tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 23988489
Lý luận phê bình văn học
16.01.2009
Trần Đức Thảo
Lịch sử Tư tưởng trước Marx (5 b)

Phần Năm (tiếp): Tư tưởng triết học Hy Lạp trong thế kỷ IV và III tr. CN


I - BƯỚC ĐẦU CỦA VĂN MINH HY LẠP


 


Thế kỷ thứ VIII - thứ VII tr. CN là giai đoạn phát triển đầu tiên của những quốc gia thành thị Hy Lạp. Trước đấy ở đất Hy Lạp đã có hai nền văn minh phát triển: văn minh Crète và sau đấy là văn minh Mycènes. Nhưng vào thiên niên kỷ thứ II, khoảng sau 1200 tr. CN, có một cuộc xâm lăng lớn của những bộ lạc Doriens, những bộ lạc này cũng là một chi nhánh của chủng tộc Hy Lạp nhưng còn ở thời kỳ dã man. Lúc chuyển vào Hy Lạp thị tộc Doriens đã phá phách những kết quả của văn minh Mycènes (kết quả đó thực tế cũng chưa cao lắm mà còn ở thời kỳ bộ lạc tan rã). Do đó chủng tộc Hy Lạp lại trở lại trình độ dã man. Trong mấy thế kỷ thứ X - thứ IX tr. CN2 không để lại di tích gì, mãi đến thế kỷ thứ VIII tr. CN, những thị tộc ấy mới lại phát triển và xây dựng những quốc gia thành thị lớn ở tại Tiểu Á và bán đảo, đặc biệt là những thành thị như Mytilène, Ephèse, Milet ở Tây Tiểu Á, Corinthe ở bán đảo. Đặc điểm của những quốc gia thành thị mới này là đã phát triển được chế độ cộng hòa quí tộc.


 


Trái với những bước đầu của văn minh chiếm hữu nô lệ ở Đông phương là quân chủ độc đoán - tổ chức Nhà nước đã phải xây dựng bằng cách tập trung triệt để chính quyền quí tộc để bảo đảm những điều kiện tổ chức tối thiểu nhằm phát triển công thương nghiệp, xây dựng đời sống thành thị và đánh đổ chế độ thị tộc - thì ở Hy Lạp ngay buổi đầu tổ chức Nhà nước đã được xây dựng theo một hướng chống quân chủ. Tất nhiên nó chỉ thực hiện dân chủ giữa hàng quý tộc với nhau, nhưng căn bản đây đã là một hướng đối lập với hướng phát triển ở Đông phương. Ở Hy Lạp, nhân dân tự do vẫn bị đàn áp, nhưng tương đối còn dễ chịu hơn nhân dân ở Đông phương. Có thể nói: ở Đông phương chế độ chiếm hữu nô lệ phát triển bằng cách nô lệ hóa cả dân tộc tự do, tập trung quyền vào một người; còn ở Hy Lạp trái lại theo hướng chống hình thức độc đoán.


 


Tại sao hướng này sẽ ngày càng phát triển và đến thế kỷ thứ V tr. CN đưa tới chế độ dân chủ chủ nô? Tại sao có hướng đặc biệt ấy và hướng ấy lại ngược hằn với hướng của Đông phương? Tại sao trên cơ sở hướng ấy đã phát triển những tư tưởng mới đã thành một tài sản rất đặc biệt trong dĩ vãng tinh thần nhân loại? Đó là những tư tưởng tự do bình đẳng, khoa học (khoa học tách rời tôn giáo), nghệ thuật (nghệ thuật có giá trị tương đối với tôn giáo). Tại sao tất cả những lý tưởng cao nhất mà văn minh cũ để lại đã được phát triển một cách đặc biệt cao độ ở Hy Lạp?


 


Đây là cái sử học tư sản gọi là thần tích Hy Lạp. Cơ sở thực tế của “thần tích” ấy là:


 


Quan hệ sản xuất hàng hóa đã phát triển trên cơ sở chiếm hữu nô lệ, nhưng phát triển một cách đặc biệt nhanh chóng, do đó đánh đổ từng bước quyền thống trị của giai cấp quí tộc. Sở dĩ có sự phát triển nhanh chóng như thế, là vì chủng tộc Hy Lạp đã tiến lên văn minh trong những điều kiện đặc biệt thuận lợi:


 


Điều kiện thứ nhất - Lịch sử thế giới đã xây dựng được những sức sản xuất khá cao: kỹ thuật đồng đen đã phát triển cao độ, kỹ thuật đồ sắt đã bắt đầu xây dựng (kỹ thuật đồ sắt ở Tiểu Á  xuất hiện từ thế kỷ XII tr. CN, và phát triển khá nhiều ở thế kỷ VIII tr. CN).


 


Điều kiện thứ hai - Hy Lạp có một hoàn cảnh địa lý đặc biệt thuận lợi cho sự phát triển thương nghiệp giữa các đảo hay các khu vực tương đối nhỏ hẹp ở bán đảo Hy Lạp và ở Tây Tiểu Á, do đó, trong những thành thị nhỏ tốc độ phát triển công thương nhanh chóng, giai cấp công thương có điều kiện để đấu tranh chống quí tộc. Thậm chí ngay buổi đầu (thế kỷ VIII tr. CN) chính giai cấp quí tộc đã đứng đầu phong trào công thương, đã bỏ vốn để lập những xí nghiệp thủ công đầu tiên (làm đồ gỗ, đồ đồng, đồ sắt) và phát triển hải thương (hải thương lúc bấy giờ liên hệ chặt chẽ với nghề cướp biển). Vì thế mới đánh đổ được chế độ quân chủ, xây dựng chế độ cộng hòa đầu tiên (cộng hòa quí tộc).


 


Điều kiện thứ ba - Chủng tộc Hy Lạp đã khởi hành ở một bướccao như thế là nhờ cả công  trình xây dựng của văn minh Đông phương, nhờ công trình ấy mới có kỹ thuật đồ đồng, đồ sắt mà những thị tộc Hy Lạp đã được ngay từ lúc đầu.


 


Điều kiện thứ tư - Một điều kiện đặc biệt nữa đã giúp nhiều cho sự phát triển đầu tiên của những thành thị Hy Lạp là những đất xung quanh còn ở trình độ dã man, do đó đã trở thành khu vực thuận tiện cho các thành thị Hy Lạp mới xuất hiện đến đặt căn cứ địa thực dân. Nhờ phong trào thực dân phát triển ở thế kỷ thứ VIII, thứ VII tr. CN, công thương nghiệp trong những thành thị Hy Lạp phát triển nhanh chóng mà trong giai đoạn đầu (thế kỷ thứ VIII tr. CN) đã tạm thời giải quyết được những mâu thuẫn giai cấp, làm cho giai cấp quí tộc công thương (quí tộc tư sản hóa) đã nắm vững được chính quyền và không gặp sự đối kháng nào quan trọng. Mãi đến giữa thế kỷ thứ VII tr. CN, mâu thuẫn giai cấp mới phát triển, phong trào công thương chủ nô mới xuất hiện những tư tưởng chống tôn giáo như triết học khoa học. Trong giai đoạn trung gian, giai đoạn quí tộc công thương thống trị, tất nhiên chưa thể có triết học độc lập, nhưng giai cấp quí tộc, vì có tư bản hóa phần nào, nên cũng đã có một nội dung tiến bộ. Nội dung tiến bộ ấy được phản ánh thế nào trên tư tưởng?


 


HOMÈRE (thế kỷ thứ VIII tr. CN)


 


Tác phẩm tóm tắt nội dung tiến bộ của bước đầu xây dựng văn minh Hy Lạp là những anh hùng ca của Homère: IlliadeOdyssée. Illiade Odyssée phản ánh sự thành lập và sự phát đạt của bộ tộc Hy Lạp, phản ánh quyền lợi của giai cấp quý tộc công thương, nhưng đồng thời cũng phản ánh sự phát triển của sức sản xuất, bước tiến bộ của nhân dân dưới sự thống trị của bọn quí tộc công thương, vì trong giai đoạn thế kỷ thứ VIII tr. CN và đầu thế kỷ VII tr. CN, chế độ ấy còn là chế độ đang lên, quyền lợi của nó còn phù hợp với quyền lợi của nhân dân (nhân dân tự do). Các tác phẩm đó trước hết phản ánh phong trào ngoại thương, lập căn cứ địa, nhờ đấy mà văn minh thành thị đã được xây dựng nhanh chóng.


 


ILLIADE


 


Nội dung Illiade là kể lại cuộc chiến tranh của liên minh bộ lạc Hy Lạp chống thành Troie. Theo truyền thuyết kể lại trong Illiade, sở dĩ các nước Hy Lạp đã liên minh đánh Troie trong 10 năm và cuối cùng tiêu diệt Troie, mục đích là đòi lại bà Hélène mà Pâris đã cướp của ông vua Ménélas. Trong truyện này có vai trò của thần thánh. Sở dĩ Pâris cướp được Hélène là nhờ nữ thần luyến ái Aphrodite, nhưng do đấy có sự đối lập với hai nữ thần khác: thần kết hôn chân chính tức thần gia đình Hera và thần kỹ thuật văn minh Athena. Cuối cùng thần gia đình và thần khoa học kỹ thuật thắng thần luyến ái bất chính. Nhưng thực ra thứ truyền thuyết đó phản ánh những điều kiện kinh tế rất rõ rệt.


 


Thành Troie ở cửa eo biển Hellespont (nay là Dardanelles) là chỗ bảo vệ đường đi từ Địa Trung Hải vào Hắc Hải. Một bộ phận quan trọng của khu vực thực dân Hy Lạp lúc bấy giờ chính là bờ biển Hắc Hải. Những thành thị như Corinthe, Milet, Mytilène, Chalcis đều gửi thuyền đi buôn bán, cướp nô lệ và đặt căn cứ thực dân, đặc biệt ở phía Nam Hắc Hải. Buôn bán lúc bấy giờ là đi mua khoáng sản như thiếc (thiếc là một kim khí rất quí để làm đồng đen). Họ mua sắt, gỗ quí, cá khô và bán đồ đồng, đồ gốm, rượu đặc (rượu đặc là thứ rượu phải pha nước vào mới uống được, sở dĩ làm đặc như thế là để vận tải được bằng thuyền nhỏ). Rõ ràng Troie là một vị trí quân sự và thương mại đặc biệt, nó bảo vệ một đường phát triển thương nghiệp đặc biệt quan trọng cho tất cả các thành thị Hy Lạp không riêng thành thị nào. Chuyện thần tiên kể lại về Hélène tất nhiên chỉ là lý tưởng hóa một nhu cầu kinh tế và quân sự trong thực tế; nó lấy cái thắng lợi của cái liên minh giữa các vua bộ lạc Hy Lạp đời xưa đánh Troie, để biện chính quyền lợi của các thành thị Hy Lạp bấy giờ ở vị trí quyết định ấy. Vị trí ấy tất nhiên là chiếm của nền văn minh cũ, văn minh Đông phương. Theo người Hy Lạp hiểu thì văn minh Đông phương chỉ phát triển theo hướng vật chất, tức theo hướng luyến ái hưởng lạc; trái lại, Hy Lạp phát triển một cách chân chính: xây dựng gia đình, xây dựng kỹ thuật khoa học. Đấy cũng là một ý kiến. Chính liên minh của những vua bộ lạc cũng phản ánh rõ ràng liên minh thực tế của những thành thị Hy Lạp, vì những thành thị ấy có những liên quan với nhau trên những quyền lợi chung nhất định, nhưng thực tế vẫn không thống nhất hoàn toàn. Chưa bao giờ họ có thể thống nhất thực sự. Đặc điểm của bộ tộc Hy Lạp là nó có một tiếng nói chung, một nguồn gốc chủng tộc chung, một truyền thống chung, một khu vực nhất định, và cũng có thể nói đến một mức độ nào đấy, một hệ thống kinh tế chung, nhưng về mặt chính trị nó không thống nhất. Nó là một bộ tộc chỉ thống nhất trên cơ sở tự nguyện tự giác và trao đổi tự do.


 


Điều đó được phản ánh trong liên minh quân chủ bộ lạc đi đánh Troie. Đặc biệt trong Illiade kể chuyện Achille ra trước đại hội mắng Agamemnon (là lãnh tụ liên minh), rồi bị Agamemnon tước mất nàng hầu là Briséis. Vì bực tức, Achille đã bỏ chiến đấu, thậm chí yêu cầu mẹ là nữ thần Thétis đến xin thần tối cao là Zeus ủng hộ quân thù để làm cho quân đội Hy Lạp thất bại, để cho thấy rõ mất Achille thì tai hại như thế. Quả nhiên quân đội Hy Lạp bị thua to. Sau đấy, Achille mới chịu ra đánh và lại thắng, giết chết Hector, tướng của Troie. Truyền thuyết ấy biểu lộ quan hệ liên minh trên cơ sở bình đẳng tự do. Bất kỳ một nước nào trong quân đội cũng có thể rút ra khi bất mãn. Chính những quan hệ ấy thực tế đã phát triển giữa các thành thị trong lịch sử Hy Lạp (không bao giờ thống nhất với nhau, chỉ liên minh trên cơ sở những quyền lợi nhất định). Nhưng cái lạ nhất là trong liên minh lỏng lẻo ấy vẫn có sự đoàn kết. Người Hy Lạp vẫn có ý thức mong ước thống nhất. Tư tưởng thống nhất là một lý tưởng không thực hiện được, nhưng có căn cứ, được biểu hiện một cách lý tưởng hóa trong liên minh quân chủ bộ lạc đi đánh Troie. Vì muốn đòi lại Hélène, người đẹp nhất lúc đó, mà hai bộ tộc đã đánh nhau 10 năm, giết mất bao nhiêu tướng sĩ. Chính tính chất mơ hồ của động cơ ấy phản ánh tính chất lý tưởng của sự thống nhất trong bộ tộc Hy Lạp.


 


Lý tưởng đó cũng được phản ánh trong thế giới thần thánh. Những thần thánh trên núi Olympe được tổ chức một cách lỏng lẻo tựa như ở trần gian. Có thần Zeus ngồi trên và thống trị những thần khác nhưng một cách khó khăn, vì những thần kia tuy nhận sự thống trị của Zeus nhưng có nhiều hành động vô kỷ luật, giữa phái này và phái kia luôn luôn cãi nhau. Zeus lúc ủng hộ phái này, lúc ủng hộ phái kia, uy quyền không bao giờ vững vàng. Tuy thế vẫn là một thế giới phần nào đã có hình thức thống nhất. Điểm quan trọng ở đây là phản ánh bước giải phóng khỏi những giới hạn hẹp hòi của chế độ thị tộc, tiến lên một xã hội về mặt hình thức là xã hội nhân loại tuy thực tế là xã hội bộ tộc chủ nô. Về nguyên tắc, xã hội này là một xã hội rộng rãi vì đã thoát khỏi giới hạn thị tộc, đặt kỷ luật chung cho mọi người, tiến lên xây dựng lý tưởng tốt đẹp, đúng đắn, có hình thức chung cho mọi người. Bước chuyển biến ấy đã thực hiện bằng cách trải qua quyền tự do quyết định của mỗi bộ phận chứ không thực hiện như ở Đông phương bằng quyền quân chủ độc đoán, nó thực hiện bằng một thứ liên minh lỏng lẻo, trên cơ sở tự nguyện tự giác, chưa thành pháp luật nhưng đã có lý tưởng thống nhất. Đó là nói về nội dung dân tộc của Illiade.


 


ODYSSÉE


 


Về Odyssée, nội dung cũng phản ánh phong trào phát triển thành thị, xây dựng căn cứ địa ở ngoài. Illiade phản ánh quyền lợi của những thị tộc ở phía Đông Bắc. Odyssée phản ánh quyền lợi của những thị tộc Hy Lạp ở phía Tây Bắc. Đại khái, cuộc phiêu lưu của Ulysse nhắc lại những quãng đường thương mại lớn về phía Tây Địa Trung Hải. Ulysse sau khi chiếm xong Troie theo con đường từ Troie chuyển lên đất Cicones tức là Thrace cướp nô lệ và rượu, rồi đi về đất nước của ông ta là cù lao Ithaque thuộc phía Đông bờ Illyrie (Nam Tư bây giờ). Theo đúng đường thì phải đi quanh bán đảo Péloponnèse qua mũi Malée, nhưng đến Malée thì gặp bão; các thuyền bị quật về Phi châu, tới một đất gọi là đất của «những người ăn hoa» (Lotophages). Từ đấy, Ulysse tới đất Ý-đại-lợi và gặp người khổng lồ một mắt (Cyclope) ở vịnh Naples. Rồi đi tìm thần gió Eole ở cù lao Stromboli, từ đấy bị bão quật về eo biển giữa Corse và Sardaigne, gặp giống Lestrygons (ăn thịt người). Sau lại trở về bờ Ý-đại-lợi ở cù lao của bà Circé. Bà này thường biến người thành lợn. Cù lao này ở trước mặt đất Latium. Từ chỗ bà Circé đi quanh bán đảo Ý-đại-lợi, vào eo biển Messine, đổ bộ vào cù lao Sicile. Nhưng rồi lại bị bão làm đắm hết thuyền, chết hết người, chỉ còn Ulysse thì trôi 9 ngày tới cù lao bà Calypso ở eo biển Gibraltar. Calypso yêu Ulysse và giữ anh ta trong 7 năm. Sau Ulysse khóc dữ quá nên Calypso phải để Ulysse về. Ulysse đi một mình và sau 19 ngày tới Schérie nay gọi là Corfou. Ông vua Corfou gửi Ulysse về Ithaque.


 


Xét cuộc hành trình đó, ta thấy rõ nó phản ánh những vị trí buôn bán của thành thị Hy Lạp lúc bấy giờ.


 


Ở Thrace, có rượu nổi tiếng, dân còn dã man, có thể bắt làm nô lệ. Ở Phi châu, có nhiều thị tộc còn dã man chỉ ăn hoa quả. Người Hy Lạp đến đó để buôn bán. Vùng Tây ý-đại-lợi là một vị trí buôn bán quan trọng. Đặc biệt là sản xuất thiếc. Từ Ý đến eo biển Sardaigne là trên đường đi Y-pha-nho (Tây Ban Nha - B.T.). Eo biển Messine và Gibraltar (xưa gọi là Colonnes d’Héraclès), cũng là những vị trí quan trọng trên đường biển. Cù lao Corfou là căn cứ địa cuối cùng trên đường đi Hy Lạp đến Ý-đại-lợi, trước khi chuyển sang Ý-đại-lợi. Những thuyền buôn của Hy Lạp đi qua vịnh Corinthe, muốn sang Ý-đại-lợi phải đi theo bờ đất lên đến đảo Corfou rồi mới sang Ý. Thuyền lúc đó đi ở khơi nhưng phải trông thấy mặt đất vì chưa có địa bàn. Nhưng từ Hy Lạp sang Ý thì phải qua biển Adriatique, vì nếu theo vịnh Venise thì đường đi rất nguy hiểm: Corfou chính là chỗ mà phải bỏ bờ đất mà đi thẳng qua biển, chỉ hướng theo mặt trời và tinh tú.


 


Cuộc phiêu lưu của Ulysse phản ánh những cuộc phiêu lưu của những thuyền đi buôn và cướp biển Hy Lạp đi chiếm đất ở Tây phương Địa Trung Hải. Về nội dung tư tưởng, nó cũng phản ánh tinh thần nhớ nhà, trung thành với đất nước, với gia đình. Ulysse trong 10 năm phiêu lưu luôn luôn thiết tha trở về Ithaque, dù có được hưởng hạnh phúc với những nữ thần Circé và Calypso hay không. Giống như Illiade là một bài học đoàn kết (kinh nghiệm chia rẽ trong nội bộ và giải quyết sự chia rẽ ấy). Odyssée là một bài học trung thành với đất nước của người đi, và tinh thần trung thành của người ở nhà đối với người đi xa (bà Pénelope).


 


Ở đây, trong nội dung lịch sử có một nội dung nhân đạo xuất phát từ nhân dân, vì tuy phong trào phát triển buôn bán và chiếm căn cứ địa lúc đó là do giai cấp quí tộc tư sản hóa lãnh đạo, nhưng nó cũng có lợi cho nhân dân, và thực chất của nó là của nhân dân. Nó nhằm xây dựng một ý thức bộ tộc trên cơ sở một lý tưởng chung, một giá trị chân chính.


 


Nhưng lúc bấy giờ giai cấp lãnh đạo là giai cấp quý tộc, ý thức hệ nhất định là dưới sự chi phối của tư tưởng quý tộc, nên những giá trị chân chính ấy cũng xuất hiện dưới hình thức thần thánh và anh hùng cá nhân (nửa thần thánh: anh hùng là con cháu thần thánh). Anh hùng ca của Homère phản ánh đến một mức nào đấy tinh thần nhân dân, nhưng đồng thời lúc đó cũng là một công cụ thống trị cho giai cấp quí tộc. Giai cấp quí tộc kể lại những cuộc chiến thắng của vua chúa, anh hùng đời xưa, cũng là để củng cố địa vị của chúng lúc bấy giờ.


 


Nhắc lại chiến thắng của Agamemnon và Achille chính là để củng cố cương  vị  thống trị của quí tộc ở thế kỷ VIII tr. CN, và quyền thống trị của chúng đối với eo biển Dardanelles. Mà cũng vì nó nằm trong khuôn khổ ý thức hệ quí tộc nên nhất định nó không thoát khỏi tư tưởng thần thánh. Mỗi lần có một việc quan trọng trên mặt đất, ví dụ hai tướng đánh nhau, một thắng một bại, mà việc ấy có kết quả đặc biệt cho cuộc chiến đấu chung, thì bao giờ cũng có sự can thiệp của thần thánh. Nhưng điều đặc biệt ở đây là chính sự can thiệp của thần thánh về căn bản cũng chỉ là khuếch trương ý nghĩa của những sự việc thiết thực. Trong sự can thiệp ở đây, giữa thần và người hình như có một cái gì thân thiện. Thần cũng chỉ là người to lớn, đẹp đẽ, đánh đâu thắng đấy. Thần biểu hiện lý tưởng của người.


 


Sự can thiệp của thần thánh về căn bản cũng chỉ là lý tưởng hóa ý nghĩa của những sự việc quan trọng trong đời sống con người. Ví dụ một tướng thắng một tướng khác thì lúc bấy giờ mới là vì có thần này thần kia can thiệp vào làm cho tướng ấy khỏe thêm. Sự khuếch trương giá trị anh hùng ấy chính là một cách làm cho con cháu, người nghe được phấn khởi thêm, vì anh hùng ấy là anh hùng lập quốc, những chiến thắng của anh hùng trước chính là chiến thắng của quốc gia, của bộ tộc bây giờ. Nó biện chính quyền lợi bây giờ. Đấy là bước đầu hạn chế sự thống trị của tư tưởng thần thánh vào đời sống của con người.


 


Ngoài ra vẫn có chuyện giữa thần thánh với nhau, nhưng những chuyện ấy lại có tính chất phê phán chế giễu. Ví dụ như chuyện bà Hera vì muốn ủng hộ phe Hy Lạp trong khi chồng là Zeus lại ủng hộ phe Troyens. Bà ta đã tắm rửa sạch sẽ, mượn thất lưng của nữ thần luyến ái Aphrodite để quyến rũ chồng. Trong khi chồng đang coi sóc việc quân sự giúp Troyens, bà đã ngủ với chồng và làm cho phe Troyens thất bại. Hay là chuyện thần Lửa và thần Lò rèn Hephaistos thấy vợ là Aphrodite đi lại bí mật với thần quân sự Ares, ông ta đã rèn một lưới sắt đặt ở giường, do đó đã bắt được cặp gian phu, dâm phụ.


 


Ở đây, người ta đã chế giễu thần thánh, làm mất tính chất oai nghiêm như ở chuyện thần thoại ở Đông phương. Ta có thể coi đó là bước đầu phê phán tư tưởng tôn giáo trong phạm vi tôn giáo.


 


Bằng chứng lịch sử tư tưởng Hy Lạp sau giai đoạn duy vật, lúc trở lại hướng duy tâm đặc biệt với Platon, thì Platon lại phê phán Homère về điểm ấy, trách Homère đã diễn tả thần thánh trong những hoàn cảnh lố bịch, chứng tỏ thiếu tôn trọng thần thánh. Platon đề nghị trong Cộng hòa lý tưởng phải bác bỏ Homère, không cho đọc sách của Homère.


 


Điều đó chứng tỏ những anh hùng ca của Homère lúc đó tuy là công cụ thống trị tinh thần cho giai cấp thống trị, nhưng vì lúc đó giai cấp quý tộc còn là giai cấp đang lên, quyền lợi còn phù hợp với một phần với quyền lợi của nhân dân, nên trong tác phẩm của Homère cũng có một nội dung tương đối tiến bộ: chế giễu thần thánh, xây dựng tinh thần dân tộc, xây dựng những đức tính mới, những ý thức trung thành đoàn kết, tư tưởng tự do, đoàn kết trên sơ sở tự nguyện, tự giác.  Thực chất nó là một nội dung tiến bộ chứ không phải là hình thức thần thánh hay hình thức quí tộc. Thành ra, những tác phẩm của Homère về sau vẫn giữ giá trị giáo dục.


 


Đến những lúc thành thị Hy Lạp chuyển sang chế độ dân chủ chủ nô, những tác phẩm của Homère tuy chỉ kể chuyện quý tộc, nhưng vẫn được coi như là anh hùng ca của dân tộc. Nó là những tác phẩm căn bản giáo dục người Hy Lạp. Bất kỳ người Hy Lạp nào ít nhiều cũng phải thuộc Homère. Về sau, đến đời La Mã mà đến cả thời cận đại và hiện đại, những anh hùng ca của Homère vẫn còn được coi như là những tác phẩm có tính chất giáo dục sâu sắc, vì nó là một bước mở rộng tư tưởng, xây dựng lý tưởng nhân đạo, và cũng nhờ nội dung tiến bộ ấy mà những tác phẩm của Homère thực hiện được giá trị nghệ thuật độc đáo.


 


Trong bài ca3 Góp phần phê phán kinh tế - chính trị học của Marx, có một đoạn nói: Hiểu rằng anh hùng ca của Homère là xây dựng trên những điều kiện xã hội nhất định, trong những điều kiện lịch sử nhất định thì dễ hiểu. Nhưng vấn đề là tại sao trên cơ sở đó, có thời gian tính nhất định ấy, mà đến nay ta vẫn thưởng thức? Marx trả lời: người lớn không làm như trẻ con, nhưng lúc nhớ lại thời trẻ, cái mà mình nhớ vẫn có giá trị giáo dục, vẫn thưởng thức được. Nhân loại nhớ lại thời thơ trẻ của mình tuy không bao giờ trở lại thời đó, nhưng chính vì không bao giờ trở lại nữa mà những tác phẩm ấy thành ra có giá trị vĩnh cửu.


 


Anh hùng ca Homère diễn tả được ý nghĩa tiến bộ của giai đoạn nhân dân Hy Lạp chuyển từ bộ lạc lên bộ tộc, đề cao tinh thần dân tộc. Tinh thần ấy có một giá trị phổ cập, vì nó dựa trên một số giá trị phổ cập để chuyển từ tổ chức hẹp hòi thành tổ chức rộng rãi trong các quốc gia thành thị, nên có những tiêu chuẩn rộng rãi hơn tiêu chuẩn đời sống thị tộc (như công lý, nhân đạo). Do đấy, tư tưởng công lý, nhân đạo được diễn tả trong anh hùng ca Homère với màu sắc đặc biệt: tự do, bình đẳng, chưa thành hệ thống (do tính chất không hoàn bị, còn rời rạc của bộ tộc, luôn luôn chia rẽ) nhưng cũng có một hình thức thống nhất nào đó biểu hiện trên mặt lý tưởng.


 


Tác phẩm của Homère có tác dụng rộng rãi và lâu dài đến bây giờ là vì nó có thực hiện được nội dung ấy trong hình thức nghệ thuật. Hình thức ấy chính là hình thức hiện thực. Có thể nói anh hùng ca thực hiện chủ nghĩa hiện thực đầu tiên, tuy trong đó đầy dẫy thần bí (mỗi sự kiện quan trọng trên mặt đất đều có thần thánh can thiệp vào; những anh hùng là con thần thánh hoặc của nửa thần).


 


Chủ nghĩa hiện thực trước nhất thể hiện ở cách diễn tả chi tiết chính xác các sự vật và sự việc. (Ví dụ: tả hai tướng đánh nhau thế nào? Lao cái lao thế nào? Vào chỗ nào?). Các hoàn cảnh được diễn tả một cách chính xác, với những nét điển hình bằng nghệ thuật so sánh, là điểm nối bật của nghệ thuật Homère. Ví dụ: tả một anh tướng khi bi thua phải rút đi, Homère so sánh với hình ảnh một con sư tử phải bỏ mồi vừa rút đi vừa tiếc rẻ quay lại, hục hặc, rồi lại bước đi. Mỗi cảnh, mỗi động tác được thể hiện bằng những hình tượng điển hình cao độ. Nghệ thuật ấy còn được vận dụ trong khi mô tả quan hệ người với nhau, hoặc tâm sự của các nhân vật (như đoạn cãi nhau giữa hai tướng Achille và Agamemnon, hoặc là đoạn thương lượng giữa Achille và đoàn đại biểu).


 


Trong quan hệ giữa người và người, ngoài những nét điển hình được nổi bật,  còn có sự can thiệp của thần thánh, nhưng nếu bỏ yếu tố này đi, chúng ta vẫn có thể hiểu được câu chuyện. Khác với anh hùng ca Đông phương, vai trò thần thánh được thêm vào để khuếch trương ý nghĩa của sự việc.


 


Anh hùng ca Homère đánh dấu bước chuyển biến từ tôn giáo sang nghệ thuật đúng với danh nghĩa của nó. Trước kia thần thánh cũng được diễn tả bằng nghệ thuật, nhưng nghệ thuật chỉ là phụ, tôn giáo là chính. Ở đây, nghệ thuật là chính: ý nghĩa câu chuyện được diễn tả bằng những nét thiết thực, thêm vào đó mới là chuyện thần bí (những chuyện ấy cũng có vai trò tích cực giúp vào việc biểu dương ý nghĩa hiện thực bằng trí tưởng tượng). Có thể nói: chuyện thần thánh ở đây là công cụ biểu hiện hiện thực, còn trong chuyện Đông phương, nghệ thuật dùng làm công cụ phục vụ tôn giáo. Anh hùng ca Homère tuy có thần bí, nhưng chúng ta có thể thông cảm được ý nghĩa hiện thực, mà thực chất của ý nghĩa ấy là tiến bộ. Một mặt, nó có tác dụng củng cố uy quyền thống trị của cộng hòa quí tộc, nhưng mặt khác nó cũng có một nội dung nhân dân tính. Nội dung ấy bao gồm những giá trị nhân đạo, xây dựng trong khuôn khổ hẹp hòi của xã hội bấy giờ, nhưng tiến bộ vì diễn tả xã hội quý tộc chủ nô trong bước tiến bộ và trong phần tiến bộ của nó. Phần tiến bộ ấy là thoát khỏi giới hạn hẹp hòi của chế độ thị tộc, phát triển sức sáng tạo của nhân dân, xây dựng một phương thức đoàn kết cộng rãi trong phạm vi bộ tộc, phần nào đã có lý tưởng phổ cập. Giá trị hình thức rõ ràng xuất phát từ nội dung, với tính chất tiến bộ của nó, do đó mới đạt được hình thức hiện thực chủ nghĩa đầu tiên trong thi văn. Chủ nghĩa hiện thực đây còn là hiện thực tự nhiên, nhưng nó chân chính vì nó có tác dụng giải phóng đối với tôn giáo: nó phát hiện những sự việc có thật đằng sau những mơ mộng thần bí. Nhưng hiện thực ấy, dưới chế độ thống trị thời Homère, chưa được quan niệm một cách rõ ràng bằng khái niệm, vì trong giới hạn hẹp hòi của ý thức hệ quý tộc - tuy là tư sản hóa nhưng căn bản là quý tộc - nó vẫn chưa thực sự thoát khỏi phạm vi tôn giáo.


 


Bước tiến bộ thứ hai thực hiện được đặc sắc của văn minh Hy Lạp là quan niệm hiện thực bằng khái niệm, với tính chất hiện thực, thực sự thoát khỏi chuyện hoang đường. Bước tiến bộ ấy chỉ có thể thực hiện trong công cuộc đấu tranh giai cấp phát triển giữa nhân dân và giai cấp quí tộc thống trị (nhân dân đây gồm: nô lệ, dân nghèo, nông dân tự do, tiểu địa chủ, và do thành phần công thương lãnh đạo). Trong bước đầu (thế kỷ VIII tr. CN và đầu thế kỷ VII tr. CN), mâu thuẫn giữa quí tộc và nhân dân đã có và tạm thời được giải quyết: cụ thể là lúc công thương nghiệp phát triển, giá hàng thủ công tăng lên, giá nông sản hạ xuống; bọn thương nhân đi mua lúa rẻ về bán cho nhân dân, mặt khác giới thủ công tổ chức công nghiệp tương đối đại quy mô thì hàng công nghệ phẩm bán đắt hơn thời thủ công cá thể. Nông dân mua đắt bán rẻ phải đi vay lãi bọn quý tộc, dần dần mất ruộng. Thợ thủ công bị sự cạnh tranh của bọn chủ nô công nghiệp, bọn này dùng nô lệ sản xuất nên giá thành rẻ hơn lối sản xuất thủ công cá thể. Nhưng những mâu thuẫn ấy tạm thời được giải quyết vì:


 


- Bộ phận thủ công và đại thương còn do quý tộc nắm (chúng bỏ vốn kinh doanh và nắm phương thức sản xuất mới);


 


- Mặt khác, những đất đai ở trình độ dã man xung quanh Hy Lạp còn nhiều, phong trào lập căn cứ địa phát triển, dân nghèo bị phá sản được đem đến làm ăn  (Bỏ Hắc Hải, Nam Ý, Sicile, v.v...)


 


Nhưng đầu thế kỷ thứ VII tr. CN, các căn cứ địa giảm bớt, thuyền nhỏ không thể đi xa hơn được; thậm chí các thành thị mới lại có khả năng cạnh tranh với thành thị cũ, do đó nguồn lợi bên ngoài giảm sút. Bên trong lại xuất hiện giai cấp phú thương thủ công mới xuất thân từ nhân dân. Quá trình phá sản của nông dân và thủ công càng trầm trọng. Trong các thành thị Hy Lạp luôn luôn có sự tranh giành chính quyền giữa hai phe quí tộc và dân chủ (giết nhau, hoặc đuổi nhau đi). Vấn đề phương thức áp bức bóc lột, nghĩa là phải xây dựng pháp lý. Trong giai đoạn trước, bọn quí tộc nắm chính quyền, đồng thời nắm quyền xử án theo lễ nghi thời trước, làm việc bí mật, nên lúc xử án luôn luôn bên nhà giàu được thắng thế. Đòi hỏi chung của xã hội là xây dựng pháp lý, ghi rõ và công bố luật lệ.


 


II – TRIẾT HỌC HY LẠP


 


Song song với phong trào xây dựng pháp lý (hợp lý hóa đời sống xã hội) cũng phát triển một phong trào triết học duy vật, đánh đổ những chuyện hoang đường, đánh đổ trực tiếp ý thức hệ quý tộc. Nguồn gốc của triết học là ở phong trào nhân dân, dựa vào những khái niệm mới xây dựng trên kinh nghiệm lao động vật chất, tức là dựa vào khoa học đầu tiên, để đánh đổ tôn giáo. Do đó, đánh đổ cơ sở tư tưởng biện chính cho quyền áp bức bóc lột của giai cấp quý tộc, tức là về căn bản và trong nguồn gốc, triết học là khoa học, là thế giới quan và nhân sinh quan duy vật của khoa học, giải phóng nhân dân, xây dựng một đời sống hợp lý. Nhưng tất nhiên lúc ấy chỉ có thể thực hiện trong giới hạn hẹp hòi của giai cấp tương đối tiến bộ là giai cấp công thương chủ nô. Do giới hạn hẹp hòi ấy, chủ nghĩa duy vật cũng chưa phải là hoàn toàn dứt khoát, và phương pháp tư tưởng tuy căn bản là biện chứng, nhưng thực tế phải dựa vào khuôn khổ máy móc của phương thức sản xuất tư hữu (công thương nghiệp tư hữu). Nhưng với tất cả giới hạn hẹp hòi ấy, nó đã mang chân lý căn bản của nó tức là chủ nghĩa duy vật, tư tưởng biện chứng, và tác dụng giải phóng.


 


Triết học đầu tiên được thực hiện với tiêu chuẩn ấy là triết học của Milet. Milet là thành thị buôn bán to nhất và quan trọng nhất ở Hy Lạp trong thế kỷ VII tr. CN. Riêng nó đã được 90 căn cứ địa ở bờ Hắc Hải, có một con cứ địa lớn ở bờ biển Ai Cập (một khu tự do buôn bán: ở thành phố Naucrates), và nhiều thành thị ở Nam phần Ý-đại-lợi. Tóm lại, căn cứ địa của Milet rải rác từ Ý cho đến chân núi Caucase (miền Bakou). Đồng thời Milet phát triển thương nghiệp với Ai Cập và phía Tây Tiểu Á và Lưỡng Hà), vì thế những nhà bác học tiếp thu được di sản hiểu biết của nền văn minh cổ đại Đông phương. Có thể nói: trong một giai đoạn, Milet trở thành trung tâm của Tây Á và Địa Trung Hải (trung tâm buôn bán và trao đổi văn hóa).


 


Trong thế kỷ VII tr. CN, ở Milet xuất hiện phái triết học duy tâm đầu tiên gọi là phái Milet gồm: Thalès (năm 685 tr. CN), Anaximandre (năm 665 tr. CN), Anaximène (năm 645 tr. CN)4. Đặc điểm của phái này là đặt vấn đề: thực chất của thế giới là gì? Trước kia, tôn giáo đặt vấn đề nguồn gốc thế giới, và giải quyết bằng chuyện hoang đường (ví dụ: ông thần đầu đẻ ra các ông khác...).


 


THALÈS (khoảng 625 – 546 tr. CN)


 


Thalès đặt vấn đề thực chất của thế giới là một thứ vật chất: nước. Nước bốc thì thành hơi, thành lửa và đọng lại thì thành đất. Điểm căn bản là thực chất của sự vật là vật chất, và từ vật chất xây dựng mọi sự vật một cách hợp lý. Về phương pháp tư tưởng, Thalès đã quan niệm được sự vật trong cái biến chuyển của nó: nước là chất động, chuyển thành các chất khác. Nhưng định nghĩa sự biến chuyển ấy như thế nào, thì Thalès chưa ra khỏi được những khái niệm máy móc và chưa thể có khái niệm biện chứng. Vì sao? Vì tư tưởng tiến bộ này là tư tưởng của giai cấp công thương chủ nô. Chính Thalès cũng là một công thương nhân tiến bộ, đã biết đầu cơ (buôn bán lúc đầu là đi ăn cướp, sau là trao đổi thường, và cuối cùng tiến lên đầu cơ). Theo truyền thuyết, người ta kể rằng: Có người hỏi ông: Vì sao có tài mà vẫn nghèo? Ông trả lời: vì không muốn làm giàu, chứ nếu muốn thì cũng dễ. Ông xem thiên văn, biết năm ấy được mùa ôliu, nên đặt thuê trước các máy ép dầu ở Milet. Đến vụ mùa, ông cho thuê lại máy ép với giá rất đắt. Đó là một hoạt động mới mẻ, vì ông không nhằm sản xuất và trao đổi sản phẩm vì sản phẩm ấy, nhưng là trao đổi vì lợi, và định nghĩa sản phẩm bằng giá trị kinh tế của nó. Thalès đã vượt lên trên cụ thể tính của sản phẩm và trong lúc trao đổi, ông đã nhằm giá trị trao đổi có thể tăng lên được của sản phẩm tách rời khỏi hình thức cụ thể với giá trị thực dụng của nó. Ông đã phân biệt giá trị trao đổi và giá trị thực dụng sản phẩm. Thalès là người sáng lập ra nền kinh tế khoa học đầu tiên (kinh tế học tư sản).


 


Vấn đề triết học mà Thalès đề ra, rõ ràng phản ánh hoạt động kinh tế, kinh nghiệm thực tế của giai cấp công thương đang lên, vì trong hoạt động trao đổi mà qua đó xây dựng giá trị trao đổi thì xuất hiện một khái niệm trừu tượng của một cái gì đấy mà có thể biến thành bất cứ một cái gì khác (đồng tiền có thể biến


thành một sản phẩm nào cũng được). Trước đó chỉ có từng vật cụ thể với tính chất cụ thể của nó, vậy thì không có lý do đặt vấn đề thực chất của tất cả các sự vật là gì.


 


Nhưng hoạt động trao đổi đi đến trừu tượng hóa, tách sự vặt ra khỏi các hình thái cụ thể, cá biệt, nắm được giá trị trừu tượng (giá trị trao đổi); và qua giá trị ấy người ta có thể trở lại bất kỳ một giá trị cụ thể nào, thì trong tư tưởng xuất phát ra một vấn đề: có một thực chất nào đấy mà thực chất này biến chuyển thành tất cả các thực thể cá biệt.


 


Trong vấn đề này có hai mặt:


 


Mặt trừu tượng: một khái niệm thể hiện trong vô số hiện tượng;


 


Mặt cụ thể thực tế: là một quá trình biến chuyển từ hiện tượng nọ qua hiện tượng kia, và nếu có quá trình này thì nó phải có một cơ sở thống nhất.


 


Xét cơ sở thực tế ta thấy cũng có hai mặt:


 


Một là: công trình lao động phát triển, sức sản xuất đã hệ thống hóa được tổ chức sản xuất trong một phạm vi rộng rãi, do đấy có thể nắm được quá trình chuyển biến từ vật nọ sang vật kia.


 


Hai là: hoạt động đầu cơ của tư sản chủ nô lợi dụng trình độ tổ chức lao động ấy để xây dựng một tổ chức bóc lột. Nhưng sở dĩ tổ chức bóc lột đạt được mức cao như thế cũng là nhờ dựa trên một tổ chức lao động (ví dụ: địa chủ thì bóc lột theo kiểu trực tiếp chứ không tính toán).


 


Với bước tiến bộ thực tế ấy trong giới hạn hẹp hòi của nó, chúng ta cũng thấy bước tiến bộ trong tư tưởng với những giới hạn của nó: là đặt được vấn đề cơ sở thống nhất của sự biến chuyển, nhưng giới hạn ở chỗ đặt vấn đề với hình thức trừu tượng, lấy một vật cụ thể làm thực chất rồi diễn tả sự biến chuyển của thực chất ấy một cách máy móc.


 


Nhưng trong giới hạn ấy, Thalès lần đầu tiên đã đạt được tư tưởng cơ sở khoa học, tức là khái niệm vật chất và những biến chuyển của nó, đồng thời Thalès cũng đặt phương pháp tư tưởng duy lý để diễn tả cái biến chuyển ấy.


 


Phương pháp tư tưởng duy lý đây là lý luận kỷ hà - toán lý. Về căn bản, toán lý đã xuất hiện ở Đông phương (Ai Cập) nhưng là toán lý thực dụng (những bảng nhân chia hay phép tính diện tích rất cần cho nhân dân Ai Cập để đo lại ruộng sau những trận lụt ở ven sông Nil. Người Ai Cập có công thức thực dụng đo diện tích không chính xác lắm nhưng cũng tương đối. Ví dụ: tính diện tích một tứ giác thì họ phân nửa tổng số các cạnh đối diện:


 


(a + b) x (b + d)


2


 


Ở Lưỡng Hà đã phát hiện những bảng Thiên văn, ghi những hiện tượng của mặt trăng, nhưng chỉ mới ghi bằng kinh nghiệm hoặc mở rộng kinh nghiệm, chưa có lý luận thành hình và chưa phái là khoa học chính xác). Thalès, theo truyền thuyết, là người đầu tiên xây dựng lý luận tương đối chính xác; nó không đóng khung trong thực nghiệm chủ nghĩa. Tất nhiên, Thalès tiếp thu được kỹ thuật của Lưỡng Hà, Ai Cập, nhưng bước tiến này có tính chất biến chất, chuyển từ kinh nghiệm chủ nghĩa đến lý luận. Ví dụ: chứng minh được: 2 hình tam giác có một 1 cạnh kèm giữa hai góc bằng nhau là bằng nhau.


 


Đặc điểm của khoa học Hy Lạp (mà sử học Âu châu gọi là «thần tích Hy Lạp») là đặt vấn đề để chứng minh chính xác và tìm ra được những dẫn chứng chính xác trên mặt lý luận, chứ không đóng khung trong kinh nghiệm chủ nghĩa và thực dụng chủ nghĩa.


 


Bước tiến bộ này có tính chất gì? Các sử gia tư sản cho rằng tiến bộ ấy có được là nhờ chủ nghĩa duy tâm, nghĩa là lý trí con người ta tách khỏi những vật thể thiết thực, những kinh nghiệm cụ thể để nắm khái niệm trừu tượng, và như vậy mới có thể chứng minh bằng lý luận được, mà có chứng minh bằng lý luận mới có khoa học chính xác. Theo ý kiến ấy thì bước tiến bộ là một quá trình tách rời thực tế. Nhưng nếu chúng ta nhắc lại điều kiện cụ thể để xây dựng lý luận ấy, thì chúng ta thấy không phải chỉ có chân lý thuần túy, mà là do đòi hỏi cụ thể. Những kinh nghiệm sản xuất hoạt động kinh tế đã đi đến chỗ trừu tượng hóa, cụ


thể là trong kinh tế tiền tệ, thì tư tưởng con người mới nắm được khái niệm trừu tượng và lý luận trên cơ sở khái niệm trừu tượng ấy.


 


Quá trình tách rời trong tư tưởng phản ánh quá trình tách rời trong thực tế. Cụ thể là tổ chức sản xuất trong kinh tế tiền tệ bước đầu được hợp lý hóa, thì cũng tách khỏi việc sử dụng trực tiếp (sản xuất cho thị trường, không phải là để dùng ngay). Nhưng tất nhiên nó cũng phải phục vụ nhu cầu cụ thể. Tức là sự tách rời chỉ là tương đối.


 


Trong phạm vi khoa học, những dẫn chứng lý luận dù có trừu tượng bao nhiêu như kỷ hà học, cũng phải dựa vào trực quan. Như dẫn chứng của Euclide tuy trừu tượng đến cao độ nhưng vẫn có tính chất trực quan. Khi so sánh để chứng minh hai hình tam giác bằng nhau, thì phải vẽ hai tam giác và phải làm nổi bật các quan hệ giữa hai hình ấy trên cơ sở một số đặc điểm nhất định (hai tam giác có một cạnh kèm giữa với hai góc tương ứng bằng nhau), rõ ràng lý luận thông qua trực quan, tuy là thứ trực quan trừu tượng hóa, lý tưởng hóa (như vẽ một đường thẳng trên giấy, thì trong thực tế không thể vẽ được một đường thẳng hoàn toàn...). Chúng ta có thể đoán rằng: những lý luận đầu tiên của Thalès còn có tính chất trực quan hơn là của Euclide nữa. Hơn nữa, ta thấy lý luận ấy chẳng những dựa vào trực quan mà cũng nhằm trực quan (tính diện tích để đo đạc ruộng đất, v. v...).


 


Chúng ta thấy công trình xây dựng thế giới quan khoa học và phương pháp lý luận khoa học là phản ánh tổ chức lao động của nhân dân, trong những giới hạn của giai cấp đương lên lúc bấy giờ là công thương chủ nô, phát triển kinh tế tiền tệ. Ảnh hưởng của tổ chức sản xuất, tác dụng của nó phải thông qua giai cấp bóc lột tương đối tiến bộ lúc bấy giờ; nhưng căn bản chân lý không phải là ở phương thức bóc lột, mà là ở tổ chức sản xuất. Phương thức bóc lột quy định về mặt hình thức thể hiện trong ý thức tư tưởng, với giới hạn hẹp hòi nhất định. Vì có những giới hạn ấy, thành ra về vấn đề thực chất là gì, biến chuyển thế nào, Thalès cũng chỉ đề ra một giải pháp giả định và sau đấy, cũng trên cơ sở ấy, cùng phái ấy, có những giải pháp khác nhau nhưng cũng trong khuôn khổ ấy.


 


ANAXIMANDRE (khoảng 610 – 546 tr. CN)


 


Anaximandre cho thực chất là «vô cùng», một thứ vật chất không có giới hạn nào, tức là vật chất thuần túy vô hình vô tượng. Anaximandre giải thích vấn đề: thực chất là tất cả vật chất, vậy thì không cho nó là cái gì cụ thể, mà là thực chất vô hình. Nhưng nói thực chất vô hình tất nó lại không phải là vật chất.


 


ANAXIMÈNE (khoảng 585 – 525 tr. CN)


    


Về sau Anaximène5 cho vật chất là «khí», «khí» có hai đặc điểm: phổ biến hơn nước, nhưng nó vẫn có tính chất cụ thể.


 


Những ý kiến ấy là những kinh nghiệm tư tưởng trên một lập trường nhất định, nó bộc lộ chân lý và đồng thời bộc lộ giới hạn hẹp hòi của tư tưởng ấy.


 


*


*   *


 


Ở trên, chúng ta đã xét nguồn gốc triết học nói chung. Với nguồn gốc ấy, triết học căn bản là duy vật và biện chứng, biểu hiện thế giới quan khoa học. Nhưng thế giới quan khoa học ấy lại xuất hiện trong những giới hạn nhất định, giới hạn ấy là giới hạn của bộ phận công thương chủ nô đang lên, ngày ấy là tương đối tiến bộ. Thắng lợi của bộ phận này có tính chất nhất thời và hạn chế. Hạn chế tức là chỉ có thể phát triển trong một tầng lớp nào đấy (công thương, thủ công, phú thương) mà ít ảnh hưởng trong nhân dân (nhân dân tự do), đồng thời tăng cường phương thức bóc lột nô lệ. Thắng lợi ấy cũng là nhất thời: ngay trong thế kỷ thứ VI tr. CN, phong trào tôn giáo lại trở lại mạnh, cụ thể dưới hình thức cứu hồn.


 


Phong trào này là tương đương với phong trào cứu hồn ở Đông phương, theo cùng một công thức: có một ông thần xuống âm phủ rồi sống lại, do đấy có khả năng linh báo cho người những phương tiện, đường lối để cứu vớt linh hồn, tức là làm sao hưởng được đời sống sung sướng sau lúc chết. Muốn được thế thì trong đời này, con người phải theo một số kỷ luật nào đấy, đặc biệt là tham gia những hội kín thờ ông thần ấy.


 


Ở Hy Lạp, có 2 đạo cứu hồn nổi tiếng là đạo Orphée (nửa thần) và đạo Dionysos (thần, con của Zeus). Những đạo ấy phát triển trong quần chúng nhân dân, cùng với quý tộc. Trong những bộ phận công thương quý tộc hóa (hoặc quý tộc tư sản hóa) lại phát triển triết học duy tâm. Triết học duy tâm tiếp thu và duy trì những thắng lợi của khoa học, nội dung tư tưởng tiến bộ của phái duy vật, nhưng nó lại biến tất cả những thành tích khoa học ấy thành hệ thống duy tâm, tách rời lý tính khỏi thực tế, thậm chí định nghĩa lý tính bằng cách tách rời khỏi thực tế. Với hướng ấy thì thực tế chỉ là cảm tính - cảm tính là cái nằm trong kinh nghiệm, mà chân lý tức lý tính thì phải ở ngoài thực tế, ngoài kinh nghiệm.


 


Đấy là nguồn gốc của một truyền thống sẽ kéo dài suốt trong triết học Tây phương. Truyền thống ấy đem đối lập lý tính và kinh nghiệm; cái gì là kinh nghiệm thì đều là không có giá trị chân lý, vì chỉ là cảm giác vụn vặt, ngẫu nhiên. Tất nhiên, với một lý tính được quan niệm một cách trừu tượng như vậy sẽ không giải quyết được vấn đề tôn giáo. Mà chính lý tính ấy tách rời thực tế thì cũng phải dựa vào cái gì đấy: cuối cùng thì nó lại dựa vào tôn giáo. Truyền thống duy lý duy tâm, một mặt, hình như đòi hỏi một cái gì cao hơn hiểu biết kinh nghiệm chủ nghĩa của người thường, nhưng mặt khác, nó lại trở lại tư tưởng lạc hậu của người thường: tư tưởng tôn giáo. Chính nó là bước đầu trở lại tôn giáo. Người đầu tiên thực hiện bước ấy trong truyền thống Hy Lạp - kết hợp chủ nghĩa duy tâm với tôn giáo - là Pythagore.


 


PYTHAGORE (khoảng 580 – 500 tr. CN)


 


Pythagore sinh ở Samos là một cù lao ở đất Ionie. Ông bất mãn với chế độ bạo quân lúc bấy giờ ở Samos nên di cư đến Crotone (Nam Ý).


 


Cuối thế kỷ thứ VII và VI tr. CN, chế độ bạo quân là một chế độ có tính chất dân chủ. Đó là một hình thức còn thấp nhưng là của nhân dân, của phe dân chủ chống quý tộc. Lúc bấy giờ phe dân chủ còn yếu chưa đủ sức để lập một chế độ cộng hòa dân chủ nên phải thống nhất lực lượng chỉ huy vào một người. Người đó dùng bạo lực cướp chính quyền, thực hiện những đòi hỏi kinh tế tối thiểu (chia ruộng đất phần nào, công bố luật pháp, phát triển công thương nghiệp tức là bảo vệ quyền lợi của nông dân và công thương). Đặc điểm của chế độ bạo quân là nó không dựa vào thần thánh, và đó cũng là bằng chứng để chứng minh nó có tính chất tiến bộ dù có là độc đoán.


 


Pythagore bất mãn với chế độ ấy tất nhiên là ở phe quý tộc. Sang Nam Ý, ông sáp nhập vào phe quý tộc. Đó là điều chúng ta ước đoán, nhưng là ước đoán có căn cứ. Theo tài liệu thì ông lập ra một hội vừa tôn giáo vừa chính trị, đấu tranh nắm chính quyền nhưng sau bị thất bại. Đứng về mặt tôn giáo, mục đích của hội là linh báo những phương tiện để sau này linh hồn được sung sướng. Muốn thế thì ngay trong đời sống con người phải theo một số lệ cấm, ví dụ như không được ăn thịt, vì ông cho rằng người ta ngày xưa cũng là súc vật, nếu ăn thịt súc vật thì cũng như là ăn thịt mình. Lại có lệ không được nói trong bóng tối v. v... Ông còn dạy cho những hội viên một số bí quyết để sau khi chết biết theo con đường dẫn đến nơi sung sướng. Nhưng song song với những mục đích ấy, Pythagone xây dựng được cả một hệ thống lý luận. Đó là triết lý duy lý duy tâm đầu tiên ở Phương Tây.


 


Pythagore chủ trương rằng thực chất của mọi sự vật là số. Đó là nguồn gốc của truyền thống duy lý toán pháp chủ nghĩa, tuyệt đối hóa tính chất chính xác của khoa học toán pháp để tách rời lý tính khỏi thực tế, đề cao lý tính một cách siêu hình, do đó thần thánh hóa khoa học duy lý.


 


Chủ trương rằng thực chất của mọi vật chất là số thì có 3 ý nghĩa:


 


 l) Không gian là số mà số là không gian: Phythagore viết những con số bằng những hình kỷ hà như:


 


 


 


Qua những thí dụ trên, chúng ta thấy phát kiến của Pythagore kết hợp kỷ hà và số học, định nghĩa những tính chất của số bằng những hình kỷ hà. Đó là điểm tiến bộ, nhưng do đấy lại cho những con số có một tính chất thần bí, biến những con số thành những hình cụ thể, và kết luận rằng thực chất của không gian là số.  Chúng ta thấy hai mặt của vấn đề: vấn đề khoa học toán lý tiến bộ, và vấn đề biến khái niệm thành thực thể siêu hình. Cũng theo hướng ấy mà Pythagore tìm ra được định lý Pythagore. Định lý Pythagore có đặc điểm là một mặt thì nó là cái thắng lợi của phương pháp áp dụng số học vào kỷ hà hay ngược lại; nhưng mặt khác lại đánh dấu giới hạn hẹp hòi của quan niệm đơn giản về số (số là khái niệm đếm). Vì nếu lấy một hình vuông thì giữa cạnh c và đường huyền d tính theo định lý Pythagore, ta có: 2c2 = d2


 


Nhưng một học trò của Pythagore đã tìm ngay ra một lập luận đưa định lý ấy đến chỗ mâu thuẫn vì không có con số nào, nếu hạn chế vào những số «duy lý» (tức là những chính số và phân số), biểu hiện được quan hệ giữa c và d. Vì nếu ta cho c = 1, thì 1 = d2 / 2 hay 2 = d2. Nếu 2 = d2 thì d2 phải là số chẵn và nhân tố 4, vậy d2 / 2 vẫn phải là số chẵn. Nhưng ở đây thì d2 / 2 lại bằng 1 là số lẻ. Vậy một số chẵn bằng một số lẻ là điều không thể có được.


 


Theo truyền thuyết thì khi tìm ra được định lý bây giờ còn mang tên ông, Pythagore đã hiến một con bò để cúng thần ăn mừng. Nhưng người tìm ra rằng không có con số nào quy định quan hệ giữa cạnh và đường huyền hình vuông, tức là có những quan hệ không gian không phải là số (đây là số đếm được «duy  lý»), thì bị chết đuối, tức là bị thần thánh phạt, vì anh ta đã tìm ra một điểm quái gở. Đó cũng là điểm đánh dấu giới hạn hẹp hòi của trình độ lý tính lúc bấy giờ. Nếu muốn tìm ra một con số để quy định quan hệ trên, thì phải công nhận có những con số không thể đếm được (sau này gọi là số «vô tỷ»). Đấy là trường hợp người ta nhắc lại nhiều trong lịch sử khoa học để chứng minh lý tính phát triển bằng hình thức «vô lý», tức là phủ định hình thức lý tính trước.


 


2) Nghĩa thứ hai của mệnh đề của Pythagore là đặt quan hệ số lượng giữa các âm thanh. Như bậc tám (octave) có thể định nghĩa bằng quan hệ 1/2. Âm là chất lượng, là cảm tính mà có thể định nghĩa bằng số (bằng quan hệ lý tính), thì cảm tính chỉ là lý tính dưới hình thức tổng quát mà thôi.


 


3) Nghĩa thứ ba là một nghĩa thần bí: quy định mỗi con số có một tính chất đạo đức nào đấy. Ví dụ: công lý là số 4, kết hôn là số 5, may mắn là số 7, v. v... Đó  là phép bói toán.


 


Chúng ta thấy một mặt thì triết học duy lý duy tâm có dựa vào và phát triển khoa học chính xác, nhưng mặt khác tách rời lý tính khỏi thực tế và khoác cho nó một tính chất thần bí.


 


Trường hợp Pythagore là quan trọng vì ông là người mở đầu cho cả một truyền thống thưởng ngoạn về khoa học: khoa học vì khoa học, tính để mà tính. Đó cũng là đặc điểm của toán pháp Hy Lạp, và cũng còn kéo dài trong toán pháp dưới thời tư sản. Tính chất thưởng ngoạn ấy bộc lộ cơ sở giai cấp của nó một cách rõ ràng. Trong thời Hy Lạp, tính chất giai cấp ấy phát hiện ngay trong ngôn ngữ. Người Hy Lạp phân biệt hai thứ số học: khoa học số (arithmétique) và khoa học kỹ thuật tính toán (logistique). Khoa số tìm những tính chất trừu tượng điều hòa giữa các số như số nào là số chẵn, số lẻ, v. v...; nó không nhằm cái thực dụng, mà nhằm cái điều hòa đẹp đẽ giữa những con số. Còn kỹ thuật tính toán thì nhằm thực dụng, nhưng lại bị khinh rẻ, không được tính là «khoa học» chân chính. Nhà «khoa học chân chính» không tìm tính chất thực dụng mà chỉ nhằm những điểm thưởng ngoạn. Cũng như trên, về kỷ hà học thì phân biệt khoa kỷ hà (geométrie) và nghề đo diện tích (arpentage). Họ cho nghề đo diện tích là nghề của thường dân, còn các nhà khoa học nghiên cứu các hình theo quan hệ đẹp đẽ. Tính chất giai cấp của quan niệm ấy khá rõ rệt, và đây cũng là lý do hạn chế khoa học Hy Lạp trong tính chất khoa học thuần túy, tách rời lý luận và thực tế; tuy nhiên qua đấy cũng có xây dựng được những phương pháp lý luận chính xác.


 


Ở Nam Ý, cũng nhờ những dân Tây Á di cư sang lại phát triển một triết lý duy lý duy tâm nữa là triết lý của Xénophane.


 


XENOPHANE (khoảng 570 – 480 tr. CN)


 


Ông sinh trưởng ở thành Ephèse là một thành của Ionie đã nổi tiếng vì hoạt động ngân hàng. So với thành Milet: ta thấy Milet căn bản là thành buôn bán hàng hóa, còn Ephèse thì có những nhà tài phiệt lớn, và do đấy cũng kém phần dân tộc tính. Bọn tài phiệt này cấu kết với bọn vua Lydie, và sau này câu kết với Ba Tư. Trái với thành Milet có dân tộc tính cao, có đấu tranh anh dũng chống Ba Tư (cho đến năm 494 tr. CN bị Ba Tư chiếm và tiêu diệt), thì đặc điểm của Ephèse là giai cấp thống trị cấu kết với đế quốc bên ngoài.


 


HÉRACLITE (khoảng 535 – 475 tr. CN)


 


Héraclite là một nhà đại quý tộc, họ nhà vua (vua tượng trưng). Chính Héraclite lại là trưởng họ nên được danh dự lấy danh hiệu làm vua, nhưng vì chán ghét cái hư danh ấy nên ông đã để lại cái ngôi tượng trưng ấy cho ông em.


 


Héraclite lại có thái độ khuyến khích nhân dân chống đế quốc (đế quốc Ba Tư). Héraclite là thuộc thành phần quý tộc, nhưng phần nào ông đã tách rời giai cấp của mình. Đây là một cơ sở tiến bộ. Tuy nhiên, con người ông vẫn giữ tính chất quý tộc. Điều chứng tỏ rõ ràng là Héraclite tuy có thái độ khuyến khích nhân dân chống đế quốc, nhưng lại khuyến khích một cách tự cao tự đại.


 


Theo truyền thuyết thì một hôm Ephèse bị quân Ba Tư đến đánh, tình thế rất nguy cấp mà ở trong thành thì bọn nhà giàu vẫn cứ sinh hoạt rất xa xỉ. Trong khi ấy thì nhân dân đói khổ. Trong cuộc hội nghị của thành thảo luận việc đối phó với tình trạng trên, hội nghị có hỏi ý kiến của ông. Héraclite không nói qua một lời, chỉ lấy bột hòa với nước làm món ăn. Hội nghị lúc bấy giờ mới hiểu ý khuyến khích của ông: muốn thắng kẻ thù thì phải bớt xa xỉ. Quân thù khi biết được tin Héraclite đã dạy cho nhân dân bài học trên thì cũng tự động mà rút lui.


 


Truyền thuyết trên cho ta thấy rõ Héraclite có lòng yêu nước nhưng rất khinh quần chúng. Tính chất ấy còn được thể hiện ở một truyền thuyết khác: một hôm Héraclite ngồi chơi với trẻ con trong dinh. Người ta hỏi vì sao ông chơi với trẻ con thì ông ta đáp lại: có gì lạ đâu, chơi với trẻ con còn hơn cầm quyền với những người như các anh. Thật ra lối hành văn này một phần là do ở tư tưởng sâu sắc, nhưng mặt khác cũng là do ở thái độ khinh người của ông nữa. Cũng vì lẽ trên mà Héraclite đã được mệnh danh là «Héraclite, nhà tối nghĩa».


 


Thành tích của Héraclite trong triết học là đã xây dựng được tư tưởng biện chứng pháp, và căn bản thì có tính chất duy vật, dĩ nhiên là không hoàn toàn. Héraclite đã xây dựng những khái niệm căn bản của biện chứng pháp: khái niệm vạn vật biến chuyển, mâu thuẫn nội bộ trong mỗi vật, không phải là mâu thuẫn giữa cái này và cái kia, mà là trong sự đồng nhất có mâu thuẫn mà chính nó đồng nhất là vì nó mâu thuẫn với nó.


 


Tư tưởng của Héraclite cũng đại diện cho hướng duy vật của Ionie, nhưng rất khác với phái Milet. Phái Milet là phái tư sản tiến bộ, tư sản cách mạng, duy vật chủ nghĩa. Tuy họ có quan niệm được vạn vật biến chuyển, nhưng thực tế lại quan niệm biến chuyển máy móc.


 


Vị trí giai cấp của Héraclite khác hẳn. Héraclite là nhà quý tộc cảm thấy mâu thuẫn nội bộ trong giai cấp quý tộc tan rã. Héraclite trực tiếp không thuộc vào giai cấp đang lên, nhưng tư tưởng triết học của Héraclite có tiến bộ ở chỗ có phản ánh phong trào nhân dân, có nội dung nhân dân qua những mâu thuẫn chia  rẽ giai cấp quý tộc, do đấy thái độ của Héraclite là tách rời giai cấp của mình, nhưng vẫn giữ tính chất xa rời quần chúng. Đó chính là yếu tố để giải thích tại sao ở thời bấy giờ mà lại có được một tư tưởng biện chứng sâu sắc đến thế. Nói chung, trong những xã hội có giai cấp thì giai cấp tiến bộ căn bản cũng là giai cấp bóc lột, thành ra tuy nó nắm được lập trường duy vật nhưng không nắm được phương pháp biện chứng. Lý tính mà nó nắm vẫn là lý tính máy móc, nó là phản ánh phương pháp bóc lột chỉ huy máy móc, qua phương pháp ấy nó nắm được bước tiến của sức sản xuất, nhưng lại nằm trong phạm vi máy móc. Cũng vì vậy mà lúc có trường hợp tư tưởng biện chứng xuất hiện trong những xã hội đối kháng, thì ít khi nó xuất phát từ giai cấp tư sản là giai cấp lãnh đạo cách mạng bấy giờ. Thực tế nó xuất phát từ những phần tử quý tộc tiến bộ, hoặc tư sản dính líu với quý tộc nhưng có tư tưởng tiến bộ, do đấy mới nắm được quá trình tan rã, mâu thuẫn nội bộ trong bản thân mình.


 


Vị trí quý tộc có thể cho chúng ta hiểu vì sao mà phong trào nhân dân lại biểu hiện được dưới hình thức biện chứng, nhưng tất nhiên nó không phải là nguồn gốc, là cơ sở của tư tưởng biện chứng. Nó là nơi phát triển mâu thuẫn nội bộ, phản ánh phong trào nhân dân. Cũng vì thông qua vị trí giai cấp ấy cho nên tất nhiên tư tưởng biện chứng không được thuần, ít hay nhiều nó mang tính chất duy tâm. Mà vì mang tính chất duy tâm nên các khái niệm biến chuyển, mâu thuẫn nội bộ cũng không được biểu hiện một cách chính xác, không phát hiện được hướng tiến bộ thực sự. Tính cách ấy rõ rệt trong những câu còn để lại của Héraclite: «Người ta không thể nào xuôi hai lần cùng một con sông». Những người xuôi hai lần cùng một con sông thì vẫn gặp luồng nước khác nhau.


 


Khái niệm vạn vật biến chuyển được đề ra một cách rõ ràng, nhưng ở đây chúng ta không thấy hướng của biến chuyển, biến chuyển thế nào? đi đâu? tiến hay thoái? Hình như ở đây chỉ có tính chất biến chuyển thôi, chưa phải là biến chuyển xây dựng mà chỉ là khái niệm thuần túy về biến chuyển, cho nên văn bản có tính chất bi quan. Vì cái gì cũng biến chuyển mà ta không nắm được gì, không đạt được thành tích gì hết. Theo truyền thuyết thì Héraclite suốt ngày chỉ ngồi khóc (khác với Democrite suốt ngày chỉ cười). Khóc vì thấy vạn vật biến chuyển nhưng không biết nó biến chuyển đi đâu.


 


Về tư tưởng mâu thuẫn thì Héraclite có những câu như: chúng ta xuôi và không xuôi cùng một con sông ; chúng ta có và không có ; những đôi lứa là đầy đủ và không đầy đủ ; nó là đoàn kết và đối kháng, nó là điều hòa và bất hòa ; từ mọi vật xuất hiện thống nhất và từ thống nhất xuất phát mọi vật ; chiến tranh là điều hòa và công lý là đối kháng ; mọi vật được xây dựng và thủ tiêu bằng đối kháng ; người ta (những người thường dân) không hiểu rằng cái mà tự mâu thuẫn với mình là điều hòa với mình và điều hòa là do chỗ đối lập như cái cung hay cái đàn ; chính cái xấu là tốt ; từ những điểm mâu thuẫn phát sinh cái điều hòa đẹp nhất và cái điều hòa thầm tàng là quý hơn cái điều hòa trông thấy.


 


Điểm sâu sắc ở đây là Héraclite thấy được cái mâu thuẫn xuất phát từ cái đồng nhất, cái mâu thuẫn căn bản là có tính chất nội bộ. Một vật tồn tại là nhờ bao hàm những mâu thuẫn mà nó thống nhất được. Nói thống nhất là nói mâu thuẫn. Cùng một quy luật gây những điểm đối lập. Nhưng chỗ thiếu sót và trừu tượng là không quy thành định luật thống nhất mâu thuẫn, tức là mâu thuẫn xuất phát từ cái đồng nhất nhưng không phải là xuất phát một cách lung tung, trái lại nó xuất phát có quy luật, và có những giai đoạn mâu thuẫn được thống nhất hay không được thống nhất. Nếu không được thống nhất thì vật sẽ tiêu dần và chuyển sang một hình thức khác, một trình độ khác. Ở đây, Héraclite chỉ nắm một cách trừu tượng tính chất đồng nhất, giữa đồng nhất và mâu thuẫn. Nhưng Héraclite không đặt quy luật biến chuyển mâu thuẫn, do đó, phát hiện những quy luật ấy chỉ phát triển tư tưởng bi quan, và không cung cấp được công cụ xây dựng tích cực


 


Giới hạn của triết học Héraclite là xuất phát từ giới hạn hẹp hòi của cơ sở kinh tế (cơ sở giai cấp) của ông, và cũng là giới hạn chung của tư tưởng biện chứng trong những xã hội đối kháng trước; về căn bản khái niệm ấy xuất phát từ nhân dân, nhưng thông qua trạng thái tan rã của bộ phận giai cấp thống trị đang xuống. Do đấy có tính chất bi quan. Nhưng nội dung chân chính vẫn là nội dung thực tế của phong trào tiến bộ. Một bằng chứng là chính Héraclite cũng quan niệm biến chuyển và mâu thuẫn giống như biến chuyển thực tế trong phương thức sản xuất mới, phương thức sản xuất hàng hóa, trao đổi hàng hóa theo quy tắc tiền tệ, lấy tiền tệ làm tiêu chuẩn. Héraclite nói: «Mọi sự vật đều trao đổi cùng lửa và lửa cũng trao đổi với mọi sự vật; cũng như hàng hóa đổi lấy vàng và vàng đổi lấy hàng hóa». Tức là: chính kinh tế tiền tệ là cơ sở thực tế của quan điểm biện chứng duy vật mà Héraclite đã đề ra trong một câu là: «Thế giới này là cùng một thế giới cho tất cả vật thể; nó không phải do thần thánh nào làm ra mà bao giờ nó cũng có; nó là lửa vĩnh viễn, sinh động, bén lên và tắt xuống theo những quy luật nhất định». Chính Lénine đã nói rằng câu này đã trình bày được những nguyên lý căn bản của chủ nghĩa duy vật biện chứng. Lửa đây chính là vật chất căn bản, luôn luôn biến chuyến theo quy luật nhất định.


 


Từ đâu xuất phát quan điểm ấy? Rõ ràng là xuất phát từ phương thức sản xuất tiền tệ, từ hoạt động trao đổi tiền và hàng hóa. Tiền là chất đồng chất trong ấy tất cả hàng hóa biến chuyển và thống nhất. Tất nhiên không phải vì tìm ra được đồng tiền mới có phương pháp quy định giá cả, mà chính là vì đã có trao đổi rồi mới có đồng tiền. Vì trao đổi nhiều đến mức cần phải đơn giản hóa hoạt động trao đổi nên mới cần có đồng tiền. Có tiền tệ chính là vì tổ chức sản xuất đã đến mức thực tế thoát khỏi cộng đồng sản xuất tự nhiên (sản xuất tự cấp tự túc), và xây dựng hoạt động trao đổi thành hệ thống. Căn bản là quan điểm trên xuất phát từ công trình sản xuất của nhân dân, mà cũng vì xuất phát từ công trình sản xuất của nhân dân nên nó mới phát hiện được quan điểm mâu thuẫn. Vì đi đôi với sự phát triển của sức sản xuất, có sự đấu tranh đánh đổ quan hệ sản xuất cũ,  đấu tranh ấy gây nên mâu thuẫn trong xã hội làm cho quan điểm cũ phải biến chất (cái trước kia được coi là tĩnh nay phải biến đi, nó không phải là nó nữa).


 


Những sự biến chuyển ấy chỉ là một nhịp biến chuyển của chất tiền tệ. Thực chất chung của nó là tiền tệ. Vì nó xuất phát từ sự phát triển của công trình sản xuất và đấu tranh của nhân dân, thành ra chủ nghĩa biện chứng của Héraclite có tính chất duy vật tuy là duy vật tượng trưng (tượng trưng vật chất bằng hình ngọn lửa), nhưng về căn bản quan điểm ấy là duy vật. Vì quan điểm biện chứng duy vật ấy lại thông qua cương vị quý tộc tan rã – mà nó phải thông qua cương vị quý tộc ấy (nếu không thông qua cương vị quý tộc mà thông qua cương vị tư sản thì không đi đến quan điểm biện chứng, chỉ nắm được quan điểm máy móc do phương thức tổ chức máy móc của sản xuất hàng hóa đưa lại), nên Héraclite mới nắm được mâu thuẫn nội bộ trong bản thân mình. Với cương vị ấy, Héraclite nắm được quan điểm duy vật biện chứng, nhưng cũng vì đứng trên cương vị ấy mà nắm một cách lệch lạc, không có hướng, chỉ nắm được mâu thuẫn thuần túy mà không nắm được mâu thuẫn đi đến đâu, tính chất mâu thuẫn của biến chuyển ra sao.


 


Về phần duy vật thì quan điểm của Héraclite cũng là hạn chế: Héraclite quan niệm biến chuyển như là biến chuyển thực tế mà ông hình dung bằng hình ngọn  lửa, nhưng đồng thời lửa ấy lại được ông quan niệm như thần thánh và thần thánh này, một lần nữa, tại tách rời thực tế, tách rời nhân loại.


 


Một bằng chứng là lý luận của Héraclite về lý tính : Thần lá lý tính và cái mà Héraclite nắm được (quy luật mâu thuẫn biến chuyển) được ông coi là lý tính tuyệt đối của thần, ví dụ Héraclite nói: «Nhân loại không có lý tính, thần có lý tính. Đối với thần thì cái gì cũng tốt đẹp. Còn người thì quan niệm cái này là tốt, cái kia là xấu». Tuy nhiên, Héraclite cũng nhận rằng người có thể học tập được lý tính ấy. Đạo đức là hiểu biết được lý tính, mọi người đều có thể đi đến chỗ biết mình và thực hiện lý tính. Tức là về căn bản, Héraclite có đạt được quan điểm duy vật, nhưng vẫn duy trì những di tích của tư tưởng thần thánh.


 


Vai trò vả ảnh hưởng của Héraclite trong lịch sử triết học có một tầm quan trọng đặc biệt. Chính Héraclite sẽ thành đối tượng đấu tranh của cả truyền thống duy lý duy tâm. Theo như Héraclite thì không nắm được chân lý nào hết, chân lý bị thủ tiêu. Mục đích yêu cầu của các triết gia duy tâm sau này chính là phê phán Héraclite, cho đến Hégel trở lại truyền thống Héraclite nhưng trên cương vị duy tâm.


 


Ngay thời cổ đại, trong đời Héraclite đã có một cuộc đấu tranh gay go chống những mệnh đề biện chứng, chống tư tưởng của ông. Truyền thống duy tâm ấy chính là truyền thống triết học Nam Ý. Trong thế kỷ thứ VI tr. CN, ở Nam Ý đã có một truyền thống duy tâm (với Pythagore và Xénophane) chống phái duy vật  Milet. Đến thế kỷ thứ V tr. CN, lại có phái Élée chống tư tưởng duy vật biện chứng của Héraclite, với hai triết gia Parménide và Zénon.


 


Hai triết gia này tiêu biểu cho một luồng tư tưởng quan trọng trong lịch sử triết học - luồng đối lập với tư tưởng biện chứng, nhưng đồng thời nó cũng có biện chứng pháp của nó; nó là một biện chứng pháp chống khái niệm biến chuyển. Cụ thể, chính danh từ «biện chứng pháp» xuất phát từ Zénon, vì biện chứng pháp, theo nghĩa nguyên thủy của nó, là phương pháp tư tưởng chủ quan để xây dựng chân lý với lập luận của tư tưởng, không cần đến thực tế, đến kinh nghiệm. Sau này, với Platon và Hégel, nó trở thành lý tính của thực tế, và do đó biện chứng pháp thành biện chứng pháp của thực tế, của lịch sử, nhưng trước Mác thì lại chỉ phát triển trong phạm vi duy tâm. Đối lập với truyền thống Ionie ở thế kỷ thứ V tr. CN thì có phái Élée ở Nam Ý.


 


Phái Élée, cũng như phái Pythagore, là đại biểu cho tư tưởng tư sản quý tộc hóa, nhưng còn một phần tính chất tiến bộ nào đấy. Nhưng nếu so sánh với Héraclite thì nó là thoái bộ. Trong lịch sử triết học, sau Pythagore, nó là nguồn gốc của tư tưởng siêu hình phủ định biến chuyển và mâu thuẫn, đề cao lý tính thuần túy bất di bất dịch. Nhưng giai cấp tư sản quý tộc hóa ở Nam Ý, do những điều kiện đặc biệt ở những căn cứ mới thành lập, còn là tương đối tiến bộ đối với tổ chức công xã nguyên thủy trước. Vậy nó được đại diện trong tư tưởng bằng một triết học  tuy duy tâm nhưng cũng có một số yếu tố tích cực. Yếu tố tích cực là ở chỗ nó nắm được hình thức chính xác của lý tính. Đây cũng chỉ là hình thức thôi, đồng thời hình thức đó lại bị tuyệt đối hóa, thần thánh hóa, nhưng là lần đầu tiên hình thức ấy được nắm vững, và qua đấy tư tưởng Hy Lạp đã phát triển xây dựng cái hình thức chính xác của lý luận. Trong những triết gia tiến bộ mà chúng ta đã thấy ở Ionie (phái Milet và Héraclite), một mặt có tư tưởng tiến bộ (tư tưởng duy vật biện chứng, giải phóng con người khỏi những mơ mộng tôn giáo), nhưng một mặt khác, cách trình bày và những khái niệm mà họ đề ra còn rất lúng túng, lý luận còn lẫn lộn với trực quan, không được chính xác. Chính phái duy tâm lại cố gắng xây dựng một hình thức chính xác cho lý luận.


 


Bước đầu Pythagore đã xây dựng số học. Số học bị tuyệt đối hóa, siêu hình hóa, thần thánh hóa, nhưng qua đấy nó cũng tiếp thu được một hình thức chính xác quý hóa. Sau đấy, Parmenide đấu tranh chống Héraclite (phần đầu thế kỷ V tr. CN) thì cũng có công làm nổi bật cái hình thức chung của khái niệm lý tính nói chung. Hình thức ấy là ở chỗ được quy định một cách chính xác ngoài sự biến chuyển, vì nó là quy luật của biến chuyển6. Nó không thể biến chuyển được vì nó là quy luật của biến chuyển. Tức là về hình thức nó phải bất di bất dịch. Vì biến chuyển có quy luật không biến chuyển nên ta mới nắm được cái biến chuyển. Nếu cái gì cũng biến chuyển thì không nắm được gì hết. Điểm này về hình thức là đúng, nhưng về nội dung căn bản nó phải được hạn chế. Vì quy luật biến chuyển là hình thức của biến chuyển, vậy cũng không thể tách rời biến chuyển. Nhưng trong phạm vi hình thức thì nó không biến chuyển, vì có thế mới là quy luật của biến chuyển. Lúc ta nắm được một quy luật ta phải thông qua kinh nghiệm biến chuyển, và một khi thông qua kinh nghiệm biến chuyển và nắm được quy luật tức là nắm được cái gì quy định quá trình chuyển biến, vậy phải có hình thức tương đối bất di bất dịch và khái niệm lý tính cũng phải có hình thức ấy mới thành khái niệm hẳn hoi, mới có thể làm cơ sở lý luận được. Nếu khái niệm không được quy định một cách dứt khoát thì không thể nào lý luận được. Sự thật hình thức ấy chỉ có giá trị tương đối, vì mỗi lần xây dựng lý luận phải có hình thức bất di bất dịch, nhưng sau đấy vẫn phải xây dựng lại các khái niệm trên cơ sở kinh nghiệm thực tế chuyển từ trình độ lý luận này lên trình độ lý luận cao hơn. Phái duy tâm chỉ nắm được một điểm đúng là ở mỗi trình độ nhất định, những khái niệm căn bản được đặt như là bất di bất dịch, và không có hình thức ấy thì không thành lý luận được. Công trình của Parménide và phái Élée là nêu cao hình  thức ấy một cách chính xác, nhưng đồng thời vì thần thánh hóa nó, thành ra cũng gây nên một truyền thống thành kiến trong lịch sử tư tưởng, cho rằng lý luận về bản chất của nó phải tách rời  thực tế, nằm ngoài lịch sử.


 


PARMÉNIDE (khoảng 520 – 450 tr. CN)


 


Về Parménide, ta có may mắn còn được một văn bản là một bài thơ giống như thơ đạo (kiểu Kinh Thánh) tương đối đầy đủ. Trái lại, từ Thalès đến Héraclite thì chỉ còn lại một vài câu rời rạc linh tinh do các nhà dã sử tùy hứng chép lại,   thành ra việc xây dựng lại lý luận để trình bày bây giờ rất khó, phải ức đoán nhiều. Trong bài thơ của Parménide, có kể lại một giấc linh báo trong ấy ông được mấy cô nương con mặt trời đưa đến giới thiệu với một nữ thần chỉ huy trí tuệ. Bà này cho ông biết có 2 con đường: chân lý và dư luận (dư luận là những nhận xét linh tinh mơ hồ của người thường, dựa vào kinh nghiệm, trái lại chân lý không dựa vào kinh nghiệm mà là đúng trong bản chất). Parménide giới thiệu chân lý theo kiểu thi văn như sau:


 


«Ngày xưa nó không có, và sau này nó sẽ không có, vì bây giờ nó có toàn bộ. Nó là duy nhất, liên tục, làm sao tìm cho nó một ngày đẻ, từ đâu? Nhất định nó không thể nói hay nghĩ rằng nó không có. Vì làm sao nó xuất hiện được lúc này hơn là lúc khác. Nhất định nó phải là hoàn toàn có hay là hoàn toàn không có».


 


Trong đoạn này, Parménide một mặt nêu được một hình thức tất yếu của tư tưởng lý tính tức là theo quy luật bất mâu thuẫn: có là có, không có là không có. Nhưng vì tuyệt đối hóa hình thức ấy, nên Parménide kết luận: Chỉ có cái gì có, không có cái không có, vì không có thì nói làm gì nữa, mà nói đến tức là có rồi. Mà đã nói là nó có, thì bao giờ nó cũng phải có, vì nếu nói trước kia không có mà bây giờ có, thì cái có xuất phát từ cái không có. Như thế không thể được. Vì cái «không có» không thể đẻ ra cái «có» được. Vậy cái có bao giờ cũng phải có, không có dĩ vãng. tương lai, bất sinh, bất tử. Thực tại là đồng nhất, liên tục. Tức nó là một, không có hai; nếu có hai thì cái này không phải là cái kia, mà không phải là cái kia thì lại là «không có» chứ không phải là «có».


 


Những lý luận này nói ra có vẻ luẩn quẩn, nhưng qua đấy lại xây dựng được hình thức lập luận chính xác, vì chính trong hình thức lập luận chính xác, toàn bộ hệ thống lập luận phải là một, liên tục, bất sinh bất tử. Nếu nó là chân lý, nó phải được trình bày bằng khái niệm, tức là dưới một hình thức bất sinh bất tử. Nhưng đây cũng vẫn là một hình thức xây dựng trên cuộc biến chuyển thực tế. Xây dựng như thế thì có căn cứ, vì trong sự biến chuyển thực tế có những hình thức nhất định tương đối bất dịch (trong một phạm vi nào đấy) mà chúng ta có thể quy định trong tư tưởng bằng những khái niệm nhất định.


 


Những quy luật khoa học phản ánh những quy luật thực tế của những hình thái vật chất biến chuyển. Tức là trong thực tế, quy luật nằm trong biến chuyển, nó là quy luật của biến chuyển. Nhưng xây dựng hệ thống khái niệm phản ánh thực tế trong tư tưởng, thì nhất định hệ thống ấy có hình thức tách rời biến chuyển, hình như là bất di bất dịch. Vì nó là một hệ thống đồng nhất và liên tục trong phạm vi trừu tượng của nó, vậy hình như không thay đổi được. Nhưng khi tìm ra được hình thức trừu tượng ấy, Parménide lại cho nó là một hình thức thực tế, nên ông kết luận rằng nó không thể chia sẻ được, vì nó là toàn bộ thống nhất không thể nào có cái gì đây đó, thêm bớt, mà thực không thiếu một cái gì, vì thiếu một cái là thiếu hết. Thiếu một cái gì là thiếu thực tại. Nếu thực tại thiếu thực tại thì nó không phải là thực tại nữa. Chỗ này, Parménide đã nêu ra được một điểm quan trọng trong lý tính: đòi hỏi lý tưởng của lý tính là xây dựng một hệ thống lập luận toàn diện, thiếu một cái gì cũng không được. Đó là lý tưởng trừu tượng. Chính lý tưởng ấy quy định tính chất trừu tượng của hình thức lập luận. Nhưng nó cũng chỉ là hình thức thôi. Vì Parménide đã biến hình thức tư tưởng ấy thành thực tại, nên đi đến phủ định hết cả bản chất của thực tế là biến chuyển và mâu thuẫn. Đây là nguồn gốc siêu hình học. Siêu hình học biến hình thức lý luận trừu tượng thành thực thể trong thực tế, gạt bỏ tính chất mâu thuẫn và biến chuyển của thực tế, giành độc quyền thực tại cho hình thức lý luận thuần túy.


 


Qua đấy, tư tưởng Hy Lạp cũng có xây dựng được trong phạm vi lý luận những kiểu mẫu hình thức chính xác, đặc biệt là Toán học, Luận lý học và Triết học nữa.


 


Những khái niệm triết học duy lý duy tâm là hình thức, nhưngchính xác. Đấy là một đường lối xây dựng khoa học lý tính, qua đấy mà thực hiện được bước đột biến đi từ những nhận xét thực dụng, thực nghiệm lên đến hệ thống khái niệm lý tính. Nhưng đồng thời nó lại đặt vấn đề triết học là cái thực tại quy định bằng lý luận, tức là dưới hình thức hệ thống khái niệm bất di bất dịch, liên tục, đồng nhất, có quan hệ gì với cái thực tại thiết thực mà chúng ta thấy trong đời sống? Vì ai cũng biết rằng trong đời sống có biến chuyển, có mâu thuẫn. Nếu có bất di bất dịch mới là chân lý, thì chân lý đó ứng dụng làm sao? Mà chân lý của đời sống là thế nào?


 


Theo Parménide, nó chỉ là dư luận (thành kiến của người thường), nhưng không phải vì thế mà thủ tiêu được vấn đề. Ở đây, ta thấy nguồn gốc cơ sở thực tế và xã hội của khái niệm khoa học thuần túy. Sở dĩ vấn đề xuất hiện và được xây dựng với những khái niệm chính xác như thế, chính là vì quan hệ thống trị tức quan hệ chủ nô và nô lệ đã phát triển đến một mức điển hình trong lịch sử Hy Lạp. Qua những quan hệ ấy, hệ thống tổ chức - tức là hệ thống khái niệm quy định quá trình sản xuất - tách rời thực tế vật chất của sản xuất, do chỗ chủ nô tách rời nô lệ. Cuối cùng, vì chủ nô tách rời thực tế của sản xuất (phải tách rời để thống trị), nên hệ thống chân lý đạt được trong công cuộc tổ chức sản xuất cũng tách rời thực tế sản xuất, và chỉ có thể quan niệm được thực chất của chân lý ấy một cách siêu hình ngoài thực tế, tức là một thực tại tuyệt đối bất sinh bất tử. Thực tại tuyệt đối ấy cũng chỉ để thưởng ngoạn mà không dùng được vào việc gì cả.


 


Cuộc tranh luận giữa Héraclite và Parménide bề ngoài là cuộc tranh luận nội bộ trong giai cấp thống trị (hai ông đều là đại biểu cho tư sản quý tộc hóa), biểu hiện hai hướng đối lập trong bộ phận tan rã của giai cấp thống trị, nhưng hai hướng ấy lại phản ánh gián tiếp cuộc đấu tranh chung trong xã hội: đấu tranh giữa giai cấp thống trị và giai cấp bị trị. Vì thế cuộc tranh luận có ý nghĩa chân chính của nó. Trong những xã hội có giai cấp, nhất là trong xã hội nô lệ (trong xã hội này, nô lệ không có quyền làm người, quyền tư tưởng), nhất định tư tưởng chỉ xây dựng được trong phạm vi ý thức hệ của giai cấp thống trị, nhưng chân lý của những mâu thuẫn nội bộ trong giai cấp thống trị là ở đấu tranh chung trong xã hội, và thông qua những mơ mộng hay những giới hạn hẹp hòi của ý thức hệ thống trị, thì nó biểu hiện hoặc về hình thức, hoặc về nội dung chân lý đạt được với phương thức sản xuất phát triển lúc bấy giờ trong lịch sử, tức là với công trình lao động và đấu tranh của nhân dân lúc đó.


 


Thành tích của Parménide là phân biệt hai đường: chân lý và dư luận. Giữa hai con đường có phần phân biệt chân chính (khoa học chính xác và ý tưởng kinh nghiệm chủ nghĩa), nhưng đồng thời cũng có phần phân biệt bất chính (giữa hình thức tư tưởng tuyệt đối hóa, bất di bất dịch và mơ hồ biến chuyển). Với quan niệm chân lý lý tưởng bất di bất dịch, chân lý khoa học thực ra trở thành mơ hồ, vì nó đối lập với thực tế. Nhưng triết học duy lý duy tâm lại cố sức củng cố tính chất mơ hồ, đối lập với thực tế ấy. Nó cố chứng minh rằng: chính như thế mới là thực tại, còn cái thực tế xuất phát trong kinh nghiệm thì không có thực tại, chỉ là «dư luận» thôi. Parménide khẳng định như vậy. Về sau, truyền thống duy tâm lại tìm ra những hình thức bằng chứng phức tạp. Một người tìm ra bằng chứng nổi tiếng và được xem là người sáng lập ra «biện chứng pháp» là Zénon.


 


ZÉNON (khoảng 490 – 430 tr. CN)


 


Zénon là học trò của Parménide, sống vào giữa thế kỷ thứ V tr. CN, nổi tiếng vì 4 lập luận chứng minh rằng không có biến chuyển, các biến chuyển kinh nghiệm trước mắt chúng ta chỉ là mơ hồ.


 


Bốn lập luận đó như sau:


 


1) Lập luận về cái sân vận động. Một người chạy thi là một ví dụ của biến chuyển. Zénon chứng minh rằng người ấy không bao giờ chạy hết được quãng đường mình phải chạy. Ví thử người đó muốn chạy từ A đến B thì phải qua điểm giữa của AB: điểm C; nhưng từ C đến B lại cũng phải qua điểm giữa của CB: điểm D; và từ D đến B lại vẫn phải qua điểm giữa của DB: điểm E; và cứ như thế mãi, không bao giờ người đó có thể đến được đích B.


 


         A                                                  C                           D           E            B               |__________________________|______________|_______|_______|


 


Vì trước khi đến đích, phải qua vô số điểm giữa, mà gần đích đến đâu thì vẫn còn điểm giữa.


 


2. Lập luận Achille và con rùa. Achille trong anh hùng ca của Homère nổi tiếng là chạy nhanh, được mệnh danh là Achille chân nhanh. Mà con rùa là một điển hình đi chậm. Nhưng Zénon chứng minh rằng Achille không bao giờ đuổi kịp con rùa. Ví thử Achille  ở A, Rùa ở R. Nếu Achille tới B thì rùa đã đi xa đi một tí: R', tới  R thì con rùa lại đã đến R’’, và cứ như thế thôi thành ra không bao giờ Achille đuổi kịp được.


 


3. Lập luận về tên bay mà không động. Zénon chứng minh rằng nếu bắn một cái tên, tên đó bay nhưng thực ra không chuyển động gì, ở bất kỳ một thời điểm nào. Trong khi bay thì tên ở một chỗ nhất định. Ví dụ như ở điểm D, D là 1 điểm trong không gian, tức là bất động, đo đó tên ở điểm ấy cũng là bất động nốt. Vậy bất kỳ ở một thời điểm nào trong lúc tên bay, tên ấy cũng bất động. Các điểm trong không gian bất động nên tên bay bất động.


 


4. Thời gian nửa bằng gấp đôi. Ví thử ta coi 2 người chạy theo hướng ngược nhau trên một sân vận động. Đến một lúc nào đấy, họ gặp nhau trước một đích. Ví dụ đích là một hòn đá có bề ngang bằng thân thể của mỗi người. Như thế khi hai người gặp nhau phải mất một thời gian để vượt nhau. Thời gian từ lúc bắt đầu gặp nhau đến lúc rời nhau là thời gian vượt nhau. Trong thời gian 2 anh vượt nhau ấy, thì mỗi người chỉ vượt được nửa hòn đá. Nếu biểu hiện thời gian bằng đường đi qua với một tốc độ nhất định, thì thời gian vượt hòn đá gấp hai thời gian 2 người vượt nhau.


 


Bình luận về những lập luận của Zénon:


 


Bốn lập luận của Zénon có tiếng vang lớn lao trong lịch sử triết học, nó tiêu biểu cho lập trường siêu hình học đối lập với lập trường biện chứng.


 


Zénon chứng minh: Thực tại không thể biền chuyển.


 


Lý lẽ căn bản xuất hiện trong lập luận thứ 3: «cái tên bay mà không động» - mâu thuẫn ở đây là giữa vị trí của mũi tên ở mỗi chỗ và sự chuyển động của nó. Chính mâu thuẫn ấy quy định tính chất căn bản của sự vận động. Mâu thuẫn ấy chính là lực lượng áp dụng vào thực thể trong mỗi lúc. Công trình của Zénon là nêu ra một mâu thuẫn có thực; đáng lẽ mâu thuẫn ấy định nghĩa biến chuyển, nhưng ở đây lại được trình bày như đối lập với biến chuyển. Trong quan niệm của Zénon, cái có thì có, cái đã không có thì không có: một vật ở một vị trí thì không thể ở vị trí khác được; nghĩa là bao giờ cũng là bất động. Quan niệm này có phải là hoàn toàn giả tạo không? Tất nhiên, nó cũng phải có một cơ sở nào đó, vì lúc ta định nghĩa một vị trí thì nó là bất động, và lúc quy định một vật thể đang chuyển động ở một lúc nào đấy, thì ta quy định nó ở vị trí ấy. Nhưng trong thực tế, chính vị trí chúng ta quy định trong cuộc chuyển động và trên đường chuyển động là một lúc, và ở một vị trí của cuộc chuyển động. Một khi đã định nghĩa một lúc và một vị trí trong cuộc chuyển động, thì ta có thể tuyệt đối hóa và trừu tượng hóa nó; tách nó ra thành 1 lúc và 1 vị trí tuyệt đối. Chúng ta tách ra là đúng nhưng tuyệt đối hóa định nghĩa trừu tượng thì đi đến chỗ phủ định mâu thuẫn căn bản của chuyển động, thực tế của chuyền động. Đấy là phần thoái bộ khi tuyệt đối hóa một khái niệm trừu tượng; khái niệm được trừu tượng hóa là đúng, nhưng tuyệt đối hóa khái niệm trừu tượng là phủ định thực tế, tách rời cơ sở thực tế của khái niệm, do đấy mâu thuẫn thực tế là có thật lại bị sử dụng để phủ định thực tế. Công trình của Zénon là đã phân tích mâu thuẫn một cách sâu sắc, và ông được đề cao là người sáng lập ra «biện chứng pháp», tuy rằng lập trường của ông là siêu hình.


 


Nếu chúng ta phân tích 3 lập luận còn lại, chúng ta cũng thấy những nét tương tự: Zénon đã nêu ra những mâu thuẫn thực tế và căn bản. Ví dụ trong hai lập luận đầu tiên (lập luận sân vận động, Achille và con rùa), Zénon nêu mâu thuẫn giữa cuộc chuyển động và con đường chuyển động: chuyển động thì liên tục, nhưng con đường chuyển động thì bao giờ cũng có thể chia cắt vô hạn. Nhưng cái vô cùng của những đoạn mà ta có thể chia được lại mâu thuẫn với tính chất liên tục của cuộc chuyển động, và con đường chuyển động thì bao giờ cũng có thể chia cắt vô hạn. Nhưng cái vô cùng của những đoạn mà ta có thể chia được lại mâu thuẫn với tính chất liên tục của cuộc chuyển động. Chính mâu thuẫn ấy phát triển mẫu thuẫn căn bản: ở mỗi một vị trí, giữa vị trí và thực tế chuyển động, vật chuyển động vừa ở đây vừa không phải ở đây. Có thể nói: vật ấy đi con đường ấy, nhưng không phải là con đường ấy; thành ra chúng ta có thể chia con đường ấy, nhưng cuộc đi lại là liên tục. Về mặt khoa học, tất nhiên có thể tính một loạt vô cùng và chứng minh rằng: cộng loạt vô cùng ấy thì lại là một con số hữu hạn. Ví dụ a là bề dài của sân vận động, thì:


 


 


 


Nhưng vấn đề căn bản vẫn là: làm sao trải qua được một loạt vô cùng; không công nhận mâu thuẫn trong nội bộ sự việc thì không hiểu được.


 


Chuyển sang lập luận thứ 4: mâu thuẫn giữa các thời gian ở những vị trí khác nhau. Trước một hiện tượng chuyển động với một tốc độ nhất định thì thời gian là quy định theo từng vị trí khác nhau; để thống nhất thì phải thống nhất tất cả những thời gian, chứ không có 1 thời gian đặc quyền, đứng một chỗ mà quy định những thời gian khác. Thời gian là một hình thức tồn tại của vật chất, nó thống nhất những quan điểm khác nhau theo vị trí khác nhau.


 


Tại sao lại có hiện tượng đặc biệt là người xây dựng nên phương pháp mâu thuẫn - Zénon - lại tiêu biểu nhất cho chủ nghĩa siêu hình?


 


Chúng ta trở lại tình hình xã hội Hy Lạp giữa thế kỷ thứ V tr. CN. Lúc bấy giờ ở Hy Lạp có một cuộc đấu tranh giai cấp, biểu hiện trong hiện tượng bề ngoài là cuộc đấu tranh giữa quý tộc và dân chủ. Thực tế thì quý tộc đã tư sản hóa từ lâu, và nói chung sau khi Hy Lạp thắng Ba Tư, đời sống chính trị đã được dân chủ hóa. Tuy nhiên, những thành thị hoặc theo quý tộc, hoặc theo dân chủ, và trong mỗi thành thị cũng có hai phe như vậy. Ở Nam Ý và Sicile, phe quý tộc tư sản hóa còn giữ một tác dụng tích cực nào đấy - vì nó còn vai trò xây dựng - nhưng về căn bản là thoái bộ. Tính chất thoái bộ ở đây không thể xuất hiện dưới hình thức cựu truyền như tôn giáo, vì nói chung đời sống đã được dân chủ hóa, thành ra vấn đề ở đây không phải là trở lại trực tiếp tôn giáo, nhưng là biến khoa học thành một khoa siêu hình; biến những đòi hỏi chân chính của lý tính (đòi hỏi có một hệ thống khái niệm chính xác) thành thực thể đã có.


 


Nhưng trong lúc chứng minh thực thể ấy - mệnh đề siêu hình: thực tại là duy nhất bất động, không mâu thuẫn không biến chuyển -, thì những nhà siêu hình học đầu tiên cũng đã phải phân tích biến chuyển, phân tích thực tế, và do đấy cũng có phần tác dụng tích cực trong lịch sử triết học. Họ không giải quyết vấn đề, nhưng đã đặt ra vấn đề một cách chính xác hơn là những nhà triết học duy vật đầu tiên, vì tuy là truyền thống duy vật và biện chứng ở Ionie phản ánh thực tế khách quan một cách căn bản đúng đắn, nhưng lại phản ánh một cách chung chung, thiếu đi vào phân tích cụ thể.


 


Ví dụ Thalès nói chung chung rằng: thực chất của thực tại là «nước», hay Héraclite nói: mọi vật đều mâu thuẫn, đều biến chuyển... Nói như vậy chưa xây dựng được khái niệm có tác dụng cụ thể về thực chất biến chuyển, mâu thuẫn, v. v...


 


Công trình của phái Élée là quy định rõ ràng những điều kiện của vấn đề: nói đến thực chất thì về khái niệm dứt khoát nó là duy nhất, là vĩnh viễn, nhưng làm sao thực chất duy nhất vĩnh viễn ấy lại xuất hiện dưới mắt chúng ta bằng những hiện tượng khác nhau và luôn luôn biến chuyển? Ấy là vấn đề mà phe dân chủ sẽ phải giải quyết, và giải quyết trên đòi hỏi căn bản là phải đi từ thực chất vĩnh viễn và duy nhất, chứ không thể nói chung chung thực chất là «nước», là «khí».


 


Công trình của phái Élée là đề ra những điều kiện để xây dựng thế giới quan khoa học, điều kiện ấy phải như thế nào? Sau đấy, giữa thế kỷ thứ V tr. CN, phong trào dân chủ và duy vật phát triển trên cơ sở đó, tức là phải giải quyết vấn đề biến chuyển của hiện tượng trên cơ sở đồng nhất của thực chất, chứ không thể nói chung chung… vạn vật biến chuyển mà không giải quyết được gì.


 


EMPEDOCLE (khoảng 490 – 430 tr. CN)


 


Một danh nhân nổi tiếng theo hướng ấy là Empédocle, ở thành Agrigente thuộc đảo Sicile: học trong phái Élée, nhưng sau này trở thành một lãnh tụ của phe dân chủ (ức đoán theo truyền thuyết)7, đồng thời là một nhà khoa học, một thầy phù thủy biết phép cứu hồn, dạy đạo Luân hồi (ông kể rằng: đời trước ông là vật này vật kia; trong một bài thơ, ông tự giới thiệu: «ta đây xuất hiện trước các người như một ông thần bất diệt»; theo truyền thuyết, cái chết của ông cũng đặc biệt: ông báo trước cho nhân dân biết là ông sẽ trở lại thần thánh, rồi mặc áo quần long trọng nhảy vào miệng núi lửa Etna).


 


Công trình của Empédocle là cố gắng xây dựng chủ nghĩa duy vật một cách tương đối chính xác hơn là truyền thống trước (thế kỷ thứ VI tr. CN), để thỏa mãn nhu cầu lý tính - hình thức lý luận mà phái Élée đã đề ra. Cái điểm mà Empédocle giữ lại của phái Élée là «thực chất của thực tại bất sinh bất tử»; nhưng làm sao đã bất sinh bất tử mà lại có biến chuyển? (cái có thì thực là có, và cái có sao lại không có được), Empédocle trả lời là: có những nhân tố khác nhau và có sự tổng hợp các nhân tố; sinh ra là vì có sự tổng hợp nhân tố một cách đặc biệt, và chết đi là vì nhân tố bị giải tán để thành khối khác; tức là về căn bản vẫn là bát sinh bất tử. Theo Empédocle, có 4 nhân tố: «lửa» - «khí» - «nước» - «đất»,  thực hiện 4 tính chất căn bản: nóng - lạnh - ướt - khô, và 2 nhân tố nữa là «yêu» «ghét». Yêu thì hợp nhau, ghét thì xa nhau; do đấy, các nhân tố tổng hợp và giải tán tùy theo yêu và ghét. Yêu và ghét cũng tính là nhân tố, vì đó là 2 chất thêm vào 4 chất kia. Ở đây, có yếu tố duy tâm, nhưng về căn bản chúng ta thấy một cố gắng đầu tiên để xây dựng một hệ thống duy vật tương đối chính xác, có quy củ.


 


Empédocle có công tìm ra một số ý kiến mà mãi đến thời cận đại mới phát triển, ví dụ thuyết lựa chọn tự nhiên trong tiến hóa động vật. Empédocle cho rằng: các bộ phận của cơ thể lúc đầu từ mặt đất phun ra, rồi lắp lại với nhau thành những vật nhiều khi quái gở, vật nào không có điều kiện sống được thì chết đi, còn lại  những vật có điều kiện sống là những vật chúng ta thấy bây giờ.


 


 Đó là biểu hiện đầu tiên của thuyết lựa chọn tự nhiên mà sau này Darwin phát triển, giải thích tính chất tương đối điều hòa của các cơ thể bằng quy luật biến chuyển ngẫu nhiên và lựa chọn tự nhiên. Nhưng ngẫu nhiên không phải là hoàn toàn mà chỉ tương đối, hình dáng nào của sinh vật xuất hiện cũng theo quy luật vật chất, còn tính này hay hình nọ thì là ngẫu nhiên. Nhưng qua đời sống ngẫu nhiên, chỉ có vật nào phối hợp điều hòa mới có thể sống được (ví như mình người đầu bò thì không thể sống được).


 


Cũng theo hướng này, xây dựng một thế giới quan duy vật tương đối duy lý theo kiểu máy móc thỉ có Anaxagore.


 


ANAXAGORE (khoảng 500 – 428 tr. CN)


 


Ông sinh ở thành Clazomènes đất Ionie, đã phát triển truyền thống duy vật Ionie trên những điều kiện mới của thế kỷ thứ V tr. CN. Anaxagore tuy là người Clazomènes nhưng sống 30 năm ở Athènes, kết bạn với Périclès (lãnh tụ dân  chủ Athènes trong giai đoạn vinh quang nhất, và đi lại ở nhà bà Aspasie - bà này làm nghề cô đầu8 và là nhân tình của Périclès). Những người chung quanh Périclès là đại biểu trực tiếp cho giai cấp chủ công phú thương, phát triển kinh tế tiền tệ, do đấy một phần lớn thoát khỏi mê tín cựu truyền, còn đại bộ phận nhân dân vẫn duy trì tư tưởng này, vì vậy tư tưởng khoa học của Anaxagore bị phản đối mạnh mẽ. Ông bị tố cáo về tội vô thần, bị khiển trách vì đã dạy rằng: mặt trời và mặt trăng là những khối vật chất phản ánh ánh sáng, chứ không phải là thần thánh gì cả. Tư tưởng triết học, khoa học tiến bộ đại diện cho phê dân chủ, nhưng chưa được nhân dân trực tiếp ủng hộ, mặc dù về quyền lợi căn bản, nó  dựa vào nhân dân, nhưng về căn bản thôi; lý do cũng rõ rệt là tuy đại diện quyền lợi cho nhân dân, nhưng phải thông qua giai cấp công thương chủ nô. Do đấy, nó đóng khung trong những giới hạn tương đối hẹp hòi, và mang tính chất trừu tượng. Trên con đường xây dựng thế giới quan duy vật, Anaxagore có tiến một bước so với Empédocle.


 


Về thực chất cơ sở biến chuyển: Anaxagore không hạn chế trong 4 nhân tố mà quan niệm mỗi vật có vô cùng nhân tố, do đấy mọi vật có thể chuyển thành bất kỳ vật gì khác. Ví dụ: ăn rau, rau biến thành thịt, tức là vật nọ biến thành vật kia; trong rau có nhân tố thịt, tức là tất cả mọi vật có trong tất cả mọi vật.


 


Về động cơ biến chuyển, Anaxagore cho là tinh thần, tức là hãy còn di tích duy tâm, nhưng đã là một bước tiến, vì theo Empédocle có 2 yếu tố tinh thần: yêu và ghét. Với Anaxagore chỉ có một yếu tố và hoạt động một cách tương đối đơn giản: tinh thần làm cho khối vật chất xoay tròn, trong khi xoay tròn phần nặng nhất tập trung lại ở giữa thành quả đất, xung quanh bắn ra một số vật thành hành tinh, định tinh, mặt trời, mặt trăng, v. v... Tinh thần đây chỉ có một hoạt động tối thiểu là gây chuyển động đầu tiên đơn giản nhất, từ đấy các vật thể xuất hiện một cách máy móc, tức là đã đạt được một hình thức tương đối duy lý, nhưng hãy còn giữ một số di tích duy tâm hoặc mơ mộng như khái niệm tinh thần động cơ, khái niệm nhân tố vô cùng.


 


Theo hướng ấy, bước cuối cùng là thuyết nguyên tử do Leucippe và Démocrite sáng tạo từ giữa đến cuối thế kỷ thứ V tr. CN. Thuyết nguyên tử hoàn thành những cố gắng qua chủ nghĩa duy vật để đáp lại những nhu cầu lý tính mà phái Élée đã đề ra, như phải quy định rõ ràng cơ sở biến chuyển bất sinh bất tử và động cơ biến chuyển. Cơ sở biến chuyển là bất sinh bất tử, vì khi nào cũng phải là có, nhưng hình dung nó thế nào. Nếu chỉ nói chung chung là chất này chất kia như lửa, đất, v. v... và những yếu tố vô cùng, v. v… thì không thành một cơ sở chính xác để giải thích biến chuyển.


 


LEUCIPPE (khoảng 460 – 370 tr. CN)


DEMOCRITE (khoảng 460 – 370).


 


Theo Leucippe và Démocrite, cơ sở biến chuyển bất sinh bất tử là nguyên tử. Nguyên tử là những thực thể rất nhỏ, nhưng vĩnh viễn không thể chia ra và diệt được, nó là nó, và chỉ phân biệt theo hình và theo khối, chứ không có tính chất cảm tính như lạnh, nóng, ướt, khô, v. v… Lần đầu tiên tư tưởng duy vật Hy Lạp đạt tới một khái niệm vật chất thoát khỏi cảm tính trực quan, quy định vật chất một cách khoa học, chính xác, bằng khối và hình.


 


Về động cơ biến chuyển cũng không phải cái gì ngoài thế giới vật chất, nó chỉ là hình thức vận động đơn giản nhất của vật chất: vận động xoay tròn. Trong lúc xoay tròn, một số nguyên tử nặng vào giữa, một số khác bật ra ngoài xây dựng ra vô số thế giới trong đó có thế giới chúng ta. Thế giới quan ấy có tính chất máy móc, nhưng nó hoàn thành được nhu cầu lý luận là thoát khỏi những mơ hồ duy tâm, cảm tính và do đó giải phóng con người, lần đầu tiên thực sự và hoàn toàn giải phóng từ tư tưởng khỏi tôn giáo. Tất cả những triết học mà chúng ta thấy trước đây dù là duy vật cũng còn dính ít nhiều tư tưởng thần thánh, nhưng với Leucippe và Démocrite, lần đầu tiên tư tưởng thần thánh hoàn toàn bị gạt bỏ.


 


Démocrite quan niệm thần thánh cũng là những khối nguyên tử đặc biệt, có thể to lớn hơn hoặc nhanh nhẩu hơn người thường, nhưng cũng chỉ là nguyên tử thôi. Đồng thời được nêu rõ ý nghĩa giải phóng, ý nghĩa luân lý của thế giới quan duy vật là nhờ thế giới quan ấy ta thoát khỏi mọi lo lắng sợ sệt viển vông về thần thánh, số mệnh, tình cảm, v. v... Đường lối giải phóng ấy, luân lý ấy phần nào đấy có tính chất tích cực, vì nó là khái niệm giải phóng thuần túy, không phải lo lắng cái gì nữa vì cái gì cũng chỉ là khối nguyên tử, nhưng đồng thời có tính chất tiêu cực là làm mất cả ý nghĩa đời sống; tức là theo hướng tiến bộ tương đối của nó trong những điều kiện xã hội bấy giờ, thì có ý nghĩa giải phóng thực sự và chân chính, vì với chế độ áp bức lúc ấy chưa có điều kiện thực tế để giải phóng nhân dân, thì lý tưởng giải phóng chỉ có thể là tư tưởng giải phóng cá nhân. Giải phóng cá nhân trong điều kiện ấy có phần chân chính, nhưng đồng thời lại tiêu cực, phải hy sinh phần tỉnh cảm mà chỉ có thể thực hiện trong đời sống tập thể. Nó là lý tưởng giải phóng cao nhất mà giai cấp công thương có thể đạt được trong giai đoạn tiến bộ, giai đoạn cách mạng của nó. Nhưng cũng ở thời ấy, bên cạnh lý tưởng giải phóng tuyệt đối bằng khoa học thuần túy, giai cấp công thương đang lên cũng có thực hiện được một số tư tưởng tiến bộ tương đối, đặt vấn đề giải phóng trong xã hội. Nó biểu hiện một cách tương đối đại chúng hơn những đòi hỏi luân lý của phe dân chủ. Hướng ấy  là hướng của những người biện sĩ (sophistes).


 


Lúc đầu biện sĩ có ý nghĩa tiến bộ, nhưng về sau đi vào trụy lạc. Những nhà biện sĩ là những cá nhân theo cùng một hướng chung: phát triển tài năng cá nhân, đồng thời đề cao đời sống văn minh trong ấy những tài năng cá nhân có điều kiện để thực hiện nhu cầu của mình. Trong lịch sử chỉ còn lại những tên tiêu biểu: Protagơras, Gorgias, Prodicos, Antiphon, Hippias. Đó là những ông thày dạy nghề diễn thuyết (vì ở chế độ dân chủ, người nào diễn thuyết giỏi thì được bầu làm quan hoặc ra cãi lấy tiền ở tòa). Về căn bản, dạy ăn nói, nhưng trong đó cũng có dạy lý luận, tư tưởng, nhân sinh quan, v. v... Ngoài phần hùng biện, có phần chân chính !à tư tưởng đề cao kỹ thuật, đề cao đời sống xã hội ngoài khuôn


khổ tôn giáo, quan hệ nhân đạo giữa người và người ngoài tổ chức tôn giáo. Ví dụ Protagoras cũng chỉ nói một câu nổi tiếng: «Người là thước đo mọi vật, đo cái có của những vật có, và cái không có của những vật không có». Nói như vậy có phần chủ quan. Về sau Platon phê phán rất nhiều, cho như thế là bỏ chân lý khách quan, nhưng theo chúng ta con người mà Protagoras nói chính là con người có sản xuất, có kỹ thuật, và sống trong xã hội. Câu nói của Protagoras có tính chất tiến bộ rõ ràng. Về vấn đề thần thánh, Protagoras không đặt ra, ông trả lời rằng: «Thần thánh có hay không có, thì không thể nói được vì hai lý do: một là khó quá, hai là đời người ngắn ngủi». 


 


GHI CHÚ [B]


 


I – TƯ TƯỞNG HY LẠP THẾ KỶ THỨ V tr. CN – BI KỊCH


 


Chủng tộc: nói chung là những tập thể đã chung sống lâu dài, do đấy có những nét sinh lý đặc biệt. Như thế, thị tộc, bộ tộc, dân tộc đều có thể xem là chủng tộc cả, nếu loại biệt tính của tập thể đó là có ảnh hưởng đến cơ thể. Một số người ở cùng với nhau một thời gian dài, có những nét phân biệt về sinh vật tính đối với các tập thể khác, và thành một đơn vị tương đối riêng biệt, đó là chủng tộc. Không có chủng tộc tuyệt đối, nó là sản phẩm của hoàn cảnh lịch sử, nhưng có loại biệt tính tương đối mạnh.


 


Bây giờ, xét đến những tập thể xây dựng theo tính chất của chế độ kinh tế thì hình thức thấp là thị tộc (clan). Thị tộc xuất hiện sau gia đình đồng huyết, có đặc tính là cấm giao cấu trong nội bộ. Quan hệ căn bản giữa các thị tộc với nhau là quan hệ chiến tranh, nếu có trao đổi hay liên minh thì có giao ước riêng, nhưng cũng là trên cơ sở chiến tranh. Liên minh các thị tộc thành bộ lạc. Bộ lạc là tập thể lớn nhất trong xã hội nguyên thủy. Khi tiến lên xã hội chiếm hữu nô lệ, bộ lạc (tribu) phát triển lên trình độ bộ tộc (nationalité). Trong xã hội chiếm hữu nô lệ và phong kiến, có nhiều bộ tộc nhưng nói chung chưa thống nhất trong căn bản, vì chưa có một thị trường chung, hay nếu có thì cũng chỉ hạn chế trong một tầng lớp nào thôi. Tới tư bản chủ nghĩa mới có thị trường thống nhất, và bộ tộc trở thành dân tộc, hoặc có những nước vì điều kiện đặc biệt chuyển thẳng lên xã hội chủ nghĩa mà không thông qua chế độ tư bản, thì đến xã hội chủ nghĩa hình thành dân tộc xã hội chủ nghĩa. Đó là những nét chung. Nhưng còn một vấn đề chưa rõ là những trường hợp chưa tiến lên trình độ tư bản chủ nghĩa mà đã có tính chất dân tộc đến một mức nào đấy. Trong vấn đề này, phải nghiên cứu hoàn cảnh cụ thể của từng nước, chứ không thể áp dụng phạm trù một cách máy móc được.


 


Giữa hai khái niệm bộ lạc và bộ tộc có sự phân biệt về căn bản, nhưng ranh giới cụ thể chưa dứt khoát lắm, vì có những bộ lạc tiên minh thành bộ tộc, cũng có những bộ tộc nhỏ liên minh thành bộ tộc lớn. Phương thức liên minh bộ lạc thành bộ tộc nói chung ở Đông phương thông qua những cuộc chiến tranh tàn khốc, trong đó bộ lạc chiến thắng kết nạp một số người của bộ lạc khác và làm nòng cốt cho bộ tộc thống trị. Đó là hình thức quân chủ độc đoán chủ nô. Khác với Đông phương, Hy Lạp theo một phương thức đặc biệt là liên minh lỏng lẻo trên cơ sở tự nguyện tự giác, trong đó có cạnh tranh chia rẽ, nhưng về tinh thần có một lý tưởng thống nhất, nhằm một mục đích chung. Sở dĩ không thông qua quân chủ độc đoán, mà lại có một tinh thần, lý tưởng chung, là vì nó có một cơ sở chung là kinh tế hàng hóa phát triển đòi hỏi một thị trường thống nhất, và tình hình đối lập chung của tập thể Hy Lạp chống với những bộ tộc và bộ lạc xung quanh, nhất là với Ba Tư. Do đó, chế độ chiếm hữu nô lệ Hy Lạp là trường hợp độc nhất của lịch sử không thông qua quân chủ độc đoán, mà phát triển theo hình thức cộng hòa dân chủ, phát triển được tự do bình đẳng tới một mức nhất định trong hàng ngũ nhân dân tự do; do đó nó phát triển được những tư tưởng tiến bộ trong phạm vi lý tưởng, nhưng cũng có một nội dung tiến bộ thực sự, cho nên hình thức này đã trở thành một kiểu mẫu đến một mức nào đó cho chế độ dân chủ sau này, đặc biệt là trong thời kỳ cách mạng tư sản.


 


Một trong những tác phẩm văn nghệ phản ánh được tinh thần liên minh lỏng lẻo đó là anh hùng ca của Homère. Tác phẩm này diễn ra một điển hình ở trình độ chiếm hữu nô lệ của một liên minh tự nguyện tự giác có thống nhất bằng lý tưởng, lý tưởng đây có cơ sở hẳn hoi của nó. Đối với chúng ta, vấn đề không phải là xem câu chuyện có thật hay không, hoặc có đúng như thế không. Nhiều nhà bác học cho rằng chưa có bằng chứng chính xác chứng tỏ có chiến tranh Troie, và dù có đi nữa thì cuộc chiến tranh đó cũng không giống như trong tác phẩm của Homère. Homère (hay những tác giả mà ta gọi chung dưới tên Homère, sống vào khoảng cuối thế kỷ VIII - đầu thế kỷ VII tr. CN) đã biểu hiện lý tưởng của mình qua một chuyện cổ tích. Ông đã xây dựng câu chuyện theo tư tưởng bấy giờ, nghĩa là lúc văn minh thành thị Hy Lạp bắt đầu phát triển, và những thành thị đi chiếm căn cứ địa ở Địa Trung Hải và Hắc Hải. Do đó Hellespont trở thành một trung tâm gặp gỡ của các thành thị Hy Lạp, và cần được bảo vệ chống với các bộ lạc và bộ tộc chung quanh như các bộ tộc ở Á  đông. Tầm quan trọng của thành Troie có cơ sở là việc đi tìm căn cứ địa ở Địa Trung Hải và Hắc Hải. Anh hùng ca của Homère cũng là một lối khai thác vốn cũ, dùng một chuyện cổ tích để diễn đạt sự liên minh lý tưởng của các thành thị Hy Lạp cùng bảo vệ con đường đi vào Hắc Hải. Mâu thuẫn giữa Achille và Agamemnon phản ánh mâu thuẫn thực sự bấy giờ giữa các thành thị Hy Lạp, và anh hùng ca này là một bài học đoàn kết cho những người đương thời.


 


Trong đoạn đầu của văn minh Hy Lạp, vốn cũ được khai thác theo kiểu anh hùng ca. Đặc điểm của khái niệm anh hùng ca là trong đó khách quan và chủ quan là hoàn toàn thống nhất, có thể nói là lẫn lộn. Mỗi vai trò có tính chất hình như tự nhiên của nó, nó là nó thôi, không so sánh với một cái gì khác. Anh hùng  là người đồng nhất với một vai trò nhất định, hết vai trò ấy là chết, không có vấn đề đấu tranh tư tưởng, thắc mắc. Ý nghĩa chủ quan của anh hùng hoàn toàn thống nhất với sự việc khách quan. Achille tức giận bỏ đi rồi lại trở về... tính ông như thế, không thể quan niệm là trong ấy có ưu điểm và khuyết điểm. Mỗi anh hùng là như thế, ta không thể quan niệm khác được. Tính chất anh hùng của Achille là tất cả những việc ông ta đã làm, chính là ông ta đấy. Trong anh hùng ca, có mâu thuẫn giữa các nhân vật, nhưng không có mâu thuẫn nội tâm trong một nhân vật. Ý nghĩa của vai trò đơn giản, một chiều, chỉ có thế, mà phải như thế thôi, không thể khác được. Ý nghĩa anh hùng này phản ánh bước đầu của chế độ thành thị Hy Lạp, tức là bước chuyển biến nguyên thủy từ chế độ bộ lạc lên chế độ thành thị, trong đó mỗi người anh hùng tiêu biểu cho một bộ lạc hay một số bộ lạc, và giữ tính chất cứng rắn của bộ lạc: người nào là người ấy, không phức tạp, không thắc mắc, không có vấn đề tư tưởng. Đó chính là giai đoạn cộng hòa quý tộc, trong đó mâu thuẫn nội bộ thành thị chưa phát triển (thực ra đã có rồi, nhưng được giải quyết một cách tạm thời nhờ phong trào lập căn cứ địa). Nhưng đến cuối thế kỷ VII tr. CN, trong thế kỷ VI tr. CN, và nhất là tới thế kỷ V tr. CN, mâu thuẫn giai cấp phát triển đưa lên chế độ cộng hòa dân chủ. Lúc này quyền thống trị của bọn quý tộc đã bị gạt bỏ, nhưng không vì thế mà những yếu tố của chế độ cũ mà nó là đại biểu đã hoàn toàn mất. Trái lại, trong chế độ dân chủ chủ nô, mâu thuẫn giai cấp mới được tạm thời giải quyết bằng cách phát triển công thương nghiệp, hợp lý hóa cách bóc lột nô lệ, do đó nâng đỡ được dân tự do nghèo, thực hiện được dân chủ trong hàng ngũ nhân dân tự do; nhưng mâu thuẫn cũ vốn còn (trước là giữa quý tộc và dân chủ, bây giờ là mâu thuẫn giữa bọn thượng lưu tức là quý tộc cũ và nhà giàu quý tộc hóa với phe dân chủ). Trong đó, bọn thượng lưu tiêu biểu cho cả truyền thống cũ, truyền thống này lại còn ảnh hưởng nhiều trong nhân dân. Nhân dân các thành thị thống nhất trong nội bộ thành thị với nhau là vì vẫn phải dựa trên cơ sở cũ của bộ lạc, chứ nếu chỉ dựa vào cơ sở công thương nghiệp thì các thành thị Hy Lạp đã không giữ được loại biệt tính và quyền độc lập riêng của mình, mà đã thống nhất thành một bộ tộc lớn. Như thế, chế độ dân chủ Hy Lạp là dựa trên sự thống nhất của các chủ nô ở mỗi thành thị để thống trị giai cấp nô lệ. Cho nên di tích cũ bề ngoài bị gạt bỏ vì kinh tế hàng hóa và chế độ dân chủ phát triển, nhưng bên trong còn được duy trì để làm cơ sơ bảo vệ quyền thống trị và sự thống nhất của công dân của mỗi thành thị riêng lẻ để đàn áp nô lệ.


 


Trong buổi đầu thế kỷ VIII và VII tr. CN, kinh tế hàng hóa đang phát triển, thành thị mới phát triển bước đầu, mâu thuẫn giữa các tầng lớp chủ nô chưa sâu sắc lắm, thì mâu thuẫn giữa di tích chế độ cũ (di tích bộ lạc) và lý tưởng phổ cập của chế độ mới (chế độ Nhà nước) chưa phát hiện rõ. Đến thế kỷ V tr. CN là giai đoạn cao nhất của chế độ chiếm hữu nô lệ Hy Lạp mà cũng là bước đầu suy vong, thì mâu thuẫn phát triển mạnh mẽ. Nó là mâu thuẫn giữa nội dung và hình thức của chế độ chiếm hữu nô lệ. Về nội dung, nó dựa trên di tích bộ lạc: quan hệ chủ nô và nô lệ là quan hệ giữa bộ lạc thắng và bộ lạc thua, giữa người có quyền công dân và người hoàn toàn không có quyền, vì đối với bộ lạc không có con người nói chung, mà chỉ có con người của bộ lạc mình được bảo vệ quyền lợi, do đó con người bên bộ lạc thua bị phủ định hoàn toàn. Nhưng về hình thức, vì công thương nghiệp phát triển, nên hình thức dân chủ là bao quát cả mọi người, Nhà nước là một cơ quan hình thức phổ cập bảo vệ quyền lợi chung. Quan hệ bộ lạc còn những di tích trong truyền thống gia đình, trong lễ nghi gia đình, liên đới theo thuyết thống, trái lại Nhà nước là tiêu biểu lợi ích chung, liên đới đây không theo huyết thống mà theo luật pháp. Do đó, hai yếu tố có mâu thuẫn, và mâu thuẫn này được diễn tả trong văn nghệ của thế kỷ V tr. CN bằng thể văn bi kịch. Người anh hùng trước kia là một vai trò đơn thuần, một chiều vì chế độ chiếm hữu nô lệ bấy giờ chưa phát hiện mâu thuẫn nội bộ, đến bây giờ vai trò anh hùng mang một mâu thuẫn nội bộ, mâu thuẫn trong tư tưởng, muốn thế này nhưng lại phải làm thế khác. Do đó nó có tính chất bi quan.


 


Hai tác giả bi lịch lớn hồi này là Eschyle và Sophocle.


 


ESCHYLE (khoảng 525 – 456 tr. CN)


 


Eschyle già hơn và còn giữ nhiều yếu tố anh hùng ca hơn. Trong Eschyle, mâu thuẫn còn phần nào khách quan, thể hiện giữa các thần; với Sophocle, nó đã hoàn toàn nội tâm hóa. Một thí dụ về bi kịch của Eschyle là Tam kịch Orestie. Đây là một câu chuyện cổ tích truyền từ thời bộ lạc, qua anh hùng ca rồi thành bi kịch:


 


Trong lúc Agamenmon đánh Troie, vợ ở nhà là Clytemnestre đi lại với Egisthe; Agamemnon chiến thắng trở về, hai người kia âm mưu ám hại, rồi Clytemnestre tôn Egisthe lên làm vua. Con Agamemnon và Clytemnestre là Oreste bị đày xa, lúc lớn lên trở về giết mẹ và Egisthe để trả thù cho cha.


 


Thời bộ lạc tan rã, chuyện này cũng thông thường, vì việc tranh giành ngôi vua xảy ra luôn luôn. Trong anh hùng ca, lúc thành thị mới phát triển, phụ quyền thắng mẫu quyền, chuyện này tiêu biểu cho lòng độc ác của người đàn bà, và nhiệm vụ trả thù cho cha phản ánh việc phụ quyền thắng mẫu quyền. Đến thế kỷ V tr. CN, mâu thuẫn giữa mẫu quyền và phụ quyền trở thành tiêu biểu cho mâu thuẫn giữa gia đình và Nhà nước, hai bên đều thiêng liêng. Oreste giết mẹ là phạm tội ác lớn nhất không thể tha thứ được, lớn hơn cả tội Clytemnestre.


 


Theo truyền thống thị tộc, vợ giết chồng là có tội, nhưng không phạm đến thiêng liêng vì hai người không cùng huyết thống, nhưng con giết mẹ, dù là trả thù cho cha, cũng là phạm vào truyền thống thiêng liêng, phạm một tội ác lớn nhất. Nhưng xét theo luật Nhà nước thì ai giết người phải bị trừng trị không kể cùng huyết thống hay không, nên Oreste có tội nhưng cũng có phần chân chính.


 


Trong tam kịch Orestie của Eschyle, lúc Clytemnestre giết Agamemnon thì bị nhân dân oán ghét, và Oreste giết mẹ trả thù cho cha thì được nhân dân ủng hộ. Tức là công quyền đã về phía Oreste. Đáng lẽ Oreste được lên ngôi, nhưng bị những thần gia đình Erynnies9(là một thứ yêu chuyên môn trả thù những kẻ phạm vào lễ nghi gia đình) theo đuổi, nên phải bỏ chạy lông bông.


 


Cuối cùng, Oreste tới Athènes là tiêu biểu cho Nhà nước dân chủ chủ nô hoàn bị nhất, và kêu gọi bà Athéna xét xử. Nhưng bà này cũng thuộc hạng thần mới, bảo vệ Nhà nước và luật pháp mới, nên không dám xử mà để tòa án tộc biểu của Athènes xét xử và tự mình làm chủ tọa.


 


Các thần Erynnies tố cáo Oreste đã phạm tội ác lớn nhất, nặng hơn cả tội ác của Clytemnestre. Apollon bào chữa cho Oreste, cho rằng: tội đổ máu là tội đổ máu  chứ không kể đến huyết thống, vì nếu chỉ theo lễ nghi gia đình, nghĩa là để cho người thuộc các gia đình khác nhau tự do giết nhau thì sẽ hỗn loạn không còn đời sống xã hội. Lúc đầu phiếu hai bên ngang nhau, nhưng Athéna bỏ phiếu cho Oreste, vậy Oreste được tha.


 


Eschyle đã khai thác truyện này theo ý mình và đặt vấn đề mới: gia đình và Nhà nước. Nhà nước mâu thuẫn với gia đình, vì không thể để lễ nghi gia đình hạn chế tính chất phổ cập của luật pháp Nhà nước, nhưng Eschyle vẫn thấy truyền thống gia đình có tính chất thiêng liêng của nó mà ông không giải thích được.


 


Sự thực là vì truyền thống gia đình bảo vệ sự thống nhất của mỗi thành thị Hy Lạp và bảo vệ giới hạn hẹp hòi của thành thị, làm cơ sở cho sự thống trị của giai cấp chủ nô trong mỗi thành thị đối với nô lệ. Người bấy giờ không thể thấy rõ  điểm này.


 


Nhưng bên cạnh sự thiêng liêng của gia đình, còn có thiêng liêng của Nhà nước. Bấy giờ chế độ chiếm hữu nô lệ đang ở độ cao nhất của nó nên số phiếu hai bên ngang nhau, vì đều bảo vệ quyền lợi của chủ nô; hai bên tuy có mâu thuẫn nhưng có dung hòa.


 


Nhờ Athéna, luật pháp Nhà nước thắng, nhưng có nhân nhượng chứ không tiêu diệt bên kia: những thần Erynnies bị tước quyền theo đuổi những tội phạm gia đình, nhưng lại được thờ ở Athènes với tên mới là Euménides nghĩa là «thần tốt».


 


Vì sao tác phẩm của Eschyle có tính chất bi kịch? Vì mâu thuẫn xã hội ở đây thể hiện trong vai trò anh hùng. Vai trò này không đơn giản, một chiều như trong anh hùng ca mà nó có hai mặt: phải trả thù cho cha, muốn trả thù cho cha phải giết mẹ. Có sự đối lập giữa hai nhiệm vụ của gia đình và Nhà nước, giữa lễ nghi  và luật pháp nên có bi quan. Bi quan không phải vì có người chết. Trong anh hùng ca, có nhiều người chết, nhưng không bi quan, vì mỗi vai trò chỉ có một ý nghĩa, vậy hoàn toàn đồng nhất với sự việc khách quan. Ở đây, vai trò có hai ý nghĩa, hai nhiệm vụ, đều thiêng liêng cả hai, mà lại không thể dung hòa được với nhau.


 


Tính chất bi quan này tiêu biểu cho mâu thuẫn không giải quyết được trong giai cấp chủ nô: một mặt phải coi nô lệ là một thứ người khác (theo truyền thống bộ lạc cho người ngoài là không có quyền gì), mặt khác lại phát triển kinh tế hàng hóa, do đó phát triển quan hệ phổ cập giữa người và người, mọi người công nhận lẫn nhau, thoát khỏi giới hạn hẹp hòi của chế độ huyết thống. Bước đầu tiêu biểu cho tư tưởng bình đẳng một phần nào ở đây là pháp luật Nhà nước: mọi người đều phải phục tùng luật pháp; chế độ dân chủ phát triển, đề cao con người, đề cao luật pháp bình đẳng (hình thức), nhưng hình thức ấy lại mâu thuẫn với quan hệ đàn áp giữa chủ nô và nô lệ, nên chế độ chiếm hữu nô lệ bắt buộc  phải duy trì quan hệ huyết thống để bảo vệ sự liên đới giữa chủ nô với nhau. Do đó, chế độ chiếm hữu nô lệ càng phát triển càng mâu thuẫn với nhau.


 


Trong phạm vi ý thức, mâu thuẫn này được phản ánh trong hai quan hệ đều căn bản giữa chủ nô: gia đình (thượng lưu) và Nhà nước (dân chủ), gây ra những tấn bi kịch trong giai cấp thống trị. Lúc chế độ nô lệ còn lên, với Eschyle, bi kịch còn được giải quyết về hình thức. Oreste được tòa án Athènes tha (tòa này sau thành tòa Aréopage, xử tội trên cơ sở dung hòa hai truyền thống, dung hòa hai phe đối lập trong hàng ngũ thống trị là thượng lưu và dân chủ).


 


SOPHOCLE (khoảng 495 – 406 tr. CN)


 


Sau đó vài năm, tức là với lứa sau, bi kịch phát triển tính chất bi quan đến cao độ, và mâu thuẫn trở nên bế tắc trong tác phẩm của Sơphocle, phản ánh mâu thuẫn trong giai cấp thống trị đã đến mức không giải quyết được.


 


Ví dụ bi kịch Oedipe: một mặt Oedipe cứu Thèbes, lên làm vua; mặt khác lại không biết mình là con vua cũ Laios, và đã giết ông này và lấy hoàng hậu tức là chính mẹ mình. Với luật pháp, người cứu nước làm vua là đúng, nhưng về mặt lễ nghi gia đình, Œdipe đã giết bố, lấy mẹ, và đẻ con là em của mình, thì vấn đề không thể giải quyết được.


 


Với Oreste, vấn đề là có nên giết mẹ hay không, Oreste nghe Apollon bảo giết mẹ rồi ông sẽ che chở cho, do đó vấn đề có thể được giải quyết bằng cách dung hòa. Trong Oedipe, vấn đề nằm trong sự việc, lúc làm việc đó Oedipe không biết tội của mình, nên lúc phát hiện ra thì không thể tha thứ và sửa chữa được.


 


Đây là bi kịch tuyệt đối, nên chỉ có thể đưa tới chỗ Jocaste tự tử, Oedipe tự chọc mắt và bỏ đi lang thang. Những bi kịch khác của Sophocle cũng có tính chất này. Với Antigone cũng vậy, tình hình ở đây cũng có tính chất siêu ý thức, vì nó đã bị quy định một cách tất yếu từ trước: Antigone không thể không làm ma cho anh, là điều mà cậu là Créon nghiêm cấm. Khi Créon biết thì Antigone bị trừng trị, nhưng Antigone chỉ có thể nhận tội thôi, không thể làm khác được, vấn đề không thể giải quyết được.


 


Trong anh hùng ca, chế độ chiếm hữu nô lệ mới lên, vai trò anh hùng là đơn thuần, là chiến thắng; tới bi kịch là lúc chế độ đã bộc lộ mâu thuẫn, mâu thuẫn giữa thống trị và bị trị, không thể giải quyết được trong phạm vi ý thức hệ thống trị, vì chính cơ sở khách quan của nó phát triển thì lại dần dần phủ định quyền thống trị của nó, thì vai trò anh hùng trở nên phức tạp, bao hàm trong nội tâm một mâu thuẫn không giải quyết được, do đó tác phẩm toát ra một tính chất bi quan chua xót.


 


2. Thế nào là quan niệm biến chuyển có tính chất máy móc?


 


Một lập luận có tính chất máy móc khác lập luận biện chứng ở chỗ lập luận máy móc theo công thức của một quy luật máy móc, tức một phương thức của sự biến chuyển số lượng trong không gian, trong ấy trạng thái của những bộ phận trong không gian ở một lúc nhất định quy định trạng thái của nó lúc sau. Một ví dụ đơn giản: một vật ở một điểm nào đấy có một lực lượng nhất định, với một hướng nhất định; do trạng thái của nó ở mỗi một lúc nhất định, ta có thể quy đinh vị trí của nó lúc sau.


 


Chẳng hạn trong mỗi một đơn vị thời gian, vật ấy tiến được một đoạn nhất định: khi đi trong không khí chẳng hạn thì nó thắng phản lực của không khí. Lấy lực của vật ấy trừ phản lực của không khí, ta có thể biết vị trí của nó lúc sau.


 


Đó là quy luật của phương thức vận động máy móc.


 


Sàn xuất máy móc là có một số công cụ xếp đặt theo một hệ thống nhất định, với một số động tác nhất định, chế biến nguyên liệu thành sản phẩm theo một quá trình nhất định. «Máy móc» là có thể tính toán được với hệ thống công cụ ấy, và số động tác ấy, quá trình của sản phẩm, và số lượng sản phẩm làm ra. Trong công thức ấy, thời gian chỉ là số lượng, mất đặc tính lịch sử của nó. Trong phương thức sản xuất máy móc, biến chuyển căn bản là biến lượng; biến chất chỉ là đối với chủ quan chúng ta, chứ trong bộ máy thì ta chỉ định sự biến lượng.


 


Đến một lúc này đấy, muốn hay không, cũng sẽ có sự biến chất, nhưng trong phương thức sản xuất máy móc, người ta chỉ tính sự biến lượng. Tư tưởng máy móc là trừu tượng ở chỗ chỉ tính biến lượng thôi, chứ không tính biến chất, nhưng đó là một sự việc khách quan phải chịu đựng.


 


Phương pháp tư tưởng máy móc căn bản xuất phát từ tổ chức sản xuất hàng hóa. Tổ chức sản xuất hàng hóa khác tổ chức sản xuất tự nhiên (cộng đồng, gia đình) là ở chỗ tổ chức sản xuất tự nhiên là tiêu thụ trong phạm vi sản xuất: mình làm mình ăn («mình» là những người nội bộ một cơ sở sản xuất cộng đồng). Người sản xuất cũng là người sử dụng. Người ta làm để mà hưởng, nên chỉ nhằm điển hình chủ quan mà mình muốn, theo yêu cầu chủ quan của mình. Do đó, cách bố trí các bộ phận trong công trình sản xuất chưa cần phải được hợp lý hóa, chỉ cần theo điển hình cựu truyền trong gia đình, thị tộc, bộ lạc.


 


Đến lúc hoạt động trao đổi trở thành trao đổi hàng hóa (bước đầu là trao đổi sản phẩm, bước hai là trao đổi hàng hóa và cuối cùng là trao đổi hàng hóa bằng tiền tệ)10, thì sản xuất nhằm trao đổi ấy phải hợp lý hóa. Lý do chủ yếu là không nhằm nhu cầu gia đình, thị tộc hay bộ lạc, mà nhằm một nhu cầu trừu tượng và rộng rãi, về hình thức là phổ cập, thông qua tiền tệ. Qua nhu cầu trừu tượng và rộng rãi ấy, sản xuất phải được hợp lý hóa. Nó phải là đại quy mô và nhằm lợi nhuận, về hình thức là vô hạn, như không nhằm thỏa mãn nhu cầu trực tiếp và hữu hạn của một cộng đồng nhất định.


 


Nhà tư sản tổ chức sản xuất nhằm làm sao bố trí các yếu tố sản xuất để với một vốn tối thiểu, trong thời gian tối thiểu, lại thu được lợi nhuận tối đa. Vì thế phải hệ thống hóa động tác, thống nhất quá trình sản xuất, để thu được nhiều lợi nhất.


 


Quá trình sản xuất hợp lý hóa ấy, thời cổ đại và phong kiến không hoàn thành được, mà chỉ hoàn thành được trong phương thức sản xuất tư bản, trong đó mọi yếu tố của phương thức sản xuất đều tính bằng tiền, kể cả nhân công. Trước kia, với nô lệ hoặc nông nô, công nghiệp hay thợ thủ công chưa thực sự tự do, thì nhân công chưa được tính bằng tiền. Trái lại, trong phương thức sản xuất tư bản, công nhân chỉ được tính theo mức lao động trừu tượng mà người ấy làm, tư bản mua. Trước thời tư bản, chưa có khái niệm nhân công tự do, cho nên chưa tính được một cách hợp lý quá trình sản xuất, nhưng cũng đã có thể tính một phần nào đấy, nên đã bắt đầu có tổ chức hợp lý đến một mức nhất định. Phần tổ chức đã hợp lý là tổ chức máy móc: bố trí công cụ, động tác để đạt được lợi nhuận tối đa, với số vốn tối thiểu, trong thời gian tối thiểu. Do đó, trên điển hình sản xuất hợp lý hóa như thế, xuất hiện tư tưởng lý tính, về nội dung có tính chất máy móc.


 


«Máy móc» vì nó chỉ nhằm chủ yếu những vị trí tiếp tục trong không gian, chứ không nhằm quá trình biến lượng trở thành biến chất. Do đấy, nó cũng không nhằm con người sản xuất.


 


Sản xuất hàng hóa là sản xuất cho lợi nhuận, chứ không nhằm người sản xuất. Tổ chức sản xuất, và do đó, phương pháp tư tưởng máy móc biến con người sản xuất thành một thứ máy móc. Tất cả những vấn đề nhân đạo, nhân sinh quan tập trung vào phía có của, phía hưởng thụ lợi nhuận, phía giai cấp thống trị. Cho nên vấn đề nhân sinh quan không thoát khỏi phạm vi con người hưởng thụ - giai cấp thống trị. Vấn đề đời sống của nhân dân vẫn có, nhưng bắt buộc phải thông qua hệ thống tư tưởng và quyền lợi của giai cấp thống trị. Vì có phần nội dung nhân dân ấy, nên những quan niệm tư tưởng thời ấy vẫn có một giá trị nào đó. Qua tư tưởng thống trị vẫn có những nhu cầu chân lý của người sản xuất. Cụ thể lúc triết học lý tính xuất hiện ở Hy Lạp, trong lúc có đấu tranh chống tôn giáo, nó phát triển được tính chất duy vật và một phần nào đấy tính chất biện chứng. Nhưng xét nội dung thực tế trong phạm vi nào nó tìm cách giải thích thực sự những hiện tượng trong thế giới, thì nhất định nó phải đi tìm những điển hình máy móc. Ví dụ: Anaximandre giải thích cuộc vận động của các hành tinh và định tinh, mặt trời, mặt trăng, bằng những vận động của những vòng lửa bọc trong bao khí có những lỗ thủng. Qua những lỗ thủng ta trông thấy lửa. Những điểm sáng ấy là mặt trời, mặt trăng, ngôi sao.


 


Giải thích ấy ngây thơ, nhưng về phương pháp tư tưởng thì nó duy lý vì không giải thích bằng thần thánh mà bằng những yếu tố vật chất. Phương pháp tư tưởng ấy theo những điển hình duy lý máy móc, xuất phát từ những kinh nghiệm sản xuất có tính chất máy móc.


 


Sau đó, Anaximène giải thích sự vật bằng khí, cho rằng khí đọng lại thành nước, thành đất. Lúc dãn ra thì đất thành nước, nước thành khí, khí thành lửa. Căn bản quan niệm ấy có tính chất duy lý theo kiểu máy móc, chỉ nhằm quá trình chuyển động trong không gian, chứ không hình dung được quá trình biến lượng trở thành biến chất. Đó là mức độ lý tính đạt được trong xã hội trước, do sự phát triển của kinh tế hàng hóa.


 


Đó là về căn bản. Nhưng trên căn bản ấy, trong lúc đấu tranh chống tôn giáo đã có những yếu tố biện chứng, vì chống tôn giáo là chống phương pháp giải thích bằng thần thánh, thì phải đề ra cách giải thích bằng quá trình biến chuyển vật chất. Trong cách giải thích ấy, có nắm được nội dung biện chứng nào đấy. Nhưng nội dung thực tế bao quát được lại có tính chất máy móc. Vì vậy, có rất nhiều vấn đề mà phương pháp tư tưởng ấy không giải quyết được: chủ yếu là vấn đề nhân sinh quan, vấn đề ý nghĩa đời sống con người.


 


Vì nếu tất cả chỉ là một cuộc vận động của những vật thể trong không gian, và theo điển hình đạt được cao nhất trong thời cổ đại tức là vận động của những nguyên tử trong không gian, thì không hiểu người ta còn làm gì ở đây? Đời sống còn có ý nghĩa gì nữa trong một thế giới hoàn toàn máy móc? Người ta chỉ có thể đạt được ý nghĩa đời sống một cách tiêu cực: trong một thế giới hoàn toàn máy móc, người ta thoát khỏi những mơ mộng, sợ sệt do mê tín gây ra. Đó là phương thức giải phóng cao nhất đạt được trong xã hội cũ. Nhưng đó cũng chỉ là một thứ giải phóng cá nhân tiêu cực, chỉ có thể thỏa mãn một phần nào đấy trong lúc giai cấp công thương đang lên, kinh tế hàng hóa thắng lợi.


 


Đến lúc giai cấp công thương xuống, trải qua một cuộc khủng hoảng, thì lúc bấy giờ vấn đề ý nghĩa đời sống lại được đặt ra một cách tích cực.


 


Sở dĩ giai cấp công thương trong giai đoạn đang lên giải quyết vấn đề đời sống một cách tiêu cực, là vì trong khái niệm lý tính trừu tượng nó đã hưởng thụ được quyền thống trị của nó, bằng cách trừu tượng hóa quá trình sản xuất, phủ định công trình lao động thực tế, phủ định con người sản xuất.


 


Cách hưởng thụ quyền thống trị ấy, giai cấp địa chủ quý tộc không thực hiện được, vì nó chỉ thống trị của tổ chức sản xuất tự nhiên (gia đình, cộng đồng), chứ nó không có công trình tổ chức hợp lý. Giai cấp địa chủ quý tộc hưởng quyền thống trị qua tôn giáo, xuất phát từ phương thức sản xuất tự nhiên, trong ấy quyền thống trị nhằm trực tiếp chiếm đoạt sản phẩm bằng mệnh lệnh. Tôn giáo là ý thức tư tưởng mệnh lệnh thuần túy. Thần nói một tiếng là thực hiện.


 


Nhưng giai đoạn đi lên của kinh tế hàng hóa là hữu hạn. Vì nó chỉ có thể phát triển với những thị trường rộng rãi, trên cơ sở những đơn vị công nghiệp địa phương tương đối hạn chế. Sự chênh lệch giữa nhu cầu của thị trường rộng rãi và khả năng sản xuất địa phương thúc đẩy mức sản xuất. Cụ thể như trong thời cổ đại Hy Lạp, những đơn vị văn minh đầu tiên chỉ là những thành thị nhỏ, thế mà thỏa mãn nhu cầu của Địa Trung Hải và Hắc Hải, còn ở trình độ dã man. Những thành thị Hy Lạp lớn lúc ấy, kể cả thôn quê xung quanh (tức là tỉnh), chỉ  có độ mấy chục vạn người. Như thế mà họ đi buôn bán rất xa: từ Hy Lạp đến bờ biển Ý, Pháp, Y-pha-nho và trên bờ Hắc Hải. Nhưng lúc đi buôn như vậy, họ mang phương thức sản xuất mới đến những vị trí còn giữ độc quyền mãi được, mà mất độc quyền thì đi đến chỗ bế tắc.


 


Ở Hy Lạp, thế kỷ VIII tr. CN, phong trào phát triển thành thị trên cơ sở phát triển ngoại thương, phát triển căn cứ địa. Đến một lúc nào đó, căn cứ địa cũng sản xuất hàng hóa. Khủng hoảng, đấu tranh giai cấp trong thành thị phát triển. Đầu tiên thì bọn quý tộc tư sản hóa bỏ vốn ra buôn bán. Đến khi kinh tế hàng hóa phát triển, xuất hiện một số nhà giàu mới xuất phát từ nhân dân, và làm giàu bằng công thương nghiệp. Lúc xảy ra khủng hoảng thì phát triển mâu thuẫn giữa nhân dân lao động và giai cấp thống trị. Mâu thuẫn ấy được phản ánh trong mâu thuẫn giữa phe thống trị (tư tưởng và quý tộc tư sản hóa). Bọn tư sản mới dựa vào nhân dân, đề cao dân chủ, đòi công lý, pháp luật (trước kia quý tộc xử án theo những lễ nghi bí mật). Bây giờ đòi tuyên bố luật pháp, tăng cường vai trò của Hội nghị toàn dân (Ecclésia) và Hội đồng đại biểu nhân dân (Boulê). Hai tổ chức này thay thế cho hội đồng tộc trưởng cũ (ví dụ như ở Athènes thì hội đồng Aréopage dần dần bị tước quyền chính trị).


 


Đấy là tình hình thế kỷ VII - VI tr. CN. Song song với bước tiến bộ của chế độ dân chủ ấy, phát triển triết học duy vật với Thalès, Anaximandre, Anaximène,  Héraclite, Empédocle, Anaxagore, kết thúc bằng thuyết nguyên tử (Leucippe và Démocrite).


 


Đến thế kỷ V tr. CN, chế độ dân chủ chuyển sang một bước mới vì kinh tế hàng hóa lại tạm thời giải quyết được những mâu thuẫn nôi bộ của nó, nổi bật nhất là sự cạnh tranh giữa các thành thị.


 


Đến thế kỷ V tr. CN, đa số thành thị buôn bán được liên kết dưới sự lãnh đạo của Athènes thành liên minh Délos, do đó, tạm thời giải quyết mâu thuẫn (chủ yếu là những thành thị Tây Tiểu Á, thành thị ở Hắc Hải và ở bán đảo Chalcidique).


 


Giải quyết được mâu thuẫn đến một mức nào đấy, Athènes lại phát triển chế độ dân chủ một người mới, thực hiện thực sự quyền dân chủ của Hội nghị toàn dân (Ecclésia) bằng hai phương pháp:


 


- Tất cả các chức vụ, các ủy ban đại biểu cho nhân dân được trả lương. Điểm này rất quan trọng, vì nếu không có lương thì dân nghèo không tham gia chính quyền được, do đó không dân chủ thực sự.


  


- Các chức vụ nói chung là do rút thăm. Không thể nào dân chủ hơn thế được. Nếu bầu thì, với hoàn cảnh bấy giờ, người giàu vẫn mua chuộc được người nghèo. Để tránh sự mua chuộc thì rút thăm giữa những người ứng cử. Trừ những trách nhiệm nào nặng quá như chỉ huy quân sự thì mới có bầu cử. Nền dân chủ  này rộng rãi, nhưng cũng chỉ trong phạm vi công dân thôi. Nô lệ và kiều dân thì không có quyền.


  


Để hình dung chế độ ấy, ta chú ý tới dân số thành Athènes lúc bấy giờ: số công dân 4 vạn, kể cả đàn bà, trẻ con thì vào khoảng 14 vạn; kiều dân đàn ông thì độ 2 vạn, kể cả đàn bà trẻ con độ 7 vạn; về số nô lệ thì các tài liệu không thống nhất, nhưng ta có thể ức đoán độ 20 vạn. Vậy tất cả thành Athènes có độ 40 vạn người. Trong đó 4 vạn người có quyền công dân, tham gia chính quyền. Dân chủ tương đối rộng rãi so với chế độ thượng lưu hoặc quân chủ. Nhưng với toàn dân thì vẫn hạn chế rất nhiều (tỷ số 1/10).


 


Nhờ chế độ dân chủ ấy, tư tưởng tiến bộ lại phát triển lên một mức cao hơn, là đặt vấn đề đời sống, vấn đề nhân sinh quan trong phạm vi lý tính. Xây dựng một vũ trụ quan duy lý.


 


Đến lúc chế độ dân chủ phát triển tới mức thực sự cho phép toàn dân tự do (công dân) được tham gia chính quyền đến mức nào đấy, thì những cuộc tranh luận về giá trị con người, mục đích đời sống, v. v... phát triển. Do đó, phát triển nghề biện sĩ.


 


Có thể nói đó là chủ nghĩa nhân văn đầu tiên trong triết học, đề cao nhân sinh quan, đề cao xã hội văn minh, đề cao đời sống con người, kỹ thuật, khoa học và chống tôn giáo. Nhưng đồng thời nó cũng có những lệch lạc căn bản. Đặc biệt là sử dụng tài hùng biện để thắng thế trong những cuộc tranh luận; nói cho hay, lôi  cuốn quần chúng, chứ không đếm xỉa đến cái mình nói là đúng hay sai.


 


Đó là mức cao nhất đạt được trong văn minh Hy Lạp, về phần nhân sinh quan.


 


Phần thứ hai của thế kỷ V tr. CN, chế độ dân chủ Hy Lạp bắt đầu đi đến bế tắc mà không có cách giải quyết. Mâu thuẫn giữa các thành thị phát triển. Athènes tuy có thống nhất được một số thành thị buôn bán, nhưng còn một số thì lại chịu quyền lãnh đạo của Sparte. Ở Sparte, bọn quý tộc, giàu có, đề cao chủ nghĩa thượng lưu (oligarchie) chống lại dân chủ.


 


Ngay trong lúc liên minh Délos dưới sự lãnh đạo của Athènes phát triển, thì đã có nhiều thành thị, đặc biệt ở bán đảo Péloponnèse chịu sự lãnh đạo của Sparte. Mâu thuẫn phát triển giữa liên minh Délos (dân chủ) và liên minh Péloponnèse (thượng lưu) gây ra chiến tranh Péloponnèse. Cuối cùng, Athènes thua vì Sparte lôi cuốn được một số thành thị ở bán đảo Sicile, nhất là Syracuse, và lợi dụng được hoàng đế Ba Tư. Do đó, ở Athènes, bọn thượng lưu thắng thế.


 


Đến năm 404 tr. CN, bọn này dâng tổ quốc cho Sparte, và chịu sự thống trị của Sparte. Sau đó, chế độ dân chủ lại khôi phục được, nhưng không mạnh như trước. Với cuộc khủng hoảng ngày càng trầm trọng, không giải quyết được, thì chính trong giai cấp thống trị những phần tử lạc hậu ngày càng lên và đặt vấn đề  nhân sinh quan trên một cơ sở mới, thoái bộ: làm sao cứu vớt được tổ chức bằng cách thủ tiêu chế độ dân chủ, thủ tiêu kinh tế hàng hóa?


 


Do đó, căn bản phải trở lại quan điểm duy tâm, với một hình thức tôn giáo nào đấy, nhưng cũng có tiếp thu những thành quả của khoa học và vẫn chống những hình thức mê tín cũ.


 


 


Trần Đức Thảo


(Lịch sử Tư tưởng trước Marx, tr. 227-293)


 


 








1  Tài liệu [B]


2  In nhầm là thế kỷ thứ X - thế kỷ thứ V tr. CN. Đã sửa lại trong bài. PTL


3 Không rõ in nhầm từ chữ gì, nhưng Góp phần phê phán kinh tế - chính trị học mà là bài ca thì chắc là khó lòng tìm ra ca sĩ. PTL


4 Những niên đại đó là những năm mà các nhà triết học ấy được 40 tuổi, tức là điểm cao nhất trong cuộc đời của một người (theo truyền thống Hy Lạp) - BT. Những tài liệu chúng tôi tham khảo ghi ngày mất và ngày sinh của các triết gia này như sau: Thalès (khoảng 625 hay 624 – 547 hay 546), Anaximandre (610 - 546), Anaximène (khoảng 585-525) - PTL


5 In nhầm là Anaximandre. Đã sửa lại trong bài. PTL


6 Hiện nay sách báo triết học dùng từ «vận động» thay cho «biến chuyển».  BT


 


7 Theo truyền thuyết: Một hôm người la mời Empédocle đi ăn tiệc, nhưng  phải chờ mãi để đợi ông chủ tiệc, sau chủ tiệc đến làm chủ tọa rất độc đoán, bắt mọi người uống rượu rất nhiều, ai không uổng thì đổ rượu lên đều; hôm sau, Empédocle triệu tập chủ tiệc và chủ nhà ra tòa án, đề nghi xử tử. Ý nghĩa câu chuyện là lúc bấy giờ có một cuộc đấu tranh gay go giữa 2 phe: phe độc đoán và phe dân chủ.


8 Ở thời Cổ đại, nghề này có phần danh dự, vì dưới chế độ chủ nô Hy Lạp, gia đình còn truyền thống phụ quyền rất nặng. Đàn bà rất ít quyền, kết hôn căn bản là để có con và chuyển gia tài, vấn đề luyến ái tình cảm không có, nên phần tình cảm phát triển ngoài giá định lại có vai trò  văn hóa, xã hội. 


9 Cũng viết là Erinyes. PTL


10 Trao đổi sản phẩm là trao đổi không có tỷ lệ, chỉ theo nhận xét chủ quan. Trao đổi hàng hóa trực tiếp là trao đổi theo tỷ lệ giữa các hàng hóa, nhưng chưa có đơn vị chung để làm kích thước đo lường. Trao đổi bằng tiền tệ tức là theo 1 thước đo chung là tiền tệ.


(còn tiếp)


Nguồn: Lịch sử tư tưởng trước Marx. Trần Đức Thảo. Nxb Khoa học Xã hội, 1995.


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Đến với bài thơ… cực hay của Nguyễn Quang Thiều - Phạm Lưu Vũ 20.09.2018
Vũ Hoàng Chương – Lạc loài trong cõi nhân sinh - Đỗ Trường Leipzig 16.09.2018
Thái độ của Nguyễn Công Trứ đối với Triều Nguyễn qua sáng tác văn học - Nguyễn Phạm Hùng 14.09.2018
Dấu ấn ngữ âm lịch sử trong thơ Nguyễn Bính trước 1945 - Đặng Thị Thu Hà 13.09.2018
Lại chuyện đánh vần - Nguyễn Văn Dân 09.09.2018
"Truyện Kiều" và biệt tài sử dụng thành ngữ của Nguyễn Du - Vương Trọng 09.09.2018
Nguyễn Bính, nhà thơ tình xuất sắc Việt Nam thế kỷ XX - Đỗ Đình Thọ 09.09.2018
Nguyễn bính và và con đường trở thành “Người của ngày mai” - Đoàn Trọng Huy 04.09.2018
Nam Bộ trong đời thơ Nguyễn Bính - Võ Văn Nhơn 04.09.2018
Những bất hợp lý trong đề xuất cải tiến chữ Quốc ngữ của PGS.TS Bùi Hiền - Nguyễn Văn Hiệp 03.09.2018
xem thêm »