tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 26199109
Tiểu thuyết
12.01.2009
Liep Nicôlaievich Tônxtoi
Chiến tranh và Hòa bình

Phần thứ mười


I


Napôlêông đã khai chiến với nước Nga, vì ông ta không thể nào không đến Đresđen, không thể nào không bị những nghi thức nghênh tiếp long trọng làm choáng váng, không thể nào không mặc quân phục Ba Lan, không thể nào cưỡng lại những ấn tượng thôi thúc của một buổi sáng tháng sáu, vì ông ta không thể nào kìm nổi những cơn thịnh nộ trước mặt Curakin và sau đó trước mặt Balasốp.


Alếchxanđrơ đã cự tuyệt mọi cuộc thương quyết, bởi vì ông ta cảm thấy cá nhân minh bị lăng nhục. Bácclai đơ Tôly cố gắng chỉ huy quân đội cho thật tốt để làm tròn nhiệm vụ của mình và để được tiếng là một tướng tài, Rôstốp đã lao vào chém viên sĩ quan Pháp, bởi vì chàng không sao kìm hãm nổi ý muốn phi ngựa trên cánh đồng bằng phẳng. Và vô số những con người kia đã tham dự vào cuộc chiến tranh này cũng đều hành động như vậy, tùy theo những đặc tính riêng, những tập quán, những điều kiện sống và mục đích riêng của họ. Họ sợ hãi, vênh vang, mừng rỡ, phẫn nộ, suy luận, và tưởng đâu hiểu rõ việc mình làm lắm, tưởng đâu mình làm như vậy là để mưu lợi ích cho bản thân; kỳ thực, tất cả những con người này chẳng qua là những công cụ bất tự giác của lịch sử, và họ làm một việc mà bản thân họ không hiểu ý nghĩa, nhưng chúng ta thì lại hiểu. Đó là cái số phận không thể tránh khỏi của tất cả những con người thực tế tham gia hoạt động, và địa vị của họ càng cao thì lại càng mất tự do.


Ngày nay, những nhân vật thời 1812 đã từ lâu rời khỏi sân khấu; các quyền lợi cá nhân của họ đã biến mất không còn để lại dấu vết gì, và trước mắt chúng ta chỉ còn lại những hậu quả lịch sử của thời bấy giờ.


Nhưng nếu ta giả định rằng những con người Âu châu kia, dưới sự lãnh đạo của Napôlêông, thể nào cũng phải đi sâu vào nội địa nước Nga và chết ở đấy, thì ta có thể hiểu hết những hành động điên rồ, mâu thuẫn, tàn nhẫn kia của những người đã tham dự cuộc chiến tranh này.


Trời bắt tất cả những con người này, trong khi vẫn đeo đuổi những mục đích riêng tây, phải cùng góp phần thực hiện một kết quả duy nhất và to lớn mà không một ai - kể cả Napôlêông và Alếchxanđrơ - mảy may nghĩ đến.


Ngày nay ta đã thấy rõ đâu là nguyên nhân khiến cho quân Pháp bị tiêu diệt năm 1812. Không ai phủ nhận rằng, sở dĩ quân đội Pháp của Napôlêông bị tiêu diệt là vì, một mặt, họ đã xâm nhập nội địa nước Nga khi thời tiết đã quá muộn mà không chuẩn bị chiến dịch mùa đông, và mặt khác, tính chất khốc liệt của cuộc chiến tranh sau khi nhân dân Nga đã đốt cháy những thành phố của họ và lòng căm thù quân địch đã được kích thích mạnh mẽ. Nhưng lúc bấy giờ không ai đoán trước được cái điều mà ngày nay có vẻ hiển nhiên, là đạo quân ưu tú nhất thế giới gồm tám mươi vạn người và do một tướng tài bậc nhất chỉ huy lại có thể bị tiêu diệt trong cuộc xung đột với quân đội Nga yếu gấp hai lần, không có kinh nghiệm và dưới quyền chỉ huy của những viên tướng cũng không có kinh nghiệm. Không những không ai thấy trước được điều đó, mà về phía quân Nga, người ta còn tìm đủ cách để ngăn cản cái điều duy nhất có thể cứu vãn được nước Nga, còn về phía quân Pháp thì mặc dầu kinh nghiệm và cái gọi là thiên tài quân sự của Napôlêông, bao nhiêu cố gắng của họ đều nhằm làm sao đến Mátxcơva vào cuối mùa hạ, tức là nhằm thực hiện cái điều sẽ làm cho họ bị tiêu diệt.


Trong các tác phẩm sử học bàn về năm 1812, các tác giả Pháp rất thích nói rằng, Napôlêông đã cảm thấy cái nguy cơ của việc kéo dài chiến tuyến, rằng ông ta cứ lo tìm một cơ hội để giao chiến, rằng các thống chế của ông ta đã khuyên ông dừng lại ở Smôlen, và họ đưa ra nhiều luận cứ chứng minh rằng, lúc bấy giờ người ta đã nhận thức được tình hình nguy hiểm của chiến dịch; còn các tác giả Nga lại còn thích nói hơn nữa đến sự tồn tại của một thứ kế hoạch quân sự theo kiểu chiến tranh của người Skit ngay từ đầu chiến dịch; mục đích của nó là nhử Napôlêông đi sâu vào nội địa nước Nga, và người thì gán nó cho Phun, người thì gán cho một người Pháp, người thì gán cho Tôn, người thì gán cho bản thân hoàng đế Alếchxanđrơ, và họ đưa ra những bút ký, những dự án, những bức thư trao đổi, trong đó quả tình cũng có ám chỉ đến kế hoạch hành động ấy. Nhưng sở dĩ ngày nay về phía Pháp cũng như về phía Nga đều có nói rằng người ta đã dự kiến trước những điều đã xảy ra, thì đó chẳng qua là vì sự kiện lịch sử đã xác nhận điều đó. Giả sử việc này không xảy ra thì những lời ám chỉ này sẽ bị quên đi cũng như ngày nay người ta đã quên hàng ngàn hàng vạn điều ám chỉ và giả thiết trái ngược lúc bấy giờ vẫn lưu hành nhưng vì về sau tỏ ra không đúng sự thực nên đã bị bỏ rơi. Mỗi biến cố xảy ra bao giờ cũng nảy sinh nhiều giả thiết khác nhau, khiến cho dù sự việc diễn ra như thế nào đi nữa thì bao giờ cũng có những người nói: "Thì ngay từ dạo ấy tôi đã bảo là sự việc sẽ như thế mà", quên hẳn rằng trong vô số giả thiết được đưa ra có những giả thiết hoàn toàn mâu thuẫn.


Những giả thiết nói rằng, Napôlêông đã nhận thức được nguy cơ của việc kéo dài chiến tuyến và quân Nga có ý định nhử quân địch vào sâu trong nội địa của mình, hiển nhiên là thuộc vào loại giả thiết này. Và các sử gia đã phải gò ép sự thực nhiều mới có thể gán nhận thức kia cho Napôlêông và các thống chế của ông ta, hoặc gán những ý định nọ cho các tướng Nga. Sự thực hoàn toàn trái ngược những giả thiết này. Về phía quân Nga, qua suốt cuộc chiến tranh, không những người ta không hề có ý muốn nhử quân Pháp vào nội địa mà trái lại người ta còn tìm mọi cách chặn họ lại ngay lúc họ mới xâm nhập vào nước Nga; còn Napôlêông thì không những không hề sợ chiến tuyến của mình kéo dài mà còn mừng rỡ xem mỗi bước tiến về phía trước là một thắng lợi, và trái ngược với các chiến dịch trước đây, lần này ông ta thờ ơ, không muốn tìm cơ hội giao chiến.


Ngay từ đầu chiến dịch, quân đội ta đã bị cắt ra làm đôi và mục đích duy nhất của chúng ta là nối hai bộ phận này lại, tuy việc nối liền này chẳng có ích lợi gì cho việc rút lui và nhử quân địch vào nội địa. Hoàng đế đi với quân đội để cổ vũ binh sĩ bảo vệ từng tấc đất của nước Nga, chứ không phải để rút lui. Người ta xây dựng doanh trại Đrixa đồ sộ theo kế hoạch của Phun và không hề nghĩ đến việc rút lui xa hơn nữa. Sau mỗi bước rút lui, hoàng đế lại khiển trách các vị tổng tư lệnh. Không những hoàng đế không thể quan niệm được việc thiêu hủy Mátxcơva, mà thậm chí cũng không thể nào hình dung rằng có thể để cho quân địch đến Smôlen, và khi hai đạo quân đã hợp được với nhau thì ngài lại bất bình về Smôlen đã bị chiếm và bị đốt cháy mà không có một trận đánh toàn quân nào diễn ra ở trước thành này. Hoàng đế nghĩ như vậy, nhưng các tướng Nga và toàn thể nhân dân Nga thì lại càng bất bình hơn nữa khi nghĩ rằng quân ta rút sâu vào nội địa.


Sau khi đã cắt đôi quân ta, Napôlêông tiến sâu vào nội địa và bỏ lỡ nhiều cơ hội giao chiến. Tháng tám, ông ta ở Smôlen và chỉ nghĩ đến việc tiến xa hơn nữa, mặc dầu, như ngày nay ta đã thấy rõ, cuộc tiến quân này hiển nhiên là tai hại cho ông ta.


Các sự kiện đã chứng minh hiển nhiên rằng, Napôlêông không hề thấy trước nguy cơ của việc tiến quân về Mátxcơva, và Alếchxanđrơ cũng như các tướng Nga lúc bấy giờ không hề nghĩ đến việc nhử Napôlêông vào nội địa mà còn tìm cách làm ngược lại. Việc Napôlêông bị nhử vào nội địa đã xảy ra không do một kế hoạch nào cả (lúc bấy giờ không ai tin rằng có thể có một kế hoạch như vậy), nó đã xảy ra do sự kết hợp phức tạp của những âm mưu, những mục đích, những ý muốn của những con người tham dự cuộc chiến tranh trong khi họ không hề đoán trước được điều phải làm, ấy thế mà chính điều này lại là điều duy nhất đã cứu nước Nga. Mọi việc đã xảy ra một cách ngẫu nhiên. Quân đội ta ngay từ đầu chiến dịch đã bị cắt làm đôi. Chúng ta tìm cách nối lại hai bộ phận này, rõ ràng là nhằm mục đích mở trận chiến đấu và chặn cuộc xâm lăng của quân địch, nhưng trong khi tìm cách nối liền hai bộ phận, đồng thời chúng ta lại tránh không giao chiến với một kẻ địch mạnh hơn gấp bội, do đó buộc lòng cứ phải rút lui theo góc nhọn và đã nhử quân địch đến Smôlen. Nhưng nói rằng chúng ta rút lui theo một góc nhọn vẫn chưa đủ, bởi vì quân Pháp tiến ở giữa hai đạo quân của ta: điều đó làm cho cái góc nhọn này càng nhọn thêm và chúng ta lại càng rút lui xa hơn nữa. Chúng ta đã làm như vậy vì Bagrachiôn, tư lệnh đạo quân thứ hai căm ghét Bácclai đơ Tôly, con người Đức[1] đã mất tín nhiệm trong quân đội (Bagrachiôn phải ở dưới quyền chỉ huy của đơ Tôly) nên tìm mọi cách trì hoãn việc nối liền hai đạo quân để khỏi ở dưới quyền chỉ huy của ông ta. Bagrachiôn trì hoãn không thực hiện việc nối liền hai cánh quân, mặc dầu đó là mục tiêu chủ yếu của tất cả các vị chỉ huy, vì ông cảm thấy làm như thế tất sẽ đặt quân đội của mình vào một tình thế hiểm nghèo, và đối với ông ta, tốt nhất là rút xa hơn nữa về phía bên trái và phía nam, trong khi vẫn quấy rối cạnh sườn và sau lưng quân địch, đồng thời bổ sung quân số của mình ở Ucrain. Nhưng người ta lại tưởng ông nghĩ ra cách đó là vì không muốn ở dưới quyền chỉ huy của Bácclai, con người Đức mà ông căm ghét và cấp bậc lại thấp hơn ông.


Hoàng đế ở cạnh quân đội để cổ vũ nó, nhưng sự có mặt và thái độ lưỡng lự của ngài, bấy giờ không biết nên quyết định ra sao, cũng như con số đồ sộ những cổ vũ và những kế hoạch, đã làm tiêu ma sức chiến đấu của đạo quân thứ nhất, thế là quân ta vẫn phải rút lui.


Người ta dự định dừng lại ở doanh trại Đrixa: nhưng đột nhiên Paolusti, vì muốn làm tổng tư lệnh, đã dùng tính cương nghị của mình để gây ảnh hưởng với Alếchxanđrơ, thế là kế hoạch của Phun bị vứt bỏ và công việc được giao phó hết cho Bácclai. Nhưng vì Bácclai không được tin cậy nên người ta hạn chế quyền lực ông ta lại.


Quân đội bị phân tán, không có sự chỉ huy thống nhất, Bácclai mất tín nhiệm; nhưng do tình hình hỗn loạn, phân tán này, và do viên tổng tư lệnh Đức không được tín nhiệm, một mặt đã xảy ra tình trạng hoài nghi, lưỡng lự và việc tránh giao chiến (lẽ ra không thể tránh được giao chiến nếu hai cánh quân đã tập hợp và do một người khác chỉ huy chứ không phải Bácclai), mặt khác là nỗi bất bình đối với những người ngoại quốc mỗi ngày một tăng lên và tinh thần yêu nước được kích thích mạnh mẽ.


Cuối cùng, hoàng đế rời khỏi quân đội, và chỉ có một cách giải thích duy nhất và thuận tiện nhất về việc này, là nói rằng ngài cần phải về để cổ vũ tinh thần nhân dân ở hai thủ đô và xúc tiến cuộc chiến tranh nhân dân.Và việc hoàng đế bỏ về Mátxcơva đã làm cho sức mạnh của quân đội Nga tăng lên gấp ba lần.


Nhà vua rời khỏi quân đội để khỏi ngăn trở việc thống nhất quyền hành trong tay vị tổng tư lệnh, và hy vọng người ta sẽ thi hành những biện pháp kiên quyết hơn; nhưng tình hình bộ tư lệnh quân đội lại càng rắc rối và suy yếu hơn nữa. Benníchxen, đại công tước[2] và cả một đoàn phó tướng vẫn ở cạnh quân đội để theo dõi những hành động của vị tổng tư lệnh và thúc giục cho ông ta thêm phần hăng hái, và Bácclai ở dưới sự kiểm soát của những người làm "tai mắt cho hoàng đế" lại càng thấy mình mất tự do, càng thận trọng đối với những hành động có tính chất quyết định, và tìm cách tránh cơ hội giao chiến.


Bácclai chủ trương phải thận trọng. Thái tử ám chỉ rằng ông ta phản bội và đòi mở một trận đánh toàn quân. Lubômiaski, Branítski, Vlốtski và những người khác làm cho cái tin đồn ấy càng ầm ĩ. Đến nỗi Bácclai phải mượn cớ đệ trình giấy tờ cho nhà vua để phái mấy viên phó tướng người Ba Lan đến Pêtécbua, và công khai chống lại Benníchxen và đại công tước.


Cuối cùng, hai đạo quân đã gặp nhau ở Smôlen, mặc dầu Bagrachiôn không muốn.


Bagrachiôn đi xe ngựa đến nhà Bácclai ở. Bácclai đeo băng tay ra đón và báo cáo với Bagrachiôn, vị tướng cao cấp hơn mình. Bagrachiôn muốn tỏ ra đại độ, chịu phục tùng Bácclai mặc dù ông ta cấp cao hơn Bácclai, nhưng trong khi phục tùng như vậy, Bagrachiôn lại càng ít nhất trí với Bácclai hơn trước. Theo mệnh lệnh của hoàng đế, Bagrachiôn báo cáo trực tiếp với hoàng đế, ông viết cho Arắctsâyép: "Mặc dầu đó là ý muốn của hoàng đế, tôi thực không sao cộng tác với "ông tổng trưởng" (Bácclai) được. Xin ngài gia ân phái tôi đi đâu cũng được, dù là đi chỉ huy một trung đoàn thôi, nhưng tôi không thể ở đây, khắp tổng hành dinh đầy rẫy những người Đức, đến nỗi một người Nga không thể nào sống ở đây được và công chuyện sẽ chẳng ra sao hết. Tôi tưởng mình phục vụ hoàng đế và tổ quốc nhưng khi nhìn lại thì thấy tôi chỉ phục vụ cho ông Bácclai. Xin thú thực là tôi không muốn như vậy. "Cả bè lũ những bọn Baranítxki, Vintxingơrốt vân vân, càng làm cho những quan hệ giữa các vị tư lệnh thêm bất hòa và kết quả là sự chỉ huy lại càng ít thống nhất hơn trước. Người ta đã sửa soạn tấn công quân Pháp trước thành Smôlen. Người ta phái một viên tướng đi quan sát trận địa. Viên tướng này vốn ghét Bácclai, ông ta đến nhà người bạn làm chỉ huy quân đoàn và ở đấy suốt cả ngày rồi trở về gặp Bácclai và phê phán từng điểm một cái trận địa tương lai mà ông ta chưa hề trông thấy.


Trong khi người ta tranh cãi và tính toán, mưu mô về chiến trường tương lai, trong khi quân ta đi tìm quân Pháp mà lại lầm lẫn không biết nó ở đâu, thì quân Pháp đã chạm trán sư đoàn Nêvêrôpski và tiến đến sát chân thành Smôlen.


Quân ta đành phải mở một trận bất ngờ trước Smôlen để bảo vệ đường giao thông. Trận đánh đã diễn ra. Cả hai bên có hàng ngàn người chết.


Smôlen bị bỏ rơi, trái hẳn với ý muốn của hoàng đế và toàn dân. Nhưng chính nhân dân, bị viên tỉnh trưởng của họ đánh lừa, đã đốt cháy Smôlen, và những con người phá sản kia đi về Mátxcơva, trong lòng chỉ nghĩ đến những tổn thất của riêng mình, nhưng cũng khêu gợi lòng căm thù quân địch, làm thành một tấm gương sáng cho những người Nga khác. Napôlêông tiếp tục tiến quân, chúng ta cứ rút lui, và kết quả là cái điều làm cho Napôlêông bại trận đã xảy ra.


II


Công tước Anđrây vừa đi được một hôm thì hôm sau lão công tước Nicôlai Anđrâyêvích cho gọi tiểu thư Maria đến.


- Đấy bây giờ cô đã bằng lòng chưa? - Lão công tước nói. - Cô đã làm cho cha con tôi xích mích với nhau thế đã vừa ý chưa? Cô chỉ cần có thế thôi mà. Bây giờ thì hả rồi chứ? Chuyện này làm tôi khổ tâm. Tôi thì già yếu rồi, thế mà cô lại muốn thế. Thôi, tha hồ mà mừng.


Và sau đó, suốt cả tuần lễ, nữ công tước Maria không thấy mặt cha. Lão công tước ốm và không ra khỏi phòng làm việc.


Có một điều làm công tước Maria ngạc nhiên là trong thời gian ốm, ngay cả cô Buariên lão công tước cũng không cho đến thăm. Chỉ một mình Tikhôn được phép săn sóc ông cụ thôi.


Một tuần sau, công tước lại ra khỏi phòng, lại tiếp tục sinh hoạt theo nếp cũ, tỏ ra đặc biệt hăng hái trong việc xây dựng, làm vườn và chấm dứt tất cả các quan hệ trước kia với cô Buariên. Vẻ mặt cũng như giọng nói lạnh lùng của ông mỗi khi tiếp xúc với nữ công tước Maria hình như muốn nói với nàng: "Đấy cô đã bịa đặt đủ điều, cô đã nói xấu tôi với công tước Anđrây về thái độ của tôi đối với cô gái Pháp kia, và cô đã làm cho chúng tôi xích mích với nhau, nhưng cô thấy đấy, tôi chẳng cần gì đến cô, cũng như chẳng cần gì đến cái cô gái Pháp ấy".


Nữ công tước Maria sống nửa ngày với cậu bé Nicôluska, trông coi cậu bé học, thân hành dạy tiếng Nga và âm nhạc cho cậu, và nói chuyện với Đêxan; còn một nửa ngày thì nàng sống với mấy quyển sách, người u già và với những con người nhà trời thỉnh thoảng đánh bạo đi cửa sau vào thăm nàng.


Còn về chiến tranh, nữ công tước Maria cũng nghĩ như phụ nữ vẫn thường nghĩ đến chiến tranh. Nàng lo cho anh nàng hiện nay đang ở ngoài mặt trận, nàng không hiểu vì sao lại có chiến tranh, nàng kinh hãi trước sự tàn ác của loài người đã khiến cho họ chém giết lẫn nhau; nhưng nàng không hiểu tầm quan trọng của cuộc chiến tranh này, mặc dầu Đêxan, người vẫn thường ngày nói chuyện với nàng và rất thiết tha chú ý đến tình hình diễn biến của chiến sự, vẫn tìm mọi cách cắt nghĩa cho nàng biết quan điểm của mình, mặc dầu những con người nhà trời đến thăm nàng đều kinh hãi kể lại, mỗi người một cách, những tin đồn đại của nhân dân về cuộc xâm lăng của tên ma vương phái Cơ Đốc, và mặc dầu Giuyli, hiện nay là công tước phu nhân Đrubétskaia, lại thư từ với nàng và gửi từ Mátxcơva đến những bức thư đầy tinh thần yêu nước. Giuyli viết:


"Tôi viết thư cho bạn bằng tiếng Nga, bạn ạ, vì tôi căm thù tất cả bọn Pháp cũng như ngôn ngữ của chúng, và hễ nghe ai nói tiếng Pháp là tôi không sao chịu nổi. Ở Mátxcơva, chúng tôi đều say sưa ngưỡng mộ vị hoàng đế mà chúng ta hằng sùng bái.


Ông chồng tội nghiệp của tôi đang chịu cảnh nhọc nhằn đói khổ ở trong những lữ điếm Do Thái, nhưng những tin tức tôi nhận được lại càng làm cho tôi nức lòng.


Chắc thế nào bạn cũng nói đến hành động anh hùng của Raiépski đã ôm hôn hai đứa con trai của mình mà nói: "Tôi sẽ cùng chết với hai con tôi, chứ chúng tôi quyết không nao núng". Và thực vậy, mặc dầu quân địch mạnh gấp đôi, quân ta vẫn không hề nao núng. Chúng tôi cũng tìm cách tiêu khiển nhì nhằng cho qua ngày tháng, nhưng thời buổi chiến tranh vẫn là thời buổi chiến tranh! Hai công tước Alina và Xôphia cùng ngồi với tôi suốt ngày, và chúng tôi, những người quả phụ bất hạnh của những người chồng đang sống, chúng tôi vừa làm xơ vải băng vừa nói những câu chuyện thú vị; bạn ạ, tôi chỉ thiếu có bạn thôi...".


Nguyên nhân chính khiến nữ công tước Maria không hiểu hết tầm quan trọng của cuộc chiến tranh này là lão công tước không bao giờ nói đến nó, không thừa nhận nó, và trong bữa ăn vẫn thường chế nhạo Đêxan mỗi khi ông này nói đến nó. Giọng nói của công tước điềm nhiên và tự tin đến nỗi nữ công tước Maria cứ một mực tin cha, không cần suy nghĩ gì nữa.


Suốt cả tháng bảy năm ấy, lão công tước hoạt động rất hăng hái và thậm chí còn rất phấn chấn nữa. Ông sai dọn một khu vườn cây mới và khởi công xây một ngôi nhà mới cho gia nô ở. Chỉ có một điều làm nữ công tước Maria lo lắng: độ này ông ít ngủ và đã bỏ cái thói quen ngủ trong phòng làm việc. Mỗi đêm ông ngủ ở một chỗ khác nhau, khi thì ông bảo đặt giường ở hành lang, khi thì ông nằm trên đi-văng hay trên chiếc ghế bành kiểu Vônte trong phòng khách, và cứ mặc luôn cả áo mà ngủ, trong khi cậu bé Petrusca hay cô Buariên đọc sách cho ông nghe; có khi ông lại nằm ngủ trong phòng ăn.


Ngày mồng một tháng Tám, họ nhận được bức thư thứ hai của công tước Anđrây. Trong bức thư thứ nhất nhận được ít hôm sau khi ra đi, công tước Anđrây kính cẩn xin cha tha lỗi về những điều mà chàng đã cả gan nói và xin cha vẫn yêu thương chàng như trước. Lão công tước đã viết một bước thư thân ái trả lời bức thư này, và từ đó không gần gũi với cô gái Pháp nữa. Bức thư thứ hai công tước viết ở gần Vitép, sau khi quân Pháp đã chiếm thành phố này, trong thư sơ lược miêu tả lại chiến dịch vừa qua, có kèm theo cả một bản đồ, và có những dự đoán về những diễn biến sau này của chiến dịch. Trong bức thư này, công tước Anđrây trình bày cho cha chàng thấy rằng ở lại Lưxy Gôrư thật là bất tiện vì gần chiến trường, lại ngay trên con đường hành quân của quân đội và khuyên cha nên đi Mátxcơva.


Hôm ấy, trong bữa ăn chiều, nhân lúc Đêxan nói rằng nghe đâu quân Pháp đã vào Vitép, lão công tước bỗng sực nhớ đến bức thư của công tước Anđrây. Ông nói với nữ công tước Maria.


- Hôm nay vừa nhận được thư của công tước Anđrây, con đã xem chưa?


- Thưa cha chưa ạ. - Nữ công tước Maria hoảng hốt đáp. Nàng làm sao có thể đọc một bức thư mà nàng chưa hề nghe nói đến.


- Anh ấy viết về cuộc chiến tranh này - lão công tước nói với nụ cười khinh bỉ vẫn thưòng có mỗi khi nói đến chiến tranh hiện tại.


- Chắc phải thú lắm, - Đêxan nói.- Công tước có thể biết được...


- Ồ, thú vị lắm! - cô Buariên nói.


- Cô đi lấy bức thư ấy ra đây cho tôi, - lão công tước nói với cô Buariên. - Nó ở trên bàn con, dưới cái chặn giấy ấy.


Cô Buariên vui vẻ nhổm dậy.


- À thôi, - ông cau mày gọi - Mikhai Ivaních, anh đi lấy cho ta.


Mikhai Ivaních đứng dậy và đi vào phòng làm việc. Nhưng ông ta vừa ra khỏi phòng ăn thì lão công tước đưa mắt nhìn quanh có vẻ lo lắng, vứt cái khăn ăn xuống và thân hành đi lấy.


- Chúng chẳng biết làm gì hết, chỉ độc làm xáo lộn lên cả.


Trong khi ông đi, nữ công tước Maria, Đêxan, cô Buariên và cả cậu bé Nicôluska nữa đều im lặng đưa mắt nhìn nhau. Một lát sau, lão công tước trở lại, chân bước vội vàng, tay cầm bức thư và tấm bản đồ, theo sau là Mikhai Ivaních. Lão công tước đặt cả hai thứ đó bên cạnh mình, không cho ai xem trong bữa ăn.


Sau khi mọi người vào phòng khách, ông trao bức thư cho nữ công tước Maria và trong khi trải bản thiết kế ngôi nhà mới ở trước mặt và nhìn chăm chú vào đấy, ông bảo nàng đọc to bức thư lên. Đọc xong, nữ công tước Maria đưa mắt nhìn cha có ý dò hỏi. Ông nhìn vào bản thiết kế, rõ ràng là ông đang suy nghĩ miên man.


- Thưa công tước, ngài thấy việc ấy thế nào ạ? - Đêxan đánh bạo hỏi.


- Tôi, tôi ấy à... - Lão công tước đáp, vẻ như vừa tỉnh dậy một cách khó chịu, mắt không rời khỏi bản thiết kế.


- Rất có thể chiến trường lan đến gần chúng ta...


- Ha, ha, ha!... Chiến trường - công tước nói. - Tôi đã bảo và tôi vẫn bảo rằng chiến trường là ở Ba Lan, là không bao giờ quân địch tiến qua sông Nêman.


Đêxan sửng sốt nhìn công tước đang nói đến sông Nêman trong khi quân địch đã ở trên sông Đơniép, nhưng nữ công tước Maria không biết vị trí địa lý của sông Đơniép nên cứ đinh ninh là cha nàng nói đúng sự thực.


- Khi nào tuyết bắt đầu tan là chúng sẽ chết đuối trong những đầm lầy ở Ba Lan. Chỉ có chúng mới không thấy điều đó, - lão công tước nói, hẳn là ông nghĩ đến chiến dịch năm 1807 mà ông cảm thấy rất gần đây. Đáng lý Benníchxen phải tiến vào nước Phổ sớm hơn, nếu thế thì công việc đã có thể chuyển biến khác rồi.


- Nhưng thưa công tước, - Đêxan nói dè dặt, - trong thư nói đến Vitép.


- A! bức thư à! phải rồi! - công tước nói, có vẻ bực mình. - Phải rồi, phải rồi... - vẻ mặt ông ta bỗng sa sầm lại. Ông im bặt một lát. - Phải rồi, anh ấy nói rằng quân Pháp đã bị đánh bại ở gần sông nào thế nhỉ?


Đêxan cúi mặt, hạ thấp giọng đáp:


- Công tước không nói gì về việc ấy cả.


- Chả nhẽ công tước Anđrây lại không nói gì? Có phải ta bịa ra đâu?


Mọi người im lặng hồi lâu.


- Phải rồi, phải rồi... Này Mikhai Ivaních, - đột nhiên ông ngẩng đầu lên nói và đưa tay chỉ bản thiết kế, - Ông thử bảo tôi xem ông muốn sửa đổi lại như thế nào nào...


Mikhai Ivaních đến bên cạnh bản thiết kế. Sau khi nói với ông ta kế hoạch xây dựng, lão công tước đưa mắt nhìn nữ công tước Maria và Đêxan có vẻ giận dữ rồi lui về phòng riêng.


Nữ công tước Maria đã trông thấy cái nhìn lúng túng và kinh hãi của Đêxan hướng về phía cha mình, nàng nhận thấy lão công tước im lặng, và ngạc nhiên khi thấy ông để quên bức thư của con trai trong phòng khách; nhưng nàng sợ, không những không dám nói chuyện và hỏi Đêxan xem tại sao cha mình lại im lặng và lúng túng, mà thậm chí nàng còn sợ không dám nghĩ đến điều đó nữa.


Buổi tối, lão công tước sai Mikhai Ivaních đến phòng tiểu thư Maria lấy bức thư công tước Anđrây mà ông bỏ quên ở phòng khách. Nữ công tước Maria trao bức thư cho Mikhai Ivaních. Mặc dầu cảm thấy ngường ngượng, nàng vẫn đánh bạo hỏi Mikhai Ivaních xem cha nàng đang làm gì.


- Cụ vẫn bận bịu - ông ta mỉm một nụ cười vừa kính cẩn vừa châm chọc làm cho nữ công tước Maria tái xanh mặt. - Cụ rất băn khoăn về việc xây tòa nhà mới. Cụ vừa đọc sách một lát và bây giờ- Mikhai Ivaních hạ thấp giọng nói - cụ đang ngồi ở bàn giấy, chắc là đang bận viết chúc thư (trong thời gian gần đây, một trong những công việc công tước thích nhất là sắp xếp những giấy tờ mà ông sẽ để lại sau khi chết, mà ông gọi là chúc thư).


- Cha tôi định phái Anpatích đến Smôlen phải không? - Nữ công tước Maria hỏi.


- Vâng. Anpatích đợi lệnh cụ đã lâu.


III


Khi Mikhai Ivaních cầm bức thư quay trở lại phòng làm việc thì lão công tước đang ngồi trước bàn giấy, mắt đeo kính, trước mặt và trên mấy ngọn nến có một cái chao đèn. Trên bàn la liệt những giấy má, ông đang đọc các thủ cảo của mình với một cử chi hơi long trọng, tay cầm những tờ giấy đưa ra rõ xa: đó là "những nhận xét" của ông, như ông vẫn nói, mà ông muốn để lại cho hoàng đế sau khi chết.


Khi Mikhai Ivaních bước vào, ông đang rơm rớm nước mắt hồi tưởng lại cái thời ông viết những điều ông đang đọc hôm nay. Ông cầm lấy bức thư ở trên tay Mikhai Ivaních, bỏ nó vào túi, xếp giấy má lại và cất tiếng gọi Anpatích nãy giờ vẫn đợi ngoài cửa.


Ông đã ghi trên một mảnh giấy những thứ phải mua ở Smôlen và trong khi đi đi lại lại trong phòng, ông dặn dò Anpatích đang đứng đợi ở cửa.


- Thứ nhất là giấy viết thư, mày nghe rõ chứ, tám xếp, mép giấy thiếp vàng theo mẫu như thế này, mua sơn, mua xi gắn phong bì, theo tờ danh sách của Mikhai Ivaních.


Ông bước vài bước đi đi lại lại trong phòng, liếc mắt nhìn quyển sổ ghi chép:


- Sau đó mày trao bức thư của ta đến tận tay tỉnh trưởng về vấn đề tập hồi ký của ta.


Rồi còn phải mua mấy cái then cài cho những cánh cửa của ngôi nhà mới theo đúng kiểu mẫu của công tước bày ra. Lão công tước còn bảo mua một cái hộp bìa đặc biệt để đựng di chúc.


Việc dặn bảo Anpatích kéo dài hơn hai tiếng đồng hồ. Nhưng công tước vẫn chưa chịu để Anpatích đi. Cuối cùng ông ngồi xuống, bắt đầu suy nghĩ, đoạn nhắm mắt lại, ngủ gà ngủ gật. Anpatích khẽ cử động.


- Thôi được, mày cứ đi ra, khi cần ta sẽ gọi.


Anpatích đi ra. Công tước quay trở lại bàn giấy, đưa mắt nhìn lên bàn, sửa soạn giấy tờ một lát, đoạn đóng bàn lại và ngồi viết thư cho viên tỉnh tưởng.


Khi ông gắn xi vào phong bì và đứng dậy thì đêm đã khuya. Ông muốn ngủ, nhưng biết rằng mình không thể nào ngủ được, và những ý nghĩ đen tối nhất bao giờ cũng đến với ông khi ông nằm xuống giường. Ông gọi Tikhôn đến, cùng y đi khắp các gian phòng để chỉ chỗ đặt giường cho ông đêm nay. Ông xem xét cẩn thận từng góc nhà.


Ông thấy chẳng có chỗ nào thích hợp, nhưng cái đi-văng thường ngày ông vẫn ngủ ở trong phòng làm việc lại có vẻ bất tiện hơn. Cái đi-văng này làm cho ông sợ, chắc hẳn nó làm cho ông nảy sinh những ý nghĩ nặng nề mỗi khi nằm ở đấy. Ông chẳng thấy nơi nào ổn, nhưng dù sao cái góc nhỏ ở trong phòng đi-văng sau chiếc dương cầm ông vẫn thấy vừa ý hơn cả vì ông chưa bao giờ ngủ ở đấy.


Tikhôn và một người đầy tớ mang giường đến và bắt đầu dọn giường.


- Kê thế không được, kê thế không được! - Công tước quát, đoạn tự tay đẩy cái giường ra cách góc phòng một quãng, rồi lại kéo lùi về chỗ cũ.


"Thôi được, bây giờ thì đâu vào đấy cả rồi, ta có thể đi ngủ"- Công tước nghĩ thầm và để cho Tikhôn cởi áo.


Ông bực mình nhăn mặt trong khi cố gắng cởi áo ngoài và quần đùi, rồi cởi quần áo xong, ông buông mình rơi phịch xuống giường và có vẻ như trầm ngâm suy nghĩ trong khi đưa mắt nhìn cặp chân gầy guộc và vàng võ của mình một cách khinh bỉ. Ông không nghĩ ngợi gì nhưng chỉ chần chừ thấy ngài ngại không muốn giơ cặp chân kia lên và nằm duỗi mình trên giường. "Sao mà khó khăn nhọc mệt thế! Chà, miễn sao cái trò dằn vặt này chấm dứt sơm sớm một chút, và chúng mày buông tha ra cho tao yên cái thân"- ông nghĩ thầm. Ông mím môi cố gắng làm động tác ấy, lần này là lần thứ hai mươi nghìn, rồi nằm duỗi thẳng. Nhưng ông vừa mới nằm xuống thì cái giường đã bắt đầu đu đưa từ phía sau ra phía trước, dường như đang thở một cách nặng nhọc. Cứ đêm nào cũng thế, ông nhắm mắt một lát nhưng lại mở mắt ra ngay.


- Chẳng làm sao yên thân được, cái quân chết tiệt! - ông càu nhàu như bực mình với ai. "Phải rồi, phải rồi, còn có một việc gì quan trọng, một việc rất quan trọng mà ta định dành đến một lúc nằm trên giường sẽ nghĩ đến. Then cửa à? Không, ta đã nói rồi. Không, có một cái gì đây đã xảy ra ở phòng khách. Nữ công tước Maria có nói điều gì nhảm nhí chăng? Hay là cái lão phải gió Đêxan kia nói điều gì. À trong túi áo ta có cái gì, ta quên khuấy đi mất".


- Tisơka! Lúc ăn cơm họ nói việc gì thế?


- Nói về Lão công tước Mikhai...


- Thôi, im đi, im đi!... - công tước lấy tay đập lên bàn. - Tao biết rồi. Đó là bức thư của công tước Anđrây. Nữ công tước Maria đã đọc bức thư này cho ta nghe. Đêxan có nói điều gì về Vitép ấy. Bây giờ ta phải xem mới được.


Ông sai lấy bức thư ở trong túi áo lại và bảo kéo chiếc bàn con có đặt cốc nước chanh và cầm lấy một cây nến lại cạnh giường rồi đeo mục kỉnh và bắt đầu đọc. Đến lúc này, trong đêm khuya tịch mịch, trong khi đọc bức thư dưới ánh sáng leo lét của ngọn đèn chao xanh, lần đầu tiên ông mới vỡ nhẽ thấy tầm quan trọng của nó.


"Quân Pháp đã ở Vitép. Sau bốn ngày hành quân, chúng có thể đến Smôlen; có thể chúng đã đến đây rồi".


- Tisơka! - Tikhôn giật mình đứng phắt dậy, nhưng ông lại nói:


- Thôi, không cần, không cần!


Ông đặt bức thư ở dưới cọc đèn sáp và nhắm mắt. Ông thấy lại con sông Đônao, một buổi trưa rạng rỡ, những đám lau, doanh trại quân Nga, và bản thân ông lúc bấy giờ là một viên tướng trẻ tuổi, mặt không có một nếp nhăn, hoạt bát, vui vẻ, da dẻ tươi tắn, đang bước vào cái trướng lộng lẫy của Pôchômkin, và đột nhiên một tình cảm ghen tuông, cũng mạnh liệt như ngày xưa khi ông trông thấy người sủng thần của nữ hoàng, lại sôi sục trong lòng ông. Rồi ông thấy trước mắt ông hiện ra một người đàn bà dáng hơi thấp, người đẫy đà, khuôn mặt đầy đặn, da vàng - đó là hoàng thái hậu - ông thấy lại những nụ cười, nghe vọng lại những lời nói ân cần của hoàng thái hậu khi người tiếp kiến ông lần đầu, và sực nhớ đến khuôn mặt của hoàng thái hậu trong linh cữu, nhớ lại cuộc xung đột giữa ông và ông Dubốp[3] ở trước quan tài về quyền được hôn bàn tay của người.


"Ồ! Giá có cách gì sớm quay về thời ấy, làm sao cho tất cả hiện tại chấm dứt chong chóng đi, để cho ta được yên thân!".


Lưxy Gôrư, trang viên của công tước Nicôlai Anđrâyêvích Bôncônski ở cách Smôlen sáu mươi dặm Nga về phía tây, và cách con đường cái đi Mátxcơva ba dặm.


Tối hôm công tước dặn dò Anpatích, Đêxan xin phép được vào gặp nữ công tước Maria. Ông ta nói với nàng rằng sức khỏe công tước không được hoàn toàn bình thường và công tước không nghĩ đến biện pháp để bảo vệ an toàn cho mình, trong khi theo như bức thư của công tước Anđrây thì rõ ràng là ở lại Lưxy Gôrư không phải không nguy hiểm! Ông kính cẩn khuyên nàng nhờ Anpatích chuyển cho tỉnh trưởng Smôlen một bức thư, yêu cầu ông ta cho biết tình hình và những nguy cơ đang đe dọa Lưxy Gôrư. Nữ công tước Maria ký bức thư do Đêxan viết hộ và trao thư cho Anpatích dặn đưa tận tay viên tỉnh trưởng, và nếu có gì nguy hiểm thì phải trở về báo ngay.


Sau khi nhận được những mệnh lệnh ấy, Anpatích đầu đội mũ da hải ly trắng (quà của công tước cho lão ta), tay xách cái gậy, giống hệt như cái gậy của công tước, ngồi trên một chiếc xe nhỏ có cái diềm bằng da, thắng ba con ngựa xám mập mạp. Người nhà đi theo sau, tiễn lão lên đường.


Chuông nhỏ trên xe đã buộc chặt lại và các lục lạc đều bọc giấy. Công tước không cho phép bất kỳ ai đi xe có chuông ở Lưxy Gôrư. Nhưng Anpatích lại thích nghe tiếng chuông và tiếng lục lạc trong khi đi một đoạn đường dài. Những người thân thuộc của Anpatích, người thư ký, người kế toán, người nấu bếp và người phụ bếp, hai bà già, thằng bé hầu phòng, những người đánh xe ngựa và những người đầy tớ khác đều ra tiễn.


Cô con gái của Anpatích đặt sau lưng và trên chỗ ngồi của lão mấy chiếc gối độn lông bọc vải hoa. Bà em vợ già dúi cho lão ta một cái gói nhỏ. Một người đánh xe ngựa xốc nách đỡ lão lên xe.


- Chà, chà, lại những chuyện đàn bà! Những chuyện đàn bà! - Anpatích vừa thở hổn hển vừa nói nhanh, y hệt như lão công tước, rồi ngồi lên xe. Sau khi ra những mệnh lệnh cuối cùng về công việc cho người quản lý, Anpatích không bắt chước ông chủ nữa: lão cất mũ để lộ cái đầu hói và làm dấu thánh ba lần.


- Nếu có việc gì xảy ra... thì ông phải trở về đây ông Yacốp Anpatích ạ: vì Chúa, xin ông thương hại chúng tôi với - vợ lão nói với lão, ý muốn ám chỉ những tin đồn đại về chiến tranh và quân địch.


- Chuyện đàn bà, toàn những chuyện vớ vẩn của đàn bà... - Anpatích lẩm bẩm một mình và ra đi. Lão đưa mắt nhìn qua cánh đồng ở xung quanh: những đám lúa mạch đã vàng, những đám yến mạch xanh tốt, những thửa đất còn đen mới bắt đầu cày. Anpatích ngồi trên xe ngắm nhìn những thửa ruộng mùa xuân năm nay hẳn là bội thu, nhìn những đám lúa mạch đây đó đã bắt đầu gặt, nghĩ đến việc gieo giống, đến mùa màng, và nhẩm lại xem mình có quên mệnh lệnh nào của công tước chăng. Sau khi bận dừng lại dọc đường để cho ngựa ăn, chiều ngày mồng bốn tháng tám, Anpatích vào thành phố.


Dọc đường, lão gặp và vượt qua những đoàn xe vận tải và những đoàn quân. Khi đến gần Smôlen, lão nghe xa xa có tiếng súng nổ nhưng không để ý. Điều khiến lão chú ý nhất là khi đến gần Smôlen, lão thấy một cánh đồng yến mạch rất tốt bị lính cắt, hẳn là để lấy lúa làm cỏ cho ngựa ăn, và gần đấy quân đội đã hạ trại, cảnh tượng này làm lão ngạc nhiên, nhưng lão lại quên ngay trong khi nghĩ đến những việc mình phải làm.


(còn tiếp)


Nguồn: Chiến tranh và Hòa bình. L. Tônxtoi. Tập 2. Bộ mới ba tập. NXB Văn học, 6 - 2007. In theo lần xuất bản đầu tiên năm 1961.







[1] Thực ra Bácclai là người Tô Cách Lan, nhưng ngày xưa ở Nga danh từ "Đức", thường dùng để chỉ tất cả những người ngoại quốc nói chung.




[2] Tức thái tử hoàng đệ.




[3] Dubốp: sủng thần cuối cùng của Êcatêrina II.



Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
23.
24.
25.
26.
27.
28.
29.
30.
31.
32.
33.
34.
35.
36.
37.
38.
39.
40.
41.
42.
43.
44.
45.
46.
47.
48.
49.
50.
51.
52.
53.
54.
55.
56.
57.Phần Thứ Mười một
58.
59.
60.
61.
62.
63.
64.
65.
66.
67.
68.
69.
70.
71.
72.
73.
74.
75.
76.
77.Phần Thứ tám
78.
79.
80.Phần Thứ sáu
81.Lời Người biên tập và Lời Giới thiệu của Cao Xuân Hạo
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Bảy đêm huyền thoại - Vũ Bằng 03.02.2019
Dưới chín tầng trời - Dương Hướng 03.02.2019
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 22.01.2019
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 19.01.2019
Đường công danh của Nikodema Dyzmy - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 11.01.2019
Dòng đời - Nguyễn Trung 07.01.2019
Đông Chu liệt quốc - Phùng Mộng Long 07.01.2019
Trả giá - Triệu Xuân 04.01.2019
Trên sa mạc và trong rừng thẳm - Henryk Sienkiewicz 04.01.2019
Chiến tranh và Hòa bình - Liep Nicôlaievich Tônxtoi 27.12.2018
xem thêm »