tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 29894452
Tiểu thuyết
28.12.2015
A. Dumas
Hai mươi năm sau

68. ĐẠI SẢNH TRẮNG


 


Nghị viện kết án tử hình Saclơ Xtiuôt, như người ta có thể dễ dàng thấy trước. Những cuộc xét xử chính trị bao giờ cũng chỉ là những nghi thức vô ích, bởi vì vẫn những thiên kiến ấy vừa buộc tội lại vừa kết án. Cái lôgic kinh khủng của những cuộc cách mạng là như thế đấy.


Việc kết án mặc dầu đã được mấy người bạn của đ’Actanhăng liệu trước, nó vẫn làm cho họ đau đớn. Đ’Actanhăng mà tài trí càng những lúc gay go càng nảy ra nhiều mưu mẹo nhất, lại thề rằng sẽ tìm mọi cách ở trên đời để ngăn cản sự kết thúc của tấn bi kịch đẫm máu này. Nhưng bằng cách nào đây? Đó là điều anh thấy còn lờ mờ. Tất cả phụ thuộc vào tính chất của hoàn cảnh. Trong khi chờ đợi một kế sách hoàn chỉnh, để tranh thủ thời gian, bằng mọi giá phải cản trở việc hành hình mà các quan tòa đã quyết định vào ngày hôm sau. Cách duy nhất là làm biến mất tên đao phủ Luân Đôn.


Đao phủ biến mất thì bản án không thể thi hành. Chắc là người ta sẽ đi kiếm đao phủ ở thành phố gần Luân Đôn nhất, và như thế ít ra cũng lợi thêm một ngày, mà một ngày trong những trường hợp như thế này có thể là cứu nạn! Đ’Actanhăng đảm nhiệm cái công việc quá ư là khó khăn này.


Một điều không kém phần quan trọng là báo cho Saclơ Xtiuôt biết rằng người ta định cứu ông để ông hết sức hỗ trợ những người bảo vệ ông hoặc ít ra không làm điều gì trở ngại cho công việc của họ...Aramix nhận làm cái việc mạo hiểm đó.


Saclơ Xtiuôt đã yêu cầu người ta cho phép giám mục Juxơn đến thăm ông ở nhà tù Đại sảnh trắng. Ngay chiều hôm ấy Morđao đã đến nhà giám mục để cho ông biết điều mong muốn sùng tín của nhà vua và sự cho phép của Cromoen. Aramix nhất quyết bằng cách dọa nạt hoặc thuyết phục làm sao cho giám mục đồng ý để cho anh thay thế ông, mang những huy hiệu và giao chức của ông và lọt vào cung Đại sảnh trắng.


Cuối cùng Atôx đảm nhiệm việc chuẩn bị các kế hoạch rời khỏi nước Anh trong trường hợp thành công cũng như thất bại.


Đêm đến, họ hẹn gặp nhau ở khách sạn vào lúc mười một giờ, và mỗi người lên đường để thực hiện nhiệm vụ nguy hiểm của mình.


Cung Đại sảnh trắng được canh gác bởi ba trung đoàn kỵ binh và nhất là bởi những nỗi băn khoăn vô tận của Cromoen, ông đi đi lại lại và phái các tướng lãnh hoặc nhân viên.


Một mình trong căn phòng thường lệ của mình có hai ngọn nến soi sáng, nhà vua bị kết án tử hình buồn bã nhìn cái xa hoa của thời vàng son đã qua, giống như vào lúc lâm chung người ta nhìn hình ảnh cuộc đời thấy nó sán lạn và ngọt ngào hơn bao giờ hết.


Pary không rời chủ lúc nào và từ khi lúc chủ bị kết án, bác khóc mãi không thôi.


Ngồi tì tay trên một cái bàn, Saclơ Xtiuôt ngước nhìn một bức đại bài trên đó treo những chân dung của vợ và các con gái ông. Ông chờ đợi Juxơn trước hết, rồi sau Juxơn là sự tuẫn tử.


Đôi khi dòng suy nghĩ của ông dừng lại ở những nhà quý tộc Pháp trung hậu lúc này như đã cách xa ông hàng trăm dặm, có vẻ huyền thoại, hư ảo và tựa như những hình ảnh mà người ta thấy trong những giấc mơ và biến mất khi tỉnh dậy.


Mà quả thật, đôi khi Saclơ tự hỏi mình rằng tất cả những gì vừa mới xảy ra với ông phải chăng là một giấc mơ hoặc ít ra cũng là một điều mê sảng trong cơn sốt


Nghĩ vậy ông đứng lên, đi vài bước như để ra khỏi cơn mê, đi ra cửa sổ nhưng lập tức trông thấy ở phía dưới cửa lấp lánh những nòng súng của lính gác. Khi ấy ông buộc phải thú nhận rằng ông đang thức hẳn hoi và giấc mơ đẫm máu của ông là có thật.


Saclơ lặng lẽ trở lại ghế bành, ngồi tì tay lên bàn, gục đầu vào bàn tay và nghĩ ngợi.


-  Than ôi! – Ông tự nhủ thầm, -  nếu như ít ra ta có một đức cha để xưng tội trong số những tâm hồn sáng láng của Nhà thờ đã thăm dò mọi bí mật của cuộc đời, mọi điều nhỏ nhen của sự cao cả, thì tiếng nói của người ấy có lẽ sẽ dập tắt tiếng nói đang than thở trong tâm hồn ta! Nhưng ta sẽ có một linh mục tâm hồn tầm thường mà do tai họa của ta, ta đã phá vỡ cuộc đời và cơ nghiệp của ông ấy. Ông ấy sẽ nói với ta về Thượng Đế và cái chết như vẫn thường nói với những kẻ sắp chết khác, không hiểu rằng kẻ sắp lìa đời vương giả này để lại một ngai vàng cho kẻ chiếm đoạt trong khi con cái của mình chẳng còn bánh ăn.


Rồi đưa các bức chân dung lên môi, ông lần lượt lẩm nhẩm đọc tên từng đứa con.


Đêm hôm ấy là một đêm mù sương và ảm đạm. Chuông nhà thờ gần đó thong thả điểm giờ. Ánh sáng vàng vọt của hai cây nến reo rắc trong căn phòng rộng rãi và cao ráo ấy những bóng ma chập chờn kỳ lạ. Đó là những tổ tiên của vua Saclơ tách ra khỏi những khung ảnh thiếp vàng; và những bóng chập chờn kia là những vầng sáng cuối cùng xanh xanh và lấp lánh của một ngọn lửa than đang tắt.


Một nỗi buồn mênh mông xâm chiếm Saclơ. Ông vùi đầu vào trong lòng bàn tay và mơ màng đến cái thế giới thật là tươi đẹp khi người ta rời bỏ nó hoặc đúng hơn là nó rời bỏ ta, đến những cái vuốt ve thật êm ái và ngọt ngào của những đứa con nhất là khi người ta xa rời chúng để không bao giờ gặp lại nữa. Rồi ông nghĩ đến người vợ cao quý và can đảm đã nâng đỡ ông đến phút cuối cùng. Ông rút từ ngực ra cây thánh giá kim cương và tấm huân chương Giarơchie mà bà đã nhờ những người Pháp hào hiệp kia đưa tới, và hôn lên. Rồi nghĩ rằng bà chỉ lấy lại những kỷ vật ấy khi tấm thân lạnh giá và bị cưa cắt của ông đã bị vùi trong một nấm mồ, ông cảm thấy một cơn rùng mình ớn lạnh mà tử thần ném lên mình như ném chiếc áo choàng đầu tiên của nó.


Thế là trong căn phòng nhắc nhở với ông biết bao kỉ niệm đế vương và đã từng chứng kiến biết bao cận thần vào ra và biết bao điều phỉnh phờ nịnh hót , giờ đây một mình ông cùng với một tên đầy tớ buồn phiền mà linh hồn yếu đuối không thể nâng đỡ linh hồn ông, nhà vua buông rơi lòng can đảm của mình xuống ngang tầm của sự yếu đuối ấy, của những bóng đêm ấy, của cái giá lạnh mùa đông ấy. Và liệu người ta có sẽ nói ra không? Cái ông vua ấy chết thật cao cả, thật tuyệt vời, với nụ cười nhẫn nhục trên môi, đã lau trong bóng tối một giọt nước mắt rơi xuống bàn và rung rinh trên tấm thảm thêu vàng lóng lánh.


Bỗng nhiên có tiếng chân bước ngoài hành lang, rồi cửa bật mở và gian phòng bừng lên trong ánh sáng khói um của những ngọn đuốc. Một giáo sĩ vận y phục giáo chủ bước vào có hai lính gác theo sau. Saclơ khoác tay một cách khan thiết cho hai tên lính và chúng đi ra. Căn phòng trở lại tối tăm.


-  Juxơn! – Saclơ reo lên, -  Juxơn! Cảm ơn người bạn cuối cùng của tôi, ông đến rất kịp thời.


Vị giám mục đưa mắt lo ngại nhìn xiên ngang phía người đàn ông đang thổn thức ở góc lò sưởi.


-  Nào, Pary, đừng khóc nữa, -  vua nói, -  đây là Chúa đến với chúng ta.


-  Nếu là Pary thì tôi chẳng có gì phải lo ngại, giám mục nói. Vậy thì tôi xin phép kính chào Hoàng thượng và thưa với ngài tôi là ai và đến đây vì việc gì.


Nhìn lại người và nghe giọng nói ấy, suýt nữa Saclơ kêu lên, nhưng Aramix đặt ngón tay lên môi và kính cẩn cúi chào ông vua Anh quốc.


-  Ông hiệp sĩ, -  Saclơ lẩm bẩm.


-  Vâng, thưa Hoàng thượng, -  Aramix ngắt lời và lên cao giọng, -  vâng, tôi là giám mục Juxơn, người hiệp sĩ trung thành của Chúa Giêsu, đến đây theo nguyện vọng của Hoàng thượng.


Đã nhận ra đ’Ecblay, Saclơ chắp hai tay, kinh ngạc và ngẩn người ra trước người ngoại quốc này, họ chẳng có động cơ nào khác ngoài nghĩa vụ mà tự lương tâm họ đặt ra, chiến đấu chống lại ý nguyện của một dân tộc và chống lại số mệnh của một ông vua.


-  Ông đấy à! – Vua nói, -  ông làm thế nào mà tới được đây? Lạy chúa, nếu bọn họ nhận ra ông thì ông nguy to.


Pary đứng gần đấy, tất cả con người bác biểu hiện một niềm khâm phục hồn nhiên và sâu sắc.


Vẫn tiếp tục ra hiệu cho vua im lặng, Aramix vừa nói:


-  Xin ngài đừng lo gì cho tôi, và chỉ nên lo cho ngài thôi. Các bạn bè của ngài chăm lo cho ngài, ngài thấy đấy; chúng tôi sẽ làm gì, tôi cũng chưa biết; nhưng bốn con người quả quyết có thể làm được khối việc. Trong khi chờ đợi, ngài chớ nhắm mắt ban đêm, chớ ngạc nhiên về chuyện gì cả và sẵn sàng với mọi việc có thể đến.


Saclơ lắc đầu nói:


-  Bạn ơi, các ông có biết rằng chẳng còn mấy thời giờ nữa đâu, và nếu các ông muốn hành động thì phải gấp lắm ư? Các ông có biết rằng đến mười giờ sáng mai là tôi phải chết không?


-  Thưa ngài, từ giờ đến lúc ấy, một điều gì đó xảy ra khiến việc hành quyết không thể thực hiện được.


Vua nhìn Aramix với vẻ ngạc nhiên.


Đúng lúc ấy ở phía dưới cửa sổ phòng vua vang lên một tiếng động lạ lùng như tiếng bốc dỡ một xe chở gỗ.


-  Ông có nghe thấy không? – Vua hỏi.


Tiếng động kia kèm theo một tiếng kêu đau đớn.


-  Tôi có nghe, -  Aramix đáp, -  nhưng tôi không hiểu rõ tiếng động ấy là gì và nhất là tiếng kêu kia.


-  Tôi không biết ai đã thốt ra tiếng kêu ấy, vua nói; nhưng về tiếng động tôi sẽ nói để ông rõ. Ông có biết rằng tôi sẽ bị hành quyết  ở ngay ngoài cửa sổ kia không? – Vua nói và giơ tay về phía bãi tối chỉ toàn lính canh gác.


-  Vâng thưa ngài, tôi có biết, -  Aramix đáp.


-  Đấy! Gỗ mang đến là những cột kèo người ta dùng để dựng đoạn đầu đài cho tôi đấy. Có người thợ nào đó bị thương khi bốc dỡ.


Aramix bất giác rùng mình.


-  Các ông thấy đấy, -  Saclơ nói, -  các ông có khăng khăng làm nữa cũng vô ích mà thôi. Tôi đã bị kết án, hãy để tôi cam chịu số phận của mình.


Lấy lại sự bình tĩnh bị khuấy động trong giây lát, Aramix nói:


-  Thưa ngài, họ có thể dựng một đoạn đầu đài, nhưng họ sẽ không tìm được một đao phủ.


-  Thế nghĩa là thế nào? – Vua hỏi.


-  Nghĩa là vào lúc này, thưa ngài, tên đao phủ đã bị bắt cóc hoặc dụ dỗ đi. Ngày mai đoạn đầu đài đã sẵn sàng, nhưng không có đao phủ, người ta sẽ phải hoãn việc hành quyết đến ngày kia.


-  Thế thì sao? – Vua hỏi.


-  Thì đêm mai chúng tôi sẽ bốc ngài đi, -  Aramix đáp.


Một tia chớp vui mừng bất giác lóe lên gương mặt vua. Ông reo lên:


-  Thế là thế nào?


Pary chắp hai tay lầm bầm:


-  Ôi, ông ơi! Cầu chúa ban phước lành cho ông và các bạn ông.


-  Thế là thế nào? – Vua nhắc lại, -  tôi cần phải biết để nếu cần tôi còn hỗ trợ các ông chứ.


-  Thưa ngài, tôi thật không biết gì cả, -  Aramix nói. – Nhưng cái người khôn khéo nhất, dũng cảm nhất, tận tâm nhất trong bốn chúng tôi đã bảo tôi khi chia tay rằng:  “Hiệp sĩ , hãy nói với vua rằng ngày mai vào lúc mười giờ tối, chúng tôi cướp vua đi”. Bởi vì ông ta đã nói, ông ấy sẽ làm.


-  Hãy cho tôi biết tên của ông bạn hào hiệp ấy, vua nói – để tôi giữ một niềm biết ơn ông ấy mãi mãi, dù ông ấy có thành công hay không.


-  Đ’Actanhăng thưa ngài. Chính ông ấy đã suýt cứu được ngài thì đại tá Harixơn vào thật là không đúng lúc.


-  Quả thật các ông là những con người kì diệu! – vua nói. – Người ta đã kể cho tôi nghe những chuyện tương tự về các ông mà tôi đã không tin.


-  Giờ đây xin ngài hãy nghe tôi, -  Aramix nói. – Không một lúc nào ngài quên rằng chúng tôi đang lo việc cứu ngài; một cử chỉ nhỏ nhặt, một tiếng hát khe khẽ, một dấu hiệu thoáng qua của những người sẽ đến gần ngài, ngài phải rình hết, nghe hết, bình giải hết.


-  Ôi hiệp sĩ! – Nhà vua kêu lên, -  tôi biết nói gì với ông đây? Không một lời nào dù từ đáy lòng tôi thốt ra có thể biểu hiện hết niềm biết ơn của tôi. Nếu các ông thành công – tôi sẽ không nói rằng các ông cứu một ông vua; không, nhìn từ đoạn đầu đài như tôi đang nhìn đây thì, tôi xin thề rằng, vương vị chẳng có nghĩa lý gì mấy; nhưng các ông giữ gìn được một người chồng cho vợ, một người cha cho các con của ông ta. Hiệp sĩ ơi, hãy cầm lấy tay tôi, đó là tay một người bạn sẽ yêu quý ông cho đến hơi thở cuối cùng.


Aramix muốn hôn tay vua, nhưng vua nắm lấy tay anh và áp vào tim mình.


Lúc ấy một người đi vào không buồn gõ cửa. Aramix toan rụt tay về nhưng vua giữ lại.


Đó là một trong những tín đồ thanh giáo nửa thầy tu nửa lính đầy rẫy xung quanh Cromoen.


-  Ông cần gì? – Vua nói.


-  Tôi muốn xem việc xưng tội của Saclơ Xtiuôt đã xong chưa, -  người mới vào đáp.


-  Điều ấy can hệ gì tới ông? – Vua nói, -  chúng ta không cùng một tôn giáo.


-  Tất cả mọi người đều là anh em, -  người thanh giáo nói. – Một người anh em của tôi sắp chết, tôi đến khích lệ anh ta đi đến cái chết.


-  Thôi đủ rồi, -  Pary nói, -  đức vua không cần đến những điều khích lệ của ông.


-  Thưa ngài, -  Aramix nói nhỏ, hãy nhẹ nhàng với hắn, chắc hẳn hắn là một tên do thám.


-  Thưa ông, -  vua nói, -  sau vị tiến sĩ giám mục tôn kính, tôi sẽ vui lòng nghe ông.


Người có cái vẻ nhìn lấm lét rút lui và không quên quan sát Juxơn với một vẻ chú ý không thoát khỏi con mắt nhà vua. Khi cửa đóng rồi, vua nói:


-  Hiệp sĩ ạ, tôi chắc rằng ông nói đúng và cái người kia đến đây với ý đồ xấu. Khi ra khỏi đây ông hãy coi chừng kẻo mắc tai họa.


-  Xin cảm ơn hoàng thượng, -  Aramix nói, -  nhưng ngài hãy yên tâm. Dưới làn áo dài này tôi mặc một áo giáp sắt và giấu một con dao.


-  Thôi ông đi đi, và cầu Chúa che chở cho ông, như tôi vẫn thường nói khi còn làm vua.


Aramix đi ra; Saclơ tiễn anh ra ngưỡng cửa. Aramix vừa đi vừa ban phước khiến những tên lính gác cúi rạp mình, anh đường hoàng đi qua các tiền sảnh đầy lính tráng, bước lên cỗ xe có hai tên hầu đi theo và trở lại tòa giám mục; hai tên hầu cáo biệt anh.


Juxơn đợi chờ, lo lắng.


-  Thế nào? – Ông vội hỏi thì thấy Aramix vào.


-  Thưa ngài, mọi việc đều hoàn thành như tôi cầu mong. Do thám, lính gác, sai nha đều tưởng tôi là ngài, nhà vua thì ban phước cho ngài trong khi chờ đợi ngài ban phước cho vua.


-  Cầu Chúa che chở cho con, vì rằng tấm gương của con đem lại cho ta hi vọng và can đảm.


Aramix mặc lại y phục và áo choàng của mình đi ra và báo trước cho Juxơn rằng anh sẽ còn nhờ vả ông một lần nữa.


Đi ra phố chừng độ mười bước anh đã nhận thấy rằng mình đang bị một người khoác chiếc áo choàng lớn bám theo sau; anh rờ tay vào con dao găm và đứng lại. Người kia đi thẳng tới anh. Đó là Portôx.


-  À, ra cái anh bạn thân mến này, -  Aramix nói và chìa tay ra cho bạn.


-  Bạn thân mến, cậu thấy đấy, -  Portôx nói, -  mỗi người chúng ta có nhiệm vụ của mình: nhiệm vụ của tôi là canh gác cho cậu và tôi đã làm:  Cậu có gặp vua không?


-  Có, mọi việc tốt cả. Bây giờ các bạn chúng ta đâu?


-  Chúng ta hẹn gặp nhau ở khách sạn vào lúc mười một giờ.


-  Thế thì chẳng còn bao lâu nữa đâu.


Quả thật, chuông nhà thờ Xanh Pôn điểm mười giờ.


Tuy nhiên do hai người bạn làm chu tất mọi việc nên đến nơi hẹn trước.


Sau đó, Atôx vào.


-  Mọi việc tốt cả, anh nói trước khi các bạn kịp hỏi.


-  Cậu đã làm gì? – Aramix hỏi.


-  Tôi đã thuê một chiếc tàu buồm hẹp như cái thuyền thoi, nhẹ như cánh én, nó đợi chúng ta ở Grinuýt, trước mặt đảo Chó. Tàu có một chủ và bốn người làm, họ nhận năm mươi livrơ Xteclinh và để tùy ý cho chúng ta sử dụng trong ba đêm liền. Sau khi đưa vua lên thuyền, lợi dụng nước triều chúng ta xuôi sông Tamidơ, và hai giờ sau là ra tới biển khơi. Lúc ấy, như những tên cướp thực thụ chúng ta đi men bờ biển, trú ở các vách núi, hoặc nếu mặt biển tự do chúng ta sẽ dong buồm thẳng đến Bulônhơ. Nếu tôi có chết thì hãy nhớ ông chủ tàu là thuyền trưởng Rôgiơ và tàu gọi là Tia chớp. Cứ thế là sẽ tìm ra. Một cái khăn tay buộc ở bốn góc là dấu hiệu nhận ra nhau.


Một lúc sau đ’Actanhăng về.


-  Các cậu hãy dốc túi ra cho đủ một trăm livrơ xteclinh vì rằng túi tôi...


Và anh lộn cái túi rỗng không của mình ra.


Số tiền được góp xong ngay. Đ’Actanhăng đi ra một lát rồi quay về. Anh nói:


-  Chà, thế là xong xuôi. Nhưng cũng chẳng phải là dễ dàng.


-  Gã đao phủ đã rời Luân Đôn chưa? – Atôx hỏi.


-  Ấy! Như thế chưa phải là chắc chắn đâu. Hắn có thể ra cửa này và lại vào cửa khác.


-  Thế bây giờ hắn ở đâu?


-  Ở trong hầm.


-  Trong hầm nào?


-  Trong hầm của ông chủ quán chúng ta! Muxcơtông ngồi canh chừng ở ngưỡng cửa, chìa khóa đây.


-  Hoan hô! – Aramix nói. – Nhưng cậu làm thế nào mà định đoạt người ấy biến đi được?


-  Giống như người ta định đoạt mọi thứ ở đời ấy, bằng tiền bạc. Việc này tôi phải trả giá đắt lắm, nhưng hắn đã đồng ý.


-  Thế cậu phải trả bao nhiêu? – Atôx hỏi, -  bởi vì cậu hiểu đấy, bây giờ chúng ta không còn là những chàng ngự lâm quân nghèo xác không nhà không cửa, cho nên những việc chi tiêu của chúng ta là phải chung nhau.


-  Tôi phải chi mười hai nghìn livrơ, -  đ’Actanhăng đáp.


-  Thế cậu đã kiếm đâu ra được? – Atôx hỏi. – Cậu có đủ số tiền đó ư?


-  À cái nhẫn kim cương trứ danh của hoàng hậu ấy mà! – Đ’Actanhăng thở dài đáp.


-  A, đúng thế! – Aramix nói, -  tôi đã nhận ra nó ở ngón tay cậu.


-  Thế cậu đã chuộc lại nó ở ông Đề Etxa ấy à? Portôx hỏi.


-  Ờ, phải, lạy Chúa! – Đ’Actanhăng nói. – Nhưng thiên mệnh đã ghi rằng tôi không thể giữ nó. Biết làm thế nào! người ta tin rằng kim cương nó cũng có thiện cảm và có ác cảm như con người; dường như cái nhẫn ấy nó ghét tôi.


-  Nhưng nó lại rất hợp với lão đao phủ, -  Atôx nói. – Khốn thay, đao phủ nào cũng có người phụ việc, người hầu, biết đâu đấy.


-  Thì đao phủ này cũng có đầy tớ đấy; nhưng chúng ta ăn mày thôi.


-  Thế là thế nào?


-  Vào cái lúc tôi tưởng mình sắp có một việc thứ hai phải thương lượng thì người ta mang cái thằng đầy tớ ấy về với một bên đùi gãy. Do quá hăng hái hắn đã đi theo một cỗ xe chở kèo cột đến tận cửa sổ nhà vua; một cái cột rơi và đè gãy chân hắn.


-  A! – Aramix nói. – thế ra chính hắn đã thốt ra tiếng kêu mà tôi đã nghe thấy lúc đang ở phòng vua.


-  Có thể lắm! – Đ’Actanhăng nói, -  nhưng vì là một người có thiện tâm, khi ra về hắn đã hứa là sẽ cử đến nơi đến chốn bốn thợ giỏi và lành nghề đến giúp sức cho những thợ đang làm. Và khi về đến nhà chủ, mặc dù đang bị thương như thế, hắn lập tức viết cho bác Tôm Lâu là một thợ mộc bạn hắn dặn bác đến ngay cung Đại sảnh trắng để hoàn tất lời hứa của hắn. Bức thư ấy đây, hắn thuê một người mang đi ngay, mất mười xu và tôi đã phải mua lại mất một đồng lu- y.


-  Thế cậu lấy bức thư ấy làm quái gì? – Atôx hỏi.


-  Thế anh không đoán ra à? – Đ’Actanhăng hỏi lại, cặp mắt lấp lánh thông minh.


-  Xin thề là mình chịu đấy.


-  Thế này nhé, Atôx thân mến! anh nói tiếng Anh như đích thị Jôn Ban, anh là bác Tôm Lâu, còn ba chúng tôi là ba thợ bạn. Bây giờ anh hiểu ra chưa?


Atôx reo lên đầy vẻ mừng vui và thán phục. Rồi anh chạy vào buồng lấy ra mấy bộ quần áo thợ thuyền; cả bốn người mặc vào và ra khỏi khách sạn, Atôx mang một cái cưa, Portôx mang một cái kìm, Aramix một cái rìu, đ’Actanhăng một cái búa và đinh.


Lá thư của gã đầy tớ tên đao phủ chứng thực với bác thợ cả rằng họ đúng là những người mà bác đang đợi


 


                                                                  69


                                                NHỮNG NGƯỜI THỢ


 


Khoảng nửa đêm, Saclơ nghe tiếng rầm rầm rất to ở dưới cửa sổ; đó là tiếng búa rìu chan chát, tiếng kìm cặp ken két và tiếng cưa xẻ xoèn xoẹt.


Saclơ để nguyên quần áo nằm lăn ra giường và vừa mới chợp mắt thì tiếng ồn ào khiến ông choàng dậy. Ngoài tiếng vang nghe thấy, tiếng ồn kia còn dội tiếng vang tinh thần khủng khiếp trong tâm hồn ông và những ý nghĩ ghê sợ tối hôm qua lại đến khủng bố ông. Một mình trước bóng đêm và sự cô đơn, ông không đủ sức chịu đựng nổi sự tra tấn ấy, nó không có trong chương trình những hình phạt đối với ông. Ông bèn sai Pary ra bảo lính canh nói với những người thợ làm nhẹ tay hơn và hãy thương đến giấc ngủ cuối cùng của kẻ đã từng làm vua của họ.


Lính canh không muốn rời vị trí của họ, nhưng để cho Pary đi.


Sau khi đi vòng quanh lâu đài, đến gần cửa sổ, Pary trông thấy ở bao lơn đã rỡ rào sắt đi, một đoạn đầu đài đang làm dở nhưng người ta đã bắt đầu đóng đinh chăng một tấm rèm bằng nỉ đen.


Đoạn đầu đài dựng cao ngang tầm cửa sổ tức là gần hai mươi bộ có hai tầng ở dưới. Nhìn cảnh tượng thật là gớm ghiếc, nhưng Pary vẫn cố tìm trong đám bảy tám người thợ đang dựng cái máy thê thảm ấy xem chỗ nào gây tiếng ồn nhức óc cho vua. Trên sàn thứ hai, bác trông thấy hai người đang dùng kìm gỡ nốt những thanh sắt cuối cùng của bao lơn. Một người cao lớn như ông hộ pháp thay cái chiến cụ phá cổng thành ngày xưa làm việc xô đổ các bức tường. Mỗi lần anh ta ra tay, gạch đá bay tứ tung. Người kia quỳ đang nậy những tảng đá lung lay.


Rành rành là những người này gây ra tiếng động khiến vua kêu la.


Pary trèo thang đến chỗ họ. Bác nói:


-  Các bạn ơi, xin các bạn làm nhẹ nhàng hơn một chút có được không? Vua đang ngủ và cần được ngủ.


Người thợ dùng kẹp ngừng tay và quay nghiêng lại; nhưng do bác ta đứng nên mặt bị khuất trong bóng tối dày đặc gần sàn và Pary không trông rõ.


Người đang quỳ cũng quay lại và do thấp hơn người kia nên mặt được ánh đèn chiếu sáng và Pary trông rõ.


Người ấy chằm chằm nhìn Pary và để một ngón tay lên miệng.


Pary kinh ngạc lùi lại.


-  Được thôi, được thôi – người thợ nói tiếng Anh rất cừ – bác hãy trở về nói với vua rằng nếu đêm nay khó ngủ thì đêm mai sẽ ngủ ngon hơn.


Những lời nói ấy cứ theo nghĩa đen có một ý nghĩa thật ghê gớm, được những người thợ làm ở phía bên cạnh và tầng dưới tiếp nhận bằng một trận cười ầm ĩ.


Pary rút lui, ngỡ rằng mình đang chiêm bao.


Saclơ sốt ruột đợi bác.


Lúc bác trở về, tên lính canh cửa tò mò ngó đầu vào xem vua đang làm gì.


Vua đang chống khuỷu tay trên giường.


Pary đóng cửa và đi đến bên vua, mặt vui mừng rạng rỡ.


-  Thưa Hoàng thượng, -  bác khẽ nói, -  ngài có biết những người thợ đang làm ồn ào ngoài đó là ai không?


Saclơ lắc đầu buồn bã, nói:


-  Không, làm sao tôi biết được điều đó? Tôi có quen những người ấy không?


Pary cúi sát giường chủ và nói nhỏ hơn nữa.


-  Thưa Hoàng thượng, đó là bá tước đơ La Pherơ và đồng đội của ông.


-  Họ dựng đoạn đầu đài cho tôi à? – Vua ngạc nhiên hỏi.


-  Vâng, họ vừa dựng đài vừa đục một lỗ thủng vào tường.


-  Suỵt, -  vua vừa nói vừa hoảng hốt nhìn quanh. – Bác trông thấy họ à?


-  Tôi đã nói với họ.


Vua chắp hai tay lại và ngước mắt lên trời. Sau một lời cầu nguyện thành kính và ngắn ngủi ông nhảy ra khỏi giường và đi đến cửa sổ, vén rèm lên:  những tên lính canh vẫn ở đấy, phía sau ngoài bao lơn là một bãi phẳng trải rộng và bọn lính đi qua như những cái bóng.


Saclơ không phân biệt được gì cả, nhưng cảm thấy dưới chân những nhát búa chấn động của các bạn mình. Mỗi nhát búa này đáp lại tận đáy lòng ông.


Pary không lầm, bác đã nhận rõ Atôx. Chính anh được Portôx giúp sức, đang đục một lỗ hổng để đặt các xà ngang.


Cái lỗ ấy ăn thông vào một cái hầm mỏ đào ngay dưới sàn của phòng vua. Hầm đó giống như một tầng trệt, khi vào trong đó rồi, chỉ cần một cái kìm và đôi vai thật khỏe là có thể nậy một tấm ván sàn lên, việc này có Portôx lo. Vua sẽ lách qua chỗ hổng ấy cùng những người cứu mình chui vào một ngăn ở dưới đoạn đầu đài, mặc một bộ quần áo thợ đã chuẩn bị sẵn, chẳng e sợ gì, đàng hoàng đi ra với bốn người bạn. Những lính canh chẳng nghi ngờ gì, thấy những người thợ vừa mới làm ở đoạn đầu đài sẽ để họ đi qua.


Còn cái tàu buồm như chúng tôi đã nói  vẫn sẵn sàng ngoài bến.


Cái kế hoạch to lớn, đơn giản và dễ dàng, giống như mọi điều nảy sinh từ một quyết định táo bạo.


Đôi bàn tay trắng muốt và nuột nà của Atôx toạc ra để bốc những tảng đá mà Portôx đã nạy bật ra. Anh đã có thể thò đầu xuống dưới những vải trang trí bàn ở bao lơn. Hai giờ nửa anh sẽ lách được cả người qua. Trước khi trời sáng cái lỗ hổng sẽ được đục xong và  lấp sau tấm rèm bên trong mà đ’Actanhăng sẽ căng lên. Đ’Actanhăng làm như một người thợ Pháp và đóng những cái đinh rất đều đặn như một người căng thảm khéo léo nhất. Aramix cắt những chỗ vải thừa của tấm nỉ xòa xuống đất và che bộ khung của dàn giáo.


Một ngọn lửa than bùn đã giúp những người thợ qua được cái giá rét thấu xương đêm hôm 29 rạng ngày 30 tháng giêng. Những người thợ mải miết nhất chốc chốc cũng ngừng tay để đi sưởi. Riêng Atôx và Portôx không rời công việc của mình. Cho nên trời vừa rạng sáng và soi tỏ các nóc nhà thì cái lỗ chui đã hoàn thành. Atôx vào đó mang theo quần áo dành cho vua bọc trong một mảnh nỉ đen. Portôx đưa anh một cái kìm, đ’Actanhăng căng một tấm nỉ rộng ở bên trong, kể cũng khá xa xỉ đấy, nhưng rất có ích vì nó che lấp hẳn cái lỗ hổng ở tường.


Atôx chỉ còn phải làm hai tiếng đồng hồ nữa để thông được đến chỗ vua. Theo dự kiến của bốn người bạn, họ còn cả một ngày rộng rãi, bởi vì thiếu đao phủ người ta buộc phải đi kiếm đao phủ ở Brixtôn.


Đ’Actanhăng lại mặc bộ đồ hạt dẻ, Portôx mặc áo chẽn đỏ, còn Aramix đi đến nhà ông Juxơn để nếu có thể thì cùng ông đi vào tận chỗ vua.


Cả ba người hẹn gặp nhau vào giữa trưa ở quảng trường tòa Đại sảnh trắng để xem tình hình ra sao.


Trước khi rời đoạn đầu đài, Aramix đã đến gần chỗ Atôx nấp để báo rằng anh sẽ cố gặp lại Saclơ.


-  Vậy thì xin tạm biệt và can đảm lên nhé, -  Atôx nói. – Hãy cho vua biết tình hình đến đâu rồi. Dặn vua là khi nào không có ai ở trên thì gõ xuống sàn để tôi yên trí tiếp tục công việc. Nếu Pary giúp tôi gỡ sẵn cái tấm lót dưới lò sưởi, chắc là một tấm đá lát ra được thì hay lắm. Còn cậu Aramix, cố gắng không rời vua. Hãy nói to, nói thật to, vì ở ngoài cửa sẽ có người nghe. Nếu trong phòng có một tên lính canh thì cậu giết ngay không đôi co gì cả. Nếu có hai tên thì cậu giết một, Pary giết một. Nếu có ba tên thì các cậu cứ liều chết nhưng hãy cứu lấy vua.


-  Cứ yên trí, -  Aramix nói, -  tôi sẽ mang đi hai con dao găm và đưa cho Pary một con. Hết rồi chứ?


-  Ừ đi đi. Nhưng dặn kỹ là đừng có hào hiệp hão. Trong khi các cậu đánh nhau thì vua phải trốn ngay. Khi phiến đá đã đậy lại trên đầu vua thì cậu ở lại chiến đấu dù sống hay chết, người ta cũng phải mất ít ra mười phút để tìm ra cái lỗ tẩu thoát. Trong mười phút ấy chúng tôi sẽ đi được khối đường đất và vua sẽ được cứu thoát.


-  Mọi việc sẽ làm như cậu dặn, Atôx ạ. Đưa tay đây, vì có lẽ chúng ta sẽ không gặp lại nhau nữa.


Atôx đưa hai tay ra quàng cổ Aramix và hôn bạn.


-  Hôn cậu, -  anh nói, -  bây giờ nếu tôi chết hãy nói với đ’Actanhăng rằng tôi yêu nó như con tôi và ôm hôn nó hộ tôi. Ôm hôn cả cái cậu Portôx dũng cảm và tốt bụng của chúng ta nữa. Vĩnh biệt!


-  Vĩnh biệt, -  Aramix nói. – Bây giờ thì tôi chắc chắn nhà vua sẽ trốn thoát cũng chắc chắn như đang siết chặt bàn tay trung hậu nhất trên đời.


Aramix rời Atôx, xuống khỏi đoạn đầu đài và trở về khách sạn, vừa đi vừa huýt sáo một điệu hát ca tụng Cromoen. Anh thấy hai bạn mình đang ngồi gần lò sưởi cháy rừng rực, uống một chai rượu vang Portô và ăn ngấu nghiến một con gà ướp lạnh. Portôx vừa ăn vừa tuôn ra ông ổng những lời chửi rủa bọn nghị sĩ đê tiện. Đ’Actanhăng cứ im lặng ăn, nhưng trong óc vẫn xây dựng những kế hoạch táo bạo nhất.


Aramix kể lại tất cả những điều đã thỏa thuận với Atôx. Đ’Actanhăng tán thành bằng cái đầu, còn Portôx bằng những tiếng nói:


-  Hoan hô! – Anh kêu lên, -  vả lại chúng ta sẽ ở đấy khi vua trốn. Nấp dưới đoạn đầu đài thì kín quá rồi và chúng ta có thể trông vào đó. Với Đ’Actanhăng, tôi, Grimơ và Muxcơtông, chúng tôi đủ sức diệt tám tên. Tôi không kể Bledoa, hắn chỉ giữ nổi ngựa. Hạ một tên mất hai phút, hai lần mất bốn phút. Cho Muxcơtông thêm một phút là năm; trong năm phút ấy, các cậu có thể phóng được một phần tư dặm.


Aramix ăn vội một miếng, uống một cốc rượu vang và thay quần áo.


-  Bây giờ tôi đi đến ngài tổng giám mục. Portôx chuẩn bị vũ khí, đ’Actanhăng canh gác cẩn thận gã đao phủ nhé.


-  Yên trí, Grimô đã thay phiên Muxcơtông và chặn chân lên cẩn thận rồi.


-  Kệ, cứ phải canh gác thật cẩn mật và không được một phút ngồi rồi.


-  Ngồi rồi ư! Bạn thân mến ơi, cậu hãy hỏi Portôx xem. Tôi có ở yên đâu. Lúc nào tôi cũng ở trên đôi cẳng và có vẻ là một người ham nhảy múa. Mẹ kiếp! Lúc này đây tôi yêu quý nước Pháp biết chừng nào. Có một tổ quốc cho riêng mình thật là sung sướng khi mình đang khốn khổ trên tổ quốc những người khác.


Aramix rời các bạn như đã rời Atôx, nghĩa là ôm hôn họ. Rồi anh đến giám mục Juxơn và trình bày yêu cầu của mình. Do đã được báo trước là cần một linh mục để làm lễ ban thánh thể và nhất là trong trường hợp vua muốn được dự lễ mixa, nên Juxơn càng dễ dàng bằng lòng theo Aramix.


Mặc y phục giống như Aramix hôm trước, giám mục lên xe. Aramix đổi dạng vì vẻ mặt xanh xao và rầu rĩ hơn là vì bộ y phục trợ tế, leo lên ngồi cạnh Juxơn. Cỗ xe dừng lại trước cổng tòa Đại sảnh trắng lúc gần chín giờ sáng. Chẳng có vẻ thay đổi gì cả:  các tiền sảnh, các hành lang vẫn đầy lính canh như hôm trước. Hai lính gác ở cửa phòng vua, hai tên khác đi đi lại lại trước bao lơn trên sàn của đoạn đầu đài đã kê sẵn chiếc thớt.


Nhà vua lòng đầy hi vọng, gặp lại Aramix, niềm hi vọng ấy biến thành mừng rỡ. Ông ôm hôn Juxơn và bắt tay Aramix. Juxơn giả vờ nói to và trước mặt mọi người về cuộc gặp gỡ với nhà vua hôm trước.


Vua đáp lại bằng những lời mà giám mục nói với ông trong cuộc hội kiến ấy đã khai hoa kết quả và ông mong muốn một cuộc hội đàm nữa tương tự. Juxơn quay về phía những người có mặt ở đấy và yêu cầu được ở lại một mình với vua. Mọi người rút lui.


Cửa vừa khép lại thì Aramix vội nói:


-  Thưa Hoàng thượng! ngài được cứu thoát rồi! Tên đao phủ Luân Đôn đã biến mất; người phụ việc của hắn hôm qua bị gãy đùi dưới cửa sổ phòng ngài. Tiếng kêu mà chúng ta nghe thấy là của hắn. Chắc hẳn người ta đã biết tin đao phủ mất tích, chỉ có đao phủ ở Brixtôn, và phải có thời gian để đi tìm kiếm hắn. Chúng ta còn thì giờ tới tận ngày mai.


-  Thế bá tước đờ La Pherơ đâu? – vua hỏi.


-  Ở cách ngài hai bộ. Ngài hãy lấy que cời than gõ vào lò ba tiếng và sẽ thấy ông ấy đáp lại.


Vua đưa bàn tay run rẩy cầm lấy que cời gõ ba tiếng cách đều nhau. Lập tức từ dưới sàn những tiếng gõ đáp lại vang lên đùng đục và dè dặt.


-  Như vậy, -  vua nói, -  người đáp lại tôi là...:


-  Là bá tước đờ La Pherơ, -  Aramix nói. – Ông ta sửa soạn đường để Hoàng thượng trốn. Pary sẽ nhấc tấm đá lát kia, và một lối đi sẽ mở ra.


-  Nhưng tôi chẳng có một dụng cụ nào. – Pary nói.


-  Hãy cầm lấy con dao găm này, -  Aramix bảo, -  nhưng đừng làm cùn nó quá vì rằng bác sẽ cần dùng nó để đào cái khác hơn là đá.


Saclơ quay về phía giám mục và nắm lấy hai tay ông mà nói:


-  Ôi; Juxơn, hãy nhớ lời cầu nguyện của kẻ từng là vua của ông.


-  Người ấy vẫn là vua và sẽ mãi mãi là vua, -  Juxơn hôn tay ông hoàng và nói.


-  Ông hãy cầu nguyện suốt đời cho người quý tộc mà ông trông thấy đây, cho người kia mà ông nghe thấy ở dưới chân và cho hai người khác nữa dù đang ở đâu họ cũng lo đến việc cứu thoát tôi.


-  Thưa Hoàng thượng, -  Juxơn đáp, -  ngài sẽ được tuân theo. Chừng nào tôi còn sống thì mỗi ngày sẽ có một lời cầu nguyện Chúa cho những người bạn trung thành này của ngài.


(còn tiếp)


Nguồn: Hai mươi năm sau. Tiểu thuyết của A. Dumas. Anh Vũ dịch. NXB Văn học in lần thứ ba, 2009.


www.trieuxuan.info


 


                                          

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
23.
24.
25.
26.
27.
28.
29.
30.
31.
32.
33.
34.
35.
36.
37.
38.
39.
40.
41.
42.
43.
44.
45.
46.
47.
48.
49.
50.
51.
52.
53.
54.
55.
56.
57.
58.
59.
60.
61.
62.
63.
64.
65.
66.
67.
68.
69.
70.
71.
72.
73.
74.
75.
76.
77.
78.
79.
80.
81.
82.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Hiểm họa sắc vàng - Vlastimil Podracký 02.10.2019
Nhân mạng cuối cùng và đồng loại - Vlastimil Podracký 02.10.2019
Sodoma & Gomora - Vlastimil Podracký 02.10.2019
Trả giá - Triệu Xuân 26.09.2019
Thế giới những ngày qua - Stefan Zweig 26.09.2019
Hai mươi năm sau - A. Dumas 26.09.2019
Đêm thánh nhân - Nguyễn Đình Chính 11.09.2019
Jude - Kẻ vô danh - Thomas Hardy 10.09.2019
Ông cố vấn - Hữu Mai 10.09.2019
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 05.09.2019
xem thêm »