tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 30481898
Tiểu thuyết
16.01.2009
Liep Nicôlaievich Tônxtoi
Chiến tranh và Hòa bình

 


IV


Trong một căn nhà gỗ rộng rãi, căn nhà đẹp nhất của bác Mugích Anđrây Xavôchianôp, lúc hai giờ có phiên họp hội đồng quân sự. Bao nhiêu đàn ông, đàn bà và trẻ con trong cái gia đình nông dân đông đúc ấy đều chen chúc cả trong gian nhà phụ sát phòng ngoài. Chỉ có một mình con bé Malasa, đứa cháu gái lên sáu của bác Anđrây, vừa được đức ông âu yếm vuốt ve và cho một miếng đường khi dùng trà, là ở lại trong gian nhà lớn. Ngồi trên lò sưởi, Malasa bẽn lẽn và vui mừng ngắm nghía mặt mày, quân phục và huân chương của các vị tướng bấy giờ đang lần lượt bước vào nhà và ngồi lên mấy chiếc ghế dài rộng rãi đặt ở góc thờ[1], dưới các tượng thánh. Còn ông cụ (Malasa thầm gọi Cutudốp như vậy) thì ngồi riêng ra, trong các góc tối bên lò sưởi. Ông ngồi thụt sâu vào chiếc ghế bành xếp, đằng hắng luôn mồm và xốc mãi chiếc cổ áo tuy đã mở phanh ra nhưng vẫn có vẻ như đang chẹn ngang cổ. Những người mới vào lần lượt đến chào vị thống soái, và có người thì ông bắt tay, có người thì ông gật đầu chào lại. Viên sĩ quan phụ tá Caixarốp định vén bức màn trên cửa sổ, cạnh chỗ Cutudốp ngồi, nhưng ông giận dữ khoát tay một cái, và Caixarốp hiểu rằng đức ông không muốn cho ai trông thấy mặt mình.


Chung quanh chiếc bàn gỗ mộc mạc đặt đầy những bản đồ, giấy má, bút chì, có nhiều người đứng đến nỗi những người lính hầu phải mang thêm một chiếc ghế dài đến đặt bên bàn. Ba người mới đến là Yécmôlốp, Caixarốp và Tôn ngồi xuống chiếc ghế ấy. Ngay phía dưới các bức ảnh thánh, Bácclai đơ Tôli ngồi ở chỗ danh dự, cổ đeo huân chương Ghêoócghi, khuôn mặt xanh xao ốm yếu, vầng trán cao lẫn với mái đầu hói. Đã hai ngày nay ông ta bị sốt, và lúc bấy giờ ông cứ run từng cơn. Ngồi cạnh ông ta là Uvatôp, đang nói khẽ với Bácclai điều gì l(úc bấy giờ mọi người đều nói khẽ), tay hoa lên lia lịa. Tướng Đôcturốp người bé nhỏ và tròn trĩnh, lông mày giương cao, hai tay đặt lên bụng, đang chăm chú lắng nghe. Ở phía bên kia, bá tước Ôstécman Tônstôi hai tay chống đầu, khuôn mặt rộng có những đường nét táo bạo và đôi mắt sáng quắc, đang ngồi im có vẻ trầm ngâm suy nghĩ. Raiépski, vẻ sốt ruột, lấy tay vê mớ tóc đen láy phủ lên thái dương với một cử chỉ quen thuộc, khi thì nhìn Cutudốp, khi thì nhìn ra cửa. Khuôn mặt rắn rỏi, tuấn tú và hiền hậu của Cônôpnítxưn sáng bừng lên trong một nụ cười dịu dàng và ranh mãnh. Ông ta bắt gặp mắt Malasa đang nhìn lại liền nháy mắt ra hiệu, khiến cho con bé mỉm cười.


Mọi người đang chờ đợi Benníchxen, bấy giờ đang lấy cớ là đi xem xét lại địa thế để ăn nốt bữa ăn chiều ngon lành. Họ đợi ông ta, từ bốn đến sáu giờ, và suốt trong thời gian đó không thảo luận gì, chỉ khe khẽ nói chuyện riêng.


Mãi đến khi Benníchxen bước vào gian nhà gỗ, Cutudốp mới từ trong góc nhích ghế đến gần bàn, nhưng vẫn chú ý ngồi sao cho ánh sáng của mấy ngọn nến vừa đặt trên bàn đừng soi vào mặt.


Benníchxen khai mạc cuộc hội nghị bằng một câu hỏi: "Nên bỏ thủ đô thiêng liêng và cổ kính của nước Nga hay nên cố giữ lấy?". Tiếp theo đó mọi người đều im lặng một hồi lâu. Tất cả các gương mặt đều cau lại, và trong không khí im lặng có thể nghe rõ tiếng ho húng hắng và tiếng hừ hừ bực dọc của Cutudốp. Mắt mọi người đều đổ dồn về phía ông ta. Malasa cũng nhìn ông cụ của nó. Nó ngồi gần ông hơn cả và thấy rõ mặt ông đang nhăn nhó: hệt như ông sắp khóc. Nhưng điều đó chỉ thoáng trong một lát.


            - Thủ đô thiêng liêng và cổ kính của nước Nga! - Cutudốp bỗng nói, giọng bực tức, ông nhắc lại lời của Benníchxen, khiến cho mọi người rõ cái giọng giả dối của câu này. - Thưa đại nhân, xin đại nhân cho phép tôi thưa rằng câu hỏi đó đối với một người Nga không có nghĩa gì cả (ông chồm cả cái thân hình nặng nề của mình ra phía trước). Đó là một câu hỏi không thể đặt ra được, một câu hỏi vô nghĩa. Sở dĩ tôi mời các ngài đây đến họp là để giải quyết một vấn đề khác, một vấn đề quân sự. Vấn đề đó như sau: "Cứu tinh của nước Nga là quân đội. Khởi chiến để rồi có cơ mất cả quân đội lẫn Mátxcơva lợi hơn, hay là bỏ Mátxcơva không khởi chiến lợi hơn? Đấy, tôi muốn được biết ý kiến của các ngài về vấn đề đấy" (ông ngả người ra phía sau dựa vào lưng ghế).


Cuộc tranh luận bắt đầu. Benníchxen chưa chịu thua. Tuy vẫn chấp nhận ý kiến của Bácclai và của một số người khác rằng không thể mở một trận chiến đấu phòng ngự ở Phili được, nhưng ông ta vì quá thấm nhuần lòng ái quốc Nga và vì quá yêu Mátxcơva nên đề nghị đang đêm điều quân từ sườn phải sang sườn trái và đến hôm sau đánh mạnh vào cánh phải của quân Pháp. Ý kiến các tướng chia làm hai phe, phe thì bênh vực phe thì phản đối. Yécmôlốp, Đôcturốp và Raiépski đứng về phía Benníchxen. Không biết vì họ cảm thấy phải hy sinh ít nhiều trước khi rời bỏ thủ đô, hay vì những lý do riêng nào khác, nhưng các vị tướng ấy dường như không hiểu rằng phiên họp hội đồng này không thể nào thay đổi được hướng diễn biến tất yếu của sự việc và ngay từ bây giờ Mátxcơva đã bị bỏ ngỏ rồi. Các vị tướng khác hiểu rõ điều đó, nên gác vấn đề Mátxcơva sang một bên và bàn đến hướng đi của quân đội khi rút lui. Malasa chăm chú theo dõi những việc đang diễn ra trước mắt nó: nó hiểu ý nghĩa của phiên họp hội đồng này một cách khác. Nó tưởng rằng đây chỉ là một cuộc cãi vã riêng giữa "ông cụ" và "cái ông mặc áo vạt dài kia". Nó thấy hai người có vẻ rất hằn học khi nói với nhau, và trong lòng nó đứng về phía ông cụ. Giữa chừng cuộc tranh cãi, nó để ý thấy anh cụ đưa nhanh về phía Benníchxen một cái nhìn ranh mãnh, rồi nó lại vui mừng nhận thấy ông cụ nói một câu gì làm cho cái "ông mặc áo vạt dài" kia rất bẽ: Benníchxen đỏ bừng mặt lên và giận dữ đi đi lại lại mấy bước trong gian nhà. Những lời đã tác động đến Benníchxen như vậy chính là lời phê phán của Cutudốp về những điều lợi hại của cái kế hoạch: chuyển quân từ sườn phải sang sườn trái để tấn công cánh hữu của quân Pháp do Benníchxen. Giọng bình tĩnh và nhẹ nhàng, Cutudốp nói:


            - Thưa các ngài, tôi không thể tán thành kế hoạch của bá tước đại nhân đây được. Chuyển quân ở sát cạnh quân địch bao giờ cũng nguy hiểm, lịch sử quân sự đã xác minh điều đó. Chẳng hạn... (Cutudốp làm ra vẻ như đang ngẫm nghĩ để tìm một dẫn chứng, mắt đưa về phía Benníchxen một cái nhìn trong sáng và ngây ngô). Ta, ta hẵng cứ lấy trận Phriđlan chẳng hạn, tôi chắc trận này thì bá tước nhớ rõ lắm; kết quả trận này không được... mỹ mãn cho lắm chỉ vì quân ta bố trí lại trong khi đang ở gần quân địch quá... - Tiếp theo là một phút im lặng mà mọi người đều có cảm giác là rất dài.


Cuộc tranh luận lại tiếp diễn, nhưng chốc chốc lại có những khoảng im lặng, và mọi người đều cảm thấy chẳng có gì để mà nói nữa.


Trong một khoảng im lặng như thế, Cutudốp thở dài một tiếng nặng nề như sắp nói điều gì. Mọi người đều nhìn về phía ông ta.


 - Ấy thế, thưa các ngài! Tôi biết rằng cốc vỡ thì chính tôi phải đền[2] - Cutudốp nói, đoạn chậm rãi đứng dậy và bước lại gần bàn. - Thưa các ngài, tôi đã được nghe ý kiến của các ngài. Trong số các ngài sẽ có những người không đồng ý với tôi. Nhưng tôi...(ông dừng lại một lúc) xin sử dụng cái quyền hạn mà hoàng thượng và Tổ quốc giao cho tôi, tôi ra lệnh lui quân.


- Các tướng bắt đầu giải tán với cái vẻ thận trọng, lặng lẽ và trang nghiêm như khi người ta giải tán sau một đám tang.


Vài viên tướng đến nói khẽ với vị tổng tư lệnh điều gì, giọng nói khác hẳn khi họ thảo luận trong phiên họp hội đồng.


Malasa, đáng lẽ phải về ăn tối từ lâu, thận trọng trườn từ trên giàn lò xuống, đôi chân bé nhỏ để trần bám vào những cái u trên lò sưởi, và luồn qua chân các vị tướng mà chạy ra cửa.


Sau khi các tướng đã ra về, Cutudốp vẫn ngồi chống khuỷu tay lên bàn hồi lâu. Ông vẫn nghĩ tới cái vấn đề kinh khủng ấy:


"Việc bỏ ngỏ Mátxcơva đã được định đoạt từ lúc nào? Cái việc có tác dụng quyết định vấn đề này đã xảy ra từ lúc nào? Ai là người có lỗi trong việc này?".


Đêm đã khuya. Khi viên sĩ quan phụ tá Snaiđe bước vào phòng, Cutudốp nói với ông ta:


- Thật không ngờ, thật tôi không ngờ như vậy! Tôi không thể ngờ!


Snaide nói:


- Thưa đại nhân, ngài cần phải nghỉ ngơi một chút.


Cutudốp không đáp, dang nắm tay phốp pháp đặt lên bàn quát:


- Ồ không đâu! Rồi chúng nó sẽ phải ngốn thịt ngựa như bọn Thổ Nhĩ Kỳ, chúng nó sẽ phải ăn cho mà xem, miễn là...


V


Cùng lúc ấy, trong một sự kiện còn quan trọng hơn việc rút quân không chiến đấu, là việc bỏ ngỏ và đốt cháy Mátxcơva. Rastốpsin, mà chúng ta xem là người chỉ đạo sự việc này, đã hành động trái hẳn với Cutudốp.


Sự việc ấy - bỏ ngỏ và đốt cháy Mátxcơva – cũng tất yếu như việc rút quân về phía sau Mátxcơva, không đánh trận nào.


Mỗi người Nga, không phải trên cơ sở suy luận, mà trên cơ sở cái tình cảm vẫn sống trong lòng chúng ta và trong lòng cha ông chúng ta, chắc cũng đã tiên đoán được những điều ấy diễn ra.


Bắt đầu từ Smôlen trong tất cả các thành phố và làng mạc của đất nước Nga, không hề có sự tham dự của bá tước Rastốpsin và những lời tuyên cáo của ông ta, thế mà sự việc đều diễn ra đúng như ở Mátxcơva. Nhân dân điềm tĩnh đợi quân thù đến, không nổi loạn, không nhốn nháo, không hành hung người nào cả. Họ bình tĩnh chờ đợi vận mệnh, cảm thấy rằng đến giờ phút khó khăn nhất họ sẽ có thể biết rõ mình phải làm gì. Và hễ quân địch gần đến nơi, là những người giàu có nhất trong dân cư bỏ đi, để của cải lại; những người nghèo nhất thì ở lại, phá hủy và đốt cháy những gì còn sót.


Trong tâm hồn của người Nga, xưa kia cũng như bây giờ, đều có ý thức rằng sự thể sẽ như thế, và bao giờ cũng vẫn như thế. Và cả xã hội Nga ở Mátxcơva năm 1812 đều có ý thức đó, hơn nữa, còn có cái linh cảm rằng Mátxcơva bị chiếm. Những người đang lục tục rời bỏ Mátxcơva ngay từ tháng bảy và đầu tháng tám đã chứng tỏ rằng họ đã đoán trước việc đó. Khi ra đi với những thứ có thể vơ theo, bỏ nhà cửa và một nửa tài sản, họ hoạt động theo một lòng yêu nước tiềm tàng (latent!)[3] một lòng yêu nước không biểu lộ bằng lời nói, bằng việc hy sinh con cái để dâng lên bàn thờ Tổ quốc hay những hoạt động giả tạo tương tự thế, mà là một lòng yêu nước bộc lộ ra một cách thầm lặng, đơn giản, hữu cơ và vì vậy bao giờ cũng có những kết quả rất mạnh.


"Chạy trốn trước nguy cơ là một điều đáng hổ thẹn: chỉ có những kẻ hèn nhát mới bỏ Mátxcơva và chạy trốn"- người ta bảo họ vậy. Trong các tờ tuyên cáo, Rastốpsin cũng gợi ý cho họ thấy rằng rời bỏ Mátxcơva là nhục nhã. Họ rất hổ thẹn khi phải nhận cái danh hiệu là kẻ hèn nhát, họ rất hổ thẹn khi phải ra đi, nhưng họ vẫn cứ ra đi, vì biết rằng cần phải làm như vậy. Tại sao họ lại ra đi? Không thể nói rằng họ khiếp sợ vì tin lời Rastốpsin kể lại về những chuyện kinh khủng mà Napôlêông đã làm trong các vùng bị chinh phục. Họ ra đi, và những người ra đi trước nhất là những người giàu sang, có học thức, vốn biết rất rõ ràng Viên và Berlin vẫn nguyên vẹn và khi Napôlêông chiếm đóng hai thành này thì dân cư ở đây sống rất vui vẻ với người Pháp, những con người rất có duyên mà thời ấy người Nga rất thích, nhất là phụ nữ Nga.


Họ ra đi vì đối với người Nga không thể có vấn đề: dưới quyền cai trị của Pháp thì ở lại Mátxcơva sướng hay khổ. Dưới quyền cai trị của Pháp thì không thể nào sống được: đó là điều tệ hơn cả. Trước trận Bôrôđinô họ đã bỏ đi, và sau trận Bôrôđinô họ còn bỏ đi nhanh chóng hơn nữa, bất chấp những lời kêu gọi phòng thủ, bất chấp những lời tuyên bố của quan tư lệnh Mátxcơva là sẽ rước ảnh Đức Bà Ivécskaia ra đánh giặc, bất chấp những quả khinh khí cầu mà người ta định dùng để tiêu diệt quân Pháp và bất chấp tất cả những lời lẽ nhảm nhí mà Rastốpsin viết trong các bản tuyên cáo của ông ta. Họ biết rằng quân đội có nhiệm vụ phải chiến đấu, và một khi quân đội đã không làm được việc đó thì không thể đem các cô tiểu thư cùng các gia nhân lên khu Tri Gôrư đánh nhau với Napôlêông được, cho nên họ đành phải bỏ đi, mặc dù rất xót xa khi phải vứt của cải lại. Họ ra đi, không hề nghĩ đến cái ý nghĩa lớn lao của việc rời bỏ chốn thủ đô giàu có, đồ sộ này, phó mặc nó cho mồi lửa (một thành phố lớn nhà cửa toàn bằng gỗ mà dân cư bỏ đi thì thế nào cũng phải cháy); mỗi người ra đi như vậy vì bản thân mình, nhưng đồng thời chỉ riêng việc họ bỏ đi thôi cũng đã làm nên cái sự kiện lớn lao mãi mãi sẽ là sự kiện vẻ vang nhất của dân tộc Nga. Một bà lớn đã cùng mấy người đầy tớ da đen và mấy anh hề rời Mátxcơva đi về vùng quê Xaratốp từ hồi tháng sáu, với một ý thức mơ hồ là mình không thể ở lại làm đầy tớ cho Bônapáctơ vừa đi vừa sợ bị chặn lại giữa đường theo lệnh của bá tước Rastốpsin; bà lớn ấy đã thực hiện một cách giản dị và chân thật cái sự việc lớn lao đã cứu nước Nga. Còn bá tước Rastốpsinlà con người cũng có lúc thóa mạ những ai bỏ đi, đã có lúc cho các cơ quan hành chính phân tán ra ngoài thành; đã từng phát những vũ khí không còn dùng được nữa cho kẻ say rượu; đã từng cho dỡ các tượng thánh ra, đã có lúc cấm cha Aogustin đưa các thánh tích và các ảnh tượng ra khỏi Mátxcơva; đã từng sung công tất cả các xe tải của tư nhân, đã dùng một trăm ba mươi sáu chiếc xe tải chở quả kinh khí cầu do Léppích làm ra; lại đã từng nói bóng gió rằng mình sẽ đốt cháy Mátxcơva; đã từng kể lại rằng mình đã đốt nhà riêng và đã thảo ra một bản tuyên cáo gửi cho quân Pháp, long trọng trách móc họ đã phá mất cái cô nhi viện của mình; đã từng đứng ra nhận lấy cái vinh quang của việc đốt Mátxcơva, rồi lại chối rằng mình không làm việc đó; đã ra lệnh cho nhân dân bắt hết bọn do thám giải đến cho mình, rồi lại trách móc nhân dân đã làm theo lệnh ấy; đã trục xuất tất cả các Pháp kiều ra khỏi Mátxcơva, nhưng lại để bà Ôbe Sanmê ở lại thành phố, trong khi bà ta là trung tâm của cái xã hội Pháp ở Mátxcơva, đồng thời lại vô cớ ra lệnh bắt và đày biệt xứ viên giám đốc bưu chính Clútsarép, một con người già cả và đáng kính; đã từng triệu tập dân chúng lên khu Tri Gôrư đánh nhau với Pháp, rồi để thoát khỏi đám dân chúng này, lại ẩy ra một người để cho họ đánh chết còn mình thì chuồn ra cửa sau; đã có lúc nói rằng Mátxcơva mà rơi vào tay giặc thì mình cũng không sống sót lại làm gì; đã từng viết vào anbum những câu thơ bằng tiếng Pháp để chứng tỏ rằng mình tham gia vào việc này[4]- con người đó không hiểu được ý nghĩa của sự việc xảy ra, lại cứ muốn tự mình làm một việc gì, muốn tự làm cho mọi người ngạc nhiên, muốn hoàn thành một cái gì cho thật xứng đáng với một trang anh hùng cứu quốc, và như một đứa trẻ con, người đó chơi đùa với những biến cố lớn lao và tất yếu là việc bỏ ngỏ và đốt cháy Mátxcơva, và cứ đưa bàn tay nhỏ bé của mình ra, khi thì thúc đẩy, khi thì ngăn chặn luồng nước lũ ồ ạt của nhân dân đang cuốn mình theo.


VI


Khi cùng với triều đình từ Vinna trở về Pêtécbua, Êlen lâm vào một tình cảm gay go khó xử.


Ở Pêtécbua, Êlen được một vị đại thần vào bậc nhất trong nước đặc biệt che chở cho. Còn ở Vinna thì nàng lại kết thân với một hoàng thân ngoại quốc trẻ tuổi. Khi nàng trở về Pêtécbua thì vị hoàng thân và vị đại thần đều đang ở đấy, cả hai đều đòi hưởng quyền được nàng chiếu cố, thế là Êlen đứng trước một bài tính chưa từng gặp trên bước đường sự nghiệp của nàng: làm thế nào để duy trì quan hệ gần gũi với cả hai người, mà không người nào phật ý.


 Cái việc mà một người đàn bà khác sẽ thấy là khó khăn và thậm chí không thể nào làm được nữa, thì lại chẳng hề khiến bá tước phu nhân Bêdukhốp phải bận tâm suy nghĩ gì: nàng được tiếng là người đàn bà thông minh nhất, hẳn cũng không phải là không có căn cứ. Giả sử nàng giấu giếm các hành tung của mình, cố dùng mưu mẹo để thoát ra khỏi tình thế khó khăn này, thì như vậy chẳng khác nào tự mình thú tội, và câu chuyện sẽ hỏng bét. Nhưng nàng không làm như vậy; ngay từ đầu, như một vĩ nhân chân chính có khả năng thực hiện tất cả những gì mình muốn, nàng đã tự đặt mình vào địa vị của người chính trực và cũng thành thật tin rằng mình chính trực, còn bao nhiêu người khác thì nàng đặt vào địa vị của người có lỗi.


 Lần đầu tiên khi nhân vật ngoại quốc trẻ tuổi kia dám đưa lời trách móc nàng, nàng đã kiêu hãnh cất cao mái đầu tuyệt mỹ của nàng lên, và chỉ hơi ngoảnh về phía ông ta, nàng nói, giọng rắn rỏi:


- Đấy, đàn ông họ ích kỷ và tàn nhẫn như vậy đấy! Tôi cũng biết từ trước. Đàn bà người ta hy sinh cho các ông, người ta đau khổ, thế mà các ông đều đáp lại như thế đấy. Thưa điện hạ, ngài có quyền gì chất vấn tôi về những tình bạn, những tình quyến luyến của tôi? Người đó đối với tôi còn hơn là người cha[5].


Nhân vật kia định nói lại một câu gì, nhưng Êlen đã chặn lời nói tiếp:


- Phải, có thể đối với tôi, ông ta còn có những tình cảm khác hơn là tình cảm của một người cha, nhưng đó không phải là một lý do để tôi cấm cửa ông ta. Tôi có phải là đàn ông đâu mà vong ân bội nghĩa như vậy. Xin điện hạ biết cho rằng về tất cả những gì liên quan đến tình cảm sâu kín của tôi thì chỉ có Thượng đế và lương tâm tôi chứng giám[6] - nàng kết luận, tay đặt nhẹ lên bộ ngực đẹp đẽ đang phập phồng nâng cao, mắt ngước nhìn trời.


- Nhưng xin phu nhân nghe tôi nói đã, tôi van phu nhân.


- Ngài hãy kết hôn với tôi đi, rồi tôi sẽ là nô lệ của ngài.


- Nhưng không thể được.


- Ngài không thèm hạ cố đến tôi, ngài...[7] - Êlen vừa khóc vừa nói.


Nhân vật kia ra sức an ủi nàng: còn Êlen thì vừa khóc sụt sùi vừa nói như đã mất hết tự chủ, rằng không còn gì để ngăn trở nàng đi lấy chồng, rằng có nhiều trường hợp (hồi ấy cũng chưa có được mấy trường hợp, nhưng nàng vẫn kể được Napôlêông và một vài nhân vật quyền quý khác); nàng nói nàng chưa bao giờ là người vợ thật sự của chồng nàng, rằng nàng đã bị đưa ra làm vật hy sinh.


- Nhưng còn luật pháp, tôn giáo... - Nhân vật kia nói, trong lòng đã thấy xiêu xiêu.


- Pháp luật, tôn giáo... - Những thứ đó bày ra để làm gì, nếu không phải là để thu xếp những chuyện như thế này? - Êlen nói.


Nhân vật quan trọng kia ngạc nhiên, không hiểu sao một điều suy luận đơn giản như thế mà mình lại không nghĩ ra, bèn đến hỏi ý kiến của dòng tu sĩ Gia to[8] mà ông vẫn có quan hệ mật thiết.


Sau đó ít hôm, vào một buổi dạ hội rất nhã thú mà Êlen tổ chức trong biệt thự của nàng ở Camenny Ôstrốp, người ta giới thiệu nàng cho một người đứng tuổi rất có duyên, tóc trắng như tuyết, mắt đen và sáng: đó là ông đờ Giôbe, một tu sĩ dòng Gia tô mặc áo ngắn[9]. Trong khu vườn của tòa biệt thự, dưới ánh đèn lồng và trong tiếng nhạc, ông ta đã nói chuyện rất lâu với Êlen về lòng kính yêu Đức Chúa trời, kính yêu đấng Cơ Đốc, kính yêu trái tim đức thánh của Đức mẹ Chúa trời, và về những niềm an ủi mà chỉ có một chân lý duy nhất có thể đưa lại cho ta trong cuộc sống hiện tại và cuộc sống sau này: chân lý của Công giáo[10] - Êlen nghe nói rất cảm động, và đã mấy lần nàng và ông đờ Jober mắt đều rớm lệ và giọng nói run run.


Một khách đến mời Êlen nhảy khiến cho câu chuyện giữa Êlen và người chỉ đạo lương tâm[11] của nàng phải tạm ngừng; nhưng tối hôm sau ông đờ Giôbe lại đến một mình gặp Êlen và từ đấy cứ đến thăm nàng luôn.


Một hôm ông ta dẫn bá tước phu nhân vào nhà thờ công giáo; nàng quỳ xuống trước bàn thờ. Người Pháp đứng tuổi rất có duyên kia để tay lên đầu nàng, và về sau này nàng kể lại rằng lúc ấy nàng có cảm giác như một làn gió mát rượi thổi vào tâm hồn. Người ta giảng giải cho nàng hiểu đó là phước lành[12].


Rồi người ta dẫn đến cho nàng một giáo sĩ mặc áo chùng[13]. Vị giáo sĩ nghe nàng xưng tội và rửa sạch tội lỗi cho nàng. Ngày hôm sau họ mang lại cho nàng một cái tráp đựng minh thánh và để lại cho nàng dùng tại gia. Được mấy hôm Êlen thích thú được biết rằng bây giờ mình đã gia nhập giáo hội công giáo, giáo hội chân chính, và nay mai chính là giáo hoàng sẽ biết đến trường hợp nàng, sẽ gửi cho nàng một thứ văn kiện gì đấy.


Tất cả những việc diễn ra ở xung quanh nàng và có nàng tham dự, tất cả sự chăm sóc của những con người thông minh như vậy đối với nàng, một sự chăm sóc biểu lộ dưới những hình thức thật dễ chịu, tinh tế, và cái trạng thái trong sạch như chim bồ câu trắng của nàng bây giờ (suốt thời gian nàng mặc toàn đồ trắng, thắt dải trắng), tất cả những điều đó làm nàng thích thú, nhưng không giây phút nào nàng vì sự thích thú đó mà xao nhãng mục đích của nàng. Về mưu mẹo thì thường người ngu vẫn lừa được người khôn hơn mình, do đó nàng hiểu rằng mục đích của tất cả những lời lẽ, những việc lo toan ấy chủ yếu để nàng theo công giáo rồi quyên tiền của nàng cho các tổ chức của dòng Gia tô (người ta cũng nói xa nói gần với nàng về việc này). Trước khi cho tiền, Êlen một mực đòi họ phải tiến hành những thủ tục cần thiết để giải thoát nàng khỏi cuộc hôn nhân cũ. Trong quan niệm của nàng, ý nghĩa của bất cứ tôn giáo nào cũng thế, chẳng qua là làm thế nào giữ được một số nghi thức bề ngoài cho tươm tất trong khi thỏa mãn những dục vọng của con người. Và với mục đích ấy, trong một buổi nói chuyện với một vị giáo sĩ, nàng một mực đòi ông ta phải cho nàng biết rõ cuộc hôn nhân cũ của nàng có thể ràng buộc nàng đến mức nào.


Họ đang ngồi trong phòng khách, bên cạnh cửa sổ. Trời sâm sẩm tối. Từ cửa sổ đưa vào những mùi hoa thơm ngát. Êlen mặc áo dài trắng, ngực và hoa thêu rua. Vị giáo sĩ là một người béo tốt phương phi, râu cạo nhẵn, có cái miệng rắn rỏi dễ yêu và hai bàn tay trắng trẻo đặt lên đầu gối một cách rất hiền lành, ngồi gần sát Êlen và môi mỉm một nụ cười tế nhị, chốc chốc lại nhìn khuôn mặt nàng, cái nhìn tán thưởng một cách điềm tĩnh sắc đẹp của nàng, và trình bày cho nàng nghe quan điểm của ông ta về vấn đề đang khiến hai người quan tâm. Êlen mỉm cười băn khoăn, đưa mắt nhìn bộ tóc quăn và đôi má phinh phính cạo nhẵn có ánh biêng biếc của ông ta và từng phút chờ đợi ông ta đổi hướng câu chuỵên. Nhưng vị giáo sĩ mặc dầu có vẻ rất hân thưởng sắc đẹp của người tiếp chuyện, vẫn say sưa với cái nghệ thuật điêu luyện của mình trong những công việc như thế này.


Lý luận của vị chỉ đạo lương tâm là như sau: vì không hiểu rõ ý nghĩa của việc mình làm, phu nhân đã phát thệ làm người vợ trung thành của một người; nhưng người này, vì trong khi kết hôn không tin vào ý nghĩa tôn giáo của hôn nhân, đã phạm tội báng bổ. Cuộc hôn nhân đã không có được cái ý nghĩa hai mặt mà lẽ ra nó phải có. Nhưng tuy thế, lời thề của phu nhân vẫn ràng buộc phu nhân. Phu nhân đã vi phạm lời thề ấy. Làm như vậy có phạm tội gì? Tội nhẹ hay tội trọng? Tội nhẹ[14], là bởi vì trong khi làm như vậy phu nhân không có ý định gì xấu. Nếu bây giờ, vì muốn có con, phu nhân bước đi bước nữa, thì tội của phu nhân có thể tha thứ được. Nhưng vấn đề lại tách ra làm hai: thứ nhất là...


- Nhưng tôi thiết tưởng. - Êlen nghe đã thấy chán bỗng nói xen, với nụ cười mê hồn của nàng, - tôi thiết tưởng rằng sau khi đã theo một tôn giáo chân chính thì tôi không còn bị một tôn giáo sai lầm ràng buộc nữa.


Vị chỉ đạo lương tâm[15] kinh ngạc trước cách đặt vấn đề đơn giản như chuyện dựng đứng quả trứng của Côlômbô[16]đó. Ông ta rất thán phục sự tiến bộ nhanh chóng không ngờ của cô học trò, nhưng cũng không thể từ bỏ tòa lâu đài luận chứng mà ông đã dày công bóp óc xây dựng nên.


-          Chúng ta phải thỏa thuận với nhau mới được, bá tước phu nhân ạ[17], - và ông ta bắt đầu phản bác những lý luận của người con gái tinh thần của ông ta.


(còn tiếp)


Nguồn: Chiến tranh và Hòa bình, tập 3. Bộ mới, NXB Văn học, 1-2007. Triệu Xuân biên tập. In theo lần xuất bản đầu tiên tại Việt Nam năm 1961 và 1962 của Nhà xuất bản Văn hóa, tiền thân của NXB Văn học. Những người dịch: Cao Xuân Hạo, Nhữ Thành, Trường Xuyên (tức Cao Xuân Huy) và Hoàng Thiếu Sơn.







[1] Góc đẹp nhất trong phòng, có trang hoàng và đặt các ảnh thánh.




[2] Eh bien, messieurs! Je sais que c’est moi qui paierai les pots cassés.




[3] (tiềm tàng) - tiếng Pháp giữa ngoặc đơn trong nguyên văn.




[4] Je suis né Tartare, je voulus être Romain; les Français m’appellent barbare, les Russes, Georges Dandin. Nghĩa là: Tôi vốn là người Tacta, nhưng tôi lại muốn làm người La Mã. Người Pháp gọi tôi là man rợ, người Nga gọi tôi là Gioócgiơ Đăngđanh (chú thích của tác giả). Đăngđanh là một nhân vật hài kịch của Môlie lấy một người vợ quá cao sang rồi bị vợ lừa mà không dám kêu ca gì.




[5] Voilà l’égọsme et la cruauté des hommes! Je ne m’attendais pas à autre chose. La femme se sacrifie pour vous, elle souffre, et voilà sa récompense. Quel droit avez-vous, Monseigneur, de me demander compte de mes amitiés, de mes affections?  C’est un homme qui a été plus qu’un père pour moi.




[6] - Eh bien, oui, peut-être qu’il a pour moi d’autres sentiments que ceux d’un père, mais ce n’est pas une raison pour que je lui ferme la porte. Je ne suis pas un homme pour être ingrate. Sachez Monseigneur, pour tout ce qui a rapport à mes sentiments intimes. Je ne rends compte qu’à Dieu et à ma conscience.




[7] - Mais écoutez-moi, au nom de Dieu. - Epousez-moi, et je serai votre esclave. - Mais c’est impossble. - Vous ne daignez pas descendre jusqu’à moi, vous...




[8] Một dòng tu sĩ công giáo thành lập vào thế kỷ XVI một công cụ đắc lực của Giáo hoàng để chống lại phái cải cách và các lực lượng tiến bộ khác. Vốn chủ trương rằng “mục đích biện hộ cho phương tiện”, dòng này dùng những biện pháp tôn giáo để tổ chức do thám ám sát và hủ hóa.




[9] Mr de Jobert, un Jésuite à robe courte.




[10] Cơ Đốc giáo (Chrietianisme) gồm có nhiều tôn giáo khác nhau trong đó có công giáo (catholicisme) của một số nước Tây Âu và chính giáo (orthodoxie), tôn giáo của người Nga.




[11] derecteur de conscience.




[12] la grâce.




[13] à robe longue




[14] Péché véniel ou péché mortel? Péché véniel.




[15] Directeur de conscience.




[16] Quả trứng của Côlômbô thường dùng để chỉ những sáng kiến hay và đơn giản nhưng không ai nghĩ đến.




[17] Entendons nous comtesse.



Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
23.
24.
25.
26.
27.
28.
29.
30.
31.
32.
33.
34.
35.
36.
37.
38.
39.
40.
41.
42.
43.
44.
45.
46.
47.
48.
49.
50.
51.
52.
53.
54.
55.
56.
57.
58.
59.
60.
61.Phần Thứ Mười một
62.
63.
64.
65.
66.
67.
68.
69.
70.
71.
72.
73.
74.
75.
76.
77.
78.
79.
80.
81.Phần Thứ tám
82.
83.
84.Phần Thứ sáu
85.Lời Người biên tập và Lời Giới thiệu của Cao Xuân Hạo
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Cơ may thứ hai - Constant Virgil Gheorghiu 07.12.2019
Nhân mạng cuối cùng và đồng loại - Vlastimil Podracký 07.12.2019
Hiểm họa sắc vàng - Vlastimil Podracký 07.12.2019
Sodoma & Gomora - Vlastimil Podracký 07.12.2019
Trăm năm cô đơn - Gabriel Garcia Marquez 06.12.2019
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 06.12.2019
Ông cố vấn - Hữu Mai 05.12.2019
Trên sa mạc và trong rừng thẳm - Henryk Sienkiewicz 05.12.2019
Chiến tranh và Hòa bình - Liep Nicôlaievich Tônxtoi 05.12.2019
Đường công danh của Nikodema Dyzmy - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 02.12.2019
xem thêm »