tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 29972957
Tiểu thuyết
03.09.2008
Dư Hoa
Sống

Khi Hữu Khánh được sáu tháng thì Gia Trân trở về. Khi trở về cô ấy không ngồi kiệu, cô ấy địu Hữu Khánh ở sau lưng đi bộ hơn mười dặm về nhà. Hữu Khánh nhắm mắt, cái đầu bé tí tẹo tựa vào lưng mẹ, lắc bên này lư bên kia, trở về nhận bố.


Gia Trân mặc áo dài màu đỏ tươi, xinh xắn trở về. Đi đến cửa lều tranh nhà tôi, cô ấy không bước vào ngay, mà đứng ở ngoài tươi cười nhìn mẹ tôi.


Mẹ tôi ngồi đan giày cỏ ở trong nhà, khi ngẩng lên thì nhìn thấy một người đàn bà xinh đẹp đứng ở cửa. Người Gia Trân đã che mất ánh sáng, mẹ tôi không nhận ra con dâu, cũng không nhìn thấy Hữu Khánh ở sau lưng. Mẹ hỏi:


- Tiểu thư nhà nào vậy, cô tìm ai?


Nghe vậy, Gia Trân cười khanh khách, nói:


- Con đây, Gia Trân đây, thưa mẹ!


Lúc ấy, tôi và Phượng Hà đang ở ngoài đồng. Phượng Hà ngồi ở bờ ruộng xem tôi cấy. Tôi nghe thấy có tiếng gọi mình, giống tiếng mẹ tôi mà cũng có phần không giống. Tôi bảo con gái:


- Ai đang gọi thế con?


Phượng Hà quay người nhìn, rồi đáp:


- Bà nội, bố ạ.


Tôi đứng thẳng lên nhìn thấy mẹ đang đứng ở cửa lều tranh còng lưng gọi to, Gia Trân mặc áo dài màu đỏ tươi bế Hữu Khánh đứng bên cạnh. Phượng Hà vừa nhìn thấy mẹ đã co cẳng chạy đi. Tôi đứng giữa ruộng nước, nhìn dáng mẹ lưng còng gọi con, mẹ gọi khỏe quá, hai tay chống vào đùi để khỏi ngã gập người xuống. Phượng Hà chạy thục mạng, đứa con gái lên năm của tôi cứ chao chao đảo đảo trên bờ ruộng, rồi nó sà vào lòng mẹ. Gia Trân bế Hữu Khánh ngồi xuống ôm Phượng Hà. Lúc này tôi mới lên bờ, mẹ tôi vẫn đang gọi, càng đến gần nhà, đầu tôi càng choang choáng. Tôi đi đến trước mặt Gia Trân mỉm cười với vợ. Gia Trân đứng lên, cứ chằm chằm nhìn tôi. Lúc này tôi đã không còn là Phú Quí mặc áo lụa, tôi đang mặt quần áo vải thô rách rưới, toàn thân lấm bê lấm bết. Nhìn dáng tôi như vậy, Gia Trân cúi đầu sụt sịt khóc.


Gia Trân trở về, gia đình lại đông đủ, tôi đi làm cũng có người giúp việc. Tôi bắt đầu thương vợ mình. Gia Trân bảo tôi như vậy, chứ tôi có cảm thấy gì đâu. Tôi thường nói với Gia Trân:


- Em lên bờ nghỉ một lúc đi.


Gia Trân là cô gái thành thị, da mịn thịt non, chân yếu tay mềm, nhìn cô ấy làm việc đồng áng, tôi cứ thấy thương thương. Nghe tôi giục đi nghỉ, Gia Trân vui vẻ cười và bảo:


- Em không mệt.


Mẹ tôi nói đúng, chỉ cần con người sống vui vẻ là không sợ nghèo. Gia Trân cởi bỏ áo dài, cũng mặc áo vải thô như tôi, suốt ngày cô ấy làm việc mệt thở không ra hơi, mà vẫn cứ tươi cười. Phượng Hà là con bé ngoan, chúng tôi từ nhà ngói dọn ra ở lều tranh, mà cháu vẫn vui vẻ, ăn cơm độn ngô độn khoai cũng không nhổ đi. Sau khi em trai về, nó càng vui hớn hở, không còn theo bố ra đồng nữa, cứ luôn luôn ở nhà bế em. Hữu Khánh thì khổ, chị gái thì mới lên năm tuổi, Hữu Khánh mới ở tỉnh được sáu tháng đã phải về bên bố chịu khổ. Tôi cảm thấy mình rất có lỗi với con trai.


Cứ như thế sống được một năm thì mẹ tôi bị ốm. Mới đầu chỉ là chóng mặt, mẹ tôi bảo nhìn con cháu cứ lờ mờ; tôi cũng không để ý lắm, nghĩ bụng mẹ đã cao tuổi, mắt mờ là chuyện đương nhiên. Sau đó có một hôm, lúc đun bếp đột nhiên mẹ tôi gục đầu vào tường như đang ngủ. Khi hai vợ chồng tôi từ ngoài đồng về, mẹ tôi vẫn gục như vậy. Gia Trân gọi mẹ, mẹ cũng không đáp; đưa tay lay người mẹ, thì mẹ trượt theo bờ tường. Gia Trân sợ quá gọi tôi, khi tôi đi vào bếp thì mẹ đã tỉnh, mẹ trân trân nhìn chúng tôi. Chúng tôi hỏi mẹ, mẹ cũng không trả lời. Một lúc sau, mẹ ngửi thấy mùi khét, biết nồi cơm đã cháy, mới cất tiếng:


- Ái chà, sao mẹ lại ngủ thế nhỉ?


Mẹ tôi hốt hoảng định đứng lên, mới đứng được nửa người thì chân thõng ra, người ngã xuống. Tôi vội vàng bế mẹ lên giường, mẹ tôi cứ luôn mồm nói mình đã ngủ say, mẹ sợ chúng tôi không tin. Gia Trân kéo tôi ra một bên, bảo:


- Anh lên tỉnh mời thầy lang về xem sao.


Mời thầy lang thì phải có tiền, tôi cứ đứng lặng thinh. Gia Trân lật nệm lấy ra hai đồng bạc gói trong khăn mùi xoa. Nhìn hai đồng tiền bằng bạc, tôi có phần đau lòng, đó là số tiền Gia Trân đem từ tỉnh về, chỉ còn lại hai đồng này. Sức khỏe của mẹ tôi càng khiến tôi lo lắng, tôi liền cầm lấy tiền. Gia Trân gấp ngay ngắn chiếc khăn mùi xoa lại nhét vào dưới nệm, lấy ra một bộ quần áo sạch sẽ bảo tôi mặc vào. Tôi bảo vợ:


- Anh đi nhé.


Gia Trân không đáp, cô ấy đi theo tôi ra cửa. Đi được mấy bước tôi quay đầu nhìn vợ, vợ tôi vuốt vuốt tóc về đằng sau gật gật đầu chào tôi. Từ sau khi Gia Trân trở về, đây là lần đầu tiên tôi xa nhà. Tôi mặc bộ quần áo tuy rách nhưng sạch sẽ, chân đi giày cỏ mẹ tôi bện để vào thành phố. Phượng Hà ngồi ở sân trước cửa bế Hữu Khánh đang ngủ. Nhìn thấy bố mặc gọn gàng sạch sẽ, nó hỏi:


- Bố ơi, bố ra đồng đấy à?


Tôi đi nhanh lắm, chưa đầy nửa tiếng đồng hồ đã đến tỉnh. Đã hơn một năm tôi không lên tỉnh, bây giờ vào thành phố trong lòng có phần ngỡ ngàng. Tôi liền nghĩ đến Gia Trân, nghĩ đến vợ cũng không sợ gặp người quen nữa. Tôi ăn mặc có rách rưới một chút, nhưng Gia Trân vẫn tốt với tôi như trước. Tôi biết hết mấy thầy thuốc trong thành phố trình độ khám chữa thế nào, ai lấy đắt, ai lấy vừa phải. Suy nghĩ một lát, tôi quyết định vẫn nên đến tìm thầy lang Lâm ở cạnh cửa hàng lụa. Ông lang này là bạn của bố vợ tôi, thấy người nhà của Gia Trân có lẽ ông ta cũng không nỡ lấy quá đắt.


Khi đi qua phủ cụ huyện, tôi nhìn thấy một em bé mặc áo lụa đang kiễng chân cố sức định nắm lấy cái vòng đồng gõ cổng. Cậu bé suýt soát tuổi con gái tôi, tôi nghĩ có lẽ đây là công tử nhà cụ huyện, liền bước đến bảo nó:


- Để ta gõ giúp cháu.


Cậu bé vui vẻ gật gật đầu, tôi liền móc tay cầm vòng đồng gõ thật mạnh mấy cái, ở bên trong có người nói vọng ra:


- Có đây.


Lúc này cậu bé mới nói với tôi:


- Chúng ta mau mau chạy đi thôi.


Tôi chưa hiểu ra sao, thì cậu bé nép sát vào bờ tường chuồn mất. Sau khi mở cổng, một người đàn ông ăn vận kiểu đầy tớ vừa nhìn thấy bộ quần áo của tôi, chẳng nói năng chi, giơ tay đẩy tôi một cái. Tôi không ngờ anh ta lại làm thế, loạng choạng ngã từ bậc thềm xuống. Tôi bò dậy, vốn định cho qua, song thằng cha kia lại bước xuống đá tôi một phát, còn bảo:


- Đi ăn mày thì cũng phải xem xem chỗ này là chỗ nào chứ.


Tôi cáu tiết, chửi luôn:


- Ta có phải gặm xương mục trong mổ tổ nhà ngươi, cũng không thèm đến ăn xin nhà ngươi đâu nhé!


Hắn xô đến đánh liền, tôi bị một quả đấm vào mặt, hắn cũng bị đá một cú, hai chúng tôi túm đánh nhau trong phố. Thằng nhãi này gớm ra phết, xem chừng không thắng nổi tôi, liền túm chặt đũng quần nhấc chân, còn tôi cho hắn mấy cái đá đít. Cả hai đứa chúng tôi không biết đánh nhau, quần đảo nhau một lúc thì nghe có ai đó ở đằng sau quát:


- Ê, xấu quá, hai thằng súc sinh này đánh nhau trông ngứa mắt quá thể.


Chúng tôi bỏ nhau ra, nhìn về đằng sau, thì thấy một đội lính Quốc dân đảng mặc quần áo vàng đứng ở đó, mười cỗ pháo lớn đều do ngựa kéo. Người quát vừa giờ đeo súng lục ở lưng là một sĩ quan. Tên người hầu kia quả là linh hoạt, vừa nhìn thấy viên sĩ quan, hắn liền cúi đầu khom lưng:


- Thưa quan lớn, hì hì, thưa quan lớn.


Viên sĩ quan huơ huơ tay bảo chúng tôi:


- Hai con lừa ngu xuẩn, không biết đánh nhau thì kéo pháo cho ta.


Tôi vừa nghe nói vậy đã rùng mình lạnh toát người, ông ta định bắt tôi đi lính. Tên người hầu kia cũng hãi, bước lên nói:


- Thưa quan lớn, con vốn là người trong nhà cụ huyện của huyện này.


Viên sĩ quan nói:


- Công tử của cụ huyện lại càng phải dốc sức vì đảng vì nước.


- Không, không ! - Tên đầy tớ sợ hãi nói rối rít - Con không phải công tử, có đánh chết con cũng không dám. Thưa ông trung đội trưởng, con là đầy tớ của cụ huyện.


- Mẹ kiếp! - Viên sĩ quan chửi to - Ta là đại đội trưởng.


- Vâng, vâng, thưa đại đội trưởng, con là đầy tớ của cụ huyện.


Tên đầy tớ kia có nói đến mấy cũng vô ích, ngược lại còn làm cho ông sĩ quan bực tức, ông ta giơ tay cho hắn một cái tát.


- Mẹ kiếp, nói in  ít thôi, đi kéo pháo! - Ông ta nhìn đến tôi - Cả mày nữa!


Tôi đành phải bước tới kéo một dây cương ngựa đi theo họ về phía trước. Tôi nghĩ, đến lúc ấy sẽ tìm cơ hội trốn chạy sau. Tên đầy tớ vẫn còn van nài cầu xin trước mặt đại đội trưởng; đi được một đoạn, đại đội trưởng tự nhiên đồng ý. Ông ta bảo:


- Được, được, nhà ngươi về đi, mày làm tao chán chết đi mất.


Tên đầy tớ hớn hở run lên, hắn ta như muốn quì xuống cúi đầu lạy đại đội trưởng, song lại không quì, chỉ đứng trước mặt đại đội trưởng xoa xoa tay liên tục. Đại đội trưởng quát:


- Còn chưa cút đi hả?


Tên đầy tớ thưa:


- Cút, cút, con cút đây ạ!


Nói xong hắn quay người đi luôn. Bấy giờ đại đội trưởng mới rút súng lục ở lưng ra, giơ tay ngang vai, ngắm một mắt vào nhằm trúng tên đầy tớ đang đi. Tên đầy tớ đi được hơn mười bước quay đầu lại nhìn, thấy vậy hắn sợ tới mức đứng ngây ra tại chỗ không nhúc nhích, giống như con chim sẻ ban đêm để đại đội trưởng ngắm bắn. Lúc ấy đại đội trưởng bảo hắn:


- Đi đi, đi đi!


Tên đầy tớ quì sụp xuống đất, vừa khóc vừa nói:


- Thưa đại đội trưởng, đại đội trưởng, đại đội trưởng...


Đại đội trưởng bắn hắn một phát, không bắn trúng mà bắn vào cạnh hắn, viên đá nhỏ văng vào làm tay hắn bị toạc chảy máu. Đại đội trưởng cầm súng huơ tay nói:


- Đứng lên, đứng lên!


Hắn đứng dậy, đại đội trưởng lại nói:


- Đi đi, đi đi!


Hắn khóc thảm thiết lắm, cứ lắp ba lắp bắp:


- Con xin kéo pháo, thưa đại đội trưởng.


Đại đội trưởng lại giơ súng ngang vai ngắm vào hắn lần nữa, mồm nói:


- Đi nào, đi nào!


Lúc này tên người hầu mới đột nhiên vỡ lẽ, hắn quay người chạy như bay như biến. Khi đại đội trưởng bắn phát thứ hai, thì hắn vừa vặn tạt vào trong ngõ. Đại đội trưởng nhìn khẩu súng lục của mình, chửi một tiếng:


- Mẹ kiếp, ta nhắm sai một con mắt.


Đại đội trưởng quay lại nhìn tôi đứng ở đằng sau, giơ súng bước đến chĩa nòng vào ngực tôi, bảo:


- Mày cũng về chứ?


 Hai chân tôi run bần bật, nghĩ bụng lần này cho dù ông ta có nhắm cả hai mắt cũng cho tôi một phát về chầu giời. Tôi rối rít nói:


- Con kéo pháo, con kéo pháo.


Tay phải tôi nắm dây cương, tay trái nắm chặt hai đồng bạc Gia Trân cho tôi để trong túi áo. Khi ra khỏi thành phố, nhìn thấy cánh đồng và cái lều tranh giống nhà mình, tôi cúi đầu rưng rưng nước mắt.


Tôi đi theo đại đội pháo này lên phía Bắc, càng đi càng xa. Hơn một tháng sau chúng tôi đến An Huy. Mấy hôm đầu tôi cứ định trốn. Lúc bấy giờ không phải chỉ có tôi muốn trốn, cứ hai ngày trong đại đội lại thiếu đi một vài khuôn mặt quen quen. Tôi liền hỏi một lính cũ là Lão Toàn. Lão Toàn bảo:


- Không ai chạy nổi đâu.


Lúc kháng chiến Lão Toàn cũng bị bắt đi lính, hành quân đến Giang Tây anh ta đã bỏ trốn, vài hôm sau lại bị quân đội Phúc Kiến bắt đi. Đi lính hơn sáu năm, chưa đánh nhau với quân Nhật, chỉ đánh với du kích của Đảng Cộng sản. Trong thời gian ấy, Lão Toàn trốn lính bảy lần, lần nào cũng bị bắt lại. Lần cuối cùng chỉ cách nhà hơn một trăm dặm, kết quả gặp phải đơn vị này. Lão Toàn không định trốn lính nữa. Anh ta bảo:


- Mình đào ngũ chán rồi.


Sau khi chúng tôi vượt dòng Trường Giang thì bắt đầu mặc áo bông. Qua được Trường Giang thì ý định đào ngũ của tôi cũng chết hẳn, cách nhà càng xa thì tôi càng không có gan đào ngũ nữa. Đại đội của tôi có đến mười đứa con trai mới mười lăm mười sáu tuổi, trong đó có một cậu lính choai choai là Xuân Sinh, người Giang Tô, hắn cứ hỏi dò tôi đi lên phía Bắc có phải đánh nhau không, tôi bảo phải. Thật ra tôi cũng không biết. Tôi nghĩ, đã đi lính thì tránh sao khỏi đánh nhau. Xuân Sinh và tôi thân nhau lắm. Cậu ấy cứ bám riết tôi, kéo cánh tay tôi hỏi:


- Liệu chúng mình có bị đánh chết không?


Tôi đáp:


- Mình không biết.


Khi nói ra câu ấy, trong lòng tôi cũng đau đớn khó chịu lắm. Sau khi vượt sông Trường Giang, chúng tôi bắt đầu nghe thấy tiếng súng. Đầu tiên nghe văng vẳng từ xa vọng lại, chúng tôi đi tiếp hai ngày nữa, tiếng súng tiếng pháo càng ngày càng to. Hôm ấy, chúng tôi vào một làng, trong làng đừng nói chi đến người, ngay đến con gà con lợn cũng không có. Đại đội trưởng ra lệnh cho chúng tôi lắp đại bác, tôi biết chuyến này chắc là sắp đánh nhau thật sự. Có người đi đến hỏi đại đội trưởng:


- Đây là đâu, thưa đại đội trưởng?


Đại đội trưởng đáp:


- Mày hỏi ta, mẹ kiếp, ta hỏi ai hả?


Ngay đến đại đội trưởng cũng không biết chúng tôi đã đến đâu. Người trong làng đã bỏ chạy sạch, tôi nhìn bốn chung quanh, ngoài cây cối trơ trụi chẳng thấy cái gì khác. Được hai hôm thì lính mặc áo vàng mỗi lúc một đông, ở chung quanh họ rút đi đội này, thì đội khác lại đến, có những đơn vị đóng ngay cạnh chúng tôi. Lại qua hai hôm nữa, đại bác của chúng tôi vẫn chưa bắn. Đại đội trưởng nói với chúng tôi:


- Chúng ta đã bị bao vây.


Không phải chỉ có đại đội của chúng tôi bị bao vây, cả quân đoàn có tới mười vạn người hoàn toàn bị vây hãm trong một địa phương chỉ có hai mươi dặm vuông, đâu đâu cũng có lính áo vàng, cứ y như đi trẩy hội. Lúc này Lão Toàn thánh thật, anh ta ngồi hút thuốc trên một mô đất trong chiến hào, nhìn những anh lính da vàng đi đi lại lại, thỉnh thoảng chào hỏi ai đó trong bọn họ, anh ta quen nhiều người lắm. Lão Toàn đi Nam về Bắc, đã từng sống ở bảy đơn vị quân đội. Anh ta hỉ hả nói bậy bạ với mấy người quen cũ, hỏi thăm nhau mấy tên người, tôi nghe họ nói không phải chết đâu, vì hai hôm trước còn nhìn thấy nhau mà. Lão Toàn sau đó nói với tôi, những anh em đó trước đây đã cùng đào ngũ với anh ta. “Cậu xem, - Lão Toàn nói - chẳng ai chạy thoát đâu”.


Lúc mới đầu chúng tôi chỉ bị bao vây, quân Giải phóng không lập tức đến đánh chúng tôi, chúng tôi cũng không sợ mấy, đại đội trưởng cũng không sợ. Ông ta bảo Ủy viên trưởng Tưởng Giới Thạch sẽ cử xe tăng đến cứu chúng tôi đi. Sau đó, tiếng súng ở phía trước mỗi lúc một gần, chúng tôi cũng không phải sợ lắm, chỉ có điều chẳng ai có việc gì làm, đại đội trưởng cũng không ra lệnh chúng tôi bắn pháo. Có một người lính cũ nghĩ đến anh em ở phía trước đổ máu toi mạng; chúng tôi chơi dài cũng chẳng phải chuyện hay, anh ta liền đi hỏi đại đội trưởng:


- Chúng ta có nên bắn mấy quả pháo không ạ?


Lúc ấy đại đội trưởng đang nấp trong hầm đánh bạc, ông ta giận dữ hỏi lại:


- Bắn vào đâu hả?


Đại đội trưởng nói cũng đúng, nếu bắn mấy quả vào đầu anh em quân mình, cả quân đoàn ở phía trước cáu tiết lên quay lại thanh toán chúng tôi thì chẳng phải chuyện đùa. Đại đội trưởng ra lệnh cho chúng tôi cứ ngồi tại trận địa, thích làm gì thì làm, chỉ có điều không được bắn pháo.


Sau khi bị bao vây, toàn bộ lương thực đạn dược đều dựa vào thả dù. Hễ máy bay xuất hiện ở trên trời, thì toàn quân ở dưới cứ nhao nhao chen nhau như kiến cỏ đi cướp gạo. Hễ máy bay bay đi là toàn quân lại chia thành từng tốp kéo về các ngôi nhà và cây cối trơ trụi, vừa dỡ nhà vừa chặt cây, đâu có giống đánh nhau. Những tiếng kêu loạn xị gần như át cả tiếng súng tiếng pháo ở phía trước.


Chẳng bao lâu, những nhà ở và cây cối mắt nhìn thấy đều mất sạch, chỗ nào cũng có khói nấu cơm bốc lên, bay lơ lửng trên bầu trời.


Lúc bấy giờ đạn nhiều hơn cả, ngả lưng xuống chỗ nào cũng đè lên đau nhói. Chưa được một ngày, các ngôi nhà ở chung quanh đã bị dỡ sạch, cây cối cũng bị chặt sạch, chỗ nào cũng có lính cầm lưỡi lê đi cắt cỏ khô, trông chẳng khác gì cảnh vào vụ gặt hái, có những người đánh gốc cây mồ hôi nhễ nhại. Vào những lúc này, người đi cướp gạo đã ít đi, chúng tôi ra khiêng ba bao tải gạo rõ to về hầm rải làm giường ngủ, nằm lên bao gạo không sợ đạn chọc vào lưng đau đớn khó chịu nữa.


Đến khi không còn kiếm ra thứ gì để làm củi nấu cơm nữa, mà Ủy viên trưởng Tưởng Giới Thạch vẫn chưa cứu được chúng tôi đi, được cái máy bay không còn thả gạo nữa, mà thay bằng thả bánh bích qui, bánh nướng. Từng bao từng bao bánh nướng thả xuống, những người anh em như bầy súc vật lao tới tranh cướp loạn xạ, xếp thành từng lớp từng tầng y như đế giày của mẹ tôi xếp đống, bọn họ kêu gào hò hét om sòm chẳng khác gì sói rừng.


Lão Toàn bảo:


- Chúng ta chia nhau đi cướp.


Lúc này chỉ có thể chia nhau đi cướp, mới cướp được nhiều bánh nướng đem về. Chúng tôi bò ra khỏi hầm, tự chọn hướng mà đi. Lúc này đạn đã bay đi bay lại ở gần đó, thường có những viên đạn bay sượt qua. Một lần tôi đang đi, đang đi, một người đi bên cạnh đột nhiên ngã xuống, tôi cứ tưởng anh ta bị ngất, quay lại nhìn thì nửa bên đầu của anh ta không còn, tôi sợ bủn rủn cả chân tay, suýt nữa cũng ngã. Cướp bánh nướng còn khó hơn cướp gạo, nghe nói quân ta ngày nào cũng có người chết do liều mạng. Khi có máy bay từ đằng xa bay đến, tất cả quân lính đều từ đất bật dậy chạy theo máy bay; cứ tưởng như mặt đất trơ trụi đột nhiên mọc lên những vạt cỏ, hễ bao bánh nướng thả xuống là mọi người tản ra, đuổi theo từng cái dù mà mình đã nhìn sẵn. Bao bánh nướng gói không chắc, hễ rơi xuống đất là rơi vãi, hàng chục hàng trăm người xông vào vồ, có những người còn chưa chạm đất đã bị xô ngất xỉu. Mỗi lần tôi lao vào cướp bánh là toàn thân đau đớn như bị người ta treo lên lấy thắt lưng da đánh cho một trận. Rút cuộc thì cũng chỉ cướp được mấy cái bánh nướng. Về đến hầm thì Lão Toàn đã ngồi ở đó, mặt anh ta sây sát chỗ tím chỗ đỏ, anh ta cũng chẳng cướp được nhiều hơn so với tôi. Lão Toàn đã tám năm đi lính nhưng lòng dạ vẫn lương thiện. Anh ta để bánh của mình lên trên bánh của tôi, bảo chờ Xuân Sinh về cùng ăn. Hai chúng tôi ngồi trong hầm thò đầu ra nhìn ngó Xuân Sinh.


Một lúc sau, chúng tôi nhìn thấy Xuân Sinh ôm một đống giày cao su lom khom chạy về. Anh chàng hớn hở mặt đỏ bừng, cậu ta quăng người một phát lăn vào trong, chỉ giày cao su rơi đầy đất, hỏi chúng tôi:


- Nhiều không?


Lão Toàn nhìn tôi, hỏi Xuân Sinh:


- Thứ này ăn được à?


Xuân Sinh đáp:


- Có thể nấu cơm chứ.


Chúng tôi nghĩ cũng đúng lắm. Nhìn mặt Xuân Sinh không hề sây sát gì, Lão Toàn bảo tôi:


- Tay này tinh khôn hơn tất cả mọi người.


Sau đó, chúng tôi không đi cướp bánh nướng nữa, áp dụng luôn cách làm của Xuân Sinh. Khi cướp bánh nướng, người nọ đè lên người kia, thì chúng tôi liền tụt luôn giày cao su trên chân họ đem về đốt, dù sao thì gạo đã có sẵn, như thế còn tránh được da thịt khỏi ăn đòn. Ba đứa chúng tôi ôm vách chiến hào nhìn những người để chân trần vừa đi vừa nhảy lò cò trong mùa đông, cứ cười hì hì suốt.


Tiếng súng tiếng pháo ở phía trước mỗi lúc một gấp, không kể ban ngày hay ban đêm, ở trong hầm chúng tôi nghe cũng đã quen; thường xuyên có đạn pháo nổ ở gần, đại bác của chúng tôi đều bị phá nát. Những cỗ pháo lớn ấy không hề bắn một phát, như thế chúng tôi càng rỗi rãi. Những ngày này, Xuân Sinh cũng chẳng sợ gì nữa, lúc này có sợ cũng vô ích. Tiếng súng tiếng pháo mỗi lúc một gần, chúng tôi cứ tưởng hãy còn xa. Khó chịu nhất là thời tiết càng ngày càng lạnh, ngủ được vài phút thì lạnh cóng lại thức dậy. Khi đạn pháo nổ ở ngoài đất rung chuyển, tai chúng tôi ù tịt. Nói gì thì nói, Xuân Sinh cũng chỉ là thằng nhóc, nó đang nhắm mắt mơ mơ màng màng, thì một quả rốc két nổ gần đó hất bổng nó lên. Bị đánh thức, nó giận dữ xông ra đứng ở đường hào quát to với tiếng pháo tiếng súng ở phía trước:


- Mẹ kiếp, khẽ một chút, cứ ầm ầm lên bố mày ngủ sao được!


Tôi vội vàng kéo nó vào, lúc này đạn bay chiu chíu trên chiến hào. Trận địa của quân ta mỗi ngày một thu hẹp, chúng tôi không dám ra khỏi hầm hào, trừ khi đói mềm ra mới bò đi kiếm ăn. Ngày nào cũng có mấy ngàn thương binh được khiêng tới, trận địa của đại đội chúng tôi ở tuyến sau đã trở thành gầm trời của thương binh. Mấy hôm liền tôi, Lão Toàn và Xuân Sinh bám vào đường hào, thò đầu lên nhìn những chiếc băng ca chở thương binh cụt chân gẫy tay đi qua. Chẳng bao lâu có hàng xâu băng ca đi tới, những người khiêng cáng ai ai cũng khom lưng chạy đến trước gần chỗ chúng tôi tìm một vạt đất trống, hô một hai ba, hô đến số ba, thì hất băng ca một cái vứt thương binh xuống đất như hất rác, chẳng nhòm ngó gì đến. Thương binh đau đớn gào khóc ầm ĩ. Tiếng kêu trời kêu đất cứ vang lên hết chuỗi này đến chuỗi khác. Nhìn bọn chở băng ca bỏ đi, Lão Toàn chửi một câu:


- Những đồ súc vật!


Thương binh càng ngày càng nhiều, chỉ cần ở phía trước còn có tiếng súng thì còn có băng cáng khiêng đến đây, hô một hai ba vất thương binh xuống. Mới đầu chỉ có từng đống từng đống thương binh, về sau thành một bãi lớn, thương binh cứ kêu oai oái ở đó. Suốt đời, tôi không quên được những tiếng kêu đau đớn ấy. Tôi và Xuân Sinh chứng kiến cảnh tượng đó, cứ rùng mình dựng tóc gáy liên tục, ngay đến Lão Toàn cũng phải chau mày. Tôi nghĩ đánh nhau kiểu gì thế không biết.


Trời vừa tối, lại mưa tuyết, có một khoảng thời gian dài im tiếng súng, chúng tôi liền nghe thấy tiếng hu hu của mấy ngàn thương binh chưa chết nằm ở ngoài chiến hào, lúc thì giống như là đang khóc, lúc lại giống như đang cười. Đó là những tiếng kêu đau đớn chịu không nổi, cả đời tôi chưa bao giờ nghe thấy những tiếng kêu khủng khiếp như thế, cứ từng đợt từng cơn như nước thủy triều à à ập qua người chúng tôi. Tuyết rơi xuống, trời tối quá, chúng tôi không nhìn thấy hoa tuyết, chỉ cảm thấy vừa lạnh vừa ướt, từng cánh mềm mại trên tay tan dần, chẳng mấy chốc lại đọng một lớp tuyết dày khác.


Ba người chúng tôi co quắp nhau mà ngủ, vừa đói vừa lạnh. Lúc này máy bay cũng ít đến, tìm được cái ăn khó khăn lắm, chẳng còn ai mong ngóng Ủy viên trưởng Tưởng Giới Thạch đến cứu nữa, tiếp theo là cũng chẳng ai biết mình sống hay chết. Xuân Sinh hích hích vào tôi hỏi:


- Phú Quí ngủ rồi hả?


Tôi đáp:


- Chưa.


Hắn lại hích hích Lão Toàn. Lão Toàn không trả lời. Xuân Sinh khịt mũi hai cái, bảo tôi:


- Phen này thì chết mất thôi.


Tôi nghe vậy cũng cay cay trong mũi. Lúc này Lão Toàn mới lên tiếng, anh ấy duỗi duỗi hai cánh tay bảo:


- Đừng nói gở thế. - Anh ấy ngồi dậy, lại bảo - Ta cũng đánh mấy chục trận to nhỏ, lần nào cũng bụng bảo dạ: Ta có chết cũng phải sống, đạn sạt qua đủ mọi chỗ trên người ta, chỉ có điều không găm vào thân ta. Xuân Sinh này, chỉ cần nghĩ mình không chết sẽ không chết.


Sau đó chẳng ai nói gì thêm, anh nào nghĩ đến việc của anh nấy.


Tôi luôn luôn nghĩ đến nhà mình, nghĩ đến Phượng Hà đang bế Hữu Khánh đứng ở cửa, nghĩ đến mẹ tôi và Gia Trân... Cứ nghĩ, cứ nghĩ miên man, trong lòng y như bị đút nút chặt, thở không nổi, y như bị ai đó bịt chặt mồm chặt mũi.


Vào khoảng nửa đêm, tiếng gào khóc của thương binh ở ngoài hầm đã nhỏ dần; tôi nghĩ phần đông bọn họ đã ngủ, chỉ còn vài ba người đang kêu rên. Những tiếng kêu rên ấy đứt đoạn, cứ văng vẳng, y như đang nói chuyện, người này hỏi một câu, người kia đáp một lời, tiếng kêu thảm thương tới mức không giống người sống nói ra. Được một lúc nữa chỉ còn lại một tiếng đang nức nở, nghe nhỏ như tiếng muỗi kêu vo ve qua lại trên mặt tôi. Tôi cứ nghe cứ nghe, đã không giống đang kêu rên, mà trái lại như đang hát điệu gì đó, bốn chung quanh im phăng phắc, chỉ có một tiếng này cứ quanh đi quẩn lại mãi ở đó. Tôi nghe đến nỗi phát khóc, tuyết trên mặt tan ra chảy vào cổ, y như gió lạnh thổi đến.


Lúc trời sáng, chẳng còn tiếng gì nữa. Chúng tôi thò đầu ra xem, mấy ngàn thương binh hôm qua còn gào khóc, giờ đã chết hết, nằm ngổn ngang ra đó không nhúc nhích, một lớp tuyết mỏng phủ lên người. Bọn người nằm trong chiến hào vẫn còn sống chúng tôi cứ ngây người ra mà nhìn. Chẳng ai nói một lời, ngay đến Lão Toàn là lính cũ đã nhìn thấy không biết cơ man nào là người chết cũng thừ người ra rất lâu, cuối cùng anh ấy thở dài, lắc lắc đầu nói với chúng tôi:


- Thảm quá!


Nói rồi, anh Toàn bò ra đường hào đi vào giữa đám người chết rộng mông mênh, lật người này nhấc người kia. Anh Toàn lom khom bước qua bước lại giữa đống xác, thỉnh thoảng ngồi xổm lấy tuyết xoa xoa mặt cho ai đó. Lúc này tiếng súng tiếng pháo lại rộ lên, một số viên đạn bay về phía này. Tôi và Xuân Sinh sực tỉnh, vội vàng gọi Lão Toàn:


- Mau mau quay về, anh Toàn ơi!


Lão Toàn tỉnh bơ, cứ tiếp tục xem đi xem lại. Một lúc sau, anh ấy đứng lên, nhìn ngó qua lại mấy lần nữa, rồi mới đi về phía chúng tôi. Khi đến gần, anh ấy giơ ra bốn ngón tay, lắc lắc đầu bảo chúng tôi:


- Mình nhận ra bốn người.


Vừa nói xong, anh Toàn đột nhiên trợn tròn mắt với chúng tôi, hai chân anh đứng tại chỗ như đông cứng, sau đó cả người quì sụp xuống. Chúng tôi không biết tại sao anh lại thế, chỉ nhìn thấy có đạn pháo bay đến liền hét toáng lên:


- Anh Toàn, mau mau lên!


Gọi mấy lần mà anh Toàn vẫn cứ thế, chúng tôi mới nghĩ ra: Hỏng rồi, anh Toàn có chuyện rồi. Tôi vội vàng bò khỏi đường hào, chạy đến chỗ Lão Toàn, chạy đến trước mặt nhìn thì lưng anh Toàn đã đẫm máu. Mắt tôi nảy đom đóm, rối rít gọi Xuân Sinh. Sau khi Xuân Sinh đến nơi, hai chúng tôi khiêng anh Toàn xuống hào, mảnh đạn bay vèo vèo sát ngay bên chúng tôi.


Chúng tôi đặt anh Toàn nằm xuống. Tôi lấy tay bịt chỗ chảy máu trên lưng anh ấy, vết thương vừa ướt vừa nóng, máu vẫn đang chảy lọt qua kẽ tay tôi. Mắt anh Toàn từ từ mở ra, có lẽ là để nhìn chúng tôi một lát, sau đó động đậy mồm, giọng khản đặc hỏi chúng tôi:


- Đây là đâu nhỉ?


Tôi và Xuân Sinh ngẩng lên nhìn chung quanh, chúng tôi làm sao biết được đây là đâu, đành phải nhìn lại anh Toàn. Anh Toàn nhắm chặt mắt lại, rồi từ từ mở ra, càng mở càng to, mồm anh đã méo xệch trông y như nhăn nhó. Chúng tôi nghe thấy giọng anh khàn khàn:


- Ngay đến chết ở đâu ta cũng không biết nữa.


Nói xong câu này được một lúc thì anh tắt thở. Anh Toàn chết, đầu ngoẹo sang một bên. Tôi và Xuân Sinh biết anh đã chết, chúng tôi đang nhìn nhau thì Xuân Sinh khóc trước, Xuân Sinh đã khóc thì tôi cũng không cầm được nước mắt.


Sau đo, chúng tôi nhìn thấy đại đội trưởng, ông ta đã thay áo lính mặc quần áo dân thường, trong thắt lưng buộc toàn tiền là tiền, xách một cái túi đi về hướng Tây. Chúng tôi biết ông ta định bỏ chạy. Buộc tiền trong quần áo, nên khi ông ta đi người cứ vặn vọ như bà ba béo. Có một người lính họ Oa gọi ông ta:


- Thưa đại đội trưởng, Ủy viên trưởng Tưởng Giới Thạch có còn cứu chúng ta không?


Đại đội trưởng quay lại bảo:


- Thằng ngốc, mẹ cậu lúc này cũng chẳng đến cứu cậu đâu, vẫn là mình tự cứu lấy mình thôi.


Một lính cũ bắn ông ta một phát, đạn không trúng, đại đội trưởng vừa nghe thấy đạn bay về hướng mình, liền co cẳng chạy thục mạng, mất hết vẻ oai phong ngày trước. Mấy người lính đều giơ súng bắn ông ta, ông ta kêu oai oái, chạy qua chạy lại trong cánh đồng tuyết rồi mất hút.


Tiếng súng tiếng pháo đã nổ đến trước mặt chúng tôi. Chúng tôi đều đã nhìn thấy bóng người bắn súng ở phía trước, trong khói đạn cứ từng người từng người lảo đảo ngã xuống. Tôi tính toán thấy mình không sống nổi đến tuổi trung niên, chưa bước sang tuổi trung niên đã đến lượt mình bị chết. Một tháng nay quần đảo trong bom đạn, tôi không còn sợ chết cho lắm, chỉ có điều cảm thấy mình chết không rõ ràng minh bạch. Thế này quả thật là oan uổng. Mẹ tôi và Gia Trân đều không biết tôi chết ở đâu. Tôi nhìn Xuân Sinh, một tay cậu ta còn gác lên người anh Toàn, cũng nhìn tôi với nét mặt buồn rười rượi. Chúng tôi đã ăn gạo sống mấy hôm, mặt Xuân Sinh bị phù, cậu ấy thè lưỡi liếm liếm môi bảo tôi:


- Em muốn ăn bánh nướng.


Đến bây giờ thì chết chóc đã không quan trọng nữa. Trước khi chết được ăn bánh nướng là cũng biết đủ rồi. Xuân Sinh đứng lên, tôi cũng không bảo cậu ấy cẩn thận với tiếng súng đạn. Cậu ấy nhìn rồi bảo:


- Có lẽ ở ngoài còn bánh nướng. Em đi tìm thử xem.


Xuân Sinh bò ra chiến hào, tôi không ngăn cậu ấy. Dù sao thì chẳng đến trưa nay đâu, chúng tôi sẽ đều phải chết, nếu cậu ấy được ăn bánh nướng thật thì tốt quá. Tôi nhìn cậu ấy uể oải bước qua các xác chết, đi được vài bước còn quay lại bảo tôi:


- Anh đừng đi đâu nhé! Tìm được bánh em sẽ quay về.


Cậu ta buông thõng hai tay, cúi đầu đi vào chỗ khói lửa mù mịt ở phía trước. Lúc này trong không khí đầy mùi khét lẹt và bụi bẩn, hít thở vào họng đều cảm thấy có từng viên từng hạt như đá nhỏ.


Chưa đến trưa, thì những người còn sống trong đường hào đều bị bắt làm tù binh. Khi quân Giải phóng cầm súng xông đến, có một lính cũ bảo chúng tôi giơ hai tay lên. Anh ta căng thẳng đến mức tái mặt đi, hò hét bảo chúng tôi chớ có động vào khẩu súng ở bên cạnh. Anh ta sợ đến lúc ấy ngay cả anh ta cũng xúi quẩy. Một người lính giải phóng trạc tuổi Xuân Sinh chĩa thẳng nòng súng đen ngòm vào tôi; tôi sững sờ, nghĩ thầm lần này thì chết thật. Nhưng anh ta không nổ súng, nói với tôi câu gì đó, tôi nghe thấy tiếng bảo tôi bò ra, trong lòng bỗng hồi hộp, tôi lại có ý mong được sống. Sau khi tôi bò ra khỏi hầm, anh ta bảo:


- Bỏ tay xuống.


Tôi bỏ hai tay xuống, cũng hết hồi hộp. Một hàng hơn mười hai tù binh chúng tôi do anh ta áp giải đi về hướng Nam, đi được một quãng thì nhập vào một đội tù binh lớn hơn. Khắp nơi chỗ nào cũng có những cột khói cao vút, đổ nghiêng về một phía. Trên mặt đất chi chít hố bom, xác chết ngổn ngang, những cỗ xe quân sự cháy đen vẫn còn đang nổ lép bép. Sau khi chúng tôi đi được một chặng, thì hơn hai mươi bộ đội Giải phóng gánh bánh bao từ hướng Bắc đi thẳng đến; bánh bao nóng hôi hổi, tôi nhìn thấy thèm rỏ cả nước dãi. Một sĩ quan áp giải chúng tôi bảo:


- Các anh tự xếp hàng vào tử tế.


Không ngờ họ đã đem bánh bao đến cho chúng tôi ăn. Nếu Xuân Sinh còn ở đây thì hay quá. Tôi nhìn ra xa xa, không biết thằng bé này còn sống hay đã chết. Chúng tôi tự động xếp thành đội hình hơn mười hai hàng dọc, cứ lần lượt mỗi người nhận hai cái bánh bao. Tôi chưa bao giờ nghe thấy tiếng ăn rào rào to đến thế, còn to hơn vài trăm con lợn ăn xốc. Người nào cũng ăn rất nhanh, có một số người cứ ho thục mạng, tiếng ho sau cao hơn tiếng ho trước. Một người ở cạnh tôi ho dữ hơn ai hết, anh ta cứ ôm lưng, ho chảy cả nước mắt. Nhiều người đã bị nghẹn, ai cũng ngẩng mặt trợn mắt, không nhúc nhích.


Sáng hôm sau, chúng tôi được tập hợp trên một bãi trống, ngồi thành từng hàng ngay ngắn. Ở trước mặt có hai cái bàn, một người có dáng sĩ quan nói chuyện với chúng tôi. Ông ta nói một thôi một hồi về lý lẽ giải phóng Trung Quốc, cuối cùng tuyên bố:


- Ai tự nguyện tham gia quân Giải phóng thì tiếp tục ngồi, còn ai muốn về nhà thì đứng lên, đi lĩnh lệ phí về quê.


Vừa nghe có thể về nhà, tim tôi đập thình thịch. Nhưng tôi nhìn thấy người sĩ quan kia đeo súng lục ở lưng thì lại đâm sợ. Tôi nghĩ, làm gì có chuyện tử tế như thế. Rất nhiều người ngồi im lặng, cũng có một số người đi ra, họ đã đến trước bàn lĩnh lộ phí thật. Ông sĩ quan kia luôn nhìn họ. Sau khi nhận tiền đi đường, còn lĩnh cả giấy thông hành, tiếp đó là lên đường. Tôi hồi hộp vô cùng, viên sĩ quan kia dứt khoát sẽ rút súng ra bắn họ, giống như đại đội trưởng của chúng tôi đã bắn. Nhưng sau khi họ đã đi rất xa, ông ta vẫn không bắn. Lúc này tôi hồi hộp căng thẳng, tôi biết quân Giải phóng bằng lòng tha chúng tôi về nhà thật, tôi biết qua chiến trận vừa rồi, thế nào gọi là đánh nhau, tôi đã thầm nhủ không bao giờ đi đánh nhau nữa, tôi phải về nhà. Tôi liền đứng lên, bước thẳng tới trước mặt viên sĩ quan, quì sụp xuống khóc thút thít. Tôi vốn định nói xin về nhà, song vừa há mồm lại thay đổi, tôi cứ thưa rối rít:


- Thưa đại đội trưởng, thưa đại đội trưởng, thưa đại đội trưởng…


Tôi không nói được gì khác. Viên sĩ quan kia dìu tôi đứng dậy, hỏi tôi định nói gì. Tôi vẫn gọi ông ấy là đại đội trưởng, vẫn khóc. Một người giải phóng quân đứng cạnh nói với tôi:


- Đây là trung đoàn trưởng.


Nghe nói vậy tôi hết hồn, nghĩ bụng hỏng bét rồi, nhưng nghe thấy tiếng cười rộ lên của đám tù binh đang ngồi, lại nhìn thấy trung đoàn trưởng mỉm cười hỏi tôi:


- Anh định nói gì?


Tôi lúc này mới vững tâm, nói với trung đoàn trưởng:


- Tôi xin về nhà.


Quân Giải phóng đã cho tôi về nhà, còn cho cả tiền đi đường. Tôi hấp ta hấp tấp đi về hướng Nam, đói thì lấy tiền quân Giải phóng cho mua bánh nướng ăn, mệt thì tìm một nơi bằng phẳng đánh một giấc. Tôi nhớ nhà lắm rồi, cứ nghĩ đời này kiếp này được đoàn tụ với mẹ, Gia Trân và hai đứa con, tôi lại vừa cười vừa khóc, hối hả chạy về hướng Nam.


Khi tôi đến bên sông Trường, miền Nam còn chưa giải phóng, quân Giải phóng đang chuẩn bị vượt sông. Tôi không qua được, phải ở đấy mất mấy tháng; tôi tìm việc làm ở khắp nơi để khỏi chết đói.


Tôi biết quân Giải phóng thiếu người chở thuyền. Ngày trước sẵn tiền ham chơi, tôi đã từng học chở thuyền; đã mấy lần tôi định gia nhập quân Giải phóng, chở thuyền cho họ qua sông Trường. Tôi nghĩ, quân Giải phóng tốt với mình, mình phải đáp lại ơn đó. Nhưng quả thật tôi sợ đánh nhau, sợ không được gặp người ruột thịt. Vì mẹ con Gia Trân, tôi đã thầm nhủ:


- Mình không đền ơn nữa, mình sẽ ghi nhớ việc đối xử tử tế của quân Giải phóng.


Tôi đã bám sau lưng quân Giải phóng về đến nhà. Tính thời gian tôi xa gia đình đã sắp được hai năm. Lúc đi là giữa thu, khi về là đầu thu. Bụi đất đầy người, tôi bước đi trên đường quê hương, tôi nhận thấy thôn mình chẳng thay đổi chút nào hết, cứ nhìn vào là thấy, tôi sốt ruột xồng xộc đi lên trước. Tôi nhìn thấy trước tiên ngôi nhà ngói ngày nào là của gia đình tôi, rồi lại nhìn thấy mái lều tranh bây giờ. Vừa nhìn thấy lều tranh ấy, tôi không còn nhịn được, chạy phứa lên.


Đến chỗ cách đầu thôn không xa, có một bé gái bảy tám tuổi dắt theo một cậu bé ba tuổi đang cắt cỏ. Vừa nhìn thấy con bé ăn mặc rách rưới, tôi đã nhận ra ngay đó là Phượng Hà của tôi. Phượng Hà đang dắt tay Hữu Khánh, Hữu Khánh bước đi còn chập chững. Tôi liền gọi Phượng Hà và Hữu Khánh:


- Phượng Hà ơi! Hữu Khánh ơi!


Phượng Hà như không nghe thấy, song Hữu Khánh quay người lại, nó vẫn đang bị chị dắt đi nên chỉ ngoẹo đầu lại. Tôi gọi tiếp:


- Phượng Hà ơi! Hữu Khánh ơi!


Lúc này Hữu Khánh kéo chị lại. Phượng Hà quay về phía tôi. Tôi chạy đến ngồi xổm trước mặt Phượng Hà:


- Phượng Hà ơi, có biết ai đây không?


Phượng Hà tròn mắt nhìn tôi một lúc, cái mồm động đậy không thành tiếng. Tôi bảo Phượng Hà:


- Ta là bố con đây.


Phượng Hà nhoẻn cười, mồm nó cứ há ra há ra nhưng không nói tiếng nào. Lúc ấy, tôi đã cảm thấy ngờ ngợ cái gì, chỉ có điều tôi không nghĩ kỹ. Tôi biết Phượng Hà đã nhận ra bố, nó há mồm cười với tôi, răng cửa của nó đã rụng hết. Tôi đưa tay âu yếm sờ mặt nó, mắt cháu sáng lên úp mặt vào tay tôi. Tôi lại nhìn Hữu Khánh, đương nhiên Hữu Khánh không nhận ra tôi, nó sợ cứ nép vào người chị. Tôi kéo nó, nó liền tránh tôi. Tôi bảo nó:


- Con trai ơi, ta là bố con đây.


Hữu Khánh liền nấp sau lưng chị, đẩy Phượng Hà bảo:


- Chúng ta mau mau về đi.


Lúc này, có một người đàn bà chạy đến chỗ chúng tôi, rối rít gọi tên tôi, tôi nhận ra vợ mình. Gia Trân chạy lảo đà lảo đảo, chạy đến trước mặt tôi gọi một tiếng:


- Anh Phú Quí! - Rồi ngồi bệt xuống đất khóc hu hu.


Tôi nói với Gia Trân:


- Khóc cái gì, khóc cái gì.


Nói xong, tôi cũng hu hu khóc.


Coi như tôi đã về đến nhà. Nhìn thấy Gia Trân và hai đứa con đều khỏe mạnh, tôi cũng yên tâm. Cả ba mẹ con theo bố về nhà. Đi gần đến lều tranh nhà mình, tôi rối rít gọi:


- Mẹ ơi, mẹ!


Gọi xong, tôi chạy vượt lên, chạy vào trong lều tranh không nhìn thấy mẹ đâu, mắt tôi liền tối sầm lại, quay ra hỏi Gia Trân:


- Mẹ đâu… em?


Gia Trân không nói gì, nước mắt giàn giụa nhìn tôi. Tôi biết mẹ đi đâu rồi. Tôi đứng ở cửa cúi đầu lau nước mắt.


Tôi xa nhà được hơn hai tháng thì mẹ tôi mất. Gia Trân nói với tôi, trước khi chết, mẹ cứ nhắc đi nhắc lại mãi: “Phú Quí không đi đánh bạc đâu”.


Gia Trân đã lên tỉnh dò hỏi về tôi bao nhiêu lần, nhưng không có ai bảo với cô ấy tôi đã bị bắt đi lính, nên mẹ tôi mới nói vậy. Thương cho mẹ tôi quá, lúc chết mẹ tôi vẫn không biết tôi ở đâu. Phượng Hà của tôi cũng đáng thương, một năm trước đây, sau một trận sốt cao nó không nói được nữa. Khi Gia Trân khóc nức nở nói với tôi những chuyện này thì Phượng Hà ngồi ngay trước mặt tôi. Nó biết bố mẹ đang nói về nó, liền khe khẽ cười với tôi. Nhìn con gái cười, tôi như đứt từng khúc ruột. Hữu Khánh cũng đã nhận bố, chỉ có điều nó còn sờ sợ tôi; tôi bế nó, nó cứ cố giãy ra quay nhìn chị. Dù sao thì tôi cũng đã về đến nhà. Đêm đầu tiên tôi không sao ngủ được. Hai vợ chồng cùng hai đứa con chen vào nhau; nghe gió thổi cỏ tranh phần phật trên nóc nhà, nhìn ánh trăng sáng vằng vặc ở bên ngoài, trong lòng tôi vừa yên tâm vừa cảm thấy ấm áp. Tôi hết sờ Gia Trân lại sờ hai đứa con. Tôi cứ thầm nói hết lần này đến lượt khác:


- Mình đã về nhà.


Khi tôi về thì trong làng bắt đầu thực hiện cải cách ruộng đất. Tôi được chia năm mẫu ruộng, tức năm mẫu cấy rẽ của Long Nhị ngày đầu. Long Nhị xúi quẩy lớn, hắn làm địa chủ, lên mặt chưa được ba năm, giải phóng một cái liền đi toi.


Đảng Cộng sản tịch thu ruộng đất tài sản của hắn, chia cho nông dân ngày trước. Hắn còn cố sống cố chết không chịu, đi dọa những gia đình nông dân ấy, có người không nghe, hắn liền giơ tay đánh người ta. Thế là Long Nhị tự chuốc lấy rủi ro, chính quyền nhân dân đã bắt hắn, qui hắn là địa chủ ác bá, tống hắn vào nhà giam ở tỉnh. Long Nhị vẫn không thức thời, cái mồm cứ cứng như đá, cuối cùng bị xử bắn.


Hôm xử tử Long Nhị, tôi cũng đi xem. Đứng trước cái chết, Long Nhị mới nản lòng. Nghe nói khi bị giải ra khỏi nhà tù, nước mắt hắn lưng tròng, mồm chảy nước dãi nói với một người quen:


- Có nằm mơ cũng không nghĩ đến ngày mình bị xử bắn.


Long Nhị cũng hồ đồ quá. Hắn cứ tưởng bị giam vài hôm sẽ thả ra, hoàn toàn không tin sẽ bị bắn. Hôm đó vào buổi chiều, xử bắn Long Nhị ở thôn cạnh chúng tôi, đã có người đào huyệt sẵn. Hôm đó, dân chúng ở mấy thôn đều đến xem. Long Nhị bị trói giật cánh khỉ áp giải đến, gần như hắn bị lôi xềnh xệch, mồm nửa há, thở hồng hộc. Khi đi qua cạnh tôi, Long Nhị đưa mắt nhìn tôi một cái, tôi cảm thấy anh ta không nhận ra tôi, nhưng đi qua được mấy bước anh ta liền cố tình quay đầu lại, sụt sịt nói với tôi:


- Phú Quí ơi, tao chết thay mày đấy.


Nghe hắn nói vậy, tôi đâm hoảng, nghĩ bụng rời khỏi đây vẫn hơn, đừng có xem anh ta chết như thế nào nữa. Tôi chen khỏi đám đông, lủi thủi đi ra ngoài. Đi được chừng mười bước thì nghe “đoàng” một tiếng, nghĩ bụng Long Nhị đi đời hẳn rồi; nhưng lại nghe thấy “đoàng” một phát nữa, tiếp theo là ba phát liền, cả thảy bắn năm viên đạn. Tôi thầm nghĩ hay là còn những người khác cũng bị xử bắn. Trên đường về, tôi hỏi một người cùng làng:


- Bắn mấy người?


- Chỉ có một mình Long Nhị. - Anh ta đáp.


Long Nhị xúi quẩy hết mức, anh ta đã ăn năm phát súng, cho dù anh ta có năm mạng sống cũng rồi đời.


Sau khi Long Nhị chết, trên đường đi về nhà, cổ tôi cứ lạnh toát, tôi càng nghĩ càng sợ, nếu hồi đó bố tôi và tôi không là hai đứa con hư hỏng, thì biết đâu kẻ bị xử tử hôm nay sẽ là tôi. Tôi vuốt vuốt mặt mình, lại nắn nắn bóp bóp cánh tay mình, tất cả vẫn còn nguyên. Tôi nghĩ, kẻ đáng chết là tôi lại không chết, từ chiến trường tôi đã sống sót trở về; về đến nhà, Long Nhị lại trở thành kẻ chết thay tôi. Mồ mả nhà tôi đã chôn đúng chỗ. Tôi nhắc nhủ bản thân: “Phen này phải sống cho tử tế”.


Khi tôi về đến nhà, Gia Trân đang bện đế giày cho tôi. Nhìn sắc mặt tôi, cô ấy giật nảy người, cứ tưởng tôi ốm. Tôi nói lại những điều vừa nghĩ với vợ, cô ấy sợ tím tái mặt mày mồm lẩm bẩm:


- Nguy hiểm quá!


Sau đó tôi đã nghĩ ra, cảm thấy khỏi cần tự dọa mình, đây là số phận cả thôi. Thường nghe nói: Nạn lớn không chết tất sẽ có hạnh phúc về sau. Tôi nghĩ, nửa đời về cuối của mình sẽ mỗi ngày một khấm khá. Tôi đã nói với Gia Trân như thế. Gia Trân lấy răng cắn đứt sợi chỉ, nhìn tôi nói:


- Em cũng không muốn phải có hạnh phúc gì, chỉ cầu năm nào cũng làm được cho anh một đôi giày mới.


Tôi hiểu lời của vợ, cô ấy đang cầu mong chúng tôi từ nay trở đi không bao giờ phải sống xa nhau. Nhìn khuôn mặt già đi nhiều của Gia Trân, tôi cay đắng trong lòng. Gia Trân nói đúng đấy, chỉ cần người trong nhà ngày nào cũng sống bên nhau, thì chẳng bận tâm đến hạnh phúc làm gì nữa...


 


Ông già kể đến đây thì dừng lại. Tôi nhận ra chúng tôi đã ngồi dưới ánh nắng. Mặt trời di chuyển khiến bóng cây từ từ rời xa chúng tôi, chuyển sang chỗ khác. Ông già vặn mình mấy cái rồi mới đứng lên. Ông vỗ vỗ vào đầu gối, nói với tôi:


- Toàn thân tôi đều càng ngày càng cứng, chỉ có mỗi một chỗ càng ngày càng mềm.


Nghe xong, tôi tự dưng cười phá lên, nhìn vào chỗ đũng quần thõng xuống của ông già, ở đó có dính mấy sợi cỏ non. Ông già cũng cười hì hì, tỏ ra rất vui bởi tôi đã hiểu ý của ông. Sau đó ông quay người gọi con trâu:


- Phú Quí!


Con trâu đã lên khỏi ao nước, đang gặm cỏ non ở bờ ao. Con trâu đứng ở dưới hai cây liễu, cành liễu trên lưng trâu đã mất dáng rủ xuống, bị cong vênh đi, cọ sát trên lưng trâu, mấy chiếc lá liễu chậm chạp rơi xuống. Ông già lại gọi một tiếng:


- Phú Quí!


Mông con trâu giống như một hòn đá to từ từ quay về hướng ao, sau đó đầu nó chui ra khỏi cành liễu, hai con mắt tròn xoe nhìn chúng tôi, nó đủng đỉnh bước đến. Ông già bảo con trâu:


- Bọn Gia Trân đã đi làm từ đời nảo đời nào, mày cũng nghỉ đủ rồi. Ta biết mày còn đói, ai bảo mày ngâm ở ao lâu thế hả?


Ông già dắt trâu ra ruộng, lắp vạy cày vào vai. Ông nói với tôi:


- Trâu già cũng như người già, đói bụng hãy nghỉ một lúc mới ăn được.


Tôi ngồi trở lại chỗ bóng râm, lấy ba lô đệm vào lưng dựa vào gốc cây, dùng mũ lá làm quạt. Da bụng con trâu già sệ xuống hẳn một vệt dài. Khi nó kéo cày, chỗ da bụng ấy y như cái túi nước to cứ quăng đi quăng lại. Tôi lại để ý đến chỗ đũng quần thõng xuống của ông già, đũng quần của ông ấy cũng đang lắc qua lắc lại, giống da bụng con trâu lắm.


Ngày hôm ấy, tôi ngồi ở dưới bóng cây cho đến mãi chiều tối. Tôi không đi bởi vì câu chuyện ông già kể chưa kết thúc. Mùa hè năm ấy, tôi lăng quăng đây đó trong ánh nắng và bụi đất. Tôi đã được nghe các bài ca dao và truyền thuyết, đồng thời cũng được chứng kiến nhiều chuyện khác. Tôi đã từng gặp một người già như ông Phú Quí, mắt sưng mũi tím ngồi ở bờ ruộng. Tôi hỏi ai đánh ông thế này, ông nói sang sảng: “Thằng con trai tôi nó đánh đấy”. Khi tôi hỏi cụ thể hơn vì sao nó đánh ông, thì ông cứ ấp a ấp úng nói không rõ. Tôi biết ngay đích thị ông này chim chuột vụng trộm với con dâu. Còn một buổi tối, tôi cầm đèn pin đi đường, soi thấy hai tấm thân lõa lồ ở cạnh một bờ ao, cái này đè lên cái kia. Khi tôi rọi đèn vào, thì cả hai nằm im thin thít không động đậy, chỉ có một tay đang gãi nhẹ vào đùi. Tôi vội vàng tắt đèn pin đi thẳng. Một buổi trưa vụ gặt, tôi đi vào một ngôi nhà mở toang cửa tìm nước uống; kết quả, một người đàn ông mặc quần đùi hốt ha hốt hoảng dẫn tôi ra cạnh giếng nước, rất ân cần múc cho tôi một xô nước, sau đó lại lủi vào trong nhà như con chuột... Những chuyện tương tự như thế nhiều lắm, nhiều gần bằng những bài ca dao tôi nghe được, thế là khi tôi nhìn mảnh đất đâu đâu cũng mượt mà màu xanh này, tôi càng rõ hơn vì sao hoa màu cây cối ở đây tốt tươi như vậy.


Buổi chiều hôm đó tôi cứ ngồi nhìn ông Phú Quí cày ruộng. Ngay từ đầu, tôi đã biết mình khó mà quên được người đàn ông này. Lúc ấy, trên cánh đồng ở chung quanh, tiếng nói chuyện của bà con nông dân cứ vang qua vang lại. Ồn ào nhất là trên bờ ruộng gần đó, hai người đàn ông lực lưỡng đưa thùng nước trà lên thi uống nước, một đám thanh niên ở bên vừa kêu vừa hét, họ vui vẻ bởi họ đứng ngoài cuộc. Còn chỗ ông Phú Quí ở bên này tỏ ra vắng vẻ hơn nhiều. Trong ruộng nước ở bên cạnh ông có hai người đàn bà đầu chít khăn đang cấy lúa. Họ nói chuyện về một người đàn ông tôi hoàn toàn không quen biết, người đàn ông này hình như là một người rất khỏe mạnh, có thể anh ta là người kiếm được nhiều tiền nhất trong thôn. Qua câu chuyện của họ, tôi biết anh ta làm công việc bốc vác vận chuyển ở trên tỉnh. Một người đàn bà đứng thẳng lưng lên, giơ tay đấm đấm vào lưng; tôi nghe thấy chị ta bảo:


- Tiền anh ta kiếm được dùng trên người vợ một nửa, còn nửa kia dùng trên thân người đàn bà khác.


Lúc này, ông Phú Quí vịn cày đi đến cạnh họ, nói chen vào:


- Làm người không được quên bốn điều: Không nói lời sai, không ngủ nhầm giường, không bước nhầm ngưỡng cửa, không được sờ nhầm túi.


Vịn cày đi qua rồi, ông còn quay đầu lại nói:


- Anh chàng ấy đã quên điều thứ hai, ngủ nhầm giường.


Hai người đàn bà cười hì hì. Tôi nhìn thấy nét mặt ông già tỏ ra đắc ý, ông quát to một tiếng với con trâu. Thấy tôi cũng cười, ông nói với tôi:


- Đấy đều là những đạo lý làm người.


Sau đó, chúng tôi lại ngồi dưới bóng cây. Tôi đề nghị ông tiếp tục kể về mình, ông nhìn tôi có phần cảm động, phảng phất như thể tôi đang làm việc gì đó vì ông, bởi vì thân thế của ông được người khác coi trọng nên ông tỏ ra vui vẻ.


 


... Bắt đầu kể từ đâu nhỉ? Sau khi tôi về nhà, khổ thì có khổ, song cuộc sống coi như yên ổn. Phượng Hà và Hữu Khánh mỗi ngày một khôn lớn, còn tôi thì càng ngày càng già đi. Nhưng tôi vẫn không cảm thấy thế, Gia Trân cũng không cảm thấy thế. Tôi chỉ cảm thấy sức lực kém xa ngày trước. Đến một hôm, tôi quẩy một gánh rau lên tỉnh bán, đi qua chỗ cửa hàng lụa trước kia, một người quen nhìn thấy tôi, liền gọi:


- Phú Quí ơi, tóc anh bạc rồi đấy.


Thật ra tôi và anh này cũng chỉ sáu tháng chưa gặp nhau. Anh ấy nói như vậy, tôi mới cảm thấy mình đã già đi nhiều. Về đến nhà, tôi cứ nhìn Gia Trân mãi, nhìn tới mức cô ấy không biết đã xảy ra chuyện gì, cúi đầu nhìn mình, lại quay nhìn sau lưng, rồi mới hỏi:


- Anh nhìn cái gì vậy?


Tôi cười, trả lời vợ:


- Tóc em cũng bạc rồi.


Năm đó Phượng Hà mười bảy tuổi, con bé đã ra dáng thiếu nữ, nếu nó không vừa câm vừa điếc thì cũng đã có nơi ăn hỏi. Dân làng ai cũng khen con bé xinh. Phượng Hà hao hao giống Gia Trân thời trẻ. Hữu Khánh cũng đã bước sang tuổi mười hai, cháu học tiểu học ở trên tỉnh.


Lúc đầu có cho Hữu Khánh đi học hay không, vợ chồng tôi cũng cứ do dự mãi vì không có tiền. Phượng Hà lúc đó mười hai tuổi, tuy nó cũng giúp bố làm được việc đồng áng, giúp mẹ làm một số việc ở nhà, nhưng vẫn coi như sống dựa vào chúng tôi. Tôi và Gia Trân bàn nhau hay là đem Phượng Hà cho người ta, số tiền còn lại để cho Hữu Khánh ăn học. Đừng tưởng Phượng Hà không biết nghe, không biết nói, nó thông minh đáo để. Tôi và Gia Trân vừa nói đến chuyện đem Phượng Hà cho người ta, nó quay phắt đầu lại nhìn bố mẹ, hai mắt cứ chớp chớp. Tôi và Gia Trân bị cháu nhìn mà chua xót cõi lòng, suốt mấy ngày không nhắc đến chuyện ấy nữa.


Tuổi đi học của Hữu Khánh ngày càng đến gần, không thể không giải quyết việc đó. Tôi đã nhờ người trong làng khi đi ra ngoài tiện thể dò hỏi xem có nhà ai bằng lòng nhận nuôi một bé gái mười hai tuổi. Tôi bảo với Gia Trân:


- Nếu gặp được một gia đình tử tế, thì Phượng Hà còn sống khá hơn bây giờ.


Gia Trân gật đầu lia lịa song lại lau nước mắt. Lòng dạ người làm mẹ bao giờ cũng yếu mềm. Tôi khuyên vợ suy nghĩ thoáng một chút. Phượng Hà số khổ, xem ra phải chịu khổ hết đời. Hữu Khánh thì không thể khổ cả đời được, phải cho nó đi học, đi học mới có ngày thành đạt. Tóm lại, không thể để cả hai đứa con bị cảnh nghèo trói buộc, phải để một đứa sau này sống khá hơn.


Người trong làng đi dò hỏi về cho biết Phượng Hà hơi lớn một chút, nếu giảm được nửa số tuổi thì nhiều người nhận nuôi. Nghe nói vậy, chúng tôi cũng từ bỏ ý định ban đầu, ai ngờ một tháng sau, có hai gia đình nhắn tin đến xin Phượng Hà làm con gái; còn gia đình nữa nhận Phượng Hà về trông nom bố mẹ già. Tôi và Gia Trân đều cảm thấy gia đình không có con hay hơn, coi Phượng Hà là con thì thường yêu thương hơn, liền nhắn họ đến xem. Họ đến, nhìn thấy Phượng Hà, cả hai vợ chồng đều rất mừng, nhưng vừa nghe bảo Phượng Hà bị câm, họ liền đổi ý định. Anh chồng nói:


- Người sạch sẽ đấy, chỉ có điều…


Ông ta không nói tiếp, sau đó ra về một cách khách khí. Tôi và Gia Trân đành phải để cho gia đình thứ hai. Người ta đến nhận Phượng Hà, đúng là gia đình này không quan tâm đến chuyện Phượng Hà có biết nói hay không. Họ bảo, chỉ cần chăm chỉ nhanh chân nhanh tay là được.


Hôm Phượng Hà bị đưa đi, lúc tôi vác cuốc chuẩn bị ra đồng, thì nó xách ngay rổ và liềm đi theo tôi. Mấy năm qua tôi làm việc ở ruộng, Phượng Hà thường cắt cỏ ở bên cạnh đã quen rồi. Hôm ấy thấy con gái đi theo, tôi đẩy đẩy bảo nó về. Nó tròn xoe hai mắt nhìn tôi. Tôi bỏ cuốc xuống, lôi nó vào trong nhà, cầm lấy cái liềm và cái rổ trong tay con vứt vào một góc. Nó vẫn trân trân nhìn tôi. Nó không biết chúng tôi đã đem nó cho người khác. Khi Gia Trân thay cho nó bộ quần áo màu đỏ tươi, nó không nhìn tôi nữa, cúi đầu để mẹ thay quần áo, đó là bộ quần áo Gia Trân đã mặc, nay sửa đi khâu lại. Khi Gia Trân cài cúc cho Phượng Hà, nước mắt nó ròng ròng chảy, Phượng Hà biết mình sắp phải đi. Tôi vác cuốc đi ra, đi đến cổng tôi nói với Gia Trân:


- Tôi ra đồng đây, người ta đến nhận Phượng Hà, cứ bảo họ đưa đi, đừng ra gặp tôi nữa.


Tôi ra đến ruộng, khi tung cái cuốc lên bổ xuống cứ cảm thấy hẫng hụt, không ngọt lưỡi cuốc, không chắc đẫy tay, trong lòng trống trải. Tôi nhìn xung quanh, không thấy Phượng Hà cắt cỏ ở đó. Từ nay trở đi không còn bao giờ nhìn thấy Phượng Hà khi làm việc nữa, tôi buồn chán chẳng còn một chút sức lực nào. Giữa lúc đó tôi nhìn thấy Phượng Hà đứng ở bờ ruộng, bên cạnh có một người đàn ông trạc năm mươi tuổi dắt tay nó. Nước mắt của Phượng Hà chảy giàn giụa trên mặt, nó khóc tới mức toàn thân cứ run run, khóc mà không hề có một chút âm thanh, nó cứ nâng cùi tay gạt nước mắt liên tục. Tôi biết nó lau nước mắt là để nhìn rõ bố. Người đàn ông kia cười bảo tôi:


- Anh yên tâm, tôi sẽ đối xử tử tế với cháu.


Nói xong, ông ta dắt Phượng Hà đi. Phượng Hà đi theo ông ấy. Khi Phượng Hà bị dắt đi, người cháu cứ ngả về phía tôi, nó nhìn tôi. Phượng Hà cứ đi cứ đi, tôi không nhìn thấy mắt nó nữa, một lát sau lại thấy cánh tay nó giơ lên lau nước mắt, rồi không nhìn thấy gì nữa. Lúc này thật tình tôi không chịu nổi nữa, ngoẹo đầu khóc nức nở. Lúc Gia Trân bước đến, tôi đã trách vợ:


- Bảo mình đừng cho họ ra đây, mình lại cứ để họ ra gặp tôi.


Gia Trân đáp:


- Phượng Hà nó tự ra gặp bố đấy.


Sau khi Phượng Hà đi, Hữu Khánh đã phá bĩnh. Mới đầu, lúc Phượng Hà bị người ta dắt đi, nó trố mắt không biết đã xảy ra chuyện gì; mãi đến khi Phượng Hà đi xa, không nhìn thấy nữa, nó mới gãi đầu gãi tai đi từng bước về nhà. Tôi thấy nó nhìn ngó ra chỗ mình mấy lần, chỉ có điều không đi đến tận nơi hỏi. Khi nó còn ở trong bụng mẹ đã từng bị tôi đánh, nên nhìn thấy tôi nó sợ.


Lúc ăn cơm trưa không có Phượng Hà ở mâm, Hữu Khánh chỉ và hai miếng rồi bỏ, mắt hết nhìn mẹ lại nhìn bố. Gia Trân giục nó:


- Ăn mau lên con.


Nó lắc lắc cái đầu bé xíu, hỏi mẹ:


- Chị đâu hả mẹ?


Gia Trân nghe vậy cúi đầu, bảo con:


- Con ăn nhanh nhanh đi nào.


Thằng bé đặt luôn đũa xuống, hỏi mẹ:


- Bao giờ chị về hả mẹ?


Phượng Hà ra đi, trong lòng tôi vốn đang rối bời bời. Bây giờ thấy Hữu Khánh như vậy, tôi đập tay lên mâm cơm nói:


- Phượng Hà không về nữa.


Hữu Khánh sợ run người, nhìn thấy tôi không nổi nóng nữa, nó mắm môi cúi đầu khẽ nói:


- Con cần chị cơ.


Gia Trân liền nói với nó, bố mẹ đã đem Phượng Hà cho người ta, để dành một ít tiền cho con đi học. Nghe thấy bảo đem Phượng Hà cho người ta, Hữu Khánh há mồm òa khóc, vừa khóc vừa nói:


- Con không đi học, con cần chị cơ.


Tôi mặc kệ nó, nghĩ bụng nó khóc thì cứ để cho khóc, ai ngờ nó lại nói:


- Con không đi học.


Tôi rối ruột, quát nó:


- Mày khóc cái gì hả?


Hữu Khánh sợ rụt người lại, nhìn thấy tôi lại cúi đầu ăn cơm, nó liền rời khỏi mâm, đi đến góc nhà đột nhiên lại nói to một tiếng:


- Con cần chị cơ.


Tôi biết lần này không đánh con không xong, liền cầm cái cán chổi ở sau cửa đi vào, bảo với nó:


- Quay ra!


Hữu Khánh nhìn Gia Trân, ngoan ngoãn quay ra, hai tay vịn vào tường. Tôi nói:


- Cởi quần ra!


Hữu Khánh quay đầu nhìn mẹ, sau khi cởi quần lại quay mặt nhìn mẹ, thấy mẹ không bước đến ngăn bố, nó hoảng lên. Khi tôi giơ cán chổi lên, nó sợ hãi nói:


- Bố, đừng đánh con nữa có được không?


Nó nói như vậy, tôi cũng mềm lòng. Hữu Khánh có tội tình gì đâu, Phượng Hà đã trông coi nó lớn, nó thân thiết với chị, nhớ chị đấy mà. Tôi xoa xoa đầu nó, bảo:


- Nhanh nhanh ra ăn cơm đi con.


Hai tháng đã qua đi, đến ngày Hữu Khánh đi học rồi. Khi bị dẫn đi, Phượng Hà đã mặc một bộ quần áo đẹp, còn Hữu Khánh đi học thì ăn mặc rách rưới, trong lòng người làm mẹ đau khổ lắm. Ngồi xổm trước mặt con, Gia Trân hết kéo kéo chỗ này, lại vuốt vuốt chỗ kia, nói với tôi:


- Chẳng có bộ quần áo ra hồn nào.


Nào ngờ Hữu Khánh lại nói:


- Con không đi học.


Đã hai tháng trôi qua, tôi cứ tưởng Hữu Khánh quên chuyện Phượng Hà từ lâu rồi, vậy mà đến ngày đi học, nó lại bảo như thế. Lần này tôi không nổi nóng, tôi dịu ngọt nói với con, đem Phượng Hà cho người ta là để cho con đi học, con chỉ có chăm chỉ học tập mới xứng đáng với chị. Hữu Khánh cứng rắn hẳn lên, ngẩng cao đầu nói với tôi:


- Con không đi học đấy!


Tôi bảo:


- Lại ngứa đít đấy hả?


Nó quay ngoắt một cái, chân giẫm bình bịch trên đất đi vào trong nhà, nói vọng ra:


- Bố có đánh chết, con cũng không đi học.


Tôi nghĩ thằng này đòi ăn đòn, liền cầm cán chổi đi vào. Gia Trân kéo tôi lại, van xin:


- Mình nhẹ tay một chút, đừng có đánh con thật.


Tôi vào đến nhà, thì Hữu Khánh đã nằm ở trên giường, quần đã tụt xuống đùi lộ ra hai cái mông con con, nó đang chờ ăn đòn. Nó làm như thế, ngược lại, đã khiến tôi không ra đòn nổi, tôi dọa nó trước:


- Bây giờ nói đi học vẫn còn kịp.


Nó hét giãy nẩy lên:


- Con cần chị cơ!


Tôi đánh vào mông nó một cái, nó ôm chặt đầu nói:


- Không đau!


Tôi đánh tiếp roi nữa, miệng hỏi:


- Có đau không?


Nó vẫn nói:


- Không đau.


Thằng bé này buộc tôi phải ra tay đây, tôi tức lộn ruột, vụt thật mạnh vào mông, lần này nó chịu không nổi, khóc hu hu, tôi mặc kệ, cứ vụt tơi tới. Dù sao thì thằng bé vẫn còn nhỏ, một lúc nữa quả thật cu cậu đau đớn không chịu nổi, van xin tôi:


- Bố đừng đánh nữa, con đi học.


Hữu Khánh là đứa con ngoan, ngày đầu tiên đi học buổi trưa về, hễ nhìn thấy tôi là cứ run bần bật. Tôi cứ tưởng buổi sáng bị ăn đòn nó còn sợ, liền thân mật hỏi nó trường học có đẹp không, nó cúi đầu khẽ đáp một tiếng. Lúc ăn cơm, nó cứ ngẩng đầu lấm lét nhìn tôi có vẻ sợ hãi, khiến tôi thấy ân hận, thầm nghĩ sáng nay tôi đánh con cũng đau quá, nặng quá. Lúc ăn sắp xong, Hữu Khánh gọi tôi một tiếng:


- Bố ơi! - Nó nói - Thầy giáo  bảo con về nói với bố mẹ, thầy giáo phê bình con, nói con ngồi trên ghế cứ nhấp nhấp nhổm nhổm, không chăm chỉ đọc sách.


Tôi vừa nghe đã nổi nóng. Phượng Hà đã phải đem cho người ta, mà nó thì không chịu học. Tôi quăng bát xuống mâm, nó khóc trước, vừa khóc vừa nói:


- Bố ơi, bố đừng đánh con, đít con đau lắm ngồi không vững.


Tôi vội vàng tụt quần con ra xem, trên mông đít Hữu Khánh hằn lên từng vệt roi tím tái bị tôi đánh sáng nay. Thế này thì làm sao nó ngồi yên trên ghế được! Nhìn dáng con co rúm run run, mũi tôi cay cay, mắt tôi ướt nhòe.


Phượng Hà được người ta dẫn đi mới mấy tháng nó đã bỏ về. Phượng Hà về nhà vào lúc đêm khuya. Hai vợ chồng tôi nằm trên giường, nghe thấy có tiếng gõ cửa ở bên ngoài, lúc đầu gõ một tiếng rất khẽ, một lát sau lại gõ hai tiếng. Tôi nghĩ: “Ai thế nhỉ? Đang đêm khuya khoắt thế này”. Tôi bò dậy ra mở cửa, cửa vừa mở ra thì nhìn thấy Phượng Hà, lại quên mất nó không nghe được, vội vàng bảo:


- Phượng Hà, mau mau vào đây con.


Tôi nói thế, làm cho Gia Trân bỗng bật khỏi giường không kịp xỏ dép, cứ giậm chân đất chạy ra cửa, kéo Phượng Hà vào nhà. Gia Trân ôm chặt con khóc hu hu. Tôi đẩy đẩy vợ, nhắc đừng làm thế.


Quần áo và tóc Phượng Hà bị sương bám ướt rượt. Chúng tôi kéo con gái ngồi lên giường, một tay của nó giữ chặt ống tay áo tôi, còn tay kia níu chặt áo Gia Trân, toàn thân run rẩy, khóc nghẹn. Gia Trân định đi lấy khăn mặt lau mái tóc cho con, nhưng nó cứ giữ rịt không cho mẹ đi, Gia Trân đành phải lấy tay lau tóc cho nó. Lâu lắm nó mới nín, buông tay ra. Tôi cầm hai bàn tay con xem đi xem lại, định xem gia đình kia có bắt Phượng Hà làm việc như trâu như ngựa không. Tôi nhìn lâu lắm song rút cuộc chẳng phát hiện được gì, vết chai dầy dầy trên tay Phượng Hà lúc ở nhà cũng đã có. Tôi lại nhìn mặt con, trên mặt cũng không có vết thương nào, lúc này mới có phần nào an tâm.


Tóc Phượng Hà khô rồi, Gia Trân liền thay quần áo cho con, để nó ngủ bên Khánh. Sau khi nằm xuống, Phượng Hà mở mắt nhìn em trai đang ngủ một lúc, cười trộm một cái, rồi mới nhắm mắt lại. Hữu Khánh trở mình, gác tay lên mồm Phượng Hà, trông như tát vào mồm chị. Khi ngủ, Phượng Hà giống như con mèo bé bỏng, vừa ngoan, vừa yên lành, không hề giãy giụa.


Sáng ra vừa thức dậy, nhìn thấy chị gái, Hữu Khánh cứ dụi mạnh hai mắt, dụi xong mắt nhìn tiếp, thì vẫn là Phượng Hà. Không kịp mặc quần áo, nó nhảy phốc từ trên giường xuống, há mồm gọi rối rít:


- Chị ơi, chị ơi!


Thằng bé này ngay từ sáng sớm đã hỉ hả cười nói luôn mồm. Gia Trân giục con trai mau mau ăn cơm để còn đi học; Hữu Khánh thôi cười, len lén nhìn tôi, khẽ hỏi mẹ:


- Hôm nay con nghỉ học được không mẹ?


Tôi bảo:


- Không được!


Hữu Khánh không dám nói thêm. Khi đeo cặp sách ra khỏi cửa, nó giậm mạnh chân mấy cái, sau đó sợ tôi nổi nóng, nó đã chạy thật nhanh. Hữu Khánh đi học rồi, tôi bảo vợ đem bộ quần áo sạch sẽ ra, sửa soạn đưa Phượng Hà đi về. Vừa quay người đã thấy Phượng Hà cầm liềm xách rổ đứng ở cửa đợi tôi. Phượng Hà nhìn tôi như van xin, khiến tôi thật tình không nhẫn tâm đưa con về. Tôi nhìn Gia Trân, cặp mắt Gia Trân cũng đang nhìn tôi như cầu xin. Tôi bảo:


- Để Phượng Hà ở đây một ngày nữa.


Ăn cơm tối xong, tôi đưa Phượng Hà về. Phượng Hà không khóc. Nó nhìn mẹ nhìn em một cách đáng thương, bám ống tay áo đi theo tôi. Ở đằng sau, Hữu Khánh vừa khóc vừa làm ầm ĩ, dù sao thì Phượng Hà cũng không nghe thấy, tôi cứ kệ xác nó.


Con đường ấy bước đi sao mà đau đớn nặng nề đến thế, tôi cố không nhìn Phượng Hà, cứ cắm đầu cắm cổ đi, đi mãi đi mãi. Trời đã tối, gió thổi vù vù vào mặt tôi, lùa cả vào trong cổ. Hai tay Phượng Hà nắm chặt ống tay áo tôi, nó không nói gì cả. Khi trời tối hẳn, Phượng Hà vấp phải hòn đá trên đường, cứ đi được một quãng người nó lại dúi dụi sang một bên. Tôi ngồi xuống bóp hai chân cho con, hai tay bé nhỏ của nó để trên cổ tôi, tay lạnh lắm, không hề động đậy. Chặng đường về sau tôi liền cõng con gái. Đến tỉnh lỵ, thấy sắp sửa về gần nhà họ, tôi đặt Phượng Hà xuống dưới một cây đèn đường, tôi cứ nhìn nó mãi. Phượng Hà là con bé ngoan, đến lúc này cũng không khóc, chỉ trố mắt nhìn tôi. Tôi đưa tay sờ má con, nó cũng thò tay sờ má tôi. Tay nó vừa sờ vào mặt tôi, tôi không còn bụng dạ nào đưa con đến gia đình nhà kia nữa. Tôi cõng con quay về nhà, cánh tay nhỏ của con gái cứ ghì chặt cổ tôi. Đi được một đoạn, Phượng Hà tự dưng ôm chặt tôi, nó đã biết tôi đưa nó về nhà. Về đến nhà, nhìn thấy hai bố con, Gia Trân ngớ người ra. Tôi bảo:


- Dù cả nhà chết đói thì cũng không cho Phượng Hà đi nữa.


Gia Trân khe khẽ cười, cười mãi, cười mãi rồi nước mắt cứ giàn giụa.


Hữu Khánh học được hai năm, đến năm lên mười thì không có thời giờ rong chơi nữa. Lúc ấy đã có công xã nhân dân, Phượng Hà mười lăm tuổi cũng theo bố mẹ ra đồng, lúc ghi công điểm, người ta tính cho nó một nửa công, Phượng Hà coi như đã có thể tự nuôi thân. Nhà có hai con dê hoàn toàn do Hữu Khánh cắt cỏ nuôi chúng. Ngày nào Gia Trân cũng đánh thức Hữu Khánh vào lúc tờ mờ sáng. Thằng bé quăng liềm vào rổ, một tay cầm rổ, một tay dụi mắt, lật bật bước ra khỏi nhà đi cắt cỏ. Trông nó đáng thương quá, đang ở độ tuổi ăn tuổi ngủ, lại phải thức dậy vào lúc đang ngủ ngon ngủ say hơn cả, nhưng biết làm sao được? Không có Hữu Khánh cắt cỏ thì hai con dê sẽ chết đói. Khi Hữu Khánh bưng rổ cỏ về thì cũng sắp muộn giờ đi học, nó vội vội vàng vàng ăn một bát cơm nguội, vừa nhai vừa chạy đến trường. Buổi trưa đi học về lại phải cắt cỏ nuôi dê rồi mới ăn cơm. Lúc Hữu Khánh lên mười tuổi, một ngày hai lần đi về nó phải cuốc bộ hơn năm mươi dặm(1) .


Hữu Khánh đi như thế, đương nhiên giày chóng rách. Gia Trân xuất thân trong gia đình có tiền ở tỉnh lỵ, cảm thấy Hữu Khánh là đứa trẻ đi học không thể đi chân đất, nên đã làm cho nó một đôi giày. Tôi lại thấy đi học chỉ cần học giỏi là được, đi giày hay không có quan hệ gì. Hữu Khánh đi đôi giày mới vừa được hai tháng, tôi đã thấy Gia Trân lại khâu đế giày; hỏi làm giày cho ai, Gia Trân đáp cho Hữu Khánh.


Công việc đồng áng đã làm cho Gia Trân mệt nhoài nói không ra hơi. Hữu Khánh làm cho mẹ nó chết mệt mất thôi. Tôi cầm đôi giày Hữu Khánh mới đi được hai tháng ra xem. Đây mà là giày ư? Không kể đế giày mài thủng, ngay đến má giày cũng rơi ra. Khi Hữu Khánh bưng rổ cỏ đầy có ngọn về, tôi quăng đôi giày ra, túm chặt lấy tai nó bảo nó nhìn xem:


- Mày đi giày hay là mày gặm giày thế hả?


Hữu Khánh sờ tai bị túm đau, mếu máo định khóc nhưng lại không dám. Tôi đe nó:


- Mày còn đi giày thế này nữa, ông chặt đứt chân cho mày biết đời.


Thật ra tôi đuối lý, nhà có hai con dê hoàn toàn do Hữu Khánh cắt cỏ nuôi chúng. Thằng bé ở nhà làm việc nặng nhọc như thế, đi học thì sợ muộn giờ cứ phải chạy gằn. Buổi trưa tan học muốn về sơm sớm cắt cỏ lại phải chạy, không kể đến việc phân dê bón ruộng, mà ngay đến số tiền cắt lông đem bán hàng năm cũng không biết có thể sắm cho Hữu Khánh bao nhiêu đôi giày. Sau khi tôi đe nẹt vậy, Hữu Khánh trên đường đi học thì đi chân không, lúc đến trường mới xỏ giày vào. Có một hôm mưa tuyết, nó vẫn để chân trần chạy bành bạch trong tuyết đến trường, người làm bố tôi thấy thương tâm quá, liền gọi nó lại hỏi:


- Tay con cầm cái gì vậy?


Thằng bé đứng trong tuyết nhìn giày cầm ở tay. Có thể là rối trí, không biết nói thế nào. Tôi giục:


- Đó là giày, không phải găng tay, con cứ đi vào chân cho ta.


Lúc này nó mới đi giày vào, rụt cổ cúi đầu chờ tôi nói tiếp. Tôi vẩy tay bảo nó:


- Đi đi!


Hữu Khánh quay người chạy lên tỉnh, chạy được một đoạn, nó lại tụt giày ra. Tôi chẳng còn biết làm sao với nó.


Không ngờ Hữu Khánh chạy đi chạy về như thế mà rút cuộc đã làm nên trò trống. Hôm nhà trường tổ chức thi đấu thể dục thể thao ở tỉnh, tôi gánh rau đi bán. Bán xong đang định về nhà, thì trông thấy ở cạnh đường rất đông người; dò hỏi ra mới biết những em học sinh ấy đang thi chạy, phải chạy mười vòng trong thành phố.


Thời đó trong thành đã có trường sơ trung, năm ấy Hữu Khánh cũng đã học lớp bốn. Lần đầu tiên thành phố tổ chức đại hội thể thao, các em học sơ trung và tiểu học đều cùng chạy. Tôi đặt đôi quang gánh không xuống cạnh đường, định xem xem có Hữu Khánh chạy thi không. Một lúc sau tôi nhìn thấy một đám trẻ em ở độ tuổi Hữu Khánh, em nào cũng dúi đầu dúi cổ chạy đến, có hai em cúi đầu lảo đà lảo đảo, xem ra không chạy nổi nữa. Sau khi các em chạy qua, tôi mới nhìn thấy Hữu Khánh. Thằng bé chạy chân đất, hai chiếc giày cầm trong tay, vừa chạy vừa thở, chỉ có một mình nó chạy. Nhìn thấy nó chạy ở đằng sau, tôi nghĩ bụng, thằng bé này kém cỏi quá, nó làm mình bẽ mặt. Nhưng người ở bên cạnh ai cũng khen nó, tôi chẳng hiểu ra sao nữa. Đang lúc bối rối thì nhìn thấy các em học sinh sơ trung chạy qua. Thế này thì càng không hiểu nổi, thầm nghĩ chạy bộ thế này là thế nào. Tôi liền hỏi một người đứng bên:


- Tại sao các em lớn tuổi lại chạy kém hơn các em ít tuổi thế nhỉ?


Người kia trả lời:


- Em bé vừa giờ chạy qua đã chạy trước các em khác những mấy vòng.


Vậy thì, chẳng phải em đó là Hữu Khánh hay sao? Ôi, lúc ấy tôi vui sướng quá, vui sướng không sao miêu tả nổi. Cho dù có những em lớn hơn Hữu Khánh bốn năm tuổi cũng bị Hữu Khánh quẳng lại một vòng. Tôi đã nhìn tận mắt thằng con mình, nó chạy chân trần, giày cầm trong tay, mặt đỏ bừng bừng, chạy hết mười vòng đầu tiên. Sau khi chạy xong, thằng bé lại không thở hồng hộc mà vẫn thản nhiên như không, nó nhấc một chân lên chùi vào quần, xỏ giày vải vào, rồi lại nhấc chân kia làm y như thế. Sau đó chắp hai tay ra đằng sau, Hữu Khánh ung dung đứng nhìn những em lớn tuổi hơn mình chạy đến.


Tôi vui sướng, cất tiếng gọi:


- Hữu Khánh ơi!


Lúc quẩy đôi quang gánh chạy tới, tôi ra vẻ khệnh khạng, có ý để những người ở bên cạnh biết mình là bố Hữu Khánh.


Vừa nhìn thấy tôi, Hữu Khánh đã mất tự nhiên ngay, nó vội vàng bỏ hai tay chắp ở đằng sau đưa về phía trước. Tôi xoa xoa đầu con, nói to:


- Con trai giỏi đấy, con đã làm vẻ vang cho bố.


Nghe thấy tôi nói bô bô như vậy, Hữu Khánh vội vàng nhìn chung quanh, hình như nó không muốn để người ta biết tôi là bố nó. Lúc ấy có một người béo tốt gọi nó:


- Từ Hữu Khánh!


Hữu Khánh quay người đi đến chỗ đó. Thằng bé không tỏ ra thân thiết với tôi. Đi được mấy bước, nó quay đầu lại nói:


- Thầy giáo gọi con đấy.


Tôi biết nó sợ tôi về nhà “tính sổ nợ”, liền vẩy tay bảo:


- Đi đi! Đi đi!


Con người to béo kia có cái tay rất to, khi ông ta để tay lên đầu Hữu Khánh, tôi không nhìn thấy đầu con mình đâu nữa, trên vai Hữu Khánh như mọc thêm một bàn tay. Cả hai người vui vẻ thân mật đi đến trước một cửa hiệu nhỏ. Tôi thấy ông ta mua cho Hữu Khánh một nắm kẹo; hai tay Hữu Khánh bưng kẹo cho vào túi, một tay liền không rút ra khỏi túi nữa. Khi quay trở lại, mặt Hữu Khánh đỏ tưng bừng, nó vui sướng đấy mà.


Tối hôm ấy, tôi hỏi Hữu Khánh ông to béo kia là ai, nó đáp:


- Thầy giáo thể dục.


Tôi nói với nó một câu:


- Ông ấy giống bố con lắm nhỉ.


Hữu Khánh để toàn bộ số kẹo thầy giáo thể dục mua cho ra giường, chia thành ba đống. Nó nhìn đi nhìn lại mãi, rồi nó bốc ở hai đống kia mỗi đống hai cái bỏ vào đống của mình. Nó lại nhìn một lúc nữa, rồi từ đống của mình lấy ra hai cái bỏ vào hai đống kia. Tôi biết nó định cho Phượng Hà một suất, Gia Trân một suất, bản thân nó giữ lại một suất, không có phần của tôi. Nào ngờ, nó liền dồn cả ba đống làm một chia thành bốn suất. Cứ thế, nó chia đi chia lại, rút cuộc vẫn chỉ có ba suất.


Được vài hôm Hữu Khánh dẫn thầy giáo thể dục về nhà. Ông giáo cứ khen Hữu Khánh mãi, bảo lớn lên Hữu Khánh có thể làm vận động viên đi chạy thi với người nước ngoài. Hữu Khánh ngồi trên ngưỡng cửa, sung sướng tới mức mặt đổ mồ hôi. Trước mặt thầy giáo thể dục, tôi không tiện nói gì. Sau khi thầy giáo đi, tôi gọi Hữu Khánh lại. Tưởng sẽ được tôi khen, mắt nó sáng lên nhìn tôi. Tôi nói:


- Con đã đem lại vẻ vang cho bố cho mẹ và cho chị. Bố rất vui. Nhưng bố chưa bao giờ nghe nói chạy bộ mà cũng kiếm được cơm ăn, cho con đi học là để con chăm chỉ học tập, không phải để con đi học chạy bộ. Chạy mà cũng phải học hay sao? Con gà cũng biết chạy.


Hữu Khánh cúi ngay đầu xuống, nó đi đến góc tường cầm rổ cầm liềm. Tôi hỏi:


- Nhớ lời bố chưa nào?


Nó bước ra cửa, đứng quay lưng vào tôi, gật gật đầu, rồi đi.


Năm Phượng Hà mười bảy tuổi thì Gia Trân bị ốm. Cô ấy bị bệnh mất sức. Ban đầu, tôi cứ tưởng vợ mình lớn tuổi nên mới như vậy. Hôm ấy trong làng mọi người gánh phân dê đi bón ruộng. Gia Trân đang đi tự dưng rủn chân ngồi xuống đất. Người làng thấy vậy, ai cũng cười, họ bảo:


- Phú Quí đêm qua hành dữ quá đấy mà.


Gia Trân cũng cười, đứng dậy lại gánh thử, song hai chân cứ run lẩy bẩy, ống quần cũng rung theo như bị gió thổi bay. Tôi nghĩ vợ mình bị mệt, liền bảo:


- Mình ngồi nghỉ một lát đã.


Tôi vừa nói xong, Gia Trân lại ngồi bệt xuống đất, phân dê trong sọt vãi ra phủ vào chân. Mặt Gia Trân chợt đỏ lên, cô ấy bảo tôi:


- Em cũng không biết sao lại thế.


Tôi cứ tưởng chỉ cần Gia Trân ngủ một giấc là hôm sau sẽ lại sức. Nào ngờ mấy hôm sau Gia Trân cũng không gánh nổi, vợ tôi đành phải làm một vài việc nhẹ ngoài đồng. Được cái Phượng Hà cũng đã lớn; trong số chị em phụ nữ, Phượng Hà có sức vóc hơn cả, công điểm nó làm hàng ngày đều vượt Gia Trân. Mới có vài ngày thôi mà công điểm của Gia Trân đã giảm đi so với trước. Gia Trân lo lắm, đêm nằm cô ấy đã mấy lần hỏi trộm tôi:


- Mình ơi, liệu em có còn nuôi nổi bản thân không?


Tôi nói:


- Em đừng nghĩ việc ấy, già thì ai cũng vậy.


Nửa năm đã trôi qua, bệnh của Gia Trân càng ngày càng xấu đi, nghĩa là chỉ đứng có một lúc mà chân cũng run lên bần bật. Tôi nhận thấy mặt vợ ngày càng hốc hác đi. Gia Trân thường bảo:


- Em bủn rủn hết cả người.


Lúc này tôi mới cảm thấy Gia Trân đã mắc bệnh gì đó, phải đưa đến bệnh viện khám xem sao. Tôi bảo Phượng Hà đi cùng. Gia Trân đi được khoảng mười bước thì chực ngã. Tôi đã có tuổi, cõng vợ đi hơn hai mươi dặm cũng không nổi, hai bố con đành phải thay nhau cõng.


Lúc đầu, hai cánh tay Gia Trân còn quặp chặt cổ tôi. Đi được một quãng thì cánh tay vợ buông thõng xuống, cứ đung đa đung đưa trước ngực tôi, trông vào tưởng như không có cánh tay trong ống tay áo. Nhìn vợ, tôi chua xót vô cùng.


 


(còn tiếp)


Nguồn: Sống của Dư Hoa. Vũ Công Hoan dịch. Triệu Xuân biên tập. NXB Văn học. 1- 2005.


www.trieuxuan.info


___


*Mỗi dặm bằng nửa kilômét.


 

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Hiểm họa sắc vàng - Vlastimil Podracký 24.10.2019
Sodoma & Gomora - Vlastimil Podracký 24.10.2019
Cơ may thứ hai - Constant Virgil Gheorghiu 24.10.2019
Nhân mạng cuối cùng và đồng loại - Vlastimil Podracký 24.10.2019
Bảy đêm huyền thoại - Vũ Bằng 19.10.2019
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 19.10.2019
Trả giá - Triệu Xuân 26.09.2019
Thế giới những ngày qua - Stefan Zweig 26.09.2019
Hai mươi năm sau - A. Dumas 26.09.2019
Đêm thánh nhân - Nguyễn Đình Chính 11.09.2019
xem thêm »