tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 24291933
Tiểu thuyết
17.07.2015
G. G. Marquez
Trăm năm cô đơn


Dòng máu chảy ngược lại, và để đi tìm nguồn của nó, bà chui qua kho ngô, đi theo dọc hành lang những chậu thu hải đường, nơi cậu bé Aurêlianô Hôsê đang đọc to ba cộng ba là sáu, sáu cộng ba là chín, vượt qua các phòng ăn và hai phòng khách, rồi bà đi một mạch ra đường cái, rồi rẽ trái, ngoặt phải để đổ vào đường Thổ Nhĩ Kỳ, mà không nhớ rằng mình vẫn mang theo chiếc tạp dề mặc khi làm bếp và hai chiếc dép lê đi trong nhà, rồi bà đi ra quảng trường chui qua cửa vào một ngôi nhà chưa bao giờ bà ở, rồi bà đẩy cánh cửa phòng ngủ và hầu như bà ngợp trong mùi thuốc súng, và bà gặp Hôsê Accađiô nằm sấp mặt xuống sàn nhà, người đè lên đôi ủng vừa được tháo ra, và thấy dòng máu vẫn rỉ ra từ lỗ tai phải ông. Ngoài ra không thấy một vết thương nào trên thân thể ông cũng như không thể tìm được khẩu súng đã bắn. Cũng không tài nào tẩy rửa được mùi khói súng khét lẹt trên thi thể. Đầu tiên người ta lấy xà phòng và bã cọ để tắm rửa, sau đó ngâm nó trong nước giấm và muối, sau nữa dùng tro và nước chanh, sau cùng người ta đặt nó vào trong một thùng nước tẩy quần áo và ngâm suốt sáu giờ liền. Người ta kỳ cọ quá nhiều cho ông, đến mức những hình xăm bắt đầu phai mực. Khi người ta dùng tới biện pháp ướp xác ông với muối tiêu, rau thìa là, lá nguyệt quế và ninh tử thi trên bếp lửa âm ỉ trong một ngày ròng, thì tử thi bắt đầu bung ra và buộc mọi người phải mai táng ngay tức khắc. Người ta liệm tử thi vào một cỗ áo quan ngoại cỡ dài hai mét rưỡi và rộng một mét mốt, bên trong dát sắt lá và được vít chặt lại bằng những chiếc ốc thép. Mặc dù được tắm rửa và khâm liệm kỹ như như vậy, tử thi vẫn phả ra mùi khét lẹt dọc đường, khi đám tang đi qua. Cha Nicanô, với cái bụng đau gan tròn vo như cái trống, đứng trên giường rẩy nước thánh cho ông. Mặc dù mấy tháng sau này người ta xây mộ với những tấm bê tông đặt ở trên và rắc tro, mùn cưa và vôi bột, nghĩa địa vẫn tiếp tục nồng nặc mùi khét thuốc súng, đến nỗi những năm sau này, những kỹ sư thuộc Công ty Chuối đã phải đổ một chiếc áo bê tông để úp lên ngôi mộ. Ngay sau khi người ta lôi cỗ quan tài đi, lập tức Rêbêca đóng cửa lại, và đã tự chôn sống mình trong ngôi nhà, mặc bộ quần áo vải thô nhàu nát mà không một ý muốn thế tục nào có thể làm rách nó. Trong thời kỳ xuất hiện quỷ dữ Juđiô Erăngtê, ở Macônđô xảy ra đợt oi nóng khủng khiếp khiến chim chóc cứ lao đầu qua lưới sắt để rúc vào phòng ngủ mà chết, bà có đi ra đường một lần, đã già lắm rồi, đi đôi ủng màu trắng bạc cũ kỹ và đội chiếc mũ có gài những bông hoa nhỏ li ti. Lần cuối cùng có người đã nhìn thấy bà còn sống là dịp bà đã bắn chết tươi gã trộm định phá cửa nhà mình. Kể từ đó, không một ai ngoài Arhêniđa, người ở và người bạn tâm phúc, tiếp xúc trực tiếp với bà. Có thời kỳ người ta được biết rằng bà đã viết thư cho đức Giám mục, người bà gọi là anh họ mình, nhưng người ta cũng đồn rằng bà không bao giờ nhận được thư trả lời. Dân làng đã quên bà.



Mặc dầu thắng lợi trở về, đại tá Aurêlianô Buênđya vẫn không vui lòng với những kết quả được thấy. Quân chính phủ rút khỏi các thị trấn không hề kháng cự, và điều đó đã gieo trong đám dân chúng vừa được giải phóng một ảo tưởng về thắng lợi không thể đảo ngược được. Nhưng những người cách mạng, nhất là đại tá Aurêlianô Buênđya đã hiểu đúng sự thật hơn. Mặc dù trong lúc ấy chàng duy trì được năm ngàn người dưới quyền mình, và giữ vững hai tỉnh thuộc miền duyên hải, nhưng vẫn ý thức rõ ràng rằng lực lượng của mình đang bị ép về phía biển và đang ở trong hoàn cảnh chính trị quá rắc rối đến mức khi chàng ra lệnh dựng lại tháp chuông nhà thờ bị đạn pháo phá đổ thì cha Nicanô nằm trên giường bệnh phải thốt lên. "Đây là một trò cười, những người bảo vệ đức tin Kitô giáo đã nã pháo phá nhà thờ còn những kẻ Tam điểm lại ra lệnh xây dựng nó". Hàng giờ và hàng giờ chàng ở lì trong phòng điện tín nói chuyện với tư lệnh các thị trấn khác, hòng tìm một lối thoát. Nhưng mỗi bận ra khỏi phòng, chàng càng khẳng định cảm nghĩ cuộc chiến đang kết thúc. Khi những tin chiến thắng mới của những người Tự do được chuyển đến và được loan báo ầm ĩ thì chàng suy tính những kết quả đã giành được trên các bản đồ và chàng hiểu rằng quân đội của mình đang ngày một rút sâu vào rừng để chống chọi với ho lao và muỗi rừng, đang rút ngày một xa thành phố! "Chúng ta đang để mất thời gian" chàng than thở trước các sĩ quan. "Chúng ta sẽ còn mất thời gian nữa trong lúc những tên chó má trong đảng Tự do đang xin xỏ một chỗ ngồi trên nghị trường". Trong những đêm mất ngủ nằm ngửa trên chiếc võng mắc trong chính căn phòng từng là xà lim tử tù, chàng nhớ lại hình ảnh những vị luật sư mặc đồ đen cổ áo khoác dựng lên che kín tai và ống tay áo buông chùng che kín bàn tay từ trong dinh Tổng thống bước ra vào lúc giá buốt của buổi đêm về sáng, mà rét run cầm cập, mà lẩn nhanh vào những vườn cà phê ảo não lúc hừng đông để đắn đo cân nhắc điều ngài Tổng thống muốn nói khi ngài bảo rằng được, hoặc giả điều ngài muốn nói khi ngài bảo rằng không và để dò tìm điều ngài Tổng thống đang suy nghĩ khi ngài nói một chuyện hoàn toàn khác hẳn. Trong khi đó chàng đuổi muỗi, cố chịu đựng không khí oi nóng tới ba mươi nhăm độ, và cảm thấy ngày càng xích gần cái buổi mai đáng sợ khi chàng buộc phải ra lệnh cho quân sĩ của mình nhảy ào xuống biển.



Một đêm nôn nao nọ, Pila Tecnêra hát cùng với đám lính ở trong sân. Chàng nhờ thị đoán tương lai cho mình qua những quân bài. "Hãy giữ mồm giữ miệng", đó là tất cả những gì Pila Tecnêra thấy rõ sau khi sắp xếp các quân bài và thu chúng lại".Tôi không biết điều đó có nghĩa gì, nhưng điềm báo hiện rất rõ: hãy giữ mồm giữ miệng". Hai ngày sau, có một ai đó thay chàng ra lệnh cho người cần vụ chuẩn bị một tách cà phê không pha đường, rồi người cần vụ này chuyển lệnh cho người khác, người này lại chuyển cho người khác cho tới khi tách cà phê không pha đường qua tay nhiều người được mang đến chỗ ở của đại tá Aurêlianô Buênđya. Không hề gọi cà phê nhưng vì đã có sẵn ở đấy nên đại tá uống luôn. Tách cà phê ấy có một lượng bột mã tiền đủ giết một con ngựa đực. Khi người ta mang chàng về nhà, người đã cứng đơ, co rúm, lưỡi thè ra giữa hai hàm răng. Ucsula chiến đấu với tử thần để cứu con trai. Sau khi làm cho chàng nôn oẹ hết để rửa ruột, bà dùng khăn trải giường hơ nóng đắp kín chàng, và cho chàng uống lòng trắng trứng gà trong hai ngày liền, cho tới khi cái cơ thể yếu ớt lấy lại được nhiệt độ bình thường. Đến ngày thứ tư, chàng thoát vòng nguy hiểm. Trái với ý nguyện của mình, do bị Ucsula và các sĩ quan cấp dưới ngăn cản, chàng nằm yên trên giường thêm một tuần nữa. Chỉ đến lúc này chàng mới biết các bài thơ của mình vẫn chưa được đốt. "Đêm ấy mẹ không muốn vội vàng"  Ucsula thanh minh. "Đêm ấy, khi đi nhóm bếp, mẹ nghĩ tốt hơn hết là hãy đợi cho tới khi thi hài con được mang về nhà". Sống giữa những con búp bê của Rêmêđiôt vây quanh, trong điều kiện sức khỏe dần bình phục, đại tá Aurêlianô Buênđya, qua các bài thơ của mình, đã hồi tưởng lại những thời kỳ sôi nổi nhất của cuộc đời. Chàng lại làm thơ. Trong nhiều giờ liền, bên lề những sự kiện nổi bật của một cuộc chiến tranh không tương lai, chàng khẳng định những kinh nghiệm của mình ngay bên bờ vực của cái chết. Vậy là trí não của chàng ngày một sáng tỏ hơn, đến mức có thể lật trái lật phải để xem xét nó. Có một đêm nọ, chàng hỏi đại tá Hêrinênđô Mackêt:



- Hãy nói với tôi đi, vì sao anh bạn chiến đấu?



- Vì sao anh lại hỏi tôi thế nhỉ? - Đại tá Hêrinênđô Mackêt trả lời - Vì đảng Tự do vĩ đại.



- Anh thật hạnh phúc vì đã biết mục tiêu chiến đấu của mình - chàng nói - Còn về phần mình, cho đến bây giờ hầu như tôi mới biết rằng mình chiến đấu vì lòng kiêu hãnh.



- Thế thì tồi quá - đại tá Hêrinênđô Mackêt trả lời.



Sự cảnh cáo của Hêrinênđô Mackêt khiến đại tá vui thích. "Dĩ nhiên rồi"  chàng nói. "Nhưng trong mọi trường hợp, tốt hơn hết là chẳng nên biết vì sao mình chiến đấu". Chàng nhìn vào mắt bạn mỉm cười và nói rõ hơn:



- Hoặc là như anh đã chiến đấu vì một cái gì đó chẳng có nghĩa gì với ai cả.



Chính niềm kiêu hãnh ấy đã ngăn cản chàng liên hệ với các nhóm vũ trang trong vùng nội địa, trong khi đó các nhà lãnh đạo của đảng Tự do lại không công khai đưa ra những tuyên bố nhằm đánh tan luận điệu cho chàng là chỉ là một tên tướng cướp. Tuy nhiên, chàng biết rằng, nếu gạt bỏ những trở ngại ấy thì ngay lập tức sẽ phá tan vòng vây chiến tranh nguy hiểm. Sức khỏe bình phục đã cho phép chàng suy nghĩ. Vậy là chàng xin được của Ucsula không chỉ số vàng còn lại mà cả số vốn liếng nhiều vô kể bà tích lũy được, và chàng phong cho đại tá Hêrinênđô Mackêt làm Quan tổng trấn trông coi các vấn đề quân sự và dân sự ở Macônđô, rồi chàng lên đường để thiết lập quan hệ với các nhóm khởi nghĩa ở vùng nội địa.



Đại tá Hêrinênđô Mackêt không chỉ là người thân tín nhất của đại tá Aurêlianô Buênđya mà còn được Ucsula coi là người trong nhà. Dù có tiếng là thanh lịch, e lệ, ngoan nết chàng vẫn được rèn luyện để thích hợp với trận mạc hơn là với công việc lãnh đạo. Những cố vấn chính trị của chàng dễ dàng lái “ông chủ” vào những mê cung lý thuyết, song chàng cũng đã ổn định được một không khí thanh bình kiểu thôn dã ở Macônđô, là điều đại tá Aurêlianô Buênđya mơ ước cho một tuổi già tồn tại bằng cách sản xuất những con cá vàng. Tuy sống chung với cha mẹ mình, nhưng Hêrinênđô Mackêt ăn cơm trưa ở nhà Ucsula một tuần tới hai, ba bữa. Chàng dạy Aurêlianô Hôsê sử dụng vũ khí, những kiến thức quân sự cơ bản và với sự đồng tình của Ucsula, chàng mang nó đến sống trong doanh trại để rèn cặp nó thành người. Nhiều năm về trước, dù còn như trẻ con, đã có lần Hêrinênđô Mackêt ngỏ tình với Amaranta. Lúc ấy cô còn đang thầm yêu trộm nhớ Piêtrô Crêspi, nên đã giễu cợt chàng. Hêrinênđô Mackêt vẫn chờ. Có lần từ trong nhà tù chàng gửi cho Amaranta bức thư, nhờ cô thêu chữ cái mở đầu tên và họ của cha mình lên một tá khăn mùi soa. Chàng còn gửi tiền cho cô nữa. Trong vòng một tuần lễ Amaranta mang đến nhà tù cho chàng một tá khăn mùi soa đã thêu cùng với số tiền ấy, và ở lại vài giờ để nói chuyện về quá khứ. "Khi ra khỏi đây, anh sẽ cưới em"  Hêrinênđô Mackêt nói khi tạm biệt. Amaranta cười nhưng vẫn nghĩ về chàng trong lúc dạy đám trẻ nhỏ học, và như cũng muốn làm sống trở lại trong trái tim mình tình yêu bồng bột thời trẻ vốn là nỗi đam mê đối với Piêtrô Crêspi, để hiến dâng cho chàng. Những ngày thứ bảy, ngày vào thăm tù, cô qua nhà bố mẹ Hêrinênđô Mackêt rồi cùng họ đến gặp chàng. Và một ngày thứ bảy, Ucsula ngạc nhiên bắt gặp cô đứng ở nhà bếp đang đợi bánh quy ra lò để chọn những chiếc ngon nhất nhét vào một cái túi đã thêu sẵn chờ dịp này.



- Hãy lấy nó đi con ạ! - Bà nói với cô - Hiếm hoi lắm mới có một người đàn ông như nó.



Amaranta làm ra vẻ khó chịu, nói như cãi:



- Con chẳng cần phải mồi chài ai hết. Con mang cho Hêrinênđô mấy chiếc bánh quy này chẳng qua vì thương anh ấy sớm muộn cũng sẽ bị người ta bắn chết.



Chỉ là cô buột miệng nói ra. Nhưng khi ấy chính phủ cũng đã công khai đe dọa sẽ bắn đại tá Hêrinênđô Mackêt nếu như các lực lượng khởi nghĩa không nộp Riôacha. Các buổi đến thăm người tù bị đình chỉ. Amaranta đóng cửa, một mình trong phòng khóc lóc, tự khổ sở vì ý nghĩ cho mình là kẻ có tội giống như ý nghĩ đã day dứt cô khi Rêmêđiôt chết, cũng như một lần khác những lời nói thiếu cân nhắc từ cô đã là trách nhiệm đối với một cái chết khác, cái chết của Piêtrô Crêspi. Ucsula an ủi cô đảm bảo với cô rằng đại tá Aurêlianô Buênđya sẽ có hành động thực tế mạnh mẽ để ngăn cản vụ hành hình, và hứa rằng chính bà sẽ đón Hêrinênđô Mackêt về nhà khi chiến tranh kết thúc. Bà đã thực hiện lời hứa trước thời hạn dự định. Khi Hêrinênđô Mackêt tới nhà với chức trách Quan tổng trấn trông coi các vấn đề quân sự và dân sự thì bà đón tiếp chàng như một đứa con, vuốt ve chiều chuộng để chàng ở lại, và tự đáy lòng, bà cầu khẩn chàng nhớ lại ý định lấy Amaranta làm vợ. Lời cầu khẩn của bà dường như được linh nghiệm. Những ngày tới nhà để ăn cơm trưa, đại tá Hêrinênđô Mackêt thường hay lưu lại cả một buổi chiều để chơi cờ đam với Amaranta ở hành lang bày những chậu thu hải đường. Ucsula mang đến cho đôi trai gái nào cà phê sữa, nào bánh quy, trông nom đám trẻ nhỏ để chúng khỏi quấy rầy hai người. Trên thực tế, Amaranta cố nhóm lại tình yêu say mê thời trẻ mà lúc này nó như một đám tro nguội lạnh bị lãng quên trong trái tim mình. Với niềm khát khao đã đạt tới độ không thể thay đổi được, cô chờ đón những ngày chàng sẽ đến nhà mình ăn trưa, chờ đón những buổi chiều chơi cờ đam và chờ cho thời gian đi trong lúc mình ngồi bên cạnh một chiến binh có tên gợi bao niềm lưu luyến mà những ngón tay của người ấy cứ run lên khi đi quân cờ. Nhưng trong ngày đại tá Hêrinênđô Mackêt nhắc lại nguyện vọng tha thiết của mình được cưới Amaranta thì cô đã từ chối:



- Em sẽ chẳng lấy ai - cô nói - và cũng không lấy anh đâu. Anh yêu Aurêlianô quá, tới mức anh lấy em chỉ vì anh không thể lấy anh ấy mà.



Đại tá Hêrinênđô Mackêt là người điềm tĩnh. "Anh sẽ chờ"  chàng nói. "Sớm muộn gì anh cũng cưới em".



Chàng tiếp tục đến chơi nhà. Tự giam mình trong phòng ngủ để khóc vụng, Amaranta lấy hai đầu ngón tay bịt kín lỗ tai để khỏi nghe thấy tiếng người theo đuổi mình đang kể cho Ucsula nghe những tin tức chiến sự mới nhất, và mặc dù thèm nhìn chàng đến chết được nhưng cô vẫn đủ nghị lực để không ra tiếp chàng.



Lúc ấy, đại tá Aurêlianô Buênđya đã sắp xếp thời gian để cứ hai tuần một lần gửi một thông báo tỉ mỉ về Macônđô. Nhưng chỉ độc một lần, sau gần tám tháng ra đi, chàng mới viết thư riêng cho Ucsula. Một sứ giả đặc nhiệm đã mang đến nhà một phong thư được viết với lối chữ rất đẹp của đại tá. "Hãy trông nom cha cẩn thận, vì cha sẽ mất". Ucsula thảng thốt. "Nếu Aurêlianô nói thì Aurêlianô đã biết". Bà nói, và nhờ người khiêng Hôsê Accađiô Buênđya vào phòng ngủ. Cụ không chỉ nặng như trước đây vốn đã nặng, mà còn nặng lên nhiều trong suốt thời kỳ nằm dưới bóng cây dẻ, đến mức bảy người đàn ông lực lưỡng không khiêng nổi, buộc họ phải kéo lê cụ vào nhà. Mùi rêu non lẫn mùi mộc nhĩ, thứ mùi của không khí ẩm lâu năm và đậm đặc làm sực nức cả căn phòng khi cụ già lực lưỡng dầm mưa dãi nắng đã lâu ngày bắt đầu thở. Ngày hôm sau, cụ không thức dậy ở trên giường đặt trong phòng. Sau khi tìm kiếm khắp nhà không thấy, Ucsula bắt gặp cụ nằm bên gốc cây dẻ. Thế là họ trói cụ vào giường. Dẫu khỏe mạnh nhưng Hôsê Accađiô Buênđya đã bị loại ra ngoài vòng chiến đấu… Cụ bằng lòng với tất cả, không phân biệt gì được nữa. Cụ trở lại nằm dưới bóng cây dẻ đâu phải vì sở nguyện mà vì thói quen của cơ thể. Ucsula chăm nom cụ, cho cụ ăn và kể cụ nghe những tin tức về Aurêlianô. Nhưng thực ra, người duy nhất mà cụ tiếp xúc từ đã lâu là Pruđênxiô Aghila. Với dáng vẻ tiều tụy vì tuổi già trong cõi âm phủ, Pruđênxiô Aghila cứ một ngày hai lần đến trò chuyện với cụ. Họ nói về gà chọi, hứa hẹn với nhau sẽ xây dựng một chuồng nuôi những chú gà chọi tuyệt vời, không chỉ để vui vẻ trước một số trận thắng mà còn để giải khuây trong những ngày chủ nhật man mát buồn ở cõi âm phủ. Pruđênxiô Aghila là người tắm rửa cho cụ, cho cụ ăn, kể cho cụ nghe những thắng lợi hiển hách của một người hoàn toàn xa lạ được gọi là Aurêlianô, và người này là đại tá trong chiến đấu. Khi có một mình, Hôsê Accađiô Buênđya khuây khỏa đôi phần với giấc mơ trong căn buồng vô cùng tận. Cụ mơ thấy mình đứng dậy ra khỏi giường, mở cửa chính mà đi sang phòng bên có cái giường với đầu giường làm bằng thép tôi, một chiếc ghế xích đu bằng gỗ liễu giỏ và bức chân dung Thánh bà Đồng trinh Rêmêđiôt treo ở bức tường cuối phòng. Từ phòng này cụ đi sang phòng khác giống y hệt, mà cửa của nó dẫn sang phòng khác giống y hệt, rồi sau đó sang phòng nữa cũng giống y hệt, cứ như thế cho đến vô cùng tận. Cụ thích đi từ phòng này sang phòng khác, như đi trong một hành lang hai bên tường đều gắn gương, cho tới khi Pruđênxiô Aghila vỗ vai cụ. Thế là cụ trở về lần lượt đi qua các phòng, trong lúc quay lại mà tỉnh giấc dần, cụ chạy trên con đường ngược lại, để rồi lại gặp Pruđênxiô Aghila trong cái phòng của đời thực. Nhưng rồi một đêm nọ, sau hai tuần Ucsula đưa cụ vào nhà, Pruđênxiô Aghila vỗ vai cụ ngay ở phòng trung gian giữa cõi thực và cõi mộng, và cụ mãi mãi dừng lại ở đấy, mà cứ tưởng rằng đó là phòng của đời thực. Sáng hôm sau, khi mang bữa điểm tâm cho cụ, Ucsula bắt gặp một người từ ngoài hành lang đi lại phía mình. Người ấy béo lùn, mặc bộ quần áo đen, đội chiếc mũ đen rộng vành chụp gần hết đôi mắt buồn rầu. "Trời ơi"  Ucsula nghĩ. "Ai như là Menkyađêt…” Người đó là Cataurê, em trai Visitaxiôn, người tự bỏ nhà ra đi để tránh dịch mất ngủ và đến nay không có tin tức gì. Visitaxiôn hỏi em mình trở lại làm gì thì ông ta dùng tiếng thổ dân trả lời:



- Em đến dự đám tang của hoàng đế.



Thế là tất cả đổ xô vào phòng Hôsê Accađiô Buênđya, dùng hết sức lay cụ, gào to lên để gọi cụ, lấy gương soi chiếu vào lỗ mũi cụ để gọi, nhưng không làm sao khiến cụ tỉnh ra. Sau đó ít lâu, khi người thợ mộc đo cụ để đóng áo quan, qua cửa sổ, người ta thấy trời đổ xuống trận mưa hoa nhỏ li ti màu vàng. Cả đêm ấy, những bông hoa li ti màu vàng rơi xuống một cái làng đang trong nỗi âm thầm đau khổ.



Hoa phủ kín các nóc nhà và hoa lấp kín các lối ra vào. Bầu trời sực nức mùi hoa khiến cho những con vật ngủ ngoài sân phải ngộp thở. Hoa trời rơi xuống không biết cơ man nào mà kể, đến mức khi trời sáng các con đường phủ đầy hoa phẳng lì như một tấm chăn. Người ta buộc phải dùng gậy, sào mà hất hoa đi để lấy lối cho đám tang đi qua.



 



CHƯƠNG 8



Ngồi trên chiếc ghế xích đu làm bằng gỗ liễu giỏ, với đồ thêu thùa để trong lòng, Amaranta ngắm Aurêlianô Hôsê đang lia lưỡi dao cạo trên cái cằm đầy bọt xà phòng. Lần đầu tiên cạo râu, lưỡi dao cạo làm chảy máu những mụn nhân, làm đứt môi trên do cậu cố ý tỉa bộ ria mép màu hung hung, nhưng dù cậu cố sức nó vẫn cứ y nguyên như cũ. Cái sự quá tỉ mẩn này khiến Amaranta có cảm giác cậu đã bắt đầu già, trong việc cạo râu.



- Nom cháu giống Aurêlianô như đúc khi anh ấy vào tuổi cháu - cô nói - Cháu đã là người lớn rồi đấy.



Cậu đã là người lớn lâu rồi, từ cái ngày Amaranta tưởng  cậu vẫn là con nít nên cứ khỏa thân trong nhà tắm ngay trước mặt cậu, như lâu nay vẫn thường làm kể từ ngày Pila Tecnêra đem cậu trả cho gia đình, rũ bỏ trách nhiệm nuôi nấng của thị. Lần đầu nhìn thấy, cậu bé chỉ chú ý đến cái rãnh sâu giữa hai bầu vú trên ngực cô mình. Lúc ấy cậu ngây thơ đến mức hỏi cô bị làm sao ở ngực thế, thì Amaranta giả vờ lấy ngón tay gãi ngực rồi trả lời cháu mình: "Cô bị người ta róc, róc thịt đấy". Rồi khi đã bình phục sau trận ốm vì Piêtrô Crêspi tự tử, cô lại cùng tắm chung với Aurêlianô Hôsê. Cậu không để ý đến cái rãnh sâu nữa mà trái lại, run bắn lên vì thích thú lạ lùng trước hai bầu vú hồng hồng căng mọng. Và trong lúc ngắm nhìn cậu hiểu kỹ hơn cái kỳ lạ của tình thân mật giữa hai cô cháu, và cảm thấy da mình nổi gai, giống như da cô mình vẫn nổi gai khi dội nước. Ngay từ khi còn nhỏ xíu cậu đã có thói quen bỏ võng trống cả đêm để bừng tỉnh dậy trên giường Amaranta, chả là vì nằm bên cô cậu đỡ sợ bóng tối hơn. Nhưng kể từ hôm biết thích thú tấm thân ngà ngọc của Amaranta thì động lực khiến cậu bỏ võng lên giường nằm cạnh cô mình không là nỗi sợ bóng tối nữa mà là sự thèm khát được cảm nhận hơi thở nồng ấm của Amaranta vào lúc hửng sáng. Ở thời kỳ cô cự tuyệt đại tá Hêrinênđô Mackêt, một buổi đêm về sáng nọ, với cảm giác nghẹt thở, Aurêlianô Hôsê thức dậy, và lập tức bắt gặp những ngón tay Amaranta, giống như những con tằm, nóng ran và khao khát, đang lần tìm gì đó trên bụng mình. Vờ như đang ngủ, cậu cựa mình đổi tư thế để chúng khỏi gặp trở ngại. Chốc lát sau, cậu thấy năm ngón của bàn tay không băng dải băng đen, như những con sên mù, đang lần mò giữa hai bẹn mình. Dù cả hai giả vờ không biết cái điều cả hai cùng biết và điều người này biết rõ người kia đã biết, kể từ đêm đó, họ gắn bó nhau với sự ăn ý tuyệt vời. Aurêlianô Hôsê không thể ngủ nổi khi chưa nghe thấy tiếng nhạc van phát ra từ chiếc đồng hồ phòng khách, và cô gái đứng tuổi, mà làn da bắt đầu cảm thấy tê tái buồn, sẽ không một phút yên lòng nếu cô chưa cảm thấy kẻ mộng du trườn mình lên giường. Đó là người mà cô đã nuôi nấng song cô đâu có thể nghĩ rằng người ấy sẽ lại là nơi bám víu tạm bợ cho nỗi cô đơn của mình. Vậy là họ không chỉ ngủ chung giường, cùng khỏa thân, cùng thèm khát mân mê nhau mà còn lẵng nhẵng theo nhau khắp mọi xó xỉnh, cùng nhau trong buồng đóng kín cửa vào bất kỳ giờ nào, và lúc nào cũng hào hứng, đê mê như lần đầu vụng trộm. Có lần họ suýt bị Ucsula bắt quả tang. Buổi chiều ấy, cụ vào kho bột ngô, khi họ sắp hôn nhau. "Cháu yêu cô Amaranta lắm phải không?" Cụ hỏi Aurêlianô Hôsê vẻ hết sức ngây thơ. Cậu vâng để trả lời bà mình. "Cháu ngoan lắm". Ucsula lặng lẽ đong bột làm bánh rồi trở về nhà bếp. Sự việc này đã lôi Amaranta ra khỏi cơn cuồng si. Cô hiểu rằng mình đã vượt quá xa giới hạn, rằng mình không còn hôn hít nó như hôn hít một đứa trẻ nhỏ chơi đùa, trái lại cô đang bì bõm lội trong một cơn đam mê bệnh hoạn vừa nguy hiểm vừa không có lối thoát, và cô kiên quyết dập tắt nó. Cũng lúc ấy, Aurêlianô Hôsê hoàn thành việc học quân sự, nhận ra sự thực, và bỏ nhà vào doanh trại ngủ. Mỗi thứ bảy, cậu cùng đám lính đến tiệm bác Catarinô và giải buồn với những người đàn bà son phấn mà cứ da diết tưởng tượng họ là Amaranta.



Sau đó ít lâu, những tin tức chiến sự trái ngược tới tấp tung ra. Trong khi chính phủ thừa nhận những bước tiến mới của quân khởi nghĩa thì các sĩ quan ở Macônđô nhận được những thông báo tin cậy về một cuộc đình chiến do hai bên thương lượng tất yếu sẽ xảy ra. Vào đầu tháng Tư, có một sứ giả tin cậy đến ra mắt đại tá Hêrinênđô Mackêt, khẳng định với đại tá rằng các lãnh tụ đảng đã bắt liên lạc với các tư lệnh quân khởi nghĩa ở nội địa, và đã sẵn sàng ký một hiệp định đình chiến với điều kiện chính phủ cho phái Tự do ba ghế bộ trưởng, một số đại biểu tối thiểu trong Nghị viện, và sẽ khoan hồng cho những nghĩa quân đã hạ súng. Vị sứ giả mang theo một mệnh lệnh hết sức bí mật của đại tá Aurêlianô Buênđya, người không tán thành các điều khoản của Hiệp định. Đại tá Hêrinênđô Mackêt hãy chọn ra năm người tốt nhất và chuẩn bị để trốn ra nước ngoài. Mệnh lệnh được thực hiện tức thì. Một tuần trước khi thỏa ước được loan báo, và trong không khí hỗn độn những tin đồn khác nhau, đại tá Aurêlianô Buênđya và mười sĩ quan tin cậy nhất của chàng, trong đó có đại tá Rôkê Cacnixêrô, lặng lẽ về Macônđô vào lúc quá nửa đêm, giải tán quân đội, chôn giấu vũ khí, đốt bỏ các tài liệu. Lúc hửng sáng, cùng đại tá Hêrinênđô Mackêt và năm người dưới quyền, chàng rời khỏi làng. Đó là một quyết định được thực hiện mau lẹ và bí mật đến mức Ucsula không hay biết gì cho đến giờ chót, khi có người gõ nhẹ lên cửa sổ phòng ngủ của cụ và thầm thì: "Nếu muốn thấy đại tá Aurêlianô Buênđya thì xin mời cụ ra ngay ạ". Ucsula vùng dậy, vẫn bộ quần áo ngủ, bước ra cửa, và hầu như chỉ kịp nhận ra tiếng vó ngựa của đoàn người đang lặng lẽ phi ra khỏi làng, cuốn theo đám bụi mù mịt. Chỉ đến ngày hôm sau cụ mới được biết Aurêlianô Hôsê đã đi cùng cha mình.



Mười ngày sau, kể từ khi thông cáo chung giữa chính phủ và phái đối lập được công bố báo tin đình chiến, đã có những tin tức về cuộc vũ trang nổi dậy đầu tiên của đại tá Aurêlianô Buênđya ở biên giới phía đông. Các lực lượng của chàng, không những ít quân lại còn trang bị kém, đã bị đánh tan tác chỉ trong thời gian không đầy một tuần. Nhưng suốt cả năm ấy, trong lúc hai phái Tự do và Bảo hoàng cố gắng làm cho đất nước sống trong sự hòa giải thì chàng mưu tính bảy cuộc nổi dậy. Một đêm nọ, từ trên chiếc tàu biển, chàng nã pháo vào thành phố Riôacha, và đội tuần tra đã phải dậy giữa đêm, bắn trả thù mười bốn nhà Tự do nổi tiếng bị giam giữ ở thành phố này. Chàng chiếm một sở hải quan ở biên giới trong hơn mười lăm ngày và từ đây chàng gửi đến quốc dân đồng bào lời hiệu triệu tổng khởi nghĩa. Một trong số những đạo quân của chàng đã lạc trong rừng liền ba tháng, vì đơn vị này có nhiệm vụ vượt qua hơn một nghìn năm trăm kilômét đường rừng để nhen nhóm các cuộc chiến đấu xung quanh thủ đô. Đôi lúc chỉ ở cách Macônđô chừng vài chục cây số nhưng chàng đã bị các đội quân tuần tra của chính phủ buộc phải đi sâu vào núi cách không xa địa điểm thú vị, nơi nhiều năm trước đây cha chàng đã gặp được xác chiếc tàu Tây Ban Nha.



Cũng khoảng thời gian này, Visitaxiôn qua đời. Sau khi từ bỏ ngai vàng vì sợ dịch mất ngủ, bà muốn được chết già và nguyện vọng cuối cùng của bà là người ta sẽ đào số tiền lương tích cóp trong vài chục năm chôn ở dưới gầm giường rồi gửi nó cho đại tá Aurêlianô Buênđya để chàng tiếp tục chiến đấu. Nhưng Ucsula không cho đào số tiền, bởi vì, ngày ấy người ta đồn rằng đại tá Aurêlianô Buênđya đã chết trong một vụ đổ bộ vào vùng ven tỉnh lỵ. Thông cáo chính thức, cái thông cáo thứ tư trong không đầy hai năm đã cho thấy điều đó là hiển nhiên vì gần như sáu tháng nay không ai biết được gì về chàng. Bỗng nhiên, khi Ucsula và Amaranta đang để tang mới cho các vị tiền bối, thì có một tin lạ được chuyển đến. Đại tá Aurêlianô vẫn còn sống, nhưng không theo chính phủ Bảo hoàng mà đã gia nhập các lực lượng liên bang đang thắng thế ở một số nước khác thuộc vùng Caribê. Chàng đến với những đất nước có những tên khác nhau ngày một xa lạ với tên quê hương mình.



Sau đó người ta được biết tư tưởng cổ vũ chàng khi ấy là tư tưởng về sự thống nhất các lực lượng liên bang vùng Trung Mỹ nhằm quét sạch các chế độ Bảo hoàng từ Alasca đến Patagônia. Sau vài năm Aurêlianô Buênđya ra đi, bức thư đầu tiên mà Ucsula nhận từ chàng thì đã nhàu nát lại nhòe nhoẹt được chuyển tay từ thành phố Xantiagô đê Cuba.



- Chúng ta đã vĩnh viễn mất nó - Ucsula thốt lên khi đọc thư - bởi vì Lễ Noel trong ngày tận thế sẽ xuất hiện trên con đường ấy.(1)



Người nghe câu đó, người đầu tiên cụ cho xem thư, là tướng Hôsê Raken Môncađa, thuộc phái Bảo hoàng. "Tiếc là"  ngài nói. “Aurêlianô lại theo phía Tự do". Ngài thật bụng khâm phục chàng. Như rất nhiều quan chức Bảo hoàng, Hôsê Raken Môncađa tiến hành cuộc chiến để bảo vệ đảng mình và leo lên tới cấp tướng, dù không có tài thao lược gì. Song, cũng như nhiều người trong đảng, ngài phản đối chế độ quân phiệt, coi giới quân sự là đám lười biếng không có kỷ cương, thích mạo hiểm và tham lam, giỏi chống đối các quan chức dân sự để làm giàu trong tình cảnh hỗn độn. Là người thông minh, nhã nhặn, da dẻ hồng hào, thích ăn ngon, ham chọi gà, vậy mà đã có lúc ngài là kẻ thù đáng gờm nhất của đại tá Aurêlianô Buênđya. Ngài đã thiết lập được quyền chỉ huy của mình với các tay quân sự nhà nghề trong cả vùng duyên hải rộng lớn này. Có lần, theo những thỏa thuận chiến lược, ngài buộc phải rút quân khỏi một thị trấn để trao lại cho lực lượng của đại tá Aurêlianô Buênđya, ngài đã để lại hai bức thư cho chàng. Bức thứ nhất ngài mời chàng tham gia chiến dịch chung nhằm làm cho cuộc chiến đỡ khốc liệt hơn. Bức thứ hai ngài nhờ đại tá chuyển đến cho vợ mình sống trong vùng kiểm soát của các lực lượng vũ trang thuộc phái Tự do. Từ dạo ấy, kể cả khi chiến sự xảy ra ác liệt nhất, hai vị tư lệnh này vẫn thỏa thuận ngừng bắn để trao đổi tù binh. Đó là sự hưu chiến với không khí vui vẻ đến mức tướng Môncađa đã lợi dụng thời gian ấy để dạy đại tá Aurêlianô Buênđya chơi cờ đam. Đã có những lúc cả hai người nghĩ đến khả năng phối hợp những yếu tố nhân dân có trong cả hai đảng để loại trừ ảnh hưởng của các nhà quân sự và chính trị nhà nghề, và thiết lập một thể chế nhân đạo nhờ khai thác triệt để những mặt ưu việt của từng học thuyết. Khi chiến tranh kết thúc, trong lúc đại tá Aurêlianô Buênđya thường xuyên thất bại, phải chạy trốn theo những hẻm núi thì tướng Môncađa được phong làm Quan thanh tra ở làng Macônđô. Ngài ăn mặc dân sự, dùng cảnh sát không vũ trang thay cho đám dân lệ, buộc mọi người phải tôn trọng mọi quy định của luật ân xá và giúp đỡ một số gia đình là thân nhân của những người Tự do tử trận. Ngài tìm mọi cách để Macônđô được chọn là thị trấn huyện và do đó ngài được bổ nhiệm là thị trưởng và đã vun trồng được một bầu không khí tin cậy lẫn nhau trong dân chúng khiến họ nghĩ về chiến tranh như nghĩ về một nỗi cực khổ vô nghĩa lý của thời quá khứ. Cha Nicanô, bị những cơn sốt đau gan hành hạ đã gầy nhom và do đó đã bị cha Côrônen, từng được mệnh danh En Cachôrô, một cựu chiến binh trong cuộc chiến tranh của những người thuộc phái liên bang tiến hành, đến thay thế. Brunô Crêspi đã kết hôn với Amparô Môscôtê. Nhờ cửa hàng đồ chơi và nhạc cụ của anh không ngừng phát tài, anh đã xây dựng một nhà hát từng được các gánh hát Tây Ban Nha liệt vào các lịch trình biểu diễn lưu động của họ. Đó là một xa lông rộng ở ngoài trời với những chiếc ghế gỗ dài, một tấm phông nỉ có gắn các mặt nạ Hy Lạp và ba phòng bán vé hình đầu sư tử mà qua cái miệng há ra của nó người ta bán vé vào cửa cho khách. Cũng thời kỳ này nhà trường được xây. Đông Mênchô Escalôna, một thầy giáo già từ miền đầm lầy tới trông coi trường học. Được các phụ huynh đồng ý, ngài bắt bọn trò hư phải quỳ gối đi trên nền sân đá sỏi và bắt những trò lắm mồm phải ăn ớt cay. Aurêlianô Sêgunđô và Hôsê Accađiô Sêgunđô, những đứa con sinh đôi của Santa Sôphia đê la Piêđat, là những học sinh đầu tiên ngồi trong phòng học với bảng đen, phấn viết, ca nhôm có khắc tên mình. Rêmêđiôt thừa kế nhan sắc của mẹ, đã bắt đầu được làm quen với cái tên Rêmêđiôt - Người đẹp. Mặc dù tuổi cao, mặc dù phải phịu nhiều tang tóc và những hoạn nạn chồng chất, Ucsula vẫn trẻ vẫn khỏe. Được Santa Sôphia đê la Piêđat giúp đỡ, cụ lại kinh doanh kẹo bánh và chỉ trong thời gian ngắn, cụ đã không chỉ thu lại tài sản bị con trai tiêu nhẵn trong chiến tranh mà còn nhồi vàng ròng vào đầy các quả bí khô đem chôn trong phòng ngủ. "Thượng đế còn cho ta sống"  cụ thường nói, “thì trong ngôi nhà của những kẻ điên khùng này sẽ không bao giờ thiếu tiền bạc". Mọi chuyện đang diễn ra êm đẹp, thình lình Aurêlianô Hôsê rời bỏ hàng ngũ quân đội liên bang Nicaragoa, trốn lên một chiếc tàu Đức, rồi xuất hiện ngay tại bếp ăn nhà mình. Cậu trở về, khỏe như con ngựa chiến, da sạm nắng, tóc rậm như người Anhđiêng và ý định cưới Amaranta làm vợ.



Khi Amaranta nhìn thấy Aurêlianô Hôsê bước vào, dù cậu chưa nói năng gì nhưng cô đã biết ngay vì sao cậu trở về. Cùng ngồi một bàn mà hai người không dám nhìn vào mặt nhau. Nhưng sau hai tuần trở về, dù Ucsula có mặt, cậu vẫn cứ nhìn thẳng vào mắt cô và nói: "Lúc nào cháu cũng nghĩ tới cô thân yêu". Amaranta chạy trốn cậu. Cô dò đoán để tránh phải gặp cậu ở những nơi, những lúc bất thình lình. Cô cứ bám lấy Rêmêđiôt - Người đẹp, không rời nửa bước. Cô xấu hổ đỏ bừng hai má trong cái ngày thằng cháu hỏi mình còn mang dải băng đen trên tay đến bao giờ, bởi cô hiểu câu hỏi đó như là một ám chỉ sự trinh tiết của mình. Khi cậu trở về, cô liền cài chặt cửa buồng mình ngủ. Nhưng trong nhiều đêm nghe rõ tiếng ngáy đều đều, hiền hậu của cậu ở phòng bên, cô yên lòng đến mức không đề phòng nữa. Sau gần hai tháng Aurêlianô Hôsê trở về, có một buổi đêm về sáng, cô cảm thấy cậu vào phòng mình ngủ. Thế là, đáng lẽ phải chạy trốn, phải gào toáng lên như đã luôn dự tính, thì cô lại buông thả mình trong cảm giác nhẹ nhàng được nghỉ ngơi, được thỏa mãn. Rồi cô thấy cậu trườn lên giường, như đã trườn từ lúc còn nhỏ, như xưa nay nó vẫn trườn thế, rồi cô không tài nào ghìm được mồ hôi lạnh túa ra và hàm răng run lập cập khi nhận ra cậu hoàn toàn khỏa thân. "Cút đi!" Cô thì thầm đuổi mà thấy như mình đang chết ngạt vì tính tò mò. "Cút đi không tao sẽ kêu lên bây giờ". Nhưng Aurêlianô Hôsê lúc ấy biết rõ điều mình cần phải làm, bởi vì cậu đâu còn là thằng nhóc sợ bóng đêm mà trái lại, đã là một gã lính chiến. Kể từ đêm ấy, bọn họ liên tục các cuộc vật lộn thầm lặng cho đến lúc trời hừng sáng. "Ta là cô mày"  Amaranta thì thào nói vẻ mệt mỏi. "Ta gần như là mẹ mày, không chỉ vì tuổi tác mà còn vì ta đã nuôi dạy mày đủ điều, chỉ còn thiếu cho mày bú thôi". Vào lúc trời hừng đông, Aurêlianô lỉnh đi và đến buổi đêm về sáng hôm sau lại bước vào, ngày một thích thú hơn vì thấy cửa phòng ngủ cô mình vẫn chẳng cài then. Không lúc nào cậu không yêu da diết người cô này. Cậu thường hay gặp hình bóng Amaranta trong những phòng tối, nơi các làng bị chiếm đóng, nhất là những phòng tồi tàn nhất, và nhận ra nàng một cách vật chất qua mùi máu khô đọng trên những dải băng của người bị thương, trong nỗi sợ hãi chợt đến trước tử thần. Ở đâu và hoàn cảnh nào cậu cũng thấy cô mình. Cậu đã chạy trốn bằng cách cố tình xóa nhòa ký ức không chỉ nhờ ở sự xa cách muôn trùng mà nhờ ở cả những trận đánh đẫm máu rùng rợn từng được các bạn đồng ngũ liệt vào hạng đáng sợ nhất, nhưng khi cậu càng cố xóa nhòa hình ảnh cô mình ở những nơi khủng khiếp của chiến tranh thì chiến tranh lại càng giống Amaranta hơn. Vì thế mà cậu đau lòng phải sống lưu vong, cố tìm cách giết cô mình bằng chính cái chết của mình cho đến khi cậu nghe một người lính kể câu chuyện cổ tích về một người đàn ông lấy người cô ruột đồng thời lại là cháu gái mình và người con trai của ông ta lại chính là ông trẻ của nó.



- Người ta có thể lấy cô ruột mình sao? - Cậu hỏi vẻ hoảng hốt.



- Không những có thể lấy được - một người lính trả lời cậu - mà còn hơn thế nữa. Chúng ta làm cuộc chiến tranh chống lại các thầy tu này cốt để người ta có thể lấy ngay chính mẹ đẻ của mình.



(còn tiếp)



Nguồn: Trăm năm cô đơn. Tiểu thuyết của GABRIEL GARCÍA MÁRQUEZ (Nobel Văn chương 1982). Nguyễn Trung Đức, Phạm Đình Lợi, Nguyễn Quốc Dũng dịch. Nguyễn Trung Đức giới thiệu. Dịch từ nguyên bản tiếng Tây Ban Nha Cien años de soledad do Viện Sách Cuba xuất bản tại La Habana, năm 1968. Theo bản sửa chữa cuối cùng của cố dịch giả Nguyễn Trung Đức, tháng 9-2000. Tủ sách Danh tác Thế giới do nhà văn Triệu Xuân tuyển chọn - NXB Văn học liên kết cùng Doanh nghiệp sách Thành Nghĩa, 2013.



www.trieuxuan.info









1. Ở đây tác giả chơi chữ. Nếu ghép Camino (con đường) với Xantiagô thì có nghĩa là dải ngân hà. Lễ Noen trong ngày tận thế sẽ xuất hiện ở dải ngân hà (theo Kinh Thánh).




Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Bão - Ngũ Hà Miên 16.10.2018
Trả giá - Triệu Xuân 13.10.2018
Bụi đời - Triệu Xuân 13.10.2018
Cõi mê - Triệu Xuân 13.10.2018
Trăm năm cô đơn - G. G. Marquez 09.10.2018
Nguyễn Trung Trực - Khúc ca bi tráng - Dương Linh 09.10.2018
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 05.10.2018
Sừng rượu thề - Nghiêm Đa Văn 05.10.2018
Hòn đất - Anh Đức 14.09.2018
Hồi ký điện ảnh - Đặng Nhật Minh 14.09.2018
xem thêm »