tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 31241215
31.08.2015
Kiều Mai Sơn
Từ Tân Trào về Hà Nội

Nhân Kỷ niệm 70 năm Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2/9 (1945-2015), chúng tôi xin giới thiệu ký ức của các nhân chứng lịch sử về sự kiện vĩ đại này, trong đó có những tư liệu lần đầu tiên công bố.



Lên Chiến khu



là trích đoạn trong Hồi ký của cố nhà báo Đỗ Đức Dục (1915-1993), Thứ trưởng Bộ Quốc gia Giáo dục (1945-1946), Thứ trưởng Bộ Văn hóa (1955-1960), Tổng biên tập báo Độc Lập (1950-1957), Phó Chủ tịch đầu tiên Hội Nhà báo Việt Nam (1945-1960)...



Những ánh lửa diệu kỳ



Tháng 7 năm 1945, do sự hướng dẫn của anh Nguyễn Dương Hồng, tôi lại cùng với anh Vũ Đình Hòe và Nghiêm Xuân Yêm có cuộc gặp gỡ với anh Dương Đức Hiền.



Chúng tôi không chào nhau mà cứ làm như những người không quen biết lặng lẽ đi về một phía, rẽ tay phải vào con đường thị xã Hà Đông - ngã tư Nhổn. Vượt quá làng Vạn Phúc một lúc, chúng tôi lại từ đường cái rẽ vào phía bên trái cho tới một xóm nhỏ hẻo lánh thuộc xã La Dương. Và tôi đã không ngờ rằng cuộc họp với anh Dương Đức Hiền hôm đó ở một nhà nông dân nghèo trong cái xóm nhỏ này sẽ mở ra một bước ngoặt lớn quyết định cho cuộc đời của chúng tôi.



Ở cuộc họp này, khi trình bày tình hình phát xít Nhật sớm muộn sẽ thất bại và phải đầu hàng Đồng Minh, anh Dương Đức Hiền đưa ra những lý lẽ hùng hồn với niềm tin vững chắc và một nhiệt tình nóng bỏng. Chỉ trong khoảng một tiếng đồng hồ, anh đã làm cho tôi sáng tỏ vấn đề và hoàn toàn tin tưởng, nói gọn lại là anh đã hoàn toàn thuyết phục được tôi.



Rõ ràng là tình hình trước mắt khẩn trương thúc bách ba anh em chúng tôi phải chính thức quyết định thái độ của mình đối với Việt Minh. Riêng tôi, bồng bột, sôi nổi, tôi lập tức nói thẳng với anh Dương Đức Hiền trước sự chứng kiến của anh Nguyễn Dương Hồng:



- Đối với tôi, việc đi với các anh thế là đã được quyết định, các anh chẳng cần hỏi thêm gì nữa!



Sau đó lập tức là sự phân công: Anh Dương Đức Hiền đề nghị hai anh Vũ Đình Hòe và Nghiêm Xuân Yêm chuẩn bị để đi dự Quốc dân Đại hội họp tháng tới ở Tân Trào trên Chiến khu; còn tôi thì ở lại Hà Nội để cộng tác với anh Nguyễn Thành Lê làm báo Độc Lập.



Nhưng khoảng ít lâu sau, một buổi chiều, khi đến chỗ hẹn gặp trên đường Cổ Ngư thì tôi lại được anh Lê Trọng Nghĩa báo cho biết vì anh Nghiêm Xuân Yêm ốm cho nên tôi sẽ phải thay anh đi cùng anh Vũ Đình Hòe lên Tân Trào. Chao! Thật thế ư? Cái tin đột ngột làm tôi hết sức xúc động.



Lên Chiến khu! Lên Chiến khu! Đó chính là điều mơ ước tha thiết của tôi lúc bấy giờ. Cái sức hấp dẫn của hai tiếng Chiến khu quả thật là mãnh liệt. Một tinh thần lãng mạn cách mạng như chắp cánh cho tôi bay bổng. Và giờ đây mấy tiếng "lên Chiến khu" cứ như những ánh lửa diệu kỳ, chập chờn nhảy nhót trong đầu óc tôi.



Chúng tôi lên đường vào khoảng trung tuần tháng Tám, xế chiều một ngày u ám mùa mưa ngâu. Tôi ra đi mà lòng thanh thản. Vì sợ qua cầu Long Biên có lính Nhật canh gác và khám xét, tôi khởi hành từ làng Xuân Tảo quê tôi (nay là Xuân Đỉnh, quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội).



Một anh bạn đồng hương đèo xe đạp tiễn tôi, tắt qua một cánh đồng sang làng Phú Gia bên cạnh, rồi qua đò sông Hồng sang quãng đê bên kia sông để tới chỗ bắt liên lạc ở gần làng Đình Bảng, Bắc Ninh. Tôi đã hẹn anh Vũ Đình Hòe gặp nhau ở chỗ đó. Tôi mặc cải trang, mình bận một chiếc áo the thâm dài đã bạc mầu của anh bạn đồng hương cho, một chiếc quần ta trắng, đầu đội mũ cát, chân đi đôi giày bata, tay xách một túi đẫy nhẹ, chẳng khác gì một tay lái tơ xứ Bắc.



Chúng tôi qua sông Cầu và vượt đường quốc lộ Hà Nội - Thái Nguyên ở chỗ ngã ba đi Sơn Cốt, và từ đây mới bắt đầu đi vào vùng rừng núi quanh chân dãy Tam Đảo. Chiều hôm đó, chúng tôi vào nghỉ ở một trạm bên chân đồi phía Tân Cương. Trời vừa tối sẫm, ăn cơm xong thì nghe có tiếng hú kéo dài.



Trong trạm một người hú đáp lại, và một lát sau chúng tôi thấy bước vào trạm một thanh niên trên dưới hai mươi tuổi, mình bận một bộ quần áo chẽn nhuộm đen mà ướt sũng, người run cầm cập, mắt trắng nhợt. Anh nói nước suối có lũ lên to mà vẫn phải cố gắng bơi qua vì phải chạy hỏa tốc truyền đi lệnh “Tổng khởi nghĩa”!



Ngày 14/8/2015, Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam đã tổ chức lễ kỷ niệm 100 năm ngày sinh Đỗ Đức Dục (15/8/1915-15/8/2015) - nhà trí thức cách mạng dấn thân, đã được Nhà nước truy tặng Huân chương Độc lập hạng Nhất. Năm 2008, tên ông cũng đã được đặt cho một con đường tại quận Nam Từ Liêm (Hà Nội).



Trời! Tổng khởi nghĩa! Tổng khởi nghĩa! Mấy tiếng thiêng liêng kỳ diệu đột ngột vang lên giữa những tiếng hò reo mừng rỡ của mọi người trong trạm lúc đêm hôm khuya khoắt nơi núi rừng hẻo lánh này và vụt bừng sáng trong lòng tôi như ánh hào quang rực rỡ sẽ không bao giờ tắt suốt cuộc đời tôi.



Và đâu đó tưởng như nghe có tiếng “trống Tràng Thành lung lay bóng nguyệt”? Song giữa vòng hào quang đó lại là hình ảnh anh thanh niên giao thông kia, mình run lên vì lạnh với nước da tái xanh mầu sốt rét rừng, thế mà miệng anh báo tin “Tổng khởi nghĩa” với tất cả niềm phấn chấn hăm hở lan truyền; hình ảnh người “anh hùng vô danh” bằng xương bằng thịt đó vẫn còn như khắc nổi trong tâm khảm tôi cho đến ngày nay.



Bản “thụ phong” không lời



Quá trưa về chiều, chúng tôi vừa từ trong rừng nứa âm u chui ra quãng trống thì bỗng Tân Trào với cây đa đồ sộ đột ngột hiện ra trước mắt.



Ôi! Nơi Thủ đô của Tổng khởi nghĩa tháng Tám 1945 mà về sau, khi nó trở thành Thủ đô của kháng chiến chín năm chống Pháp, tôi đã có dịp trở lại mấy lần, nhưng hình ảnh và cảm xúc lần đầu tiên này sẽ ở lại mãi trong tôi như một niềm lưu luyến thắm thiết của buổi ban đầu đi theo cách mạng.



Anh giao thông đưa chúng tôi đến chỗ trạm gác ở khu Nhà Cứu quốc để trình giấy tờ. Một lát sau, người ra đón chúng tôi là anh Lý, một thanh niên vận quần áo nâu, vẻ mặt tươi, cởi mở với một nụ cười đôn hậu (sau này gặp lại anh ở Hà Nội thì anh lại đổi tên là [Hoàng Hữu] Kháng và làm người cận vệ của Bác Hồ).



Anh đưa chúng tôi lên một ngôi nhà sàn ngay gần cổng và lát sau anh đem đến cho chúng tôi mỗi người một bộ quần áo nâu. Quả thật, đó là lần đầu tiên trong đời tôi mặc quần áo nâu. Có cái gì vừa lúng túng, ngỡ ngàng mà cũng vừa mau chóng thân quen và rồi tới chỗ hãnh diện nữa. Nó như một “thụ phong” không lời và đơn giản của cách mạng!



Tròn 70 năm trước, đôi vợ chồng duy nhất là đại biểu tham dự Quốc dân Đại hội tại Tân Trào (huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang), đó là ông Dương Đức Hiền và bà Thanh Thủy.



Sinh ra và lớn lên tại Hà Nội, trong một gia đình quan lại (cha là Tri huyện, ông nội và ông ngoại đều làm quan thời Tự Đức, bà ngoại và mẹ buôn bán giàu có ở phố Hàng Bồ và Thuốc Bắc…).



Dù “sống trên nhung lụa” nhưng Thanh Thủy đã sớm được giác ngộ cách mạng, hoạt động trong phong trào học sinh, sinh viên yêu nước, dưới sự lãnh đạo của Tổng hội Sinh viên Đông Dương do Dương Đức Hiền đứng đầu và là người dìu dắt, người bạn đời sau này của bà.



Chuyến “trăng mật” đặc biệt



Trong hồi ký mang tên “Tình yêu và lý tưởng”, bà Thanh Thủy kể lại: Cuối tháng 7/1945, tôi nhận được chỉ thị về cơ quan Xứ ủy nhận nhiệm vụ mới. Sau khi bàn giao công tác cho đồng chí Vũ Quốc Uy, tôi về thẳng nhà đồng chí Tiêu ở Tây Mỗ, cơ quan giao thông của Xứ ủy.



Về đây, tôi mới biết là tôi được cử vào đoàn đại biểu Đảng Dân chủ Việt Nam đi dự Quốc dân Đại hội Tân Trào. Đoàn gồm 8 người, trong đó có các anh chị: Dương Đức Hiền, Nguyễn Dương Hồng, Cù Huy Cận, Thanh Thủy, Vũ Công Thuyết…



Suốt đêm ngồi trên tàu, mệt quá, tôi nằm nghỉ và ngủ thiếp đi. Vừa mở mắt ra, tôi thấy ngay anh Hiền đang đứng cạnh giường, chăm chú nhìn tôi. Tôi bật ngồi dậy, ôm cổ anh khóc, khóc mãi. Anh nhẹ nhàng gỡ tay tôi ra.



Trên đường lên Tân Trào, anh Hiền chăm sóc tôi một cách hết sức chu đáo, trìu mến. Tôi rất ngượng, đã có lần tôi gắt khẽ anh:



- Anh đừng làm thế, các anh ấy cười cho.



Một buổi chiều, một nhóm đại biểu chúng tôi quây quần trò chuyện, anh Trường Chinh nhìn anh Hiền và tôi, đôi mắt ánh lên nụ cười hóm hỉnh, anh nói:



- Đối với chúng ta thì đây là chuyến đi dự Quốc dân Đại hội, nhưng với “cặp” này còn là chuyến đi “trăng mật” nữa đây, có phải không bạn?



Và anh cười thoải mái, rất vui.



Từ hôm sau, cái cảm giác ngượng ngùng trong tôi đột nhiên biến hẳn. Anh Hiền vẫn tiếp tục chăm sóc tôi tỉ mỉ.



Tự nhiên tôi nhận thấy rất rõ hương vị ngọt ngào êm dịu “trăng mật” rất hạnh phúc của chúng tôi; đồng thời cũng hiểu được ý nghĩa đáng tự hào của chuyến đi dự Quốc dân Đại hội của hai vợ chồng tôi.



“Bà Tổng đốc”



Trưa ngày 16/8, chúng tôi lên tới Tân Trào.



Vừa rửa mặt xong, đã có đồng chí đến giục ăn mặc chỉnh tề ra dự lễ xuất phát của đoàn Quân giải phóng đi đánh Thái Nguyên.



Dưới bóng cây đa cổ thụ, đoàn quân đứng im phăng phắc, trật tự, oai nghiêm. Sau khi đồng chí Văn (Võ Nguyên Giáp) đọc lệnh xuất phát, đồng chí Trần Huy Liệu thay mặt Đại hội chào mừng đơn vị giải phóng quân và chúc đơn vị đánh thắng quân Nhật ở Thái Nguyên.



Tôi được thay mặt đại biểu nữ trong Đại hội lên nói. Tôi cảm động quá, nghẹn lời, chỉ nói được mấy câu:



- Các đồng chí tiến lên, giải phóng Thái Nguyên rồi tiến thẳng về Hà Nội. Hẹn gặp nhau giữa Thủ đô hoàn toàn độc lập.



Hồi ấy, Bác ốm nhiều nhưng cũng cố gắng đến dự Đại hội. Bác mặc bộ quần áo chàm quen thuộc của các cụ già Nùng. Nhiều đại biểu không biết Bác là ai nhưng tất cả đều tôn kính gọi Bác là Ông Cụ, vị đại biểu nhiều tuổi nhất của Đại hội.



Lúc Đại hội sắp khai mạc, nhà tôi (anh Dương Đức Hiền) gọi tôi:



- Em vào đây, anh giới thiệu với Ông Cụ.



Tôi đang bối rối chưa biết chào như thế nào thì Bác rất tự nhiên, hỏi ngay:



- Cô công tác ở đâu?



- Dạ, thưa, cháu công tác ở Hải Phòng, Kiến An và Quảng Yên ạ.



- Ba tỉnh kia à, thế thì bằng Tổng đốc rồi còn gì!



Câu nói vui của Bác làm cả ba chúng tôi cùng cười và tôi cũng hết lúng túng.



Lễ cưới đặc biệt



Đại hội thảo luận nhiều vấn đề quan trọng: Chính sách đối nội, đối ngoại, biểu quyết lệnh Tổng khởi nghĩa và bầu Ủy ban Dân tộc giải phóng (trong đó có anh Dương Đức Hiền). Vì tình hình gấp rút, Đại hội chỉ họp 2 ngày.



Hôm chia tay, chúng tôi ngồi vòng tròn trên sàn nhà. Bác lần lượt chia quà tặng mọi người. Đến lượt chúng tôi, Bác hỏi:



- Cô chú đã có cháu chưa?



- Dạ, chưa ạ.



- Thế tôi tặng bánh xà phòng thơm này, mau có cháu, tắm cho bé nhé!



Mọi người cười ồ. Chúng tôi nắm chặt món quà quý, thấy tấm lòng Bác rộng mênh mông, thông cảm và thu phục tất cả mọi người.



Ngày 20/4/1946 là ngày “đặc biệt” của cuộc đời tôi.



Chúng tôi lấy nhau từ năm 1944. Hồi ấy, chúng tôi đã làm lễ cưới theo phong tục tập quán với đủ mọi lễ nghi: Đưa dâu, đón dâu, lễ tơ hồng, nhị hỷ... Nhưng chúng tôi không đăng ký kết hôn dưới chính quyền thực dân Pháp. Đúng hai năm sau ngày cưới, ngày 20/4/1946, chúng tôi mới làm lễ đăng ký kết hôn dưới chính quyền cách mạng của ta.



Chúng tôi mời Bác đến chứng kiến lễ cưới chính thức, hợp pháp của chúng tôi. Bác nhận lời và Bác đến rất đúng giờ.



Lễ đăng ký xong, Bác bảo tôi:



- Cô dâu phát biểu đi chứ!



Tôi đỏ mặt, ấp úng. Bác cười, nói ngay, gỡ bí cho tôi: Cô dâu cách mạng mà cũng thẹn, không nói được à? Thế thôi vậy, tha cho.



Bà Thanh Thủy (tức Nguyễn Thị Khánh Thuận), sinh ngày 2/10/1924, và mất ngày 16/8/2003, đúng dịp kỷ niệm 58 năm Quốc dân Đại hội Tân Trào (16 -17/8/1945).



Sau Đại hội Tân Trào, bà được điều về công tác ở Báo Cứu quốc, rồi tham gia sáng lập báo Tiếng gọi phụ nữ, tham gia Ban Phụ vận Trung ương Đảng, phụ trách Ban Tuyên huấn của Hội LHPN Việt Nam… Còn ông Dương Đức Hiền, nguyên Bộ trưởng Bộ Thanh niên, Phó Chủ tịch Hội Liên Việt (nay là Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam), đã ra đi trước bà tròn 40 năm - năm 1963.



Hai người con của ông bà đều trở thành những cán bộ khoa học có uy tín. Đó là PGS.TS Dương Đức Hồng, nguyên Trưởng phòng Đào tạo, trường ĐH Bách khoa Hà Nội và TS Dương Thị Thanh Mai, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Tư pháp (Bộ Tư pháp).



Bác Hồ từ Tân Trào về Hà Nội



là hồi ức của ông Vũ Đình Huỳnh (1906-1990), thư ký đầu tiên của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Vụ trưởng Vụ Lễ tân (Bộ Ngoại giao)... Đôi vợ chồng dự Quốc dân Đại hội Tân Trào



Tại Tân Trào, tôi gặp lại Sao Đỏ (bí danh của đồng chí Nguyễn Lương Bằng, nguyên Phó Chủ tịch nước). Chúng tôi lên sớm hơn các đại biểu khác để tham gia vào việc chuẩn bị. Tôi và Sao Đỏ ở trong một nhà dân, Ông Cụ ở lán.



Ông Cụ là biệt hiệu của đồng chí Nguyễn Ái Quốc. Trước khi lên Đại hội Tân Trào, tôi chưa được gặp đồng chí Nguyễn Ái Quốc lần nào. Nhưng từ lâu rồi, và không riêng đối với tôi, Nguyễn Ái Quốc đã trở thành nhân vật thần thoại, ngọn cờ của cách mạng Việt Nam.



Lần này lên Tân Trào, tôi mang theo hy vọng được gặp con người thần thoại đó. Vừa mới chân ướt chân ráo tới chỗ Sao Đỏ, anh đã bảo tôi:



- Này, Ông Cụ hỏi tôi về tình hình nhân sĩ trí thức của Hà Nội và Bắc Hà đấy, tôi nói cái này tôi không rành, sẽ có đồng chí khác báo cáo. Bây giờ anh lên rồi, anh tới gặp Ông Cụ đi!



Chúng tôi đi vào trong rừng, tới một cái lán. Khi chúng tôi bước vào, Ông Cụ đang ngồi chăm chú đọc một cuốn sổ tay nhỏ. Gầy còm nhưng rắn rỏi, đôi mắt sáng và linh lợi, với chòm râu thưa, Ông Cụ tiếp chúng tôi một cách cởi mở, giản dị.



Với giọng trầm và ấm, từ trong ngực phát ra, Ông Cụ hỏi qua về tôi rồi đề nghị tôi nói cho ông nghe về tình hình trí thức trong nước.



Tôi báo cáo với Ông Cụ những gì tôi biết, từ phong trào Cần Vương trở đi, ai còn, ai mất, trong đám Đông Kinh nghĩa thục, Phục Việt là gì, đám trí thức trong các nhóm Thanh Nghị, Tự lực Văn đoàn, Ngày nay... và thái độ của từng người đối với Việt Minh và cách mạng dân tộc thế nào...



Ông Cụ nghe chăm chú, thỉnh thoảng mới ngắt lời tôi để hỏi kỹ thêm về một người nào đó.



- Này, cụ Huỳnh Thúc Kháng, sao nghe nói có hợp tác với Tây?



- Chuyện đó không có - tôi đáp - sau khi ở Côn Đảo về, cụ Huỳnh Thúc Kháng ra báo “Tiếng Dân”, Tây ngại, muốn mua chuộc, có mời cụ ra làm Viện trưởng Viện Dân biểu thật. Hồi ấy tôi có đi Huế để yết kiến cụ Huỳnh. Tôi thấy cụ vẫn giữ được tư cách nhà Nho, yêu nước thương dân chứ không phải phường cơ hội. Tây định lợi dụng uy tín của cụ, nhưng cụ đâu có dễ để cho chúng toại nguyện.



Ông Cụ gật gù, vẻ thích thú.



- Tại sao lại gọi ông Tố là ông Phán Men? Nghiện rượu à?



Ông Nguyễn Văn Tố nhà ở Hàng Bút, đi làm tận gần Bờ Sông, nhưng không bao giờ đi xe kéo, mà chỉ đi bộ, khi nào cũng cầm ô đi sát tường, đi men tường, mới thành cái biệt hiệu ông Phán Men.



Ông Cụ cười thành tiếng. Giọng cười ám áp, thư thái và truyền cảm.



- Thế còn linh mục Phạm Bá Trực? Ông ta cũng yêu nước?



Tôi phải kể dài dòng về vị linh mục này. Khoảng những năm đầu 1930, linh mục Trực tốt nghiệp mấy bằng tiến sĩ ở Rôma trở về nước, ai cũng nghĩ ông sẽ được phong giám mục, vậy mà giáo chức người Pháp lại đưa ông về thị xã Hà Đông trông một xứ đạo nhỏ, chỉ vì ông bướng bỉnh chống lại những lề thói phân biệt đối xử giữa linh mục Tây và ta.



Thấy cố đạo Tây lộng hành, ông mắng. Thấy linh mục ta không được phép ăn chung với linh mục Tây, ông chống. Ông chống cả việc linh mục Tây vào gặp giám mục thì bắt tay mà linh mục ta thì phải tụt giày, vái lễ. Ông Phạm Bá Trực có câu nói nổi tiếng: “Đứng trước Chúa, không có sự phân biệt màu da”.



Ông Cụ tỏ vẻ hài lòng với những thông tin của tôi. Tuy sơ kiến, nhưng tôi cảm thấy Ông Cụ thật gần gụi.



Hội nghị Tân Trào đang họp thì có tin báo lên, Hà Nội đã nổi dậy cướp chính quyền. Trần Huy Liệu được phân công viết cấp tốc Lời kêu gọi Tổng khởi nghĩa.



Sau đó là lễ xuất phát của Giải phóng quân. Bức ảnh chụp Giải phóng quân xuất phát có Võ Nguyên Giáp đội mũ phớt là do anh Hoàng Văn Đức chụp. Lúc đó trong số đại biểu chỉ có Hoàng Văn Đức là có máy ảnh mang theo.



Đại hội bế mạc. Chúng tôi chia tay nhau. Đặng Xuân Khu (bí danh của Trường Chinh), Võ Nguyên Giáp và tôi trở về Hà Nội bằng đường Thái Nguyên. Hoàng Quốc Việt và Sao Đỏ về đường Tuyên Quang. Phạm Văn Đồng được phân công ở lại củng cố căn cứ địa.



Chúng tôi lúc ấy cũng chưa tin chắc ở thắng lợi trọn vẹn, vì thế vẫn cứ phải có một cái gì đó đảm bảo cho trường hợp xấu. Anh Đồng rủ tôi ở lại căn cứ địa, nhưng tôi từ chối:



- Tôi là người quen thuộc Hà Nội, anh em còn cần tới tôi nhiều.



Trong thâm tâm, tôi muốn mau chóng trở về thành phố thân yêu, nơi tôi hình dung đang có những cuộc chiến đấu ác liệt giành lại chính quyền của các lực lượng vũ trang cách mạng.



Chúng tôi đi bộ qua đèo Re ra Đại Từ, ở đó có một chiếc xe Jeep tàng đã đợi sẵn. Chúng tôi lúc lắc đi tới Phấn Mễ, người mệt nhừ. Tôi bảo anh em rẽ vào trại của Nghiêm Xuân Yêm, bạn tôi, nghỉ lại.



Đến đây, chúng tôi mới biết Mỹ đã ném bom xuống Hiroshima và Nagasaki vào hai ngày 6 và 9 tháng 8, đồng thời tin Liên Xô tuyên chiến với Nhật ngày 9 tháng 8.



Xe chúng tôi về tới Bắc Giang thì gặp Huyên (bí danh của Nguyễn Thanh Bình, nguyên Ủy viên Thường trực Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Thủy lợi).



Anh thay xe cho chúng tôi, bởi vì về Hà Nội trên cái xe ọp ẹp kia nom thảm quá, hơn nữa nó lại ì ạch như sên. Đi trên chiếc xe Ford đen chững chạc hơn, nhanh hơn, mới được một đoạn thì gặp đường vỡ vì nước lớn, chúng tôi lại phải quay trở lại đi vòng về Phả Lại để chạy hướng Cầu Đuống.



Lòng chúng tôi bồn chồn như lửa đốt. Suốt dọc đường, Đặng Xuân Khu cứ chồm mình về phía trước, như thể bằng cách đó, anh có thể làm cho xe đi nhanh thêm. Trầm tĩnh hơn, hoặc mệt mỏi hơn, Võ Nguyên Giáp lim dim mắt ngủ thiêm thiếp.



Tới Cầu Đuống, tôi đề nghị cả ba xuống xe vào nhà một ông giáo có chân trong Hội Truyền bá Quốc ngữ và là người có cảm tình với cách mạng. Tôi mượn nhà giáo cái xe đạp, để Đặng Xuân Khu và Võ Nguyên Giáp lại, đạp một lèo về Hà Nội. Tôi về trước là để nghe ngóng tình hình cụ thể, sau đó mới lên đón hai người, biết đâu...



 Ai dè về tới Gia Lâm đã thấy phố sá chìm ngập trong rừng cờ đỏ sao vàng. Qua cầu Đume (cầu Long Biên), tôi xộc ngay vào phố Chợ Gạo gặp Nghiêm Tử Trình.



Vừa kịp hỏi: “Tình hình thế nào, đưa Đặng Xuân Khu, Võ Nguyên Giáp về được rồi chứ?” thì Trình trợn mắt lên: “Cướp chính quyền xong rồi. Ra Bắc Bộ phủ thì gặp tất cả chúng nó”.



Tôi nhảy luôn lên xe, phóng tiếp. Bắc Bộ phủ đây rồi! Trên nóc đá đen của nó tung bay lá cờ của ta. Trước cửa Bắc Bộ phủ người lính của ta đứng gác. Tôi đưa bàn tay ngang trán chào anh giải phóng quân, đi vào.



Trong Bắc Bộ phủ, anh em đang xúm xít làm việc bên một cái bàn rộng. Nguyễn Khang, Nguyễn Văn Trân, Nguyễn Văn Thân ôm chầm lấy tôi. Tôi báo tin các anh Đặng Xuân Khu, Võ Nguyên Giáp đang chờ ở Cầu Đuống. Anh em cho lấy ngay một xe Commăngca của Nhật đi đón.



Hồ Chủ tịch về Hà Nội



“Những gì tôi báo cáo, Ông Cụ ghi vào sổ tay, bằng chữ Hán, rất ngắn gọn, chỉ vài ba chữ là đủ. Từ những dòng ghi vắn tắt đó đã ra đời kế hoạch thành lập Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa”. Lần đầu gặp Ông Cụ



Đó là tiếp nối hồi ức của ông Vũ Đình Huỳnh (1906-1990), đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam (1930), Thư ký đầu tiên của Hồ Chủ tịch, Giám đốc Công thương Liên khu III - IV, Vụ trưởng Vụ Lễ tân Bộ Ngoại giao, Vụ trưởng Ban Thanh tra Chính phủ, Huân chương Kháng chiến hạng Nhất... về những ngày Cách mạng tháng Tám 1945.



...Có lẽ do ảnh hưởng của bản báo cáo miệng của tôi với Ông Cụ về tình hình trí thức Bắc Hà và kết quả những cuộc tiếp xúc của tôi và Võ Nguyên Giáp với trí thức mới đây, nên trong cuộc họp Thường vụ Trung ương Đảng tại nhà Trịnh Văn Bô (khoảng 21 hoặc 22/8/1945), anh Sao Đỏ đã đề nghị tôi tách khỏi mọi công tác để giúp việc cho Ông Cụ.



Mặt khác, trong thời kỳ hoạt động bí mật, tôi đi lại nhiều, có nhiều hiểu biết về các địa phương trong nước, có quan hệ với nhiều người thuộc nhiều giới khác nhau, mà Ông Cụ thì lại mới từ nước ngoài về, cần đến một người như tôi ở bên cạnh để tham khảo ý kiến. Đề nghị của anh Sao Đỏ được Thường vụ tán thành.



Quả vậy, việc đầu tiên của Ông Cụ sau khi đặt chân lên đất Hà Nội là nhanh chóng xây dựng bộ máy chính quyền cách mạng trung ương gồm những người có danh tiếng, đại diện cho tinh hoa đất nước. Với bản tính khiêm tốn, trọng kẻ sĩ, Ông Cụ không tự coi mình cao hơn hết, những người cộng sản giỏi hơn hết, không cần tới ai khác.



Cũng tại Tân Trào, sau khi kết thúc câu chuyện với anh Sao Đỏ và tôi, Ông Cụ nói: “Chúng mình là cái men thôi, gây nên được rượu là nhờ vào cơm nếp, phải có đông đảo quần chúng tham gia mới thành cách mạng”. Ông Cụ coi nhân sĩ, trí thức là thứ men tốt, cần phải kéo họ về mình.



Bước dừng chân đầu tiên nơi cửa ngõ Thủ đô của Ông Cụ là làng Phú Gia ở bên kia sông Hồng. Anh Đặng Xuân Khu (Trường Chinh) lập tức sang sông gặp Ông Cụ để báo cáo công việc.



 Ngày 24/8/1945, tôi đón Ông Cụ về 48 Hàng Ngang, lần này với tư cách là người thư ký riêng, mà hồi đó người ta thường gọi là bí thư.



Ngôi nhà 48 Hàng Ngang là nhà riêng của Trịnh Văn Bô, một nhà tư sản có tiếng của thành phố hồi ấy. Anh chị Bô rất có cảm tình với cách mạng và đã tích cực giúp đỡ các cán bộ của Đảng trong những ngày ta chưa lấy được chính quyền.



Xe đón Ông Cụ từ Phú Gia về Hà Nội qua cầu Long Biên là rẽ ngay đường Hàng Khoai rồi tạt hông chợ Đồng Xuân về 48 Hàng Ngang (chứ không phải đi theo đường Hàng Cân như một số hồi ký đã viết).



Đường phố đã lên đèn. Tưng bừng tiếng trống ếch thiếu nhi, đó đây những dòng người biểu tình thị uy hô vang những khẩu hiệu cách mạng, ở góc đường một đám đông đang đứng nghe một cán bộ diễn thuyết về chương trình mười điểm của Việt Minh...



Cả Hà Nội tắm mình trong không khí ngày hội lớn.



Khi bước lên xe, Ông Cụ hỏi tôi: “Bây giờ anh cho tôi về đâu?”. “Thưa Cụ, anh em đã bố trí một cơ sở chu đáo". Tôi đáp, biết Ông Cụ là người cẩn thận.



Xe đến cầu Long Biên, Ông Cụ ngả hẳn người ra kính cửa xe nhìn những gióng sắt của cây cầu rồi nhìn xuống sông Hồng. Cái nhìn vừa chăm chú lại vừa bỡ ngỡ. Tôi tự hỏi không biết đây có phải là lần đầu tiên Ông Cụ nhìn thấy những cảnh này không? Chẳng lẽ Ông Cụ chưa một lần ra đất Thăng Long?



Nhưng tôi không dám hỏi. Khi đi gần hết cầu, Ông Cụ lẩm bẩm: “Nước to”. Chỉ mãi tới khi xe chạy ngang hông chợ Đồng Xuân, Ông Cụ mới nói với tôi: “Tôi chưa biết Hà Nội bao giờ cả”.



Từ trái qua phải: Thiếu tướng Đặng Kim Giang, Viện trưởng Viện Sử học Trần Huy Liệu, Vụ trưởng Vụ Lễ tân Vũ Đình Huỳnh, Tổng biên tập báo Thủ đô Lưu Động thăm lại nhà tù Sơn La (1959)



Tôi đáp “dạ” và cảm thấy xót xa trong lòng: Khổ cho Ông Cụ, biết Paris, biết Berlin... mà lại chưa biết Hà Nội.



Ông Cụ về Hà Nội với bộ quần áo chàm và cái túi vải cũng nhuộm chàm mà người Tày thường đeo trong khi lên nương rẫy hoặc đi chợ, con người mà vài năm sau được cả thế giới biết tiếng.



“Sở dĩ tôi nói nhiều tới các vị nhân sĩ trí thức ngay từ những ngày đầu tiên của cách mạng đã lựa chọn con đường cùng với cả dân tộc chiến đấu cho độc lập và tự do là nhằm nhấn mạnh chính sách đại đoàn kết dân tộc mà Hồ Chủ tịch đã đề ra. Chính sách này xuất phát từ lòng Bác, chứ không phải là một thủ đoạn cách mạng, như có người nghĩ, cả ở phía ta, cũng như ở phía không phải ta” . (Vũ Đình Huỳnh).



Sáng hôm sau, Ông Cụ bảo tôi báo cáo lại lần nữa, tỉ mỉ hơn, cụ thể hơn về từng vị nhân sĩ, trí thức. Tôi ngạc nhiên trước sự quan tâm đặc biệt của Ông Cụ đối với các vấn đề tôn giáo, đặc biệt là đạo Thiên Chúa.



Những gì tôi báo cáo, Ông Cụ ghi vào sổ tay, bằng chữ Hán, rất ngắn gọn, chỉ vài ba chữ là đủ. Từ những dòng ghi vắn tắt đó đã ra đời kế hoạch thành lập Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.



Hằng ngày, tôi đón Ông Cụ ra Bắc Bộ Phủ làm việc. Sau ít ngày ở 48 Hàng Ngang, Ông Cụ chuyển đến ở ngôi nhà của Chánh án Tòa Thượng thẩm cũ, số 8 phố Bonchamp (trước cửa Thủy Tạ, sau bị Pháp phá trụi), chỉ trở về Hàng Ngang để ăn cơm.



Chị Trịnh Văn Bô ngày ngày đặt hai thồi cơm bên Đông Hưng Viên, một hiệu cao lâu có tiếng của người Tàu ở phố Hàng Buồm, đến giờ họ khắc bưng sang.



Trong những ngày sôi động này, ngoài công việc hằng ngày với Ông Cụ (mà chúng tôi bắt đầu gọi bằng Bác cho thân mật) tôi vẫn thường được Bác phái đi gặp các nhân sĩ, trí thức, đặc biệt là các cụ cao tuổi như cụ Nguyễn Văn Tố, cụ Phạm Bá Trực, cụ Bùi Bằng Đoàn...



Tôi nhớ mãi cái buổi tối đến mời cụ Nguyễn Văn Tố tham gia việc nước. Cụ pha trà mời tôi rồi khiêm tốn từ chối: “Tôi là con người không làm cách mạng được, chỉ biết chút chữ nghĩa, nhưng không hiểu gì chính trị, xin các ông miễn cho...”.



Cụ nói thẳng bằng giọng hết sức thật thà, khiêm tốn. Đến khi tôi nói rõ cụ Hồ Chí Minh chính là Nguyễn Ái Quốc và nay Cụ Hồ mời các cụ ra gánh vác quốc sự, mưu hạnh phúc cho dân thì cụ Tố cảm động nói: “Cụ đã nói thế, tôi còn biết từ chối làm sao... Thôi thì còn chút trí mọn nào tôi xin cống hiến hết”...



KK.



Tác giả gửi www.trieuxuan.info



 


bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Một tài năng lớn, một tuổi trẻ Anh hùng bị tha hóa – Hay là Bi kịch Nguyễn Đình Thi - Trần Mạnh Hảo 15.02.2020
Toàn văn phát biểu của Fidel Castro tại La Habana ngày 21/02/1979 - FIDEL Alejandro Castro Ruz 15.02.2020
Nghề Dệt ở Bảy Hiền - Nhiều tác giả 13.02.2020
Chuyến tàu Thống Nhất đầu tiên: Nối dài nỗi nhớ Hà Nội - Sài Gòn - Tư liệu 13.02.2020
Thị Nghè: Rạch, cầu, chợ đều đi vào lịch sử - Tư liệu 13.02.2020
Đồng Tâm: Vì sao? Vì sao? Vì sao? - Hoàng Xuân Phú 12.02.2020
"Messi" của toán học 7 lần đến Việt Nam - Tư liệu sưu tầm 12.02.2020
Thế giới đang phải trả giá cho sự cai trị độc đoán ở Trung Quốc - Nicholas Kristof 09.02.2020
Vương quốc Na Uy - Norway - Tư liệu sưu tầm 09.02.2020
Toàn văn Thông điệp Liên bang của Tổng thống Mỹ D.Trump - DONALD John Trump 06.02.2020
xem thêm »