tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 30253256
Những bài báo
25.09.2015
Vũ Đình Phòng
Vấn đề phương Đông, phương Tây

Từ thuở nhỏ, sống ở quê, đặc biệt sống trong gia đình ông bà nội tôi, tôi luôn nghe thấy những cuộc tranh cãi sôi nổi về khác nhau giữa Phương Đông và Phương Tây. Thật ra bấy giờ người ta gọi là “giữa châu Âu và châu Á”. Mỗi người nhìn theo một khía cạnh. Tôi thử xăp sếp lại đôi chút cho có mạch lạc xem sao.


            Ý kiến khác nhau đầu tiên là “Châu Âu nghĩ kiểu Đàn ông, Châu Á nghĩ kiểu Đàn bà” Lập luận của đám này là đàn ông muốn đơn giản hóa các tục lệ, thí dụ cúng giỗ…vv.


            Nhận định khác nhau thứ hai là “Âu tiến bộ, Á lạc hậu”


            Câu tôi hay nghe thấy người lớn nói là “Ăn cơm Tàu, ở nhà Tây, lấy vợ Nhật”…


                   Năm 1939, lúc tôi bắt đầu về quê sống với gia đình ông bà nội để bắt đầu đi học, thì quê tôi – Đáp Cầu-  đã phát triển rất lớn, gần như một thành phố. Tuy thế mọi người, kể cả lớp trẻ, cũng vẫn dùng chữ “làng”, mặc dù nhà nước bảo hộ Pháp gọi Đáp Cầu là “Thành phố" (Ville de Đapcau).


           Tôi về quê năm trước thì năm sau cha mẹ tôi được ông bà nội cho một ngôi nhà hai tầng kiểu mới “trên phố”. Vì “làng” tôi lúc áy đã gần như tách ra thành hai khu vực khá riêng biệt: “làng” và “phố”: khu vực “làng” vẫn có lũy tre, những ngõ xóm chằng chịt, bùn lầy nước đọng, trong khi khu vực “phố” thì gồm những đường phố trải nhựa rộng rãi, hai bên có vỉa hè lát gạch và những ngôi nhà “kiểu Tây”, làm cửa hiệu buôn bán, hoặc để ở.


         Phố, nơi cha mẹ tôi sống cùng con cái, tên ta gọi là “Phố Chính”, nhưng tên Tây gọi là “Rue Principale”. Tôi đã có bao nhiêu kỷ niệm thời thơ ấu tại số nhà mà tôi nhớ mãi, vì được ghi trên bì các thư từ, báo chí đặt mua dài hạn, gửi đến cho cha tôi: No 43 Rue Principale – DAPCAU… Đúng thế, cái địa chỉ bằng tiếng Pháp ấy, mỗi lần nhắc đến lại gợi cho tôi bao nhiêu kỷ niệm êm đềm thời thơ ấu. 43 Rue Principale – DAPCAU, 43 Rue Principale – DAPCAU... Đấy cũng là địa chỉ tôi ghi trên phong bì khi gửi thư về nhà.


           Gia đình tôi lại là nơi giao thoa giữa hai nền văn hóa Âu và Á, kể từ Ông Nội tôi.


          Ông nội đang học chữ nho thì Cụ Cố cho sang Hà Nội học Quốc Ngữ. Ông tôi vào học Trường Thông Ngôn (Ecole Des Interpretes), sau đấy ra làm cho một sở "Tây" (của người Pháp). Trong khi ấy, và cho đến cuối đời, Người chuyên mặc áo dài, đội khăn xếp. Làm “cho Tây” được hơn chục năm thì ông nội tôi xin thôi việc, về quê sinh sống.


          Sau này có lần tôi hỏi, đang làm ở đấy lương cao, tại sao ông lại xin thôi việc thì ông nội tôi cười, nhe hai hàm răng đen nhánh: “Ông bị thằng Chef Bureau (Chánh văn phòng) đá đít, thế là ông ức, không thèm làm nữa”. Tôi hỏi, nó làm gì ông mà ông bảo “đá dít”? Ông tôi cười kể lại câu chuyện, thì ra là “đá đít” thật. Chẳng là bấy giờ ông làm ở Sở Tây, nhưng trọ ở Hàng Bồ. Hôm ấy ông chót ngủ quên. Nhìn đồng hồ thấy đã trễ, ông vội mặc quần áo ba chân bốn cẳng chạy đến Sở. Vì chưa kịp ăn sáng, ông ghé vào hàng bánh mì, mua vội một chiếc kẹp chả, thủ vào bọc. Đến Sở thì may thay vừa đúng giờ, chưa bị trễ. Ông giấu chiếc bánh mì vào hộc bàn, thinh thoảng nhìn không thấy ai, lấy ra cắn vội một miếng rồi lại giấu vào hộc. Ai ngờ thằng Tây làm Chef Bureau nhìn thấy. Hắn oai vệ bước đến, lôi chiếc bánh mì ăn dở giấu trong hộc bàn ra. Hắn ném vào mặt ông, mắng: “Salaud!” Rồi kéo ông đứng lên, hắn đá vào mông ông, quát thêm lần nữa: “Cochon!”. Thế là ông tức, viết luôn đơn xin thôi việc. Và hôm sau khăn gói về quê…   


         Tuy thế, ông nội tôi vẫn cho cha tôi ra Hà Nội học, thi vào Trường Sư Phạm (Ecole Normale). Trường này được Nhà nước Bảo hộ vừa lập ra để đào tạo đội ngũ giáo viên chính quy, đủ trình độ, nhằm bổ sung cho mạng lưới giảng dạy theo hệ thống Giáo dục mới của Nhà nước đề ra. Trường Tiểu học Dap Cầu, vì gần Hà Nội và cũng là “đô thị” lớn nên may mắn được xếp vào số những trường đầu tiên áp dụng hệ thống mới ấy, và được bổ sung một loạt giáo viên đào tạo có bài bản, do tốt nghiệp Trường Sư Phạm Đông Dương. Năm ấy cha tôi vừa Tổt nghiệp, lẽ ra được ưu tiên về quê hương dạy học, nhưng cha tôi thoái thác mà xin đi dạy ở Cảng Hải Phòng, cách xa quê. (Tôi là đứa con duy nhất mẹ tôi sinh ra không tại quê mà tại đấy nên mới có tên là “Phòng”).


         Sau này, tôi hỏi cha tôi, tại sao Người không về dạy học ở quê hương cho gần ông bà nội, thì cha tôi trả lời vì cha tôi quen không khí dân chủ và quy củ "kiểu Tây" của Trường Sư phạm nên không muốn về nơi cuộc sống còn cổ hủ, giữ nhiều tục lệ cũ kỹ và không theo quy củ nào hết ở Dáp Cầu…


          Trở lại chủ đề chính hôm nay.


         Sau đấy cha tôi cũng lại cho anh tôi (con trưởng) tốt nghiệp Tiểu học, ra Hà Nội , thi vào Trường Bảo hộ (Lycée Du Protectorat, tục gọi là Trường Bưởi, vì đóng trên địa bản làng Bười). Tiếp đấy, năm 1945, sau khi học xong bậc Tiểu học ở quê, tôi cũng lại được cha tôi cho sang Hà Nội, thi vào Trường ấy, lúc này là sau Cách  mạng, đã được đổi tên thành Trường Trung học Chu Văn An). Ngay chú ruột tôi trước đấy cũng được ông nội cho sang học Trường Thăng Long… Ngoài ra, rất nhiều chú bác, anh  chị em họ… tôi cũng sang học Hà Nội và sau khi về quê, rất hay tụ họp trò chuyện. Tôi nhận thấy họ nói chuyện thường chen tiếng Pháp, thậm chí nhiều khi nói cả câu bằng tiếng Pháp.


        Từ thế hệ cha tôi trở về sau, họ hàng tôi, nam giới không ai nhuộm răng đen và mặc áo dài nữa… mà chỉ mặc âu phục…


     Ngay trong mấy em ruột ông bà nội tôi cũng nhiều người đã có thời gian học ở Hà Nội, nên thông thạo tiếng Pháp, và trong chuyện trò, thường chen tiếng Pháp. Vào thời bấy giờ (thập niên 1930- 1940), kiều dân Pháp sống ở quê tôi rất đông, là doanh nhân, chủ nhà máy hoặc quân nhân (Đáp Cầu và một phần Thị Cầu lúc ấy là một trong bốn địa điểm quân sự - hình như gọi là "đạo Quan binh", có cả pháo binh, kỵ binh- chủ chốt ở Bắc Kỳ của nhà nước Bảo hộ Pháp). Quốc lộ I trải nhựa và đường hỏa xa Hà Nội – Đồng Đăng cùng chiếc cầu sắt bắc qua Sông Cầu đã biến quê tôi thành một trung tâm công thương nghiệp và quân sự quan trọng của xứ Đông Pháp (Đông Dương thuộc Pháp).


        Cảng Đápcau lúc nào cũng náo nhiệt, có cả tầu to, chạy bằng động cơ hơi nước...


      Tôi lúc ấy mới 9-10 tuổi, luôn hếch mắt, dỏng tai nghe mấy người lớn tranh cái ầm ĩ và một trong những đề tài tranh cãi là sự khác nhau giữa châu Á và châu Âu… Bản thân tôi cũng rất quan tâm tìm lời giải đáp cho câu hỏi ấy. Sau này, lớn lên, tôi dành nhiều thời gian tìm hiểu nó. Âu và Á khác nhau chỗ nào và tại sao khác nhau? Càng tìm hiểu tôi càng thấy rối rắm.


       Rồi người ta không gọị là giữa Châu Á và Châu Âu nữa mà là giữa Phương Đông và Phương Tây. Hai nền văn hóa ấy khác nhau chỗ nào?


       Nhà nghiên cứu Cao Xuân Huy thì bảo: Tư duy Phương Đông theo phương thức “chủ toàn” trong khi Phương Tây theo phương thức “chủ biệt" (Cao Xuân Huy. Tư tưởng phương Đông. NXB Văn Học, 1995). Còn bài của PGS,TS. Phạm Công Nhất (Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn) đăng trên Tạp chí cộng sản thì cho rằng Phương Đông thiên về trực giác, gọi chung là  “duy cảm” trong khi Phương Tây thiên về  “duy lý”… Tôi đọc đi đọc lại cả phần lý giải nhưng vẫn  cảm thấy mù mờ thế nào ấy. "Chủ toàn" phải chăng là lấy "cộng đồng" (dòng họ, làng, Huyện, Tỉnh...Nước) làm "đơn vị, trong khi chủ biệt có nghĩa lấy từng con người làm đơn vị?


        Trong khi ấy, tôi rất tán thành câu của một ông chú tôi mà tôi nghe được trong lúc theo dõi người lớn tranh cãi: “Cái khác lớn nhất là châu Au đi trước châu Á hàng trăm năm”. Đúng thế.


Xưa kia người châu Âu cũng tư duy theo “trực giác”, cũng “duy cảm” như người châu Á hiện nay. Ông chú tôi còn nói thêm: “Nhờ Châu Âu đã trải qua một bước ngoặt ghê gớm là Đại Cách mạng Pháp 1789, nói đúng hơn là trước đấy họ đã trải qua các phong trào đòi quyền sống cho từng con người, trước hết và mạnh nhất là hai Phong trào Phục Hưng và Khai sáng… nên họ phân biệt con người không theo "đẳng cấp" mà theo tinh thần của Bản Tuyên ngôn Dân quyền và Nhân quyền cả phân biệt đúng sai cũng không theo tục lệ mà theo luật pháp.


         Và tôi cũng rất tán thành nhận xét của ông Nguễn Khắc Viện thời gian mới sang Pháp du học: “Chúng ta cần học ở họ hai thứ, là Dân chủ và Khoa học !” Đúng thế, dân chủ và khoa học!


         Mà trước hết, lẽ ra trước tiên là “phải học”, theo lời kêu gọi của Phan Chu Trinh: “Chỉ có học” để nâng cao dân trí, sau đấy mới có thể tính đến ”chấn dân khí” để  rồi cuối cùng là”hậu dân sinh”.


         Rất tiếc là Phan Tây Hồ qua đời sớm, và những người đi sau ông, do chịu nếp suy nghĩ châu Á, đã cố tình hạ thấp vai trò và những lời kêu gọi chí tình và chính xác của ông, lập nên một chế độ “chuyên chế” kiểu Phương Đông, chỉ nêu “dân chủ” và “khoa học” ngoài miệng, thực ra là “chuyên chế” và kỳ thị khoa học…


        Tôi đã chịu khó đọc rất nhiều về hai trào lưu Nhân văn (Humanism) và Khai sáng (Enlightenment), càng đọc càng thấy cái gọi là “văn hóa châu Á” của chúng ta rất cần trải qua một trào lưu như thế, chủ yếu là Khai sáng, để thoát khỏi cách suy nghĩ kiểu “nô lệ” đang kìm hãm chúng ta. Đấy là kiểu suy nghĩ "bầy đàn", tuân thủ mọi thứ gì "đầu đàn  ra lệnh", cứ "các cụ" nói sao thì ta làm đúng như thế. Cho nên có câu "trước bầy, sau theo"... Không ai dám nghĩ  đến cái gì mới, đến ước vọng của bản thân mình, là thứ cần được độc lập, tự do mới có thể phát huy sáng tạo. Do cách nghĩ tạm gọi là "Châu Á" hoặc "Phương Đông" bị chủ nghĩa Mác-Lê níu lại  nên xã hội chúng ta cứ dậm chân tại chỗ mãi, không tiến lên được.


        Nghĩ như thế, cho nên tôi hết sức tâm đắc câu của văn hào Nga TSEKHOV trong THƯ GỬI EM TRAI: “Trong con người mỗi chúng ta đều thấm đẫm chất nô lệ. Cần nặn nó ra cho bằng hết, nặn từng giọt, từng giọt !”.. (Chà ! TỪNG GIỌT, TỪNG GIỌT !)... để không còn chút "nô lệ tính" nào trong thân thể và trí óc mỗi chúng ta. Chỉ khi ấy chúng ta mới đủ hào hứng bay bổng để sáng tạo. Xin nói thêm, em trai ông là họa sĩ, cũng tức là nghệ sĩ.                                                                                                                                                             


Chính xác lắm thay: "nặn ra cho bằng hết chất nô lệ thấm đẫm trong con người mỗi chúng ta, nặn từng giọt, từng giọt”!


9/2015.


 


VĐP

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Tiểu thuyết "Cõi mê" của nhà văn Triệu Xuân làm xôn xao dư luận! - Thanh Chung 13.11.2019
Khi người Anh Hùng lên tiếng - Phạm Thành Hưng 12.11.2019
Nhớ thời học Ngữ Văn Đại học Tổng hợp Hà Nội - Triệu Xuân 11.11.2019
Chuyện cuối tuần: Chính trị, như gai nhọn dưới chân trần - Tư liệu 08.11.2019
Trung Quốc: Chiến lược trở thành cường quốc biển - Nguyễn Hải Hoành 08.11.2019
Cát: Vũ khí bí mật của Trung Quốc tại Biển Đông - Vince Beiser 08.11.2019
Hành trình xuyên Việt đi tìm báu vật địa phương của Đỗ Quang Tuấn Hoàng - Tư liệu 08.11.2019
Lại “Mời đọc chơi” - Vũ Đình Phòng 07.11.2019
Tản mạn về J.J. Rousseau: Cái gì của Trời thì tốt - Phạm Đình Lân 07.11.2019
Nhà văn Triệu Xuân: Ăn mặc, đi đứng, nói năng quyện vào nhau mới thành mốt - Đỗ Quang Tuấn Hoàng 03.11.2019
xem thêm »