính cẩn đưa thư cho Huỳnh Tấn rồi cúi chào lui ra. Huỳnh Tấn xé thư ra đọc. Sắc mặt hắn biến đổi dần lộ vẻ căng thẳng. – “Có chuyện gì mà tướng công không vui vậy?” – Liễu ôm đứa con trai vào lòng hỏi. – “Đồn Rạch Giá bị Nguyễn Trung Trực đánh chiếm. Lệnh trên điều ta xuống Rạch Giá để phản công chiếm lại thị xã này. Chà, tưởng anh ta ở ngoài Bình Thuận rồi, không ngờ...” – Huỳnh Tấn có vẻ lo lắng. Từng cùng chung đội ngũ, cùng học một thầy, Tấn còn lạ gì con người Nguyễn Trung Trực. – “Tướng công à. Bộ hết người hay sao mà họ phải đưa tướng công ra trận?... Thiếp lo quá! – Liễu vỗ vỗ cho thằng bé ngủ, nét mặt đầy vẻ lo lắng. Hay là tướng công cáo bệnh để họ cử người khác đi thay có được không?”. – “Đâu có làm như vậy được – Tấn lắc đầu – Họ biết ta quá rõ mà! Đã lãnh áo mão, lương bổng của họ, coi như đời ta đã dính chặt với họ rồi, họ bảo gì phải nghe nấy, trái lịnh của họ thì coi như không có chỗ đội mão đâu!”. – “Vậy bao giờ tướng công đi?” – Liễu ngước mặt nhìn Huỳnh Tấn với vẻ mặt âu sầu lo lắng. – “Ngày mai ta phải lên đường rồi. “Quân lịnh như sơn” mà – Huỳnh Tấn nói – Nàng cũng đừng lo lắng quá, ta biết phải làm gì với cuộc chiến mà ta buộc phải dấn thân... Âu cũng là số mệnh, chớ ta thật lòng không muốn gặp lại đối thủ vốn là bạn cũ của ta. Nàng ở nhà cố giữ gìn sức khoẻ để lo cho thằng Miên. Hằng ngày nhìn thấy nó như nàng thấy ta vẫn ở bên cạnh nàng”. Huỳnh Tấn vuốt mái tóc vợ và Liễu xúc động gục vào lòng Tấn, thổn thức: – “Tướng công!”.


 


 


            Khắp cả khu chợ Rạch Giá đều treo cờ nghĩa quân như ngày hội lớn. Dân chúng được thở bầu không khí tự do sau khi thành Sơn Đá bị hạ. Ai nấy đều có nét mặt tươi tắn, cười nói râm ran khắp đầu làng cuối phố. Trực đang ngồi nói chuyện với ông Thuyên trong hiệu thuốc của ông. Phía ngoài có một nghĩa quân cầm súng, súng chiến lợi phẩm của thành Sơn Đá đứng gác bảo vệ. – “Thưa thầy, bọn Tây dương sẽ không cam chịu để mất Rạch Giá này đâu – Trực nói – Đây là vùng đất màu mỡ ngoài ý nghĩa kinh tế, còn là vùng đất chiến lược khống chế cả vùng biển phía tây Tổ quốc ta. Ai làm chủ Rạch Giá sẽ làm chủ cả khu vực này đó”. – “Vậy bây giờ ông tính thế nào – ông Thuyên hỏi nét mặt có vẻ băn khoăn – để giữ Rạch Giá?”. – “Cái khó của nghĩa quân là lực lượng còn mỏng quá, võ khí lại thô sơ... Lấy được số súng giặc ở thành Sơn Đá, nhưng đạn dược chỉ đánh một trận là hết rồi. Súng mà không đạn coi như củi mục...”. – “Còn triều đình? – Ông Thuyên nói – Không lẽ họ để mình ông lo chống đỡ mà không tiếp viện hay sao?”. – “Không nên hy vọng gì ở triều đình – Trực cười buồn – Nếu họ thật sự quan tâm đến dân Nam thì đâu có chuyện nộp đất giao thành lúc còn đầy đủ quân tướng trước đây. Cái khó cho việc giữ Rạch Giá là sông rạch và biển bao quanh mà đó lại là ưu thế của bọn Tây dương thuận lợi việc dùng hải quân tấn công ta. Tôi sẽ cho đắp cản ngăn tàu giặc ở các kênh rạch xuống Rạch Giá. Nhưng còn đường biển thì thật là khó ngăn tàu giặc đổ bộ. Có lẽ thầy cũng nên chuẩn bị để khi hữu sự còn kịp sơ tán tránh thiệt hại do bọn giặc gây ra”.


            Đúng lúc ấy một nghĩa quân chạy vào báo: – “Anh Hai ơi! Có chuyện rồi!”. – “Có chuyện gì vậy?”. – “Ông Ba Ky đang đưa bọn bị bắt ra xử trảm ngoài bến chợ đằng kia”. – “Sao lại có chuyện nầy? – Trực ngạc nhiên – Chú về trước đi. Tôi sẽ ra ngay”. Người nghĩa quân chào rồi chạy ra ngoài. Trực quay sang nói với ông Thuyên: – “Việc quân không thể chần chờ. Mong thầy thứ lỗi. Xin cáo biệt!” – Trực chắp tay chào ông Thuyên. Ông thầy thuốc cũng chắp tay chào đáp lại Trực, và trong lòng ông không hiểu sao có cảm giác như lần gặp này là lần gặp cuối cùng giữa hai người. Tự dưng mắt ông thấy cay cay, ông vội quay lại bàn thờ thắp nén nhang cúi đầu khấn vái ơn trên phù hộ cho người anh hùng mà ông hết sức ngưỡng mộ này.


 


 


            – “Dừng tay lại!” – Trực vừa thét lớn vừa chạy lại bến sông chỗ xử trảm, khiến cho người lính làm đao phủ phải dừng lưỡi kiếm còn vấy máu vừa giơ lên cao toan hạ thủ người lính tên Chôm làm thông dịch cho bọn lính Pháp ở thành Sơn Đá bị trói giật cánh khuỷu vào cái cọc, quỳ gối cúi đầu chờ chết. Ông Ky quay lại nhìn Trực: – “Sao không cho chém nó, anh Hai?”. – “Nó là lính thông ngôn, không có gây nợ máu với dân, giết làm gì? Anh đã cho giết mấy tên rồi?” – Trực hỏi, rõ ràng nét mặt chàng không vui. – “Năm thằng! Trong đó có hai thằng thâu thuế tàn bạo với dân. Tôi cho bêu đầu chúng đằng kia kìa!”. Trực nhìn theo hướng ông Ky chỉ. Năm cái đầu, trong đó có ba tên Pháp bị đóng cọc phơi dưới ánh nắng dọc theo bờ sông. – “Thôi đừng chém nữa, tha nó đi!”. – “Cởi trói cho nó!” – Ông Ky ra lệnh. Một nghĩa quân bước lại cởi dây trói cho anh lính thông dịch Chôm. Anh ta sụp xuống lạy Trực và ông Ky, miệng lắp bắp: – “Đội ơn hai ông tha tội!”. – “Anh đi đi. Anh được tự do rồi đó!” – Trực khoát tay ra hiệu cho anh lính, rồi quay lại nói với ông Ky: – “Tôi cần gặp anh bàn chuyện gấp”. – “Dạ được anh Hai”. Ông Ky và Trực đi về phía thành Sơn Đá, sau khi ông Ky ra hiệu giải tán


            Một thiếu phụ từ đám đông dân chúng đứng coi hành hình chạy ra ôm chầm lấy anh lính thông ngôn, nước mắt đầm đìa: – “Mình ơi!”. Anh lính Chôm cũng ôm lấy người vợ nghẹn ngào không nói nên lời. Nhìn thấy cảnh tượng ấy nhiều người xúc động, không ngăn được những dòng nước mắt thông cảm.


 


 


Trong phòng của cô bồ nhí tên đội Lượm. Hắn đã chạy trốn khi nghe tiếng quản Cầu kêu gọi lính mã tà rằng thành Sơn Đá đã bị hạ, tên Chánh Phèn đã bị giết. Chạy theo sau hắn là Bảy Tiền, tên đàn em thân tín, bị phát súng bắn đuổi theo của Sáu Nhỏ, bị thương nặng máu ra nhiều không ai cứu chữa, nên đã nằm chết bên cạnh đường, quần áo ướt đẫm nước mưa. Hắn gõ cửa chỗ ở của Thảo. Cô gái ra mở cửa, nét mặt hoảng hốt khi thấy quần áo hắn ướt đẫm. – “Sao anh lại ra thế này? – Thảo hỏi giọng lo sợ – Đã có chuyện gì xảy ra?”. – “Thôi, vô nhà rồi nói chuyện sau – đội Lượm bước nhanh qua cửa – Lấy bộ quần áo ngủ cho anh thay bộ đồ này ướt hết rồi. Lạnh quá!”. Cô gái lấy cho hắn bộ quần áo ngủ. Hắn đứng khuất sau cái tủ đựng quần áo, thay bộ đồ ướt quăng vào xô, mặc bộ đồ ngủ bước ra. – “Đâu, có chuyện gì, anh nói đi”. Thảo nét mặt vẫn chưa hết vẻ hốt hoảng nhìn đội Lượm hỏi. – “Đồn Sơn Đá đã bị bọn phiến loạn hạ rồi. Ông Chánh Phèn đã bị giết. Anh kịp chạy thoát trước khi bọn lính làm phản định bắt… Bí quá, anh chạy lại em trốn tạm qua đêm nay rồi tính tới nữa” – đội Lượm nói. – “Có ai trông thấy anh chạy lại chỗ em không?” cô gái lo lắng hỏi. – “Đêm tối lại mưa, làm gì có ai ra đường mà trông thấy – đội Lượm nhìn cô gái giải thích – Anh chỉ ở tạm đây đến tối mai sẽ đi kiếm chỗ khác, em yên chí – Hắn lại ngáp dài – Giờ anh buồn ngủ quá, em canh cho anh, có chuyện gì gọi anh dậy ngay nghe!”. Nói xong hắn đến giường nằm lăn ra. Chỉ thoáng chốc đã nghe tiếng hắn ngáy đều đều. Cô gái hết đi ra lại đi vào, nét mặt luôn căng thẳng. Trời sắp sáng. Những đám mây ngang phía đằng đông đã lấp loáng những tia nắng sớm. Ngoài đường đã nghe thấy tiếng người qua lại…


 


 


            Hai mẹ con – bà Năm và Thắm – vừa vô quán của Thắm đã thấy Tèo ngồi ở đó với Sáu Nhỏ. – “Má!” – Trông thấy bà Năm, Tèo kêu lên sung sướng. – “Tèo, con!” – Bà Năm chạy lại ôm con khóc ròng: – “Má tưởng không còn gặp được con nữa. Cả con Thắm cũng nghĩ như vậy!”. Thấy cảnh bà Năm ôm con khóc ròng, Thắm cũng không cầm được nước mắt. Cả Sáu Nhỏ ngồi cạnh Tèo cũng vậy. Những giọt nước mắt mừng vui buổi trùng phùng của những người thân từ cõi chết trở về bao giờ cũng làm xúc động mọi người. Giữa lúc ấy Út Hết bỗng xuất hiện, cô mừng rỡ chạy vô ôm lấy Thắm: – “Chị Thắm!”. – “Út Hết!” – Thắm cũng rất xúc động vuốt tóc Út hết, nói với bà Năm: – “Đây là Út Hết, phụ giúp con bán quán này – rồi quay sang nói với Út Hết – Đây là má anh Tèo, còn đây là anh Sáu Nhỏ, bạn anh Tèo”. – “Sao cô Út biết chúng tôi về mà đến đây?” – Tèo mỉm cười hỏi Út Hết. – “Đâu có biết! Nghe tin đồn thành Sơn Đá bị ông Trực đánh chiếm. Cả Rạch Giá vui mừng, em ở nhà ngoại em nghe vậy nên vội ra đây để coi có gặp anh với chị Thắm không – Út Hết cười – Không ngờ được gặp bà và cả anh Sáu nữa. Ôi, bữa nay thiệt là vui quá!”. Bà Năm nhìn Út Hết qua thái độ chân thật và tình cảm của cô gái Miên này đối với Thắm và gia đình bà, bà thấy có cảm tình: – “Cháu Út năm nay bao nhiêu tuổi rồi?”. – “Thưa bà, cháu mười tám…” – Út Hết trả lời có vẻ ngượng. Hình như tâm lý các cô gái ai hỏi đến tuổi đều có cảm giác ngượng ngập khi trả lời.


 


 


            Tiếng cười nói oang oang của nhà bên cạnh chỗ Thảo ở, khiến đội Lượm tỉnh giấc hẳn. Thảo đi đâu vắng. Nhà chỉ có mình hắn. Hắn nằm im lặng nghe không bỏ sót một lời của những người đang nói: – “Sáng nay bà con mình kéo ra bờ sông coi xử trảm mấy thằng giặc ở đồn Sơn Đá. Ngoài mấy thằng Tây, còn có hai thằng thâu thuế đánh đập dã man những người thiếu thuế không hối lộ chúng. Đầu chúng bị đóng cọc bêu dọc theo sông, ôi khiếp quá!”. – “Chưa đâu, còn một thằng nữa chưa bắt được”. Tiếng một người đàn ông nghe quen quá. – “Ông nói ai vậy?” – tiếng một người nào đó hỏi, giọng đàn bà. – “Là thằng đội Lượm chớ ai? Mấy hôm trước đây nó bắt tui đánh đập dã man, rồi bắt vợ tui đưa một trăm lượng vàng mới chuộc tui về được. Thằng này mà bắt được tui sẽ xin ông Trực cho tui xẻo thịt nó, coi nó có đau không rồi mới chặt đầu nó đem bêu giữa chợ mới đúng”. “Thôi chết rồi. Chính là thằng bị mình moi vụ trốn thuế bằng hai sổ sách đây mà…” – đội Lượm nghĩ thầm. Đội Lượm gần như co rúm lại khi biết kẻ thù của hắn chỉ ở cách hắn một bức vách. Và điều gì sẽ xảy ra khi người ta biết hắn đang trốn ở đây…


 


 


            Ở vườn sau quán của Thắm. Sáu Nhỏ ngồi bên cạnh Út Hết dưới gốc cây nhãn đang mùa trổ bông. Cả hai đều có vẻ không tự nhiên, nhất là đối với Út Hết. Cô có cảm tình với Sáu Nhỏ vì anh là bạn thân của Hai Tèo, chồng Thắm. Tay Út Hết cứ bứt bứt mấy ngọn cỏ. Hồi lâu, không thấy Sáu Nhỏ nói gì, Út Hết đành lên tiếng trước: – “Anh Sáu quê ở đâu?”. – “Ở xa lắm. Tận trên Bình Chánh, Tân An gần Sài Gòn – Gia Định lận” – Sáu Nhỏ nhìn Út Hết mỉm cười trả lời. – “Ở xa vậy, sao anh quen được anh Hai Tèo?” – Út Hết nhìn Sáu Nhỏ bằng ánh mắt tinh nghịch pha lẫn tình cảm. – “Hồi trước khi lên Sài Gòn làm mướn, khi bọn Phú-lang-sa đánh đồn Kỳ Hoà rồi chiếm ba tỉnh miền Đông, anh cũng bị bắt lính sau anh Hai Tèo mấy tháng. Hai đứa cùng chung đơn vị, lại cùng hoàn cảnh, nên chơi thân với nhau”. – Sáu Nhỏ nhìn ra xa với ánh mắt buồn buồn khi nhắc lại chuyện cũ. – “Hoàn cảnh hai anh ở cách xa nhau quá trời lại giống nhau như thế nào, anh kể cho em nghe đi”. Út Hết có vẻ muốn biết hoàn cảnh của Sáu Nhỏ với Hai Tèo.


            – “Hồi trước, cách đây bảy năm, ba anh làm nông binh ở Tân An được ông Lãnh binh Trương Định gọi lên tham gia trận đánh đồn Kỳ Hoà, và hy sinh khi đồn Kỳ Hoà bị bọn Phú-lang-sa chiếm. Sau đó, trong một lần chở gạo ra chợ Tân An, anh bị bọn chúng bắt lính đưa vô lực lượng mã tà và anh gặp anh Tèo tại đơn vị đó. Khi xin đổi về Rạch Giá, ảnh rủ anh về Rạch Giá với ảnh. Về đây ảnh mới biết cha ảnh với em gái đều bị giặc giết khi chúng đi càn ở Hòn Chông… Hoàn cảnh giống nhau là ở chỗ đó em à!” – Sáu Nhỏ nói với giọng xúc cảm. – “Trời ơi! Em không ngờ tía anh Hai Tèo cũng như tía anh đều bị giặc Tây dương giết hết, hoàn cảnh giống nhau thiệt lạ lùng quá!” – Út Hết tỏ vẻ thông cảm. – “Cho nên khi về đây biết tin gia đình bị giặc giết hại như vậy, anh Hai Tèo thề trước vong linh hai người thân là sẽ trả thù cho dầu có chết cũng cam lòng. Sau khi liên lạc được với ông Nguyễn Trung Trực qua cô Đỏ giới thiệu, anh Hai Tèo có nói chuyện này với anh và rủ anh cùng tham gia nghĩa quân ông Trực khi ổng đánh thành Sơn Đá. Khi anh Tèo bị bắt cùng với quản Cầu, xã Lý, cô Đỏ… anh rất lo ông Trực có kịp cứu mấy người này không? – Sáu Nhỏ nhìn Út Hết mỉm cười – Cũng may là ông Trực quyết định đánh ngay đồn Sơn Đá nên anh Tèo mới gặp lại bà Năm và chị Thắm… Mà cũng nhân dịp này anh mới được gặp Út Hết. Có lẽ cũng do cơ duyên trời định, phải vậy không em?”. – “Em cũng không biết nữa – Út Hết nhìn Sáu Nhỏ với ánh mắt tình cảm – Hôm chúng đến bắt anh Tèo, em đang ở trong quán nên thấy hết”.


            Tèo, quản Cầu, xã Lý, cô Đỏ ngồi trong quán của Thắm. Tèo nói với Thắm: – “Bữa nay em làm cho một bữa cháo vịt được không Thắm?”. – “Được quá đi chớ. Nhưng em phải đi chợ ngay mới kịp. – Thắm vui vẻ nói – Các anh chị ở nhà nói chuyện, em đi chợ một chút về liền hà. Út Hết, em nấu nước pha trà Tàu cho mấy anh chị uống nghe”. Dặn dò Út Hết xong, Thắm xách giỏ đi chợ ngay. Út Hết nấu nước sôi xong pha trà vô bình tích lớn, để mấy cái chung sành sứ vô khay bưng lên đặt giữa bàn, vui vẻ mời: – “Các anh chị uống nước. Em pha trà tàu rồi đó”. – “Cám ơn em” – cô Đỏ mỉm cười nói. Út Hết đi xuống bếp để mọi người tiếp tục câu chuyện. – “Hôm trước ra ngoài chợ, người ta xôn xao với cái tin đội Lượm cho người bắt thương buôn trốn thuế tra khảo dã man rồi bắt người nhà đưa vàng ra chuộc mạng – cô Đỏ nói – Chuyện đó biết có hay không?”. – “Tôi cũng cho người kiểm tra lại tin đồn này. Thằng Lượm vốn là có bàn tay nhám nhúa từ trước, nay lại có cơ hội phát triển tính xấu này. Nếu có đủ bằng chứng tôi sẽ trị tội nó ngay” – Quản Cầu nói giọng rắn rỏi kiên quyết. Đúng lúc đó một toán lính Pháp, mã tà, ma ní ở đồn Sơn Đá, chỉ huy là tên thiếu úy đồn trưởng ở ngoài ập vào, chĩa súng vào mấy người ngồi, quát lớn: – “Giơ tay lên! Mấy người đã bị bắt!”. Quản Cầu và mấy người cùng giơ tay chịu bị trói thúc ké. Út Hết nghe những tiếng quát không hiểu chuyện gì đã xảy ra, vội chạy lên. – “Con nhỏ chủ quán đâu?” – Lúc này tên đội Lượm mới xuất hiện, hỏi. – “Dạ… cô chủ… đi vắng rồi”. Út Hết sợ quá trả lời ấp úng, rồi dựa cây cột khóc. – “Tất cả về đồn!” – Tên thiếu úy đồn trưởng ra lệnh. Quản Cầu, cai Tèo, xã Lý và cô Đỏ lần lượt bước ra khỏi quán dưới mũi súng áp giải của bọn lính. Đi sau cùng là đội Lượm…


            Út Hết tiếp tục kể chuyện với Sáu Nhỏ. – “Cũng may – Út Hết nói tiếp – là sau khi bọn chúng ra khỏi quán một lúc thì chị Thắm mới về tới. Chỉ mà về sớm một chút thì chắc cũng bị bắt luôn rồi. Sau đó thì chị em mỗi người một ngả, sợ chúng nó trở lại kiếm bắt. Sau này nghe người ta nói chúng có trở lại thiệt, nhưng chỉ có cái quán không”. Út Hết vui vẻ kể tiếp: – “Em về ở bên ngoại em, vì em là con mồ côi từ nhỏ ở với bà ngoại… Nghe tin đồn Sơn Đá bị ông Trực đánh hạ, em vội ra đây coi có gặp chị Thắm, anh Tèo hay không, không ngờ lại gặp cả anh… Ôi em vui sướng quá!” – Vô tình Út Hết nắm lấy tay Sáu Nhỏ. Anh rất xúc động, để yên… đến lúc qua cơn xúc động Út Hết bẽn lẽn rút bàn tay lại, mặt ửng đỏ. Và cũng đúng lúc ấy, Sáu Nhỏ choàng tay qua kéo Út Hết sát mình, đặt nụ hôn lên má với giọng xúc động: – “Út Hết. Anh thương em lắm. Em biết không?”.


 


 


            Phòng nhà Thảo, nơi đội Lượm ẩn tránh. Thảo vừa mở cửa bước vô nhà. Nhìn thấy vẻ mặt hốt hoảng của đội Lượm, Thảo hỏi: – “Anh làm sao vậy? Ở nhà đã xảy ra chuyện gì rồi?”. – “Em đi đâu tới giờ mới về?” – đội Lượm hỏi, nét mặt vẫn còn lo lắng. – “Thì cũng phải đi kiếm đồ ăn ngày nay – Thảo nói – Ra ngoài chợ người ta đồn rùm vụ mấy ông Tây dương ở đồn Sơn Đá với hai ông thuế vụ bị nghĩa quân ông Trực giết đóng cọc bêu đầu dọc theo bờ sông, người ta đi coi đông lắm. Chợ gần như không ai bán buôn gì, em chỉ mua được mấy lạng thịt kho ăn tạm vậy. Ở nhà đã có chuyện gì xảy ra, mà trông anh lo lắng quá vậy?”. – “Không… không có chuyện gì. Chỉ ở bên cạnh có mấy người nói chuyện to tiếng làm anh mất ngủ nên mệt… Vậy thôi”. Đội Lượm giấu chuyện nghe người bị hắn bắt lấy vàng chuộc, hắn sợ Thảo nghe mất tinh thần, bất lợi cho hắn. Lòng người lúc hỗn loạn thế này làm sao tin được? – “Này em. Cơm nước xong em lo đi mướn chiếc tam bản hay chiếc xuồng gì cũng được, để chạng vạng tối, anh với em đi về Lình Quỳnh, có người quen của anh ở nơi đó, ta tạm trú vài hôm coi tình hình ra sao rồi mình tính tới nữa. Được không em?” – đội Lượm hỏi Thảo. – “Chắc phải làm vậy thôi – Thảo nói – Chớ anh ở đây em sợ lắm. Vì bên cạnh có người quen thằng cha thương buôn bị anh bắt lấy vàng chuộc hôm trước. Nó mà biết anh trốn ở đây thì coi như tụi mình chết chắc”. Thảo vô tình nói làm đội Lượm sợ chết điếng, mồ hôi vã ra ướt đẫm, hắn vội lăn ra giường kéo mền đắp kín. – “Anh lạnh à?” – Thảo hỏi với vẻ lo lắng. – “Ừa, tự nhiên thấy lạnh quá”. Đội Lượm ấp úng trả lời cho qua chuyện. Hắn chỉ mong trời mau tối để còn trốn chạy khỏi nơi này…


            Trong phòng của Thắm ở quán, Tèo nói với Thắm: – “Tình hình hiện nay không yên đâu. Bọn Tây dương sẽ đánh chiếm lại Rạch Giá, rồi nó sẽ trả thù dân chúng ủng hộ nghĩa quân như nó đã làm ở Tân An sau khi ông Trực đốt tàu nó ở vàm Nhựt Tảo sáu năm trước – Tèo âu yếm hôn Thắm – Cho nên em về với má ở Hòn Chông ngay hôm nay đi. Anh còn phải trở lại hàng ngũ lo chuẩn bị chống giặc”. – “Vậy là bỏ quán à?” – Thắm hỏi. – “Không bỏ cũng không được đâu em à. – Tèo vuốt tóc Thắm – Ai bảo vệ em khi lũ giặc kéo đến đốt phá, khi chúng bằng mọi giá cố chiếm lại Rạch Giá”. – “Còn con Út Hết thì sao? – Thắm nhìn Tèo hỏi – Tội nghiệp con nhỏ mồ côi cha mẹ, ở với bà ngoại cũng nghèo, em thương nó lắm, coi như em ruột của mình. Em muốn đưa nó về Hòn Chông với má và em… Anh thấy được không?”. – “Được quá chớ – Tèo cười đồng ý – Anh thấy nó cũng có cảm tình với thằng Sáu Nhỏ, mà thằng này cũng thương nó thiệt. Nay mai Sáu Nhỏ cũng ở lại chiến đấu với anh thì Út Hết về ở Hòn Chông với má và em thì phải lắm rồi. Anh cũng rất thương hai đứa nó em à! Âu cũng là số trời cho hai đứa nó gặp nhau cũng như anh với em, em thấy có đúng như vậy không?”. Thắm không nói, chỉ gật đầu đồng ý trong vòng tay âu yếm của Tèo. Bên ngoài trời tối dần…


 


 


            Bây giờ tên đội Lượm cải trang, mặc đồ đen, chít khăn rằn đầu rìu, giống như nghĩa quân chèo chiếc tam bản do Thảo đi mượn hay mướn của người quen biết nào đó. Thảo ngồi bơi trước mũi. Gió biển thổi rì rào, sóng gợn lăn tăn không ngăn cản chiếc tam bản đi về phía Lình Quỳnh, do đội Lượm cố sức chèo ra khỏi vùng chợ Rạch Giá càng xa càng tốt. – “Nghe nói ở Lình Quỳnh người ta làm nước mắm nổi tiếng lắm phải không anh?” – Thảo buông dầm quay lại nói chuyện cho đỡ mỏi tay. – “Còn phải nói – đội Lượm vừa chèo vừa nói – Nhiều người ở địa phương này làm giàu nhờ nghề làm nước mắm đó. Ờ, tại sao em là dân chợ Rạch Giá mà chưa đến Lình Quỳnh bao giờ à?”. – “Đâu phải lúc nào cũng có chuyện đi – Thảo cười – Chỉ hôm nay, chạy giặc mới được đi với anh đến Lình Quỳnh đó chớ!”. – “Xứ làm nước mắm này, em tới thấy thì mê liền, không muốn về nữa đâu – đội Lượm nói – Trước đây anh cũng nghĩ mình kiếm được số vốn, về đây mở vựa nước mắm làm chủ thì không phải lo gì hết”. – “Đó là trước đây, còn bây giờ thì sao?” – Thảo cười hỏi. – “Bây giờ thì lo chạy giặc trước đã – đội Lượm nói cũng giọng tươi cười – Nhưng tin rằng lần này chạy giặc không lâu đâu. Vài bữa sẽ trở về thôi”. – “Anh nói vậy là sao?” – Thảo hỏi. – “Bọn phiến loạn đó có chiếm được đồn Sơn Đá hay cả chợ Rạch Giá đi nữa, nhưng giữ sao nổi. Bọn đó chỉ có trong tay súng ống loe hoe vài ba cây, còn lại là tầm vông, mã tấu, giáo mác thì làm sao chống lại được với người Phú-lang-sa có tàu to, súng lớn, nay mai sẽ trở lại vì triều đình đã nộp thành giao đất cho họ rồi. Bọn phiến loạn chỉ có nước chết thôi em à!” – đội Lượm nói. – “Họ chết đâu chưa thấy, chỉ thấy họ chặt đầu đóng cọc bêu theo bờ sông những người theo làm tay sai cho người Phú-lang-sa. – Thảo nhìn đội Lượm rồi nói tiếp – À, quên nói với anh, người ta đã gặp Bảy Tiền trúng đạn chết nằm gần bụi cây. Họ nhận ra tay này hay đi hăm doạ tống tiền dân buôn bán, nên họ cũng chặt đầu bêu luôn với mấy tay thuế vụ cho có bạn! Ôi thấy khiếp quá!” – “Em có thấy không? Hay chỉ nghe người ta nói?” – đội Lượm nhìn Thảo hỏi. – “Chính em đi chợ mua đồ ăn nên thấy trực tiếp chớ có nghe ai nói đâu. – Thảo cười nói – Ra chợ mới nghe là người ta nói họ sẽ thưởng năm trăm lượng vàng nếu ai bắt được anh để họ xử theo kiểu của họ, lột da rồi mới bêu đầu. Em hoảng quá phải vội về ngay, sợ có người biết em là bồ của anh, họ bắt luôn thì chết”. – “Sao về không nói cho anh biết?” – đội Lượm hỏi với giọng lo lắng thật sự. – “Nói chi cho anh thêm sợ… Nhưng rõ ràng là người Phú-lang-sa không nắm được lòng dân, cho nên khi không có họ thì những người làm việc cho họ sẽ bị nhơn dân trả thù tàn tệ… yếu bóng vía thấy chết khiếp đó!”. Thảo vô tư vừa nói vừa cười lớn trong khi đầu đội Lượm đã lóe lên những suy nghĩ mà chỉ riêng những tên ác độc như hắn mới nghĩ ra.


            Cũng trong đêm hôm ấy, trên chiếc ghe rỗi nhỏ ra cửa biển đi về hướng Hòn Chông. Trên ghe có Tèo, Sáu Nhỏ, Thắm và Út Hết. Tèo chèo lái, Sáu Nhỏ chèo mũi. Ngồi giữa là Thắm và Út Hết với đống đồ đạc chất giữa ghe, cái gì của quán mang theo được thì đem không bỏ lại thứ gì cần thiết cho cuộc sống ngày mai. – “Chà, lâu ngày quá mới được chèo ghe trên biển Rạch Giá quê hương – Tèo cười nói sung sướng – Mình không phải là dân chài lưới mà xa biển lâu lâu cũng nhớ huống chi anh Trực, ảnh là dân chài, sao mà ảnh không nhớ được?”. – “Ủa, ông Hai Trực là dân chài lưới sao anh Hai?” – Thắm gần như ngạc nhiên khi nghe Tèo nói ông Trực là dân chài, vì lâu nay trong trí tưởng tượng của Thắm, Trực phải là người dòng dõi hào kiệt, học cao biết rộng mới đánh bại nổi lũ Tây dương, mà danh tiếng nổi như cồn, ai nghe cũng đều ngưỡng mộ. – “Đúng, ổng là dân chài thiệt. Tên cúng cơm ổng là Nguyễn Văn Lịch, sau này mới có tên Nguyễn Trung Trực là do ông Bình Tây đại nguyên soái Trương Định đặt cho, người ta kể lại như vậy. Trước khi xuống Tà Niên, hồi còn ở Sân Chim, ổng đi chài trên sông Cái lớn đủ nuôi anh em nghĩa quân theo ổng đó” – Tèo cười vui vẻ kể chuyện. – “Vậy thì ông Trực là người trời sai xuống để cứu dân cứu nước mới có tài đánh giặc giỏi vậy – Thắm thành thật nghĩ vậy, nói tiếp – Bà con Rạch Giá này nhiều người đâu biết mặt ổng, vậy mà chỉ nghe đến tên là thương mến, kính trọng rồi”. Chiếc thuyền lướt sóng băng băng về hướng Hòn Chông. Trời về đêm gió nhẹ. Sóng chỉ gợn đập vào mạn thuyền. Út Hết ngồi với Thắm nghe hết chuyện Tèo kể. Lòng cô gái Miên còn trẻ rất trong sáng, dễ xúc động, và cô cũng nghĩ như Thắm, ông Trực phải là người của Trời của Phật sai xuống để trị bọn quỷ sa tăng hại dân, hại nước. Tự nhiên, Út Hết thấy thương Sáu Nhỏ vô cùng. Ảnh đi theo ông Trực là để làm điều thiện, chống cái ác, sao mà không thương chớ. Nghĩ vậy, Út Hết nói với Thắm: – “Để em ra chèo thay cho anh Sáu nghỉ tay một chút, nghe chị”. – “Ừa, em chèo đi. Chị cũng thay anh Hai, cho hai ảnh nghỉ tay một chút. Hòn Chông cũng còn xa mà” – Thắm vui vẻ nói.


(còn tiếp)


Nguồn: Nguyễn Trung Trực - Khúc ca bi tráng. Tiểu thuyết của Dương Linh. NXB Văn học, 10-2012.


www.trieuxuan.info


 


            

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Bão - Ngũ Hà Miên 16.10.2018
Trả giá - Triệu Xuân 13.10.2018
Bụi đời - Triệu Xuân 13.10.2018
Cõi mê - Triệu Xuân 13.10.2018
Trăm năm cô đơn - G. G. Marquez 09.10.2018
Nguyễn Trung Trực - Khúc ca bi tráng - Dương Linh 09.10.2018
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 05.10.2018
Sừng rượu thề - Nghiêm Đa Văn 05.10.2018
Hòn đất - Anh Đức 14.09.2018
Hồi ký điện ảnh - Đặng Nhật Minh 14.09.2018
xem thêm »