tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 24747783
Tiểu thuyết
24.12.2015
Dương Hướng
Dưới chín tầng trời

Mây để chồng nằm lại trong rừng, một mình mò về thị trấn.


- Mây ơi, mày đi đâu bây giờ mới về hả? Vừa về tới nhà, cô Lùn đã lu loa,  thằng chồng con Mẫn, con Thuần bỏ đi cả rồi. Con Mẫn thì đẻ non, con nó chết rồi. Chồng con Thuần thì mang cả thằng Tốn đi theo. Cậu Sáng đâu mà mày về có một mình hả?


- Suỵt, cô nói gì mà oang oang cái miệng, Mây thì Thào, anh Sáng nhà cháu cũng đi rồi.


Cô Lùn dắt tay Mây vào trong nhà, cô dựng hai đứa trẻ còn đang ngủ dậy.


- Chúng mày muốn tính gì thì tính, phải vì hai đứa trẻ này, cô Lùn lo lắng, đêm qua chúng mày không về, họ lại đến nói, nếu không đi chúng sẽ phóng hoả đốt nhà. Tao đã nói rồi, chuyện này không đùa được đâu, hay là ngày mai ta cứ cho thằng Trong thằng Trung về làng Đoài.


- Cháu đã bảo không thể về quê được, cô chẳng hiểu chi cả. Mây gắt lên.


- Quê hương sao lại không về được. Cô Lùn gắt, chúng mày không về  mai tao về một mình vậy.


- Cô hãy trông hai đứa trẻ, cháu chạy sang nhà cái Mẫn cái Thuần xem sao.


Mây chay sang nhà Mẫn, bà Cháo ra mở cửa, Mây hớt hải bước vào. Vừa nhìn thấy Mây, Mẫn lại tấm tức khóc. Mây cũng không cầm lòng khóc theo em gái. Tình cảnh Mây lúc này cũng đang sống dở chết dở.


- Mẹ ơi, cô Lùn đòi bỏ về làng Đoài, con đành phải nhờ mẹ sang trông thằng Trong thằng Trung giúp con, một mình con không thể lo hết công việc nhà.


- Thằng Sáng đi, còn để lại thằng Trong thằng Trung là phúc cho con rồi, còn kêu ca nỗi gì. Bà Cháo an ủi con gái, cố mà chăm cho chúng nó nên người con ạ.


- Mẹ chẳng hiểu gì cả, họ để yên cho mà nuôi con thì đã tốt, con lo thằng Trong thằng Trung cũng không được yên đâu mẹ ơi. Suốt đời nó vẫn mang dòng máu Hoa kiều ở đất này sao được.


Sáng hôm sau cô Lùn về làng Đoài, bà Cháo phải sang ở với Mây để trông hai đứa cháu. Mây thú nhận với mẹ hết mọi chuyện về Sáng.


- Trong tình cảnh này chúng mày tính thế là phải, bà Cháo khen, vợ chồng sống có tình có nghĩa trời sẽ phù hộ.


Nửa tháng sau, theo đúng hẹn, Mây lại lên rừng tiếp tế cho chồng. Mây chuẩn bị đầy đủ mọi thứ cần thiết từ dao cạo râu, khăn mặt, xà phòng, thuốc chống muỗi và mua mấy cân cá khô mang lên cho Sáng. Lần này Mây định đi chuyến xe sớm để có thời gian ở với Sáng được lâu hơn. Từ ngày cưới, vợ chồng chưa bao giờ rời nhau, lần này mới xa nhau có nửa tháng Mây đã cảm thấy như đã hàng năm. Chị háo hức mong được gặp Sáng. Đêm đêm chị ngủ trong nỗi lo sợ và thường mơ những giấc mơ kỳ lạ hãi hùng. Có lần Mây mơ thấy mình đi cất vó tôm đêm với cô Lùn trên cánh đồng làng Đoài bị đàn hủi từ ngôi mộ mẹ chú Kinh bên kia sông đánh hơi bay tới từng đàn. Mây kinh hoàng cởi vội quần áo vứt lại cho đàn hủi nó bâu rồi nhẩy xuống sông Đình. Mây trần truồng bơi trên dòng sông để chạy trốn. Dòng sông Đình đêm đến đỉa từ khắp các ao chuôm, đầm lạch ruộng đồng túa ra như rươi. Mây bơi tới đâu, đỉa cũng bơi theo từng đàn. Những con đỉa đói nhẽo nhèo dai nhách bâm chặt vào da thịt Mây, chúng hút những tia máu ngọt lịm từ cơ thể  non mởn của Mây. Chỉ loáng cái, lũ đỉa đói bám trên người mây đã hút đầy bụng máu căng tròn. Đúng là giống đỉa tham lam, bụng chúng càng phình to ra thì cơ thể Mây càng tóp lại. Lũ đỉa đã hút kiệt những giọt máu cuối cùng trong người Mây khiến Mây không còn đủ sức lực để bơi vào bờ. Mây hụt hẫng chìm dần xuống dòng sông Đình và lại hoá thành con đỉa. Mây kinh hoàng tỉnh dậy mới biết mình vừa mơ một giấc mơ quái đản. Có đêm Mây lại mơ thấy Sáng bị hổ vồ. Mây gào khóc chạy loạn lên trong rừng tìm chồng. Từ một tảng đá cạnh con suối, Mây nhìn thấy con hổ vằn đang thản nhiên xé từng miếng mồi ăn ngon lành. Miếng mồi trong bữa tiệc thịnh soạn của loài chúa sơn lâm chính là xác chồng Mây. Vừa ăn, con hổ vừa ngắm bóng mình dưới dòng suối trong vắt, nó khoái chí xé con mồi ra từng mảng phơi trên tảng đá, máu chảy loang đỏ cả dòng suối. Đồ quỷ dữ, Mây hét lên giật mình tỉnh giấc nhận ra mình lại vừa nằm mơ. Mây vùng dậy thấy trời đã sáng, ánh sáng trong lành của buổi sáng làm tâm trí Mây nhớ lại nhiệm vụ phải đi gặp chồng. Mây gọi mẹ dậy trông thằng Trong, thằng Trung để Mây ra xe cho kịp chuyến sớm.


Vào tới cửa rừng, không còn sợ ai nhìn thấy, Mây cắm đầu chạy theo con đường mòn vào tới đoạn suối quanh chỗ cây gội lần trước. Cả khu rừng lặng im, không thấy bóng dáng tăm hơi Sáng đâu. Mây đứng lặng quan sát mọi cảnh vật xung quanh. Theo thoả thuận với chồng, Mây ra hốc đá bên suối chỗ bữa trước ngồi vo gạo, Mây rờn rợn nghĩ tới giấc mơ đêm qua Sáng bị hhỏ ăn thịt. Mây luồn tay lật hòn đá nhỏ lấy ra chiếc lọ nhựa có nắp xoáy, bên trong đựng mảnh giấy vẽ đường để đến nơi Sáng đang ở. Theo sơ đồ, Mây đi lên thượng nguồn con suối chừng cây số, tới một thác nước đang đổ ầm ào. Luồn qua một vạt rừng nhằng nhịt dây leo Mây vào một chiếc hang nhỏ trong vách núi. Trong hang thâm u mờ ảo, Mây nghe rõ tiếng bước chân, lẫn tiếng tim mình đập thình thịch. Sự nôn nóng được gặp chồng khiến Mây không thấy sợ.


- Anh Sáng ơi, em đến với anh đây, tiếng Mây vang lên rồi lặng đi. Từ trong bóng tối nghe có tiếng rên yếu ớt, Mây sững người, nhắm mắt lắng nghe tiếng rên phát ra từ đâu.


- Mây ơi, anh ở đây.


Nghe rõ tiếng gọi của chồng, Mây bước lên mấy bước nhận ra Sáng nằm co rúm trong bóng tối lạnh lẽo. Mây nhào tới quỳ sụp xuống ôm Sáng vào lòng. Người Sáng nóng hầm hập run rẩy trong vòng tay Mây. Mới có nửa tháng trời mà thân hình Sáng teo tóp lại không còn sức sống.


- Trời ơi, sao lại khốn khổ thế này anh Sáng ơi.


- Anh bị sốt thôi mà, không sao đâu. Sáng nói trong hơi thở nóng rẫy. Anh mong em từng ngày. Thằng Trong thằng Trung có an toàn không? Anh lo cho các con quá.


- Các con vẫn khoẻ, cô lùn về quê rồi, mẹ phải sang ở với em. Dì Mẫn đẻ non, đứa bé chết rồi. Khổ thân dì Mẫn, vừa đẻ xong chưa kịp tỉnh dậy thì đứa bé đã chết, chồng lại bỏ dì ấy về bên kia rồi. Còn chồng dì Thuần cũng đã cuỗm luôn thằng Tốn đi trong đêm, sáng dậy mới biết mình đã mất chồng mất con. Lần này em lên đây bàn với anh, tình hình căng thẳng, có khi phải cho con về quê làng Đoài.


- Không được đâu em ơi, Sáng run rẩy nói,Về làng Đoài người ta vẫn biết thằng Trong thằng Trung là con chúng ta. Nửa tháng nay anh đã suy nghĩ mãi rồi, phải cho thằng Trong thằng Trung lánh vào bản nhờ người dân tộc nuôi giúp. Chả là bữa trước anh giả làm cán bộ kiểm lâm lần vào trong bản người dân tộc Tày, anh gặp cảnh cả hai vợ chồng nhà ấy đều bị sốt cao, anh chồng lên cơn co giật còn người vợ thì nằm run rẩy chẳng làm được gì giúp chồng. Anh đã cho họ uống mấy viên thuốc em mua cho anh đấy, chỉ vài ngày sau, vợ chồng họ khỏi sốt. Họ bảo anh đã là ân nhân cứu mạng của họ. Bây giờ thì anh được họ tin cậy, em cứ về đưa con lên đây, anh sẽ nhờ vợ chồng họ nuôi giúp. Họ sẽ nhận thằng Trong thằng Trung là con họ. Ta cứ tạm dấu biệt tung tích con của chúng ta, đổi họ đổi tên cho chúng...


- Nhưng anh còn đang bị sốt làm sao em bỏ anh ở đây một mình.


- Anh tự lo được, quan trọng hơn phải giữ an toàn cho các con. Sáng run rẩy nắm tay vợ. Mây xúc động ôm tấm thân gầy guộc nóng rẫy của Sáng vào lòng.


- Anh phải ăn và uống thuốc cho khoẻ em mới yên lòng quay về. Mây nói và vùng dậy lấy từ trong túi vải ra mấy thứ đã chuẩn bị từ ở nhà mang lên để Sáng dùng. Mây tất bật nhóm lửa nấu cháo cho Sáng. Nằm nhìn mấy thứ xà phòng, khăn mặt, thuốc đánh răng và mấy bộ quần áo Mây mang lên, Sáng mừng rơn.


- Mấy thứ kia anh không dùng đâu, em gói lại khi nào em đưa các con lên đây, ta mang vào bản làm quà...


- Anh cứ dùng, em sẽ lại mang lên nữa. Mây nói, mắt đăm đăm nhìn vào ánh lửa cháy lem lém quanh nồi cháo đang sôi lục bục. Giá mà vợ chồng mình được sống tự do, chúng ta đưa cả các con lên đây sống như   người rừng vẫn sướng.


- Anh cũng rất muốn được sống gần em, gần các con, nhưng kéo nhau lên đây cả thì lấy gì ăn?


Cho chồng ăn cháo xong, Mây lại tất tả ra khỏi rừng cho kịp chuyến xe cuối cùng trong ngày. Về tới nhà, trời đã tối, Mây băn khoăn có nên cho mẹ biết kế hoạch của vợ chồng đã bàn tính cho thằng Trong thằng Trung vào bản. Bà Cháo đang lúi húi cho hai đứa cháu ăn, thấy Mây về, hai đứa trẻ háo hức nhoài vào lòng mẹ. Mây ôm cả hai đứa con vào lòng rưng rưng nước mắt. Tình cảnh này mẹ đành phải tạm xa các con thôi.


- Mẹ ơi, con đành phải gửi các cháu lên chỗ nhà con cho qua lúc này.


- Liệu có tin cậy không? Trông gương hai thằng chồng con Mẫn con Thuần đấy. Không tỉnh táo có ngày nó lại ẵm hai đứa về bên kia thì trắng tay con ạ.


Nghe mẹ nói, Mây thấy gai lạnh trong người. Không, chồng Mây khác, Sáng sống tình nghĩa. Sáng mà như chồng cái Mẫn, chồng cái Thuần thì anh ấy đã ôm con trốn đi ngay từ ngày đầu rồi, chẳng vạ gì phải sống chui lủi trên rừng cho khổ. Mây cho hai đứa con ăn nốt bát cháo dở rồi ôm con đi nằm. Trải qua một ngày căng thẳng, Mây thiếp đi.


Sáng dậy, Mây ra bến sông giặt quần áo. Chưa bao giờ ra bến sông Mây lại có tâm trạng nặng nề như lúc này. Dòng sông vẫn lặng lẽ trôi về biển. Mây đứng ngẩn ngơ nhìn về ngã ba sông, nơi dòng nước cuộn sôi lên chia làm hai ngả nhưng đều chảy về với biển. Biển là mẹ hiền của những con sông đón nhận tất cả niềm vui và nỗi buồn. Phìa dưới ngã ba có cây cầu nối đôi bờ dòng sông biên giới. Cây cầu tình nghĩa của hai nước Việt Trung đã in bao dấu chân của những cặp gái trai hò hẹn đi về. Mới ngày nào Sáng còn đưa Mây qua cầu về Trung Quốc, hai đứa ngồi xe xích lô đi ăn món Bánh Bao nóng và món Mằn Thắn có những sợi nhỏ đều như những sợi tơ hồng. Ngày ấy Mây thấy cuộc sống thật hạnh phúc yên bình.


Mây nhìn bầu trời ong ong vần lên từng mảng mây đen như sắp có giông. Dòng sông biên giới không một bóng dáng con đò qua lại. Từ mấy ngày nay dân thị trấn phải sơ tán triệt để thực hiện chính sách vườn không nhà trống. Bất chợt phía đầu cầu vang lên một loạt tiếng nổ rung chuyển đất trời, đạn pháo reo réo bắn vào đồn biên phòng và trạm hải quan, khói bụi mù mịt. Những bóng người táo tác chạy trong khói pháo.Thị trấn rùng rùng chuyển động. Chiến tranh đã xảy ra.


Mây hớt hải chạy về nhà vơ vội áo quần ấn vào chiếc túi xách.


- Đánh nhau to rồi mẹ ơi, Mây nói, mình phải rời khỏi nơi này ngay hôm nay.


 


CHƯƠNG 22


Người cha kỳ quặc


 


Trần Tăng biết quá rõ chuyện của cậu Hoà với con Măng. Duyên số chúng nên vợ nên chồng, Trần Tăng càng dễ sai khiến bảo ban chúng. Cái thằng cũng rõ khéo, bao năm nay nó tận tuỵ lái xe phục vụ mình...


 Nhìn hai đứa ngồi trước mặt ấp a ấp úng không nói nên lời, Trần Tăng cười.


- Có chuyện gì hai đứa nói xem nào?


Con và anh Hoà yêu nhau, chúng con xin phép bố. Con Măng e thẹn nói, chuyện riêng của gia đình ta con đã kể hết với anh Hoà.


- Hai đứa mà nên duyên vợ chồng ta mừng. Trần Tăng nghiêm giọng. Có điều ta nhắc cả hai đứa luôn phải giữ cho ta. Danh chính, con Măng vẫn là con gái Đào Kinh, trong hồ sơ của con vẫn là Đào Thanh Măng cơ mà. Đào Kinh mấy năm nay bỏ làng Đoài ra biên giới, lại có quan hệ mật thiết với người Tầu. Tình hình chính trị giữa mình với Trung Quốc đang căng, các con phải thận trọng. Đào Kinh là người cả tin, lập trường giai cấp bấp bênh dễ bị đối phương lợi dụng, phải thường xuyên gần gũi theo dõi giúp đỡ ông ấy. Ông ấy có chuyện gì khác thường các con phải báo cho ta biết.


Con Măng và thằng Hoà ra khỏi phòng, Trần Tăng cười thầm vì những nhận định chính xác của mình. Điều làm Trần Tăng không yên lại chính là chuyện vợ con ông ở quê. Ông quyết định làm một cuộc cách mạng, sẽ chuyển cả gia đình bố mẹ vợ con lên tỉnh. An cư lạc nghiệp, hậu phương phải vững chắc mới yên tâm lo việc nước. Chức chủ tịch tỉnh sẽ vào tay Trần Tăng nay mai. Những lúc đất nước “có sự” lại là lúc người lãnh đạo dễ bộc lộ tài năng uy tín của mình nhất. Phải biết vận dụng kết hợp mọi yếu tố chủ quan, khách quan, chủ động lo tính, khai thông đường đi nước bước của mình. Biết sử dụng tối ưu quyền lực có trong tay. Ta phải nuôi cắm một đội quân vừa tài ba vừa trung thành tận tâm với mình tận trung với nước. Thời bây giờ không thể tin dùng loại người như Đào Kinh. Năm xưa mình đã dùng Đào Kinh cũng là do thời cuộc, hắn giống như loài chó săn vừa khôn lại vừa ngu...


Chỉ qua một đêm suy tính, sáng dậy Trần Tăng quyết định một lần nữa về quê thuyết phục gia đình vợ con ra tỉnh sống. Quyền hành mình đang nắm trong tay, không chớp thời cơ sau này sẽ khó khăn.


Mải mê việc nước, lâu lắm Trần Tăng mới về thăm nhà. Xóm làng vẫn xác xơ ngèo đói. Hoà bình thống nhất mãi mà nền kinh tế đất nước vẫn bí bét không phát triển. Đầu óc người nông dân vẫn u mê lạc hậu- sự lạc hậu cố hữu đã có sẵn trong máu từ bao đời, thật khó mà thay đổi. Đến cả ông bố Trần Tăng, mỗi lần nghe Trần Tăng nói tới chuyện chuyển nhà ra tỉnh, ông tuyên bố xanh rờn: Anh có làm tới chức chủ tịch nước, tôi cũng chỉ ở cái làng này, vẫn sẽ chết ở ngôi nhà này không đi đâu hết. Vợ Trần Tăng lại vào hùa với bố chồng, chị ta bảo, anh tha tôi ra tỉnh để cho người thành phố nó khinh tôi á. Còn lâu nhá.


Thế đấy, với địa vị của Trần Tăng, ra ngoài quân quyền lồng lộng, mưu lược có thừa nhưng về nhà bố và vợ lại coi thường, cư xử ương ương dở dở không sao chịu nổi. Bố trần Tăng là do cổ hũ đã dành, nhưng cô vợ Trần Tăng, có lẽ từ cái ngày cô mò sang làng Đoài ghen với nàng Cam bị Trần Tăng đuổi khéo nên tự ái. Rõ là đàn bà đái không qua ngọn cỏ. Dù sao, vẫn phải ngậm bồ hòn làm ngọt cho gia đình êm thấm.


Lần này trước khi về, Trần Tăng đã bảo cậu Hoà ra cửa hàng thực phẩm mua đủ mọi thứ  mang về làm mâm cơm rượu ra trò đãi bố để thuyết phục cụ bán nhà ra thành phố với Trần Tăng. Dù thời buổi tem phiếu nhưng Trần Tăng cần thứ gì chỉ ghi mấy chữ vào mẩu giấy nhỏ cho Hoà mang ra cửa hàng là các cô bán hàng phục vụ đầy đủ.


Hai thầy trò về đến nhà, Cậu Hoà lái xe và vợ Trần Tăng chỉ vào bếp chừng nửa tiếng đã có một mâm đầy tú ụ với đủ các món đặt lên bàn trước măt hai bố con Trần Tăng. Trần Tăng rót rượu vào chèn.


- Con mời bố, chúc bố bách niên giai lão.


- Anh cố đợi thằng con anh nó về rồi ăn một thể có được không? Ông bố Trần Tăng vẫn bình thản không coi chuyện ăn uống làm trọng.


- Cháu nó về ăn sau bố ạ. Hôm nay con có câu chuyện quan trọng muốn thưa với bố và nhà con. Nào, con mời bố, mời cậu Hoà. Trần Tăng nháy mắt nhìn Hoà.


Hoà hiểu ý Trần Tăng, cậu vội ngồi xuống ghế nhanh nhảu:


- Cháu mời cụ, cháu mời cô uống rượu rồi xơi cơm. Thủ trưởng cháu hồi này luôn bận trăm công ngàn việc, mấy lần định về lại phải hoãn lại.


- Bận rộn thế thì thầy trò anh còn về làm gì?


- Thưa bố, lần này con đã suy nghĩ kỹ rồi, gia đình ta phải chuyển ra thành phố bố ạ. Thời cơ ngàn năm có một, bố và nhà con, ra đó con sẽ được tiêu chuẩn phân đất phân nhà riêng, được hưởng mọi quyền lợi theo chế độ chính sách, và lo tính đến chuyện tương lai về lâu về dài cháu trai của bố nữa. Cả nhà ta sẽ có hộ khẩu thành phố.


- Anh không phải nói nhiều, tôi không đi đâu hết. Ông bố Trần Tăng lạnh lùng, quyền lợi của anh của vợ con anh được gì anh cứ hưởng, tôi đã sống ngần này tuổi rồi sao tôi không hiểu điều hay lẽ phải. Đời con người có mười phần tôi đã trải qua chín trên mảnh đất này, làm sao tôi phải đi đâu? Tôi còn lạ gì sự tính toán của anh. Tôi thì chẳng còn sống được bao lâu, tôi có nói ra điều này bây giờ anh cũng bỏ ngoài tai, nhưng tôi cứ nói để sau này anh sẽ thấy, dù anh có làm đến cái chức to nhất nước Nam này thì cuối đời anh cũng chẳng có ai người ta nhỏ nước mắt khóc anh thật lòng đâu. Tôi dám chắc với anh điều này.


- Bố là người lạc hậu bảo thủ và kỳ quặc nhất hành tinh này, Trần tăng gay gắt, bố không lo sống sao cho sung sướng, lại chỉ lo lúc chết không ai khóc. Lại còn sợ người ta khóc giả nữa sao. Bao giờ bố cũng nghĩ xấu về con. Bố ra thành phố để con có điều kiện chăm sóc bố lúc ốm đau già cả. Cả đời bố chẳng được đi đến đâu nên bố không sao nhận ra được thế giới đang đổi thay từng ngày. Bố không nghe lời con, ở nhà gặp chuyện khó khăn đừng trách con không quan tâm.


- Tôi xin anh, từ nay anh đừng nói tới chuỵên này nữa, nếu anh là người biết quan tâm tới người khác, biết nghĩ đến bà con quê hương làng xóm thì cái làng Đồng Ho này đâu đến nỗi khốn khổ như ngày nay. Anh đừng tưởng anh đưa được tôi ra tỉnh là anh rũ bỏ hết mọi trách nhiệm sao? Anh có còn nhớ tới những ngày cả làng, rồi cả xã, đến cả huyện háo hức cả tin nghe theo anh. Họ đã phải đổ bao mồ hôi công sức cho những công trình to lớn, những ý tưởng điên rồ của anh, để anh có cơ hội thăng tiến vù vù. Nhưng kết cục tất cả công sức của dân đều là công dã tràng. Bao công trình to lớn, bao ý tưởng anh bày đặt ra đều đổ vỡ. Rốt cục chỉ khổ dân. Anh càng lên cao, dân càng khốn đốn. Anh là thằng lãnh đạo không có lương tri, chỉ giỏi mưu kế dụ dỗ dân lành. Chỉ có tôi là người đẻ ra anh tôi mới dám nói. Hồi anh còn là cán bộ xã thì dân cả xã này khổ, anh lên huyện thì dân cả huyện khổ, anh lên tỉnh thì dân cả tỉnh khổ. Tôi lo anh mà lên trung ương thí đất nước này nguy to. Anh ngẫm mà xem, người ta đi làm cán bộ, về làng dân tình kéo đến đầy nhà, còn anh về làng, chẳng ma nào dám đến. Anh có biết vì sao không? Vì người ta vừa sợ anh lại vừa khinh anh. Người ta khinh anh vì anh là thằng hèn, còn người ta sợ anh vì tiếng tăm của anh lẫy lừng hàng tỉnh, sợ những trò mưu ma phù thuỷ của anh. Anh giống như bóng con quỷ luôn ám ảnh dân làng.


Lại một lần nữa Trần Tăng không thuyết phục nổi ông bố kỳ quặc. Lâu nay Trần Tăng bỏ ngoài tai những gì người bố xỉ vả. Chấp chi tuổi già, cụ lại là người đẻ ra mình. Làm thằng lãnh đạo, quyền sinh quyền sát trong tay mà không biết làm cho quân quyền nó sợ thì còn lãnh đạo được ai. Bây giờ còn là cấp phó, nhiều việc còn phụ thuộc vào trưởng. Cấp trưởng vào tay trần Tăng mọi chuyện sẽ phải khác xa. Những thằng ngang đầu cứng cổ phải trừng trị ngay tắp lự.


Chiếc xe của hai thầy trò Trần Tăng đã lao ra đường quốc lộ, Trần tăng bất ngờ hỏi Hoà:


- Chuyện của cậu và con Măng cụ thể thế nào nói thực để tôi còn biết đường lo liệu.


- Trăm sự con nhờ thủ trưởng, Hoà ngọt ngào, chuyện của chúng con mà thành thì còn gì hơn. 


- Là thằng đàn ông phải luôn có chí hướng, phải biết tính toán chớp thời cơ đến với mình. Cậu mà lấy con Măng thì tốt rồi, ta sẽ thu xếp cho căn nhà riêng. Nhà cửa người Hoa bỏ đi rẻ như bèo. Sở dĩ ta muốn cho chuyển cả nhà ra phố trong lúc này cũng là lẽ đó. Nhưng khốn nỗi nhận thức của ông cụ ta rõ là lạc hậu không sao chịu nổi. Trần Tăng ngập ngừng suy tính một lát rồi nói, ta sẽ giao cho cậu một việc vô cùng quan trọng, phải tìm mọi cách gần gũi, gây được uy tín với Đào Kinh. Chúng ta phải nắm được Đào Kinh trong tay. Hai đứa cưới nhau anh sẽ là con rể của cả hai ông bố, Đào Kinh và ta. Ta thấy hồi này Đào Kinh đối với ta có phần khang khác. Anh có biết ngôi nhà Đào Kinh đang ở là nhà người Hoa để lại?


- Con nghe nói ông Đào Kinh có giấy tờ của gia đình người Hoa trao quyền sử dụng.


- Cậu Còn ngây thơ lắm, đấy chỉ là hình thức, biết đâu bên trong ngầm có ý đồ gì của những kẻ ra đi muốn cài cắm lại hòng mưu đồ lâu dài. Đào Kinh ở căn nhà ấy là không hợp pháp đâu...


 


CHƯƠNG 23


Sắc Màu thời gian


 


Dinh thự nhà thương gia Đức Cường hồi này nườm nượp khách ra vào. Hai mẹ con chị Thu Cúc và ông bà Đức Cường luôn bận rộn tiếp khách. Bạn bè cùng hoạt động với chị Thu Cúc, các nhà báo, nhà văn lũ lượt đến viết bài, đưa tin, chụp ảnh ca ngợi ông bà Đức Cường. Chưa bao giờ ông bà Đức Cường lại thấy tự hào, hạnh phúc như ngày này. Mải say sưa với niềm vui, đôi lúc ông bà quên khuấy chuyện buồn phiền của con cái.


Ban ngày ông Đức Cường bận giao lưu bạn bè tiếp khách, đêm về phòng riêng nghe vợ than phiền về Thương Huyền lòng ông lại lo lắng không yên. Nó vẫn âm thầm lạnh lùng như chiếc bóng trong phòng riêng, không chịu tiếp xúc với thế giới bên ngoài. Tuy không nói ra nhưng ông Đức Cường quá hiểu tâm tính Thương Huyền, nó là đứa kín đáo, sâu sắc, không dễ hoà nhập với đời sống mới. Bề ngoài ông cố tình tạo ra không khí vui vẻ để các con ông bớt mặc cảm với chính quyền cách mạng. Nhưng trong sâu thẳm ông vẫn nặng nỗi ưu tư về cảnh ngộ gia đình mình. Chị Thu Cúc hồi này luôn than phiền với ông bà Đức Cường về Thương Huyền không chịu hoà nhập với cuộc sống mới. Chị Thu Cúc trách ông bà đã quá nuông chiều con gái. Phải có biện pháp cứng, cắt hết các khoản chi tiêu, buộc Thương Huyền phải tự lo lấy bản thân. Không đi làm lấy gì mà ăn. Không biết làm ăn gì, sau này ông bà về già, ai lo được cho mẹ con cô ấy. Lời chị Thu Cúc thực tế đến tàn nhẫn.


 Chị Thu Cúc còn khuyên bảo Thương Huyền nên tình nguyện cùng con Ngọc Lan đi vùng kinh tế mới “Cô đi kinh tế mới không phải vì miếng ăn. Chế độ mới khác với chế độ cũ lá ở đó. Sống không chỉ nghĩ đến miếng ăn. Phải biết đồng cam cộng khổ chung lưng đấu cật với giai cấp vô sản, với những người lao động nghèo khổ. Đời cô đã vậy, cô phải nghĩ cho đời con cô. Cô có “cái chính trị” thì con cô sau này sẽ được mở may mở mặt. Giờ cô chịu vất vả, Con Ngọc Lan sau này nó cám ơn cô”


Vì con Ngọc Lan, Thương Huyền đành chấp nhận đưa nó lên vùng kinh tế mới hi vọng gặp Hoàng Kỳ Nam. Lúc ra đi ông bà Đức Cường ôm mãi con Ngọc Lan, trong lòng.


- Ông bà nhớ cháu lắm, nhưng cháu phải đi với mẹ. Ông Đức Cường muốn khóc mà miệng vẫn phải cười. Cháu phải được ở gần mẹ, gần những người lao động thì đời cháu sau này mới khá lên được.


Ông Đức Cường nhận thức sâu sắc điều này. Xưa nay ông luôn là người nhạy cảm. Ông quá thương con gái, nhưng đành phải động viên nó ra đi vì tương lai của hai má con nó. Nó phải tránh xa vợ chồng ông may ra mới thoát khỏi tai tiếng con nhà tư sản. Nó phải trải qua cuộc sống lam lũ trên rừng mới hy vọng đổi đời. Giá nó có chồng con đàng hoàng thì con gái theo phận nhà chồng sẽ tách bạch được cái thành phần tư sản xấu xa. Khổ nỗi số kiếp nó dở dang đành chịu mãi tiếng tăm của bố mẹ- tiếng tăm nhà tư sản Đức Cường quá lớn, đã làm khổ ông, làm khổ các con ông....


Niềm vui tự hào của ông qua đi quá nhanh. Tin buồn về hai nhà máy kinh doanh liên tiếp thua lỗ có nguy cơ phá sản. Cả hai nhà máy tuy không còn là của ông nữa nhưng dù sao ông đã lăn lộn với nó cả đời, giờ nó bị lụi tàn ông thấy đau đớn như chính mình bị mất mát những gì vô cùng quý giá. Từ lâu lắm gia đình ông chưa bao giờ phải lo thiếu tiền bạc. Nhưng từ ngày ông hiến nhà máy cho nhà nước, không còn nguồn thu nào khác, lại phải chi nhiều hơn cả trước đây. Chi đối nội, đối ngoại bởi ông đã là người nổi tiếng phải cư xử nghĩa ngọn với bạn bè. Đôi khi ông phải gồng mình lên làm đẹp lòng mọi người. Dần ông nhận ra mọi chuyện không như ông tưởng. Ông kinh hoàng thấy kinh tế gia đình mình sa sút nhanh quá. Ông không ngờ cậu Đức Thịnh, con trai ông lại nhận ra điều đó sớm hơn ông nên đã kịp sắm được chiếc xe máy ba bánh dành riêng cho người tàn tật để đi bán báo lưu động ngoài bến xe, bến tàu.


- Ba má yên tâm, có chiếc xe ba bánh ni, con đủ sống tự lập suốt đời. Nghe anh Đức Thịnh nói ông Đức Cường lại nhoi nhói trong lòng. Mỗi sáng ông lại giật mình nghe tiếng lạng gỗ của cậu con trai cậm cạch, cậm cạch trên mảnh sân sau nhà, nơi để chiếc xe ba bánh. Rồi ông nghe tiếng máy tành tạch nổ rền một hồi, chiếc xe rùng rình lao ra khỏi cổng để lại không gian tĩnh lặng đến rợn người. Chiều đến từ ô cửa sổ phòng khách, ông bà Đức Cường lại nhìn thấy cậu con trai Đức Thịnh ngồi ngất ngư trên chiếc xe ba bãnh rùng rình chạy vào cổng rồi ngoẹo ra khoảng sân sau nhà. Tiếng lạng gỗ lại cậm cạch, cậm cạch, bóng Đức Thịnh bước lò cò lên bậc thềm vào gian nhà ngang vắng lặng.


Hai mẹ con Thương Huyền đi vùng kinh tế mới, cuộc sống của ông bà Đức Cường trở nên đơn độc. Đêm đêm ông bà Đức Cường thao thức phấp phỏng nghe ngóng tin tức mẹ con Thương Huyền bay về từ đám khách ra vào gặp gỡ chị Thu Cúc. Họ bảo dân kinh tế mới lên rừng bị ngã nước, ghẻ lở hắc lào, sốt rét hết lượt, nhưng không ai dám bỏ về. Ông bà Đức Cường lo lắng nhờ Chị Thu Cúc gửi cho mẹ con Thương Huyền một số đồ dùng thuốc men quần áo.


- Ông bà chỉ làm hư mẹ con cô ấy, ảnh hưởng tới tư tưởng bà con xung quanh. Chị Thu Cúc mắng át đi, khó khăn chung, ai cũng phải chịu, đâu chỉ riêng mẹ con cô ấy.


Lời chị Thu Cúc gay gắt khiến ông bà Đức Cường đành nín nhịn. Ngày ngày ông bà Đức Cường nhìn cảnh chị Thu Cúc rung rinh xe đưa xe đón đi về, khách xa khách gần ra vào ríu rít. Mẹ chị Thu Cúc, trước đây làm vú nuôi cho gia đình ông bà Đức Cường bây giờ không phải tất bật chạy ra chạy vào đóng mở cổng nữa. Chị Thu Cúc đã thuê một người giúp việc lo mọi chuyện cơm nước, quét dọn nhà cửa và mỗi khi nghe tiếng còi xe “bim bim” thì chạy ra mở cổng. Từ vai trò người vú nuôi trong gia đình ông Đức Cường, mẹ chị Thu cúc bỗng thành mẫu hậu được mọi người trọng nể. Bà e ngại ngày ngày nhìn ông bà Đức Cường buồn rầu, nhìn cậu Đức Thịnh phải tất bật đi bán báo kiếm sống. Người vú già chân thật, thương tình hay ra vào phòng ông bà Đức Cường trò chuyện, động viên an ủi vợ chồng người chủ của mình đã thất cơ lỡ vận. Bà vú mơ hồ cảm nhận thấy thời thế xoay vần có gì đó cứ gờn gợn phũ phàng với ông bà Đức Cường.


- Cách mạng thành công, thời thế đổi thay, mọi chuyện đều thay đổi. Mẹ chị Thu Cúc nói, đó là quy luật tất yếu, ông bà chẳng phải buồn phiền. Thiên hạ sống được, thì mình cũng sống được. Người vú già nói thẳng băng, nếu ông bà không ngại, mai tôi bảo con Thu Cúc bố trí cho cậu Đức Thịnh không phải đi bán báo nữa, ở nhà làm công việc quét dọn đóng mở cổng khỏi phải thuê người giúp việc.


Ông bà Đức Cường hiểu rõ lời chân tình của người vú già, nhưng ông vẫn thấy gai gai trong người. Cuộc đời thật tàn nhẫn. Từ một thương gia, trong tay có những hai nhà máy, và nhiều cửa hàng mua bán rải khắp vùng, bỗng chốc trắng tay. Mọi chuyện nó ào đến nhanh quá, bất ngờ quá và trớ trêu quá khiến ông bà Đức Cường ngỡ ngàng. Có những điều đau đớn trong lòng mà không dám nói với ai. Ông thương cậu con trai què quặt mà vẫn phải để nó đi bán báo. Dù nó đi bán báo vẫn còn hơn nó ở nhà làm chân đóng mở cổng cho chị Thu Cúc. Hai cánh cổng bằng gang đúc trông bề thế vững trãi kia bây giờ lại phụ thuộc hoàn toàn vào chị Thu Cúc. Dinh thự Đức Cường thật lộng lẫy kiêu hãnh từ bao năm, nói lên sự làm ăn phát đạt của gia chủ. Lẽ ra dinh thự này ông phải dành cho cậu quý tử Đức Thịnh thay ông cai quản khi về già thì ông lại hứng lên biếu không mẹ con chị Thu Cúc. Ông muốn thể hiện tấm lòng của ông đối với cách mạng, đối với gia đình chị Thu Cúc. Âu cũng là do lòng thương người và cái tính quá nhạy cảm với thời cuộc của ông. Ông thương Đức Thịnh giờ đây long đong què cụt, và lo cho hai mẹ con Thương Huyền phải sống nơi rừng xanh núi đỏ không biết có chống chọi nổi với bệnh tật. Nếu mẹ con Thương Huyền có mệnh hệ gì thì ông chịu sao nổi. Con Ngọc Lan còn nhỏ dại đã phải chịu khổ cực, rồi cuộc đời nó sẽ ra sao? Ông thấy ân hận ngày nó còn đỏ hỏn ông đã đem nó cho người ta nuôi, nếu mẹ nó không quyết liệt bắt ông chuộc nó về thì coi như ông đã mất nó. Ông để mất nó thì mẹ nó sao sống nổi tới ngày nay.


- Âu cũng là số các con mình nó thế, bà Đức Cường an ủi ông.


 Ông biết bà nói thế chỉ để an ủi ông, thực tình trong lòng bà cũng đau đớn lắm. Ngày đầu giải phóng, ông bà những hy vọng chính quyền cách mạng, hy vọng chị Thu Cúc, hy vọng vú nuôi hiểu rõ được hoàn cảnh gia đình ông, thông cảm cho các con ông. Ông vẫn còn nhớ cái giây phút ông bàng hoàng khi biết bà vú nuôi lại là một cán bộ nằm vùng ngay trong nhà ông, chị Thu Cúc là cán bộ trong uỷ ban quân quản thành phố. Càng tiếp xúc lâu với Thu Cúc, ông mới nhận ra ở người nữ cán bộ giải phóng này quả là gan vàng dạ sắt. Người cán bộ cách mạng phải lạnh lùng nuôi chí lớn như thế mới chiến thắng kẻ thù. Đã vào tuổi ba chín bốn mươi mà chị Thu Cúc vẫn chưa lấy chồng. Trong bữa cơm liên hoan mừng chiến thắng tại dinh thự của ông ngày ấy, có đầy đủ cán bộ chính quyền phường và bạn bè trong uỷ ban quân quản thành phố của chị Thu Cúc, ông đã vui mừng công bố ủng hộ hai mẹ con chị toà nhà chính của dinh thự này để cho chị Thu Cúc cưới chồng. Trong tiếng vỗ tay vang dội, chị Thu Cúc đứng lên trịnh Trọng nói “Tôi rất cảm ơn tấm lòng tốt của ông bà Đức Cường xin được nhận món quà to lớn ông bà đã cho hai mẹ con tôi. Còn chuyện chồng con của tôi thì xin mọi người hãy hiểu, trong lúc đất nước vừa mới giải phóng chúng ta còn rất nhiều việc cần phải làm, đối với người cách mạng chân chính phải biết hy sinh chuyện riêng để lo việc đại sự” Lời tuyên bố hùng hồn của chị Thu Cúc khiến mọi người kính nể. Và giờ đây một lần nữa chị Thu Cúc lại làm ông bà Đức Cường ngỡ ngàng.


- Cháu Thu Cúc chuẩn bị cưới chồng, ông bà phải mừng chứ? Bà mẹ chị Thu Cúc khoe.


Đúng vậy, cả đời đi theo cách mạng, chị Thu Cúc phải có được hạnh phúc gia đình riêng. Đám cưới chị Thu Cúc được tổ chức tại dinh thự Đức Cường. Nói là dinh thự Đức Cường là nói theo theo tên gọi xưa. Nơi đây, giờ đã mọc lên ngôi biệt thự lộng lẫy của bà Thu Cúc, phó chủ tịch thành phố. 


- Ông bà phải nhắn hai mẹ con Thương Huyền nó về chơi ít ngày dự đám cưới chị Thu Cúc chứ. Mẹ chị Thu Cúc sung sướng nói với ông bà Đức Cường, thú thực từ ngày hai mẹ con nó đi lên vùng kinh tế mới, tôi thấy nhớ chúng nó lắm.


Ông bà Đức Cường cảm động trước tấm lòng chân thành của người vú nuôi đã bao năm chăm ẵm cả hai mẹ con Thương Huyền. Đám cưới chị Thu Cúc, rõ là mừng rồi, nhưng ông bà Đức Cường ái ngại không biết có nên cho hai mẹ con Thương Huyền về dự đám cưới chị Thu Cúc hay không? Ông ái ngại bởi đám cưới chị Thu Cúc lại diễn ra trong cảnh tình cậu quý tử Đức Thịnh, người nối dõi dòng tộc nhà ông ngày ngày vẫn phải cậm cạch nạng gỗ lò cò nhảy lên chiếc xe ba bánh rong ruổi đi bán báo kiếm sống, và cô tiểu thư Thương Huyền xinh đẹp nhà ông lại phải lên rừng khai hoang. Ông Đức Cường soi xét lại bản thân, soi xét lại mấy đời gia tộc ông có ai làm điều thất Đức đâu mà cả con trai con gái ông phải chịu cảnh lỡ dở một đời ngang trái. Càng ngẫm ông Đức Cường càng thấy đau đớn. Tất cả là tại ông, chính ông đã làm các con ông khốn khổ, chính ông là kẻ dại khờ, ngu muội lái con thuyền gia đình đi sai hướng. Trước bàn tiệc chất ngất đồ ăn thức uống, ông Đức Cường lặng lẽ nhấp từng ly rượu. Càng uống ông càng thấm thía sự đời. Bà Đức Cường ngồi cạnh khẽ bấm vào sườn ông nhắc nhở ông uống ít thôi. Giọng bà nghe âm vang trong lòng ông. Ông nhìn gương mặt bà đầy lo lắng u buồn. Xung quanh ông tràn ngập tiếng cười. Những gương mặt rạng ngời của quan viên hai họ chúc mừng cô dâu chú rể lộng lẫy trong bộ đồ cưới trắng toát. Giá mà cô con gái Thương Huyền và cậu quý tử Đức Thịnh của ông cũng được hạnh phúc như thế này. Có ai hiểu được tâm trạng ông? Chỉ có vợ ông hiểu lòng ông đang nghĩ gì. Đúng vậy, bà Đức Thịnh chưa bao giờ thấy ông suy sụp như lúc này.


- Mình không được uống nữa, mình say rồi. Bà luôn nhắc nhở ông.


Không, ông không say, ông chưa bao giờ thấy minh mẫn và tỉnh táo như lúc này. May mà ông đã không cho hai mẹ con Thương Huyền về. Nó mà về ông càng đau khổ hơn. Ông hiểu tính Thương Huyền, nó cả nghĩ lắm. Nó là nữ sinh văn khoa Sài Gòn cơ mà. Thằng Đức Thịnh cũng biết ý tứ, nó chỉ ăn qua loa rồi vào nhà khoá trái cửa đi nằm. Ông biết rõ thằng Đức Thịnh cũng đang nghĩ gì. Nó oán trách ông trong lòng mà không dám nói. Nó không dám nói vì nó thương ông, nó hiểu ông. Với lại làm sao nó có quyền nói ông. Nó là thằng lính Nguỵ thất trận, còn sống được là may...


- Bà phải ngồi đây tiếp khách giùm tôi, ông Đức Cường nói, tôi phải về phòng nghỉ trước.


Ông Đức Cường chào mọi người xung quanh, lập cập đứng dậy đi về phòng. Ông khoá trái căn phòng hạnh phúc của mình lại. Chưa bao giờ ông thấy mình cô đơn như lúc này. Chưa bao giờ ông thấy mình lại chán nản như lúc này. Ông là kẻ thất bại thảm hại nhất trên đời. Trong tay ông đã từng có hai nhà máy và vô khối cửa hàng buôn bán trên khắp mọi miền. Ông đã từng kiêu hãnh là một thương gia có tinh thần yêu nước hết lòng ủng hộ cách mạng, vậy mà giờ đây trắng tay. Ông đã trở thành kẻ có tội với vợ con. Bà hãy tha thứ cho tôi, các con hãy tha thứ cho ba. Ông nằm vật ra giường nhìn lên trần nhà. Từ lâu đêm đêm ông thường mất ngủ hay nằm nhìn trân trân lên trần nhà, và cuối cùng ông phải dùng đến những liều thuốc ngủ. Và lúc này trong đầu ông căng lên đau nhoi nhói, ông muốn giải thoát mọi nỗi đau để về thế giới bên kia một cách nhẹ nhàng. Ông đưa mắt nhìn trân trân vào lọ thuốc ngủ ông mới mua còn đây nguyên. Lọ thuốc ngủ xinh xinh, lâu nay vỗ về ông, ru ông chìm đắm vào những cơn mê hoảng loạn, để rồi khi tỉnh dậy ông lại thấy lòng đau đớn. Và lúc này lọ thuốc xinh xinh lại cuốn hút ông, ông muốn dùng nó lần cuối cùng để rồi không bao giờ phải nhờ tới nó nữa. Ông đưa tay với lọ thuốc ngủ trên đầu gường. Ông chợt nhận ra ông chưa nhắn gửi lời nào cho vợ cho các con cho mọi người. Ông lấy giấy bút viết “Bà hãy ở lại với các con, tôi đi đây. Vĩnh biệt! Vĩnh biệt cuộc đời này”. Ông lo sợ sự chậm trễ sẽ bị vợ phát hiện nên ông cầm lọ thuốc ngủ đi ra mảnh vườn sau nhà. Mảnh vườn xưa hoang vắng, chiếc ghế đá phủ đầy lá rụng. Âm thanh tiệc cưới vẫn vang lên bên tai. Ông bước tới gốc sầu riêng gạt lớp lá lâu ngày mục rữa, lật mở nắp căn hầm bí mật từ hồi kháng chiến ông vẫn còn giữ lại phòng khi bất trắc xảy ra. Căn hầm này đã trải bao biến cố thời cuộc, nó luôn là nơi che chở làm yên lòng người mỗi khi có sự. Trong chiến tranh, căn hầm này đêm đêm đã từng đón những chiến sỹ cách mạng về nhận vũ khí lương thực đưa ra vùng giải phóng. Căn hầm này đã che chở cho thằng Đức Thịnh, con trai ông bị thương trong chiến dịch Mậu Thân 68. Ông run rẩy dò từng bước, căn hầm tối bưng xông lên mùi ẩm mốc. Từ ngày giải phóng, căn hầm bị bỏ quên, và hôm nay trong khoảnh khắc, căn hầm lại bất chợt hiện lên rõ mồn một trong tâm trí ông. Lại một lần nữa căn hầm lại che chở cho ông. Ông lần tới chiếc phản lim kê sát lối cửa thoát hiểm thông ra bờ sông. Ông ngả lưng ra tấm phản, cảm nhận thấy mình đã được giải thoát thanh thản. Lòng đất là nơi nhân từ nhất đón nhận ta đi về cõi vĩnh hằng. Ông mân mê mở nắp lọ thuốc an thần tìm kiếm giấc ngủ ngàn thu. Những viên thuốc lổn nhổn trôi vào cuống họng khô rát. Ông nhận thấy mình hơi sơ xuất đã không mang nước uống. Đến phút cuối cùng của cuộc đời, ông vẫn còn sơ xuất. Ông đã có không biết bao nhiêu điều sơ xuất cộng lại thành lỗi lầm lớn của cả đời người. Cho dù lỗi lầm của ông có lớn đến đâu, ông tin rằng vợ ông và con Thương Huyền, Đức Thịnh cũng sẽ tha thứ cho ông...


 Đám tang ông Đức Cường được vợ chồng chị Thu Cúc lo tổ chức thật long trọng. Phải thế chứ, ông Đức Cường là một thương gia yêu nước đã hiến cho cách mạng những hai nhà máy, và có công giúp đỡ quân giải phóng trong thời kỳ chiến tranh gian khổ. Quan khách các cấp chính quyền từ phường xã quận huyện đến tỉnh đều về dự đông đủ. Ai cũng rưng rưng nghe chị Thu Cúc đọc điếu văn trước giờ đưa nhà thương gia về nơi an nghỉ cuối cùng.


- Ông Đức Cường đã bị một cơn đau tim đột ngột qua đời vào hồi...giờ...ngày... Giọng chị Thu Cúc nghẹn ngào. Ông mất đi, để lại cho gia đình và tất cả chúng ta nỗi buồn tiếc thương vô hạn. Ông mất đi, bà Đức Cường đã mất một người chồng thuỷ chung, các con ông, cậu Đức Thịnh, cô Thương Huyền đã mất đi người cha kính yêu, các cháu ông mất đi người ông yêu quý mẫu mực vẹn toàn. Ông là người đã có công...


Mọi người lặng đi, ai cũng cảm động trước cảnh đau thương mất mát của gia chủ. Số cán bộ các ban ngành trong tỉnh có người còn tỏ lòng cảm thông đối với vợ chồng chị Thu Cúc mời bữa trước còn rạng ngời hạnh phúc trong tiệc cưới giờ đã lại phải lo toan đám tang cho ông Đức Cường.


Từ trên vùng kinh tế mới, Thương Huyền bàng hoàng đau đớn nhận được tin ba mất, hai mẹ con hớt hải về đến nhà thì mọi thủ tục khâm liệm cho ông Đức Cường đã xong. Thương Huyền lặng đi không sao khóc thánh lời, cô ngồi phủ phục trước quan tài cha đau đớn. Thương Huyền đã không kịp về nhìn mặt cha, cháu Ngọc Lan không được nhìn mặt ông. Thương Huyền hoang mang nghe những lời điếu văn mà ngỡ chị Thu Cúc đang nói về ai đó chứ không phải cha mình. Thương cha bao nhiêu, nhìn mặt má thất thần héo hắt, Thương Huyền chợt lo sợ. Thương Huyền lo sợ má không trụ nổi cơn hoạn nạn này. Cô muốn truyền thêm sức lực cho má.


- Má ơi má phải vững vàng để vượt qua lúc khó khăn này. Thương Huyền nắm lấy bàn tay má. Đôi bàn tay má lạnh ngắt khiến Thương Huyền hoảng sợ. Cô nhìn kỹ vào ánh mắt vô hồn của má, toàn thân má run lên bần bật, mặt má tái nhợt da tím ngắt. Tiếng chị Thu Cúc đọc điếu văn vẫn rành rọt từng lời. Toàn thân má lạnh ngắt đổ vào lòng Thương Huyền.


- Má ơi má! Má làm sao thế này? Thương Huyền rú lên. Mọi ngươi đổ xô lại xốc bà Đức Cường vào trong nhà. Thương Huyền cuống quýt chạy theo mọi người vào với má. Má ơi má đừng bỏ con lúc này.


Trong lúc mọi người rục rịch chuẩn bị đưa thi thể ông Đức Cường lên xe tang thì chiếc xe của bệnh viện cũng vừa đến đưa bà Đức Cường đi bệnh viện cấp cứu. Vậy là bà đã không còn sức lực để đưa ông về nơi an nghỉ cuối cùng. Bà muốn đi cùng ông. Duyên kiếp đã gắn kết bà với ông rồi. Bao năm nay ông và bà đã trải qua sóng gió cuộc đời, sao lúc này ông lại nỡ bỏ bà mà đi. Bà cảm nhận rõ một điều bà sống không thể thiếu ông. Lâu nay bà cũng cảm nhận, chịu đựng những nỗi buồn giống ông, nhưng bà cố nén trong lòng. Bà ân hận đã không thổ lộ cùng ông. Giá bà thổ lộ cùng ông, biết đâu ông đã rủ bà đi cùng thì bà đã không phải chịu đựng những phút giây đau đớn này. Bà muốn theo ông về nơi thanh bình. Mấy ngày nay ông đã bỏ bà ra đi, bà chỉ sống bằng những liều thuốc trợ lực và những giọt huyết thanh bên ngoài chảy dần vào cơ thể bà. Bà mơ màng nghe tiếng con Thương Hyền, tiếng cháu Ngọc Lan, và cả tiếng lạng gỗ cậm cạch của Đức Thịnh đi lại trên nền gạch men trong bệnh viện. Bà lo sợ nền gạch men trơn làm Đức Thịnh ngã. Các con không phải lo cho má. Má muốn đi cùng ba các con. Má có ra đi thì Thương Huyền và cháu Ngọc Lan sẽ không phải đi vùng kinh tế mới nữa. Nơi ấy rừng thiêng nước độc, sức con không trụ nổi đâu. Má đi với ba về thế giới bên kia, con Thương Huyền và chảu Ngọc Lan sẽ ở căn phòng của ba má. Bà muốn các con và cháu Ngọc Lan hiểu được ước nguyện của bà. Bà muốn nói với chúng nhưng không sao mở miệng ra được.


 Cuối cùng thì bà đã đi theo ông sau ba ngày. Người ngoài không ai biết rõ nguyên nhân cái chết đột ngột của ông Đức Cường dưới căn hầm bí mật. Lá thư tuyệt mệnh của ông Đức Cường để lại, chị Thu Cúc đã giữ kín, cấm gia đình không ai được hé lộ cho bất kỳ ai biết làm ảnh hưởng đến uy tín của ông. Một người như ông Đức cường không thể tự vẫn bằng thuốc ngủ. Và cái chết của bà vợ ông Đức Cường được người đời gi nhận như một tấm gương về lòng thuỷ chung son sắt vợ chồng.


Sau biến cố lớn về cái chết của cả hai ông bà Đức Cường, mọi sinh hoạt trong ngôi biệt thự Thu Cúc trở lại bình thường. (Dân trong thành phố bây giờ gọi ngôi biệt thự mới xây của bà phó chủ tịch tỉnh là ngôi biệt thự “Thu Cúc”). Biệt thự Thu Cúc, có nghĩa là biệt thự hoa cúc vàng mùa thu. Ngôi biệt thự nằm trong khuôn viên dinh thự Đức Cường xưa giờ đây lúc nào cũng rực rỡ hoa cúc vàng. Số cán bộ mẫn cảm chính trị rõ khéo tán dương đồng chí phó chủ tịch tỉnh Thu Cúc của chúng ta sẽ còn tiến xa. Bản thân cái tên “Thu Cúc” đã nói nên tất cả: Thu, cũng có nghĩa là mùa thu cách mạng; Cúc là loài hoa mầu vàng nở vào mùa thu- mùa thu tháng tám. Hoa cúc vàng cũng là ngôi sao vàng năm cánh.


Đúng như tâm nguyện của má đã muốn dùng cái chết để đổi lấy cuộc sống bình an cho mẹ con Thương Huyền không phải đi vùng kinh tế mới trên rừng.


Chị Thu Cúc hồi này cũng đỡ xét nét Thương Huyền. Ngọc Lan được đến trường đi học cùng bạn bè trang lứa. Đức Thịnh từ chối chân mở cổng ngôi biệt thự “Thu Cúc” để được nhận đồng lương ưu ái mà Chị Thu Cúc phải trả cho người giúp việc. Anh vẫn cậm cạch chiếc nạng gỗ, buổi sáng nhảy thách lên chiếc xe ba bánh rùng rình đi bán báo tới chiều muộn mới về.


- Tôi muốn để cho cậu làm công việc an nhàn ở nhà mà cậu không nghe. Chị Thu Cúc cay ca, cậu cứ đánh đu với cái xe tành tạch rong ruổi suốt ngày trên đường phố khiến thiên hạ người ta quở tôi đã bắt tội cậu. Cậu phải biết thân phận mình đã là lính nguỵ nhưng lại được tôi che chở nên có nhiều đối tượng chú ý. Cậu phải thận trọng, tôi mà nghe phong thanh cậu đàn đúm với những phần tử xấu, âm mưu chống đối chính quyền cách mạng để ảnh hưởng tới tôi là không được đâu đấy.


- Con đừng nói quá thế, cậu Đức Thịnh xưa nay là người tử tế. Mẹ chị Thu Cúc che chắn.


Tuy không là máu mủ ruột rà nhưng mẹ chị Thu Cúc là người mẹ thứ hai nuôi dạy Thương Huyền và Đức Thịnh, bà linh cảm có gì đó bất nhẫn. Hai mẹ con Thương Huyền lặng lẽ sống trong căn phòng của ba má, tránh tiếp xúc với mọi người.


Đức Thịnh lo cô em gái giam mình mãi trong phòng sẽ lại mắc chứng bệnh trầm cảm như trước. Thương Huyền không hề biết ngoài xã hội dân tình đang nháo nhác đi tìm hài cốt lính Mỹ bán lấy đô la. Nước Mỹ lại có chính sách cho phép tất cả những đứa con mang dòng máu lai Mỹ đang sống ở Việt Nam được về Mỹ nhập cư. Nhiều phụ nữ Việt Nam nghèo rớt nhưng nhờ có đứa con lai Mỹ bỗng dưng được trọng vọng, được cùng con sang mỹ định cư hoặc cứ ở lại Việt Nam sống bằng những đồng đô la chúng gửi về cũng sướng. Thương Huyền và con Ngọc Lan giờ đây cũng thuộc diện được phép sang nhập cư tại Mỹ. Thằng Bin, đứa con trai Lai Mỹ của Thương Huyền được Hall đưa về Mỹ chỉ kém con Ngọc Lan hai tuổi, biết đâu sau này lớn lên nó sẽ tìm về nhận má nó, với chị nó.


Ăn cơm tối xong, Đức Thịnh Cậm cạch lạng gỗ bước ra hành lang sang phòng Thương Huyền. Thi Thoảng Đức Thịnh phải sang bảo ban Ngọc Lan học bài, nói dăm ba câu chuyện với Thương Huyền cho vui. Ngoài cổng, có tiếng còi bem bem, xe của chị Thu Cúc về chiếu đèn pha sáng rực cả khuôn viên biệt thự Hoa Cúc Vàng. Chị Thu Cúc từ trong xe bước ra, đi qua chiếc cổng phụ vào phòng Thương Huyền.


- Cô Thương Huyền có tin mừng ha! Chị Thu Cúc reo lên, Thư của chàng Hall bên Mỹ gửi cho cô đây. Sướng nhá, đọc thư đi sẽ biết. Hall cũng gửi thư cho tôi nói ông ta sẽ sang Việt Nam nay mai thôi. Còn cậu Thịnh, bây giờ cậu cũng nên ở nhà, không phải đi bán báo nữa. Rồi mọi chuyện sẽ tốt đẹp. Bữa nào ông Hall sang, tôi sẽ bàn cụ thể với cô cậu sau. Chị Thu Cúc cười rạng rỡ. Từ bữa cưới chồng, chị Thu Cúc trẻ ra mỡ màng hơn cả thời con gái. Gái phải hơi trai có khác, tính tình cũng dịu dàng mát mẻ. Anh chồng chị Thu Cúc nghe tiếng vợ vui vẻ với Thương Huyền cũng chạy sang góp chuyện.


- Cô Thương Huyền cứ ở nhà không hiểu chi tình hình chính trị xã hội. Chồng chị Thu Cúc nói, thời thế đã khác xưa, có được hoàn cảnh như cô bây chừ là nhất ha. Tui nghe nói cái anh bạn Hall người Mỹ của cô xem ra mê cô rồi đó ha. Cứ suy nghĩ cho kỹ, sang bên đó má con lại được đoàn tụ với nhau chả sướng.


Hai vợ chồng chị Thu Cúc ra khỏi phòng, Thương Huyền bóc thư Hall ra đọc. Đức Thịnh tới bàn con Ngọc Lan xem nó học bài.


- Bác Thịnh ơi, bao lâu nữa má cháu sang Mỹ?


- Cháu có thích sang đó không?


- Mỹ là kẻ thù của ta răng mà thích được. Bác Thu Cúc là cán bộ răng lại muốn má con cháu sang Mỹ?


- Ngọc Lan, con lo học cho tốt, chuyện đó để má tính. Thương Huyền nói, Bác Thịnh về bên nhà em muốn bàn với bác chuyện này.


 Đức thịnh cậm cạnh nạng gỗ theo sau Thương Huyền về phòng mình.


- Hall muốn em sang Mỹ, Thương Huyền nói, đưa lá thư của Hall cho anh đọc. Đức Thịnh cầm lá  thư đọc xong vẻ băn khoăn.


- Vấn đề quan trọng, em có yêu Hall không? Lại còn chuyện của em với Hoàng Kỳ Nam, cha của Ngọc Lan? Em đã biết tin tức gì của cậu ấy?


- Đối với em, cả Hall và Hoàng Kỳ Nam không còn quan trọng nữa. Thương Huyền nói như khóc, em chỉ mong được yên ổn lo cho cháu Ngọc Lan học hành khôn lớn. Em sẽ không đi đâu hết. Nước Mỹ chả là gì với em. Họ đã cướp thằng Bin của em đi, giờ em chả là gì với nó. Anh không hiểu đâu, ba thằng Bin đã chết rồi, đã chết...Anh có biết ai đã giết cha thằng Bin không? Ôi anh Thịnh, cái số em chẳng ở đâu được yên thân. Thương Huyền khóc nấc lên.


- Chuyện quá khứ sao em cứ dằn vặt hoài. Hall thì anh không biết, nhưng anh thấy cậu Hoàng Kỳ Nam là người tốt, anh tin cậu ấy sẽ về. Quan trọng hơn là tương lai cháu Ngọc Ngọc Lan.


 Nghe anh Đức thịnh nói, Thương Huyền thôi khóc. Đối với Hoàng Kỳ Nam, lâu nay Thương Huyền vẫn âm thầm trông ngóng anh về. Cô đoán chắc anh gặp chuyện gì đó khó khăn trong cuộc sống nên đã không về với hai má con cô. Hồi trên vùng kinh tế mới, Thương Huyền đã dò hỏi tin tức về Hoàng Kỳ Nam nhưng không ai biết.


(còn tiếp)


Nguồn: Dưới chín tầng trời. Tiểu thuyết của Dương Hướng. NXB Hội Nhà văn, 2007. Đây là bản gốc, chưa bị cắt bỏ khi xuất bản. Tác giả gửi  www.trieuxuan.info


 


 


 

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Dưới chín tầng trời - Dương Hướng 19.11.2018
Bão - Ngũ Hà Miên 16.11.2018
Bến không chồng - Dương Hướng 08.11.2018
Trở lại cố hương - Thomas Hardy 07.11.2018
Nguyễn Trung Trực - Khúc ca bi tráng - Dương Linh 06.11.2018
Sông Đông êm đềm - Mikhail Solokhov 02.11.2018
Sóng lừng (VN. Mafia) - Triệu Xuân 02.11.2018
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 29.10.2018
Trăm năm cô đơn - G. G. Marquez 25.10.2018
Trả giá - Triệu Xuân 24.10.2018
xem thêm »