tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 24012727
30.09.2015
Nguyễn Mộng Giác
Nỗi Băn Khoăn Của Kim Dung (Tiểu luận 2)

NỖI BĂN KHOĂN CỦA TIÊU PHONG


Sự thức tỉnh đưa đến những hậu quả không mấy may mắn. Ông trở thành người cô đơn, xa lạ với đồng loại từ lúc ông tự hỏi:


- Làm sao đã là người cả lại còn phân chia làm người Khất Đan, người Đại Tống, rồi Nữ Chân, người Cao Ly... Bọn người bên này sang bờ cõi nước kia để kiếm lương, rồi bọn người bên kia lại qua đất bên này để giết người đốt nhà? Người bên này mắng người bên kia là CON CHÓ LIÊU, người bên kia mắng lại người bên này là CON HEO TỐNG.


(Trang 271 quyển 3)


Hay xa hơn nữa, từ khi ông dùng trực giác và sự tha thiết đến tình người để phân biệt phải trái, chân nguỵ trong lời kể chuyện Nhạn môn quan của Trí Quang đại sư.


 


Trí Quang kể lại cuộc phục kích quân Khất Đan mấy mươi năm về trước để giải thích thân thế Kiều Phong:


 


" Thủ lãnh đại ca thấy quân Liêu cẩu đến gần liền hú lên một tiếng dài để ra hiệu. Sau các tảng đá lớn, ám tiễn tới tấp bay ra: nào cương tiễn, nào tụ tiễn, nào phi đao, nào thiết chuỳ đều tẩm thuốc kịch độc. Bỗng nghe những tiếng oai oái vang dậy, cả bọn Liêu cẩu nhốn nháo, ngã ngựa đến quá nửa. Lúc nầy tôi đã đếm được rõ ràng bọn võ sĩ Khất Đan có mười tám tên cả thảy, mười một tên trúng ám khí, thế là chỉ còn bảy tên. Chúng tôi liền nhất tề xông ra khoa đao lên chém giết một lúc sạch cả, không còn một mống chạy thoát.


(Trang 139, 140 quyển 1)


Nghe xong cuộc thắng lợi vẹn toàn này, do lòng tự ái quốc gia, nhiều người trong Cái bang hoan hô nhiệt liệt.


Bọn chó Liêu dĩ nhiên tàn ác như dã thú , giết được càng nhiều càng tốt. Vậy mà các bậc tiền bối anh hùng đã giết sạch trong chớp mắt mười tám tên chó chết. Quần chúng nhiệt liệt tán thưởng, giống như khán giả vỗ tay khi thấy quân biên phòng da trắng giết sạch cả bộ lạc da đỏ, giống như độc giả nhật báo vui mừng đọc tin thắng trận ở Sơn Mỹ: Lực lượng đồng minh Hoa Kỳ thuộc sư đoàn Americal phối hợp với không quân và pháo binh, đã tấn công vào một làng chiến đấu phòng thủ kiên cố của cộng quân sáng ngày 16-3-1968 vừa qua. Giao tranh diễn ra ác liệt suốt buổi sáng và xế trưa. Kết quả: 128 xác địch đếm được tại trận, 13 tình nghi bị bắt giữ và 3 vũ khí bị tịch thu.


 


Nhưng sau những vui mừng đột khởi ban đầu, một hai tháng hay một hai năm sau, phải có những hoài nghi nhân bản: Tại sao 128 tên địch bỏ xác tại trận mà quân bạn chỉ tịch thu được có 3 vũ khí? Chính câu hỏi này đã đưa đến vụ án thời danh Calley. Đoàn Dự và Tiêu Phong khi nghe Trí Quang đại sư kể chuyện, cũng có những hoài nghi tương tự. Tiêu Phong thầm hỏi: Đại sư vừa nói bọn võ sĩ Khất Đan này tất được tuyển chọn rất kỹ mà sao chỉ trong khoảnh khắc, chúng đã bị giết hết. Đó là những băn khoăn xuất phát từ lòng nhân đạo, đòi phân biệt người dân vô tội chịu đựng lịch sử và kẻ chiến đấu. Bên kia Nhạn môn quan, chưa phải là vùng oanh kích tự do, nên cả hai con người chí tình Đoàn Dự và Tiêu Phong đều tỏ vẻ hoài nghi, trong lúc quần hào vỗ tay hoan nghênh nhiệt liệt.


 


Tuy nhiên sự thức tỉnh chỉ mới bắt đầu, nên Tiêu Phong chưa dám có thái độ nào. Ông vẫn im lặng, nghe Trí Quang đại sư kể tiếp:


 


Chúng tôi đành ỷ bên mình đông người xúm lại uy hiếp, sáu bảy người nhảy xô lại tấn công gã đàn ông và bốn năm người xúm lại đánh thiếu phụ, Không ngờ thiếu phụ này chẳng biết chút võ nghệ nào. Vừa bị chém một đao, cánh tay nàng đã đứt lìa mình. Thiếu phụ bồng con té nhào xuống đất. Một người khác bồi thêm phát nữa hớt mất nửa đầu nàng. Gã đàn ông tuy võ nghệ cao cường nhưng bị bảy tám cao thủ vây đánh thì còn tài nào có thể rảnh tay giải cứu cho vợ con. Mấy chiêu đầu gã chỉ dùng thủ pháp kỳ dị cướp lấy vũ khí chúng tôi, chứ không chém giết ai. Nhưng khi thấy vợ con bị giết rồi thì mắt gã đỏ ngầu, vẻ mặt hung dữ trông mà phát khiếp. Gã người Liêu tưởng đã giết hết bọn cường địch liền chạy lại bên thi thể vợ, ôm lấy thây nàng khóc rống lên, tiếng khóc cực kỳ bi thảm. Tôi nghe tiếng khóc không khỏi mủi lòng. Thì ra tên Liêu cẩu này ác như quỷ, dữ như dã thú mà hãy còn nhân tính. Giọng khóc bi ai của gã tưởng chẳng kém gì người Hán chúng ta.


(trang 141 quyển 1)


 


Hoá ra chính Trí Quang đại sư cũng thức tỉnh như Tiêu Phong, Đoàn Dự. Đại sư hơi có chút kinh ngạc, thú nhận tiếng khóc Khất Đan không khác mấy với tiếng khóc Đại Tống.


 


Triệu Thiền Tôn, một cao thủ cũng tham dự vào trận phục kích ấy nói:


 


- Loài dã thú còn có thâm tình giữa cha con và vợ chồng vị tất nó đã thua loài người. Thế thì người Khất Đan cũng là người, người Hán cũng là người, sao nó lại không thương xót bằng người Hán?


 


Mọi người nghe Triệu Thiền Tôn nói đều la ó phản đối, Triệu Thiền Tôn chỉ cười nhạt không đáp. Nụ cười khinh miệt ấy khai ngộ cho Tiêu Phong, con người bị xâu xé giữa cuộc phân tranh khốc liệt về chủng tộc. Không một chút do dự ông tự vạch cho mình một lý tưởng: cố gắng xoá bỏ hận thù giữa các quốc gia chủng tộc, nhìn con người không qua lòng tự ái tự tôn tích luỹ lâu đời do âm mưu chính trị, mà qua tình thương giữa người với người.


 


Con người ra đời với đôi má hây hây bụ bẩm, và đôi mắt trong sáng đen nháy, lớn lên trong tiếng nô đùa hồn nhiên, vào đời hệ luỵ với tình cha mẹ, tình vợ chồng, tình tương thân hàng xóm láng giềng, tình quê hương quyến luyến, từ một cổng làng một bụi tre, một hòn đá bên đường, một cây đa cỗi, con người nguyên vẹn niềm vui và nỗi buồn, dù phút vui phù phiếm mà buồn da diết, vẫn được quyền sống nốt cho hết khoảng thời gian thiên phú. Sự thực phân tranh, cùng với bản tính chân thực chí tình, đã giúp Tiêu Phong ngộ đạo, Từ TỰ GIÁC, ông bắt đầu GIÁC THA.


 


Phần Hai - Chương 1 - Tâm sự Nhạn Môn quan


TIẾNG GẦM CỦA CON HÙNG SƯ


Không phải bằng những bài kệ. Không phải bằng những câu quát tháo phẫn nộ nơi cửa miệng các vị thiền sư. Là một cao thủ võ lâm, Tiêu Phong có một lối khai ngộ riêng của con nhà võ. Những vấn nạn khai ngộ của ông liên quan đến võ học, đã thức tỉnh từ một vị tăng Thiếu Lâm cho đến đám đông kiếm khách.


Có thể có nhiều lối khai ngộ khác. Như bài kệ Trí Quang đại sư viết cho Tiêu Phong trước khi viên tịch:


 


Chúng sinh đều một cuộc


Vạn vật thế bình quân


Thánh hiền hay súc loại


Thảy tới chỗ đồng nhân


Khất đan với Hán nhân


Bất luận giả hay chân


Ân oán cùng vinh nhục


Không hơn đống bụi trần


 


Đã thức tỉnh đầu óc những kẻ mang nặng thành kiến, oán thù, khiếp sợ trên cái thế chông chênh ở Nhạn môn quan.


 


Nhưng Tiêu Phong chọn một lối khai ngộ thích hợp với đối tượng: khai ngộ bằng võ học. Điều đó không có gì ngạc nhiên, vì triết lý của sự sống không hạn hẹp trong các suy niệm nghiêm túc về vũ trụ, nhân sinh, mà bàng bạc trong lời chim sớm, nụ cười trẻ thơ, trăng tròn rồi khuyết, bèo hợp rồi tan. Vậy thì tại sao lại không có thể tìm thấy một lẽ sống, một hướng đi trong cách sử một chiêu kiếm, vung một đường quyền, luyện một nội lực. Lấy võ để khai ngộ là đã vượt qua được cái chấp đầu tiên: trọng lý thuyết và các suy niệm thuần lý, xem nhẹ sinh hoạt bình thường của thực tại. Nhờ vậy, cách giác tha của Tiêu Phong đã thức dậy niềm băn khoăn trong mọi người, khiến họ xao xuyến bàng hoàng, đặt ngược vấn đề, tra hỏi về những điều lâu nay tưởng là chân lý vĩnh cửu.



 


Con hùng sư giữa đám quần hùng đã dùng tiếng gầm của võ công để giác tha. Trước hết, ông thức tỉnh tăm tối cho một kẻ tưởng đã xoá hết hình sắc, ý thức vô thường: nhà sư Huyền Tịch.


 


"Lúc này, đôi bên cùng sử dụng toàn Thái tổ trường quyền, ngoài việc so bì các võ công cao thấp, không còn chỗ nào để nhiếc móc nhau nữa. Huyền Tịch thấy Huyền Nạn chỉ trong chớp mắt là nguy hiểm đến tính mệnh, không nói nữa, phóng véo một chỉ ra, điểm huyệt tuyệt kỹ này của phái Thiếu Lâm gọi là Thiên Trúc Phật Chỉ. Tiêu Phong thấy Huyền Tịch phóng chỉ điểm ra, vừa nghe tiếng vù vù rất nhỏ nhẹ, đã nói ngay:


 


- Lâu nay tôi vẫn ngưỡng mộ ngón Thiên Trúc Phật Chỉ quả nhiên lợi hại. Nhưng ngón này là võ công của người Hồ bên Thiên Trúc mà đại sư đem ra để đấu với huyền phát chính tông của Đức Thái Tổ bản triều, thì dù đại sư có thắng được tôi, há chẳng mang tiếng là kẻ thông Thiên bán nước, làm nhục cho bản triều ư?


 


Huyền Tịch vừa nghe, bất giác rùng mình.


 


Hôm nay quần hùng sở dĩ đến đây vây đánh Tiêu Phong vì ông là giòng giống rợ Hồ nước Khất Đan. những môn phái võ Thiếu Lâm được truyền vào Trung Quốc từ lâu. Các môn phái ở Trung nguyên chẳng nhiều thì ít đều có liên quan đến những môn võ của phái Thiếu Lâm. Mọi người cơ hồ quên lãng mối liên quan giữa người Hồ và phái này.


 


Quần hùng nghe Tiêu Phong nói, ai nấy trong lòng rung động, vì trong các vị anh hùng ở đây, có nhiều nhân vật kiến thức rất rộng, không khỏi nghĩ thầm: Bọn ta đã kính cẩn Đạt Ma Lão Tổ như một vị thần minh mà sao lại căm hận người Khất Đan đến xương tuỷ? Cả người Khất Đan cho chí người Thiên Trúc đều là nói giống rợ Hồ chứ đâu có cùng chủng tộc với mình? Xét cho cùng thì hai giống người này khác nhau xa: người Thiên Trúc trước nay không tàn sát đồng bào Trung quốc, còn người Khất Đan thì tàn ác vô cùng.


 


Như vậy thì không phải cứ thấy người Hồ là giết, mà bên trong còn phân biệt kẻ thiện người ác. Thế thì giòng giống Khất Đan không có ai là người tốt ư?


(trang 151, 152 quyển 2)


Tiêu Phong lấy ngay cái eo hẹp của lượng người để làm vấn nạn. Người Hán có mặc cảm tự tôn của người Hán, hãnh diện với Thái Tổ trường quyền do vị vua sáng lập ra nhà Tống sáng chế. Từ đó, quần hùng Trung nguyên xem thường bọn tây hồ, bắc địch, nam man, đông di. Bây giờ, trong lúc nguy nan, nhà sư nặng lòng dân tộc mà quên đạo pháp lại đem võ công của người Hồ ra tranh đấu với võ công bản triều, không chú ý đến sự nghịch lý trớ trêu của hành động. Nếu vì muốn thắng Hồ mà phải sử dụng võ công của rợ Hồ, thì làm sao phân biệt được phải trái, đen trắng?


 


Huyền Tịch bất giác rùng mình vì Tiêu Phong đã chứng tỏ cho đại sư thấy sự mê lầm, và hơn thế nữa, đánh đúng được niềm băn khoăn bấy lâu Huyền Tịch chưa tìm ra lối thoát: Làm sao giải quyết được mâu thuẫn quyền lợi dân tộc và đao pháp? Nếu tu sĩ phải đứng trước một hoàn cảnh trớ trêu, một bên là sự tồn vong tối thượng của quốc gia một bên là lý tưởng tôn giáo, thì tu sĩ phải dung hoà thế nào giữa đạo và đời? Huyền Tịch trước hết tự nhận là một đại sư xem tất cả không hơn đống bụi trần hay trước hết là một công dân Đại Tống? Nếu vì quyền lợi của Đại Tống mà mê lầm, Huyền Tịch có quyền tiếp tục mặc bộ áo cà sa. Chỉ có các nhà sư Việt Nam thời Lý Trần mới có quyết định cởi áo nâu cầm gươm giệt giặc, rồi rửa tay gác kiếm, thanh thản trở về dưới cội Bồ đề. Mà cho dù có dứt khoát được như vậy, trên toà sen, Đức Phật cũng không khỏi nhìn nhà sư ái quốc với đôi chút ngậm ngùi . Huyền Tịch bất giác rùng mình, rồi từ đó cập thuyền vào bến Giác.


 


Sau đó, Tiêu Phong đặt câu hỏi khai ngộ rõ ràng hơn cho đại sư Huyền Độ:


"Đột nhiên Tiêu Phong hỏi:


- Huyền Độ đại sư, gia gia tại hạ (chỉ Tiêu Viễn Sơn, người Khất Đan, cha của Tiêu Phong, bây giờ đang tu ở chùa Thiếu Lâm) ở quí tự có mạnh giỏi không?


Huyền Độ sửng sốt đáp:


- Lệnh Tôn đã quy y, vào thanh tu trong hậu viện chùa Thiếu Lâm. Lúc bần tăng đi Nam Kinh, không muốn đến chào lệnh tôn để khỏi bận lòng trần tục.


 


Tiêu Phong nói:


 


- Tại hạ muốn gặp gia gia để hỏi người một câu.


 


Huyền Độ hắn giọng một tiếng chưa nói gì, thì Tiêu Phong lại tiếp:


 


- Tại hạ muốn hỏi gia phụ: Nếu Liêu binh đến đánh chùa Thiếu Lâm, thì người xử trí ra sao?


 


Huyền Độ đáp ngay:


 


- Bần tăng nghĩ rằng dĩ nhiên cư sĩ sẽ giết địch để bảo vệ Phật pháp.


 


Tiêu Phong nói:


 


- Nhưng gia phụ là người Khất đan, chẳng lẽ lại vì người Hán mà giết người Khất đan ư?


 


Huyền Độ trầm ngâm một chút rồi nói:


 


- Bang chúa (chỉ Tiêu Phong) quả là người Khất đan mà bỏ chỗ tối để theo chỗ sáng, thật là đáng kính phục.


 


Tiêu Phong nói:


 


- Đại sư là người Hán thì nghĩ người Hán sáng mà người Khất Đan tối. Tại hạ người Khất đan cũng tưởng Đại Liêu sáng còn Đại Tống tối, Tổ tiên tại hạ bị giống người Yết tàn sát, lại bị người Tiên ti hà hiếp cực kỳ khốn khổ, chạy hết chỗ này đến chỗ khác. Đời nhà Đại Đường, người Hán võ công cực thịnh, đã giết không biết bao nhiêu là dũng sĩ, cướp bao nhiêu là phụ nữ Khất đan. Bây giờ đời Tống, võ công người Hán kém cỏi, nên lại bị người Khất Đan tàn sát. Hai bên thù oán đời đời biết bao giờ mới hết?


(trang 337, 338 quyển 8)


Huyền Độ lẳng lặng một lúc, rồi cất tiếng niệm Phật nghĩa là bất đầu nhận thức được lẽ sắc không, vượt qua những cố chấp về kỳ thị chủng tộc và tự ái quốc gia. Sự thức tỉnh của một đại sư ngộ đạo đưa tâm hồn người đến chỗ sáng suốt, nên có thể Huyền Độ đại sư lâm râm niệm kinh Kim Cương hay Viên Giác.


 


Nếu tất cả đều ngộ tự nhiên thiên hạ sẽ thái bình. Mọi người sẽ thành thật thương yêu nhau, tôn trọng lẽ sống và quyền tự do tối thượng, đề cao nhân phẩm. Khổ nỗi tôn giáo chỉ là cái mộc tự vệ, an ủi của kẻ yếu, khi chưa giải quyết được sự bất công. Khi chưa giải quyết được nguồn nheo nhóc trên địa hạt hữu hình cụ thể, khuynh hướng giải thích siêu hình để con người chấp nhận thực trạng khốn khó gần giống như sự làm ngơ, thoả hiệp. Chính đó là nguyên nhân sự lúng túng thụ động của Thiếu Lâm trước những vấn nạn cấp thiết đòi hỏi một giải pháp cấp thời, nhãn tiền. Nhiều lúc các đại sư lại còn hiện diện cho kẻ khác lấy cớ hành động mê muội. Quần hào Cái bang truất ngôi bang chúa của Kiều Phong, các đại sư Thiếu Lâm có mặt để đóng vai chủ toạ. Quần hào Trung nguyên tụ họp ở Tụ hiền trang, để xếp đặt kế hoạch tiêu diệt một người chỉ có mỗi cái tội làm người Khất đan, các nhà sư vẫn sẵn sàng tham dự. Với uy tín cao cả môn phái được xem là võ lâm bắc đẩu, nếu các vị sư Thiếu lâm muốn hoà giải giữa hai dân tộc Liêu Tống, muốn ngăn cản một cuộc đổ máu vô ích, muốn giác ngộ kẻ đại ác, muốn bảo vệ công lý, thì hoài bão đó có thể thực hiện được dễ dàng. Ở đây, họ không làm gì hết, chỉ nhìn mọi diễn tiến kỳ quặc của đời sống thế tục với nhãn quan siêu hình.


 


Cho nên Tiêu Phong đã khai ngộ cho các thiền sư, mà sự tranh chấp đố kỵ giữa hai dân tộc láng giềng vẫn không giải quyết được. Những âm mưu tranh bá đồ vương vẫn tiến hành, và tiến hành ngay dưới mái chùa Thiếu Lâm: Mộ dung Bác âm mưu phục hưng cho Đại Yên, Tiêu Viễn Sơn âm mưu thu thập tinh tuý võ học của Trung nguyên cho quyền lợi ưu thắng của Đại Liêu. Chính Mộ Dung Bác hùng hồn chứng minh rằng sở dĩ mình hùng hồn phao vu cho Tiêu Viễn Sơn, chỉ vì muốn gây hiềm khích giữa Liêu Tống. Hai nước giao tranh, họ Mộ Dung mới có thể nhân cơ hội phục hưng nhà Yên.


 


Ngay dưới mái chùa Thiếu Lâm, Mộ Dung Bác đề nghị với Tiêu Phong:


"- Nếu nhà Mộ Dung dựng cờ khởi nghĩa dấy quân vào cướp Sơn Đông, mà được Đại Liêu hưởng ứng, đồng thời mấy nước Thổ phồn, Đại Lý cùng Tây Hạ cũng đứng lên thì năm nước chúng ta chia cắt nhà Đại Tống không phải là chuyện khó. Nước Yên của tại hạ không dám động chạm đến một tấc đất của Đại Liêu. Nếu công cuộc phục hưng thành tựu thì chỉ lấy đất Nam triều. Vụ này rất có lợi cho Đại Liêu, sao Tiêu huynh lại không vui lòng cử sự?


Tiêu Phong nghiêm nghị nói:


- Mối đại thù giết mẹ đâu có thể đem ra làm chuyện mua bán? Báo được thù thì báo, cha con ta chịu chết nơi đây. Những chuyện tham lam hèn hạ, cha con họ Tiêu này đâu có thể làm được.


 


Mộ Dung Bác ngửa mặt lên trời cả cười rồi lớn tiếng nói:


 


- Ta thường nghe nói Tiêu Phong đại hiệp là tay anh hùng quán thế kiến thức phi thường. Dè đâu bữa nay mới thấy rõ y là kẻ không hiểu đại nghĩa mà chỉ sính cường theo cái dũng của kẻ thất phu. Ha ha! Thiệt là đáng tức cười.


 


Tiêu Phong biết lão dùng lời nói khích, lạnh lùng nói:


 


- Tiêu Phong là anh hùng hào kiệt cũng được mà là phàm phu tục tử cũng được, nhưng không thể để kẻ khác dùng làm cái bung xung cho thoả tâm nguyện của họ.


 


Mộ Dung Bác nói:


 


- Kẻ ăn lộc vua phải biết trung quân mà đại hiệp lại nghĩ đến tư cừu của cha mẹ, không đem lòng tận trung báo quốc, há chẳng bất nghĩa với Đại Liêu?


 


Tiêu Phong tiến lên một bước hiên ngang nói:


 


- Ngươi vừa mới nói ngoài biên cương hai nước Tống Liêu thù hận giết nhau gây nên thảm trạng. Ngươi đã thấy cảnh người Tống và người Liêu chia lìa vợ con nhà tan người chết rồi chớ gì? Hai nước Tống Liêu bãi cuộc binh đao mấy chục năm xâm lấn Nam triều, rồi sẽ có bao nhiêu người Tống phải phơi thây? Bao nhiêu người Liêu phải uổng mạng?


 


Cuộc chiến chinh thảm khốc trên thế gian này ai là người nắm chắc được phần thắng? Nhà Đại Tống binh nhiều lương đủ, chỉ cần mấy viên đại tướng hết sức chống cự thì nước Đại Liêu và nước Thổ Phồng có hợp lực chiến đấu mà thắng được cũng phải máu chảy thành sông, thây chất thành núi, để cho họ Mộ Dung nhà ngươi thừa cơ phục hưng Yên Quốc. Việc kiến công lập nghiệp cần phải giữ đất yên dân như thế sao?


(trang 225, 226 quyển 7)


Tiêu Phong nhìn con người như nhìn một sinh vật tối thượng không thể nhân danh bất cứ điều gì, đưa ra bất cứ chiêu bài nào để hành hạ huỷ diệt. Dù biên giới có là sông rộng nước chảy tràn hai bờ xa lạ hay là những ngọn núi chất ngất đi lại khó khăn, bên này Nhạn môn quan và bên kia Nhạn môn quan, Tiêu Phong chỉ thấy những người dân sống trọn vẹn liên kết với tình cha mẹ vợ chồng anh em láng giềng, hệ luỵ với đất đá cây cỏ ruộng nương. Ngược lại, Mộ Dung Bác chỉ xem con người như một phần tử của cộng đồng thuần nhất bởi nòi giống quyền lợi vì vậy chịu tất cả những áp lực của gánh nặng của áp lực tinh thần, siêu hình, kinh tế, văn hoá. Con người, theo Mộ Dung Bác chỉ xứng đáng tồn tại nếu chịu tuân theo những quy luật có lợi cho cộng đồng, thích hợp với guồng máy chung.


 


Những lời tâm huyết của Tiêu Phong đã thức tỉnh được phần nào Mộ Dung Bác, kẻ chỉ mới mơ ước vươn tới chiếc vương miện uy quyền. Mộ Dung Bác chưa mắc kẹt trong mê hồn trận của sức mạnh uy quyền, chưa đạt danh vọng nên có thể tha làm phúc. Nhưng Tiêu Phong đã thất bại khi muốn can gián một ông vua tại vị dấn mình vào cuộc chiến tranh để mở rộng bờ cõi: Gia Luật Hồng Cơ.


 


Tiêu Phong không làm gì được để ngăn cản cuộc nam chinh của hoàng đế Đại Liêu, đành liều thân uy hiếp Hồng Cơ để bắt thề độc là từ nay về sau không bao giờ có ý định xua quân vượt qua Nhạn môn quan. Sau hành động tuyệt vọng ấy, Tiêu Phong chỉ còn một ngõ cụt: cái chết.


 


Đối với Đại Liêu, Tiêu Phong hết còn đất sống, vì đã dám bức bách hoàng đế. Đối với Đại Tống, trước sau ông cũng chỉ là một kẻ xa lạ không thể hoà đồng vào cuộc sống chung của Hán tộc. Kẻ muốn làm kiếp chim, bay bổng lên trên, xoá hết ranh giới nhỏ hẹp để sống theo tình người, kẻ muốn Nhạn môn quan hạ thấp và nâng cao thương yêu, liên đới nhân loại, không thể nào có đất đứng giữa xã hội này.


 


Ông chỉ còn có cách tự vẫn, để cho vó ngựa Khất đan không vượt qua ải. Ông đã thành công một cách tuyệt vọng:


"Vó ngựa lộp cộp vang lên một lúc, hàng vạn nhân mã nước Liêu vừa đi vừa ngoảnh cổ lại nhìn thi thể Tiêu Phong nằm thẳng dưới đất ra chiều thương cảm.


Trên vòm trời, tiếng chim líu lo gọi nhau. Một đàn hồng nhạn vượt qua đầu đoàn quân Liêu từ phía bắc xuống phía nam lại vượt qua bức tường thành Nhạn môn quan rồi bay mãi đi. Quân Liêu đi mỗi lúc một xa, tiếng vó ngựa dần dần biến thành những tiếng sấm rền khe khẽ phía sau núi.


(trang 354 quyển 8)


Cuối cùng, vượt qua được biên giới quốc gia, chỉ có loài chim. Loài người hai chân dính chặt vào đất bùn lầy, lòng đầy thành kiến và hận thù, hai tay với mãi không tới được dự ước, làm sao ngông cuồng bắt chước Tiêu Phong?


Lục Mạch Thần Kiếm chấm dứt với tiếng thở dài của Kim Dung và lời ríu rít líu lo chế diễu của một loài chim.


___


(1) Theo nhận xét của A Châu


(2) Theo ý kiến Bảo Thiên Linh


 


    Phần Hai - Chương 2 - Những bước vô chiêu của Lệnh Hồ Xung


THỰC TRẠNG PHÂN HÓA CỦA CÁC CHÍNH PHÁI


Đến bộ truyện Tiếu ngạo giang hồ, Kim Dung hết sức bi quan khi nhận định về chính phái. Thực trạng phân hoá không những phát sinh giữa phái khác, mà còn manh nha rồi phát tác trầm trọng tạo cảnh nồi da nấu thịt giữa các kiếm khách cùng một phái với nhau.


Trong phái Hoa Sơn, có một mối thù truyền kiếp giữa phe khí tông và kiếm tông đến độ Nhạc Bất Quần thà mất một tên đệ tử tài ba còn hơn thấy hắn trọng kiếm hơn trọng khí. Dù Nhạc Bất Quần có che giấu, cái quá khứ đẫm máu của cuộc tương tàn giữa hai phe Hoa sơn vẫn làm cho mọi người trong võ lâm rùng mình.


Trong phái Hành Sơn, do tính tình khác biệt, gia cảnh sang hèn, vẫn có sự hiềm khích âm ỉ giữa Mạc Đại tiên sinh và Lưu Chính Phong. Lúc Tung Sơn âm mưu bức tử Lưu Chính Phong, Mạc Đại tiên sinh không ra tay viện trợ. Mãi về sau, khi biết chắc chắn Lưu Chính Phong sắp chết, Mạc Đại tiên sinh mới quyết định giết Phí Bân. Người đọc có thể xem đó là hành động cuối cùng của một chưởng môn chính phái để chuộc lỗi kẻ sắp lìa đời, tự xoá hết mọi mặc cảm tội lỗi để thảnh thơi hưởng hết cuộc đời thừa.


 


Trong phái Thái Sơn, trên Phong thiền đài, chính sư thúc của chưởng môn là Ngọc Cơ Tử đã giết chết chưởng môn là Thiên Môn đạo nhân. Đến lúc Ngọc Cơ Tử trở thành phế nhân cụt cả hai tay, thì Ngọc Khánh Tử lại tranh giành chức chưởng môn Thái Sơn với Ngọc Âm Tử, làm trò cười cho hàng nghìn người cả chính lẫn tà.


 


Sự phân hoá đó bắt nguồn ngay trong bản chất các phái thuộc phe chính. Hầu hết danh môn chính phái đều là những kết tập cục bộ. Mỗi phái vì cùng một nguồn gốc võ học, tự họp nhau lại thành một nhóm người có tổ chức. Trên có chưởng môn, truyền lưu theo võ công, giữ bí quyết tuyệt học của môn phái. Sau đó, theo trình độ, phân chia địa vị huynh đệ.


 


Bản chất của môn phái là sự độc lập, tự tồn. Lý tưởng của võ lâm là làm thế nào để mỗi phái được tồn tại lâu dài ở một địa phương riêng biệt không xâm phạm quyền lợi khu vực của nhau. Đào Hoa Tiên tuy không được bình thường về thần kinh, nhưng nhờ Doanh Doanh, mớm lời đã nói rất đúng thực trạng chia rẽ ngay trong cách tạo lập các chính phái:


 


"Ngũ Nhạc kiếm phái hợp nhất thì được, nhưng năm trái núi Thái Sơn, Hành Sơn, Hoa Sơn, Hằng Sơn và Tung Sơn lại ở năm phương vị khác nhau: đông, nam, tây, bắc, trung, thì làm sao hợp liền vào một khối được? Tả Lãnh Thiền đâu phải đức Thượng đế có quyền di sơn đảo hải để chụm năm tòa núi lớn này vào một chỗ”.


(trang 2042 quyển 2)


Vì được tạo thành trong tinh thần cục bộ địa phương và muốn duy trì trạng thái biệt lập về quyền lợi và bổn phận, nên giới luật của chính phái có chủ ý duy trì trật tự cố hữu, bảo vệ nguyên trạng. Ngay cả hai phái võ uy tín về phương diện đạo đức là Võ Đang và Thiếu Lâm cũng có một thái độ thiếu dứt khoát đối với thực trạng bất công bóc lột tàn nhẫn của xã hội. Chính phái thường làm ngơ trước bất công, gian tà, hay nếu có thái độ, chỉ là một thái độ hoà hoãn, gần như khuyến khích. Chính phái thường hô hào bảo vệ một thứ tôn ti trật tự có lợi cho thiếu số đặc quyền.


Chúng ta cứ lấy thất giới của Hoa Sơn làm bằng chứng.


Trong lễ bái sư của Lâm Bình Chi, Nhạc Bất Quần uỷ nhiệm cho Lệnh Hồ Xung long trọng tuyên đọc bảy điều giới của môn phái. Lệnh Hồ Xung liền nói:


"Lâm sư đệ hãy nghe đây.


Nhất giới của bản phái là lừa thầy diệt tổ, bất kính tôn trưởng.


Nhị giới là ỷ mạnh hiếp yếu, gia hại kẻ vô tội.


Tam giới là gian dâm hiếu sắc, trêu cợt phụ nữ.


Tứ giới là đồng môn ghen ghét, tàn sát lẫn nhau.


Ngũ giới là thấy lợi quên nghĩa, trộm cắp tài vật


Lục giới là ngông cuồng tự đại, khinh khi đồng loại


Thất giới là giao thông với địch, cấu kết bọn yêu tà.


Hoa Sơn thất giới là thế đó. Đã là đệ tử bản môn nhất luật phải thi hành.


(trang 464 Tiếu ngạo giang hồ 3)


Chúng ta không dám nghi ngờ trí nhớ xuất chúng của Lệnh Hồ Xung nên chắc chắn đây là những giới luật mọi môn phái Hoa Sơn phải thuộc, để làm phương châm cho hành động. Suốt bảy điều răn, chúng ta đã thấy gì?


 


- Điều thứ nhất và điều thứ tư có mục đích bảo vệ trật tự có sẵn trong môn phái. Điều thứ nhất (lừa thầy diệt tổ, bất kính tôn trưởng) nhằm bảo vệ trật tự hàng dọc và điều thứ tư (đồng môn ghen ghét, tàn sát lẫn nhau) nhằm bảo vệ trật tự hàng ngang. Muốn bảo vệ trật tự đó, người lập thất giới đã tiên liệu những ngoại lệ nguy hiểm.


 


- Trước hết phải ngăn ngừa uy quyền của kẻ thật xuất sắc về võ công hay nắm địa vị thuận lợi để lạm dụng chức vụ. Điều hai ngăn ngừa kẻ mạnh hiếp yếu, điều sáu ngăn ngừa kẻ có tài tự cao tự đại. Còn điều ba và điều năm ngăn ngừa những lạm dụng của kẻ nắm ưu thế, lạm dụng tiền tài và tình yêu.


 


- Tuy vậy, điều răn cuối cùng mới là điều quan trọng nhất, đập mạnh vào trí nhớ kẻ nhập môn. Đó là điều giao thương với địch, cấu kết bọn yêu tà.


 


Nếu không bị ám ảnh bởi thù nhà, chắc chắn Lâm Bình Chi không khỏi thắc mắc tự hỏi: Thế nào là địch? Thế nào là yêu tà? Không phải vô tình mà các cao thủ võ lâm sáng lập Hoa Sơn phải dành rất nhiều mơ hồ trong cách định nghĩa chữ ĐỊCH, chữ YÊU TÀ. Sự chừa rất nhiều tự do để suy diễn quy nạp về đối phương có mục đích ngăn ngừa hầu hết, nếu không bảo là tất cả, các ảnh hưởng ngoại lai. Những gì xâm phạm đến trật tự có sẵn, đều có thể bị gắn chữ YÊU TÀ. Những nhân tài dám ra ngoài khuôn khổ có sẵn, có thể bị xem là ĐỊCH.


 


Không biết các giới luật các phái khác trong Ngũ nhạc kiếm như thế nào, chúng ta chỉ xét riêng trường hợp Hoa Sơn, đã thấy thất giới điều này là cái gươm bén dành cho chưởng môn, để giữ vững trật tự, duy trì nguyên trạng, cắt đứt mọi hy vọng hoài bão canh tân cho phù hợp với hoàn cảnh.


 


Như vậy, xét chung, tính chất cục bộ là bản chất của chính phái. Gạt bỏ âm mưu hiệp nhất để làm minh chủ thống nhất võ lâm, chúng ta thấy lập luận của Nhạc Bất Quần ở Phong Thiền đài thật đáng với thực trạng phe chính:


 


"Sự phân tán trên chốn giang hồ trải hàng ngàn năm đã gây ra những vụ thù hằn chém giết không bao giờ chấm dứt. Số bạn đồng đạo võ lâm bị chết uổng không biết bao nhiêu mà kể. Xét cho cùng thì kiếp nạn giang hồ gây ra chỉ vì ý kiến riêng rẽ bè phái. Tại hạ nghĩ rằng nếu khắp võ lâm không còn môn hộ bang phái riêng biệt, thiên hạ biến thành một nhà, ai ai cũng coi nhau như huynh đệ đồng đạo thì những tai nạn huyết kiếp mười phần bớt được chín. Các vị anh hùng hào kiệt đã không phải bỏ mình trong lúc tráng niên thì dĩ nhiên số cô nhi quả phụ trên đời không còn mấy nữa.


 


Đáng tiếc là các môn phái võ lâm tu luyện võ thuật theo những nguồn gốc khác nhau, vì thế môn phái đã có sự cách biệt do những môn võ công gây nên rồi. Như vậy mà bây giờ muốn cho những người luyện võ không phân biệt tôn phái để thành thiên hạ đệ nhất gia là một việc khó khăn không biết đến đâu mà nói”.


(trang 2046, 2047 TNGH quyển 12)


Sau đó, bản chất của chính phái cũng là tính chất bảo thủ. Nó đưa hành động nhân danh phe chính đến ngõ cụt phi lý hoặc biến thiện chí thế thiên hành đạo của họ thành cố chấp, mâu thuẫn. Không có gì nực cười bằng cảnh vì đuổi theo tru diệt tên yêu tà Hướng Vân Thiên, hằng trăm kiếm khách phe chính sẵn sàng kề cận hợp tác với hàng trăm tên yêu tà của ma giáo. Biên giới chính tà không còn nữa rồi, và từ trên trà đình uống rượu với Hướng Vân Thiên, tên lãng tử phiêu bạt Lệnh Hồ Xung nhìn xuống đám người lúc nhúc dưới kia, không thể nhận ra ai là kẻ đáng trọng, ai là kẻ tà ma mà bảy điều răn của Hoa Sơn đã nhắc nhở đến.


Giống như Trương Vô Kỵ, Lệnh Hồ Xung bước chân vào chốn giang hồ là cuộc đời nhọc nhằn tanh tưởi này với một mối băn khoăn. Có được cái quật cường chí tình của Kiều Phong, cộng với sự hoạt bát lãng mạn của Đoàn Dự, thêm vào sự hào phóng liều lĩnh của tên lãng tử, Lệnh Hồ Xung đã được Kim Dung cung cấp cho đầy đủ mọi hành trang để thay mặt ông giải quyết một vấn nạn cấp thiết thời đại.


Trương Vô Kỵ vẽ lông mày cho Triệu Minh, chàng công tử cành vàng lá ngọc nước Đại Lý có lẽ cũng đang vẽ lông mày cho Vương Ngọc Yến.


Đến lượt Lệnh Hồ Xung, chàng can đảm nhìn thẳng vào vấn đề, không chạy trốn, không tự dựng một màn giả trang để đóng vai đạo tặc hay hiền triết. Lệnh Hồ Xung đã tự nhủ:


"Bịt tai để ăn cắp nhạc ngựa là tự dối mình và dối người. Lệnh hồ Xung này khi nào lại hành động thế được"


(trang 521 quyển 3)


Can đảm và thẳng thắn, Lệnh hồ Xung nhìn thẳng vào anh em và bọn yêu tà, nhìn sâu đằng sau cái mặt nạ lòe loẹt son phấn. Chàng hỏi Lưu Chính Phong của phái Hành Sơn:


 


"Lưu sư thúc, chúng ta tự hào theo đường nghĩa hiệp, thề chẳng chung trời với bọn tà ma. hai chữ nghĩa hiệp đó nghĩa làm sao? Khinh khi người trọng thương, tàn sát một cô gái nhỏ vô tội, có đáng kể là nghĩa hiệp không? (ám chỉ hành động đê hèn của Phí Bân).


 


Khúc Dương thở dài nói:


 


- Những chuyện này bọn ma giáo chúng ta cũng không làm đâu Lệnh Hồ huynh đệ".


(trang 420, quyển 5)


 


Qua bao nhiêu chuyện trường giang, Kim Dung vẫn trở lại khởi điểm: làm sao phân biệt được chính với tà để tìm lại niềm tin đã mất nơi một nhà nho hết sức mong muốn tái lập đạo đức, giữ trọn tình người.


 


Hợp tấu khúc Tiếu ngạo giang hồ giữa Khúc Dương và Lưu Chính Phong chỉ là một trường hợp đặc biệt, một kẽ hở họa hoằn để con người siêu thoát trên vòng thị phi đố kỵ. Tuy giữ được nhạc phổ, Lệnh Hồ Xung lại chưa thể đem cái lý tưởng tốt đẹp của Tiếu Ngạo Giang Hồ thực hiện trong đời, soi sáng ranh giới chính tà. Mà thực ra, đến cuối truyện, độc giả vẫn thấy chưa có ai can đảm vượt lên trên những quyền lợi, những thành kiến và cưỡng chế xã hội như Khúc Dương và Lưu Chính Phong. Thành thử, khúc Tiếu ngạo giang hồ chỉ thoảng đưa đâu đó, thật xa xôi, như một giấc mơ huyền hồ.


 


Trong lúc vẫn còn liên luỵ với các cuộc tranh chấp giữa đời, nỗi băn khoăn của Lệnh Hồ Xung vẫn còn đó: Ai là chính, ai là tà? Chân tiểu nhân hay nguỵ quân tử?


 


Lệnh Hồ Xung không giấu được vẻ do dự trước mặt sư phụ nên Nhạc Bất Quần đã nghiêm trang đặt vấn đề:


 


- Xung nhi, việc này quan hệ rất lớn đến sự hưng suy vinh nhục của phái Hoa Sơn, mà cũng quan hệ đến cả sự yên nguy thành bại của đời ngươi nữa. Ta chỉ hỏi ngươi một câu:


 


Ngươi thấy người ma giáo có ghét như kẻ thù và quyết tru diệt chẳng dung tha không?


 


Lệnh Hồ Xung không biết trả lời thế nào. Gã trân trân nhìn sư phụ đứng ngẩn ngơ ra. Lệnh Hồ Xung vẫn hoài nghi trong dạ.


 


- Sau này nếu ta gặp người trong ma giáo, ta có nên hỏi cho biết rõ phải quấy, hay là hạ thủ giết ngay... Có thật ma giáo chẳng một ai tử tế?


(trang 468 quyển 3)


 


Không chịu nổi sự băn khoăn dày vò, có lúc Lệnh Hồ Xung muốn bịt tai lại, nhắm mắt chấp nhận một giải pháp dễ dàng đánh lừa lương tâm:


 


"Phải rồi! Nếu đã là người tốt sao còn gia nhập ma giáo. Nếu họ lầm đường, thì cũng lập tức rút lui mới phải. họ không chịu rút lui tức là cam tâm về phe tà ma để gây hoạ cho người thế gian rồi".


(trang 471 quyển 3)


 


Nhưng bản tính vốn thành thực, Lệnh Hồ Xung chỉ có thể bịt tai làm người điếc trước mặt một tên nguỵ quân tử như Nhạc Bất Quần. Đối với người trung thực như Phong Thanh Dương, Lệnh Hồ Xung nói thật những gì mình nghĩ.


 


Khi đã không còn tin ở người, không thể phân biệt được nguỵ quân tử và chân tiểu nhân, thì chỉ còn một đường lối xử sự là tin ở ta, vì ta.


"Lệnh Hồ Xung cười nói:


- Đối với kẻ đê hèn vô liêm sỉ cũng phải dùng đến cách đê hèn vô liêm sỉ.


Phong Thanh Dương nghiêm sắc mặt hỏi:


 


- Vậy đối phó với bậc chính nhân quân tử thì sao?


Lệnh Hồ Xung ngần ngừ nói:


 


- Chính nhân quân tử ư? Đối với chính nhân quân tử ư?


Nếu đối phương là bậc chính nhân quân tử mà muốn giết đồ tôn, dĩ nhiên đồ tôn chẳng thể cam chịu chết. Gặp trường hợp bất đắc dĩ thì dù là thủ đoạn đê hèn vô liêm sỉ cũng phải nhẫn nhục dùng vậy, chứ biết làm sao?


(trang 615 quyển 4)


Đó là lối giải quyết can đảm, dám nhìn thẳng vào vấn đề, không trốn nấp vào chiêu bài hay lý thuyết. Triết học và tôn giáo phiêu lưu qua bao dòng suối dòng sông, cuối cùng cũng chỉ đến được một bến tiêu sơ: trở về lại lòng ta. Là một kiếm khách giữa chốn giang hồ tráo trở, Lệnh Hồ Xung không thể làm gì khác hơn là thành thực lấy mình làm phương châm xử thế. Giữa cảnh náo loạn ồn ào của biết bao thù hằn mưu đồ giành giật, Lệnh Hồ Xung chỉ biết sống theo một lẽ giản dị: trời sinh ta ra sao thì ta sống như vậy, vốn vậy, như nước chảy xuống triền núi thấp, như gió thổi vào khoảng không, nghĩa là dùng đôi mắt trẻ thơ mà nhìn cuộc đời.


(còn tiếp)


 


Nguồn: Nỗi Băn Khoăn Của Kim Dung. Tiểu luận của Nguyễn Mộng Giác. Nhà xuất bản Văn Mới, Sài Gòn 1972.

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Phùng Quán: "Có những lúc ngã lòng/ Tôi vịn câu thơ mà đứng dậy" - Trần Thanh Phương 21.09.2018
Bội Trâm – Người đàn bà bất chấp tai ương - Ngô Minh 19.09.2018
Một chuyến làm báo ở Tây Nguyên - Thanh La 19.09.2018
Gián điệp quốc tế - Vũ Thư Hiên 07.09.2018
Ba ngôi mộ không có nấm mồ - Hà Đình Nguyên 06.09.2018
Chiến tranh Việt Nam và trò chơi nguy hiểm của Phạm Xuân Ẩn - Nhiều tác giả 05.09.2018
Hồ Chí Minh - Nguyễn Đăng Mạnh 05.09.2018
Nguyễn Khải - Nguyễn Đăng Mạnh 05.09.2018
Nguyên Ngọc - Nguyễn Đăng Mạnh 05.09.2018
Syria, bóng đá & chiến tranh - Nguyễn Thu Trân 29.08.2018
xem thêm »